TRƯỜNG ĐẠ
ĐẠII HỌC NGO
NGOẠI
ẠI NGỮ ĐÀ NẴNG
KHOA: TIẾNG ANH
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM
1
MỤC LỤC
A.MỞ ĐẦU............................................................................................................4
B. NỘI DUNG....................................................................................................... 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA NGƯỜI
VIỆT.......................................................................................................................4
1.1. CÁC KHÁI NIỆM..................................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng......................................................................... 4
1.1.2. Khái niệm thờ mẫu..............................................................................5
1.1.3. Tín ngưỡng thờ Mẫu........................................................................... 5
1.2. NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN
NGƯỠNG THỜ MẪU...................................................................................... 5
1.2.1. Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu...................................................5
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu..............7
1.3. VAI TRỊ CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG ĐỜI SỐNG........ 8
1.3.1. Trong đời sống văn hóa, chính trị - xã hội......................................... 8
1.3.2. Trong đời sống tinh thần và truyền thống đạo đức............................ 9
1.3.3. Trong quá trình hội nhập kinh tế và văn hố......................................9
Chương 2: CÁC HÌNH THÁI CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU......................10
2.1. KHƠNG GIAN THỜ CÚNG PHỔ BIẾN Ở NƯỚC TA........................10
2.1.1. Đền.................................................................................................... 10
2.1.2. Miếu.................................................................................................. 11
2.1.3. Chùa................................................................................................... 11
2.1.4. Phủ.....................................................................................................12
2.2. ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT TRONG TÍN NGƯỠNG
THỜ MẪU Ở NƯỚC TA................................................................................ 12
2.2.1. Điểm tương đồng : Hình ảnh tín ngưỡng, Hầu đồng ,Hát chầu
văn................................................................................................................ 12
2.2.2. Điểm khác biệt : Các nghi lễ cầu cúng.............................................14
2
Chương 3: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG SINH HOẠT TINH
THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM...................................................................... 15
3.1 TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU BIỂU HIỆN ĐỜI SỐNG TÂM LINH
CỦA NGƯỜI VIỆT.........................................................................................15
3.1.1. Đời sống tâm linh...............................................................................15
3.1.2. Mẫu.................................................................................................... 15
3.1.3. Tín ngưỡng thờ Mẫu và dân tộc Việt Nam....................................... 15
3.1.4. Hiện tượng mê tín trong tín ngưỡng thờ Mẫu................................... 16
3.2 LỄ HỘI CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU...............................................17
3.2.1. Lễ hội hầu đồng................................................................................. 17
3.2.2. Lễ hội thờ Mẫu theo từng vùng miền................................................ 17
3.3 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA TÍN
NGƯỠNG THỜ MẪU.................................................................................... 18
3.3.1. Tình hình chung................................................................................. 18
3.3.2. Giải pháp........................................................................................... 20
C. KẾT LUẬN.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................. 21
3
A. MỞ ĐẦU:
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong nhiều tín ngưỡng dân gian thuần Việt, phổ
biến, có lịch sử lâu đời, giữ vị trí đặc biệt trong sinh hoạt tinh thần của người
dân Việt Nam; là một nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân . Tín
ngưỡng thờ Mẫu gần gũi với thiên nhiên, đất trời, gắn với thân phận của người
phụ nữ Việt Nam... Thờ Mẫu chính là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tơn vinh và thờ
phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được người đời
cho rằng có quyền năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người
như : trời, đất, sông nước, rừng núi thờ những thái hậu , hồng hậu , cơng chúa
là những người khi sống thì tài giỏi , có cơng với dân, với nước, khi mất thì
hiển linh phù trợ cho người an, vật thịnh Trải qua quá trình hình thành và phát
triển, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta đã phát triển hình thành tín ngưỡng Tam
phủ ( Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ ), Tứ phủ, ngoài ra có thêm Địa phủ .
B. NỘI DUNG:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
1.1. CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi
gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh
thần cho cá nhân và cộng đồng. Với quan niệm vạn vật hiển linh, nên người
xưa đã thờ rất nhiều thần linh, đặc biệt là những sự vật có liên quan đến nơng
nghiệp như trời, trăng, đất, rừng, sơng, núi,... để được phù hộ.
Tam tịa Thánh Mẫu- ba vị Thánh tối linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.
Các tín ngưỡng dân gian nổi tiếng tại Việt Nam:Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,
Tín ngưỡng thờ các vị Thần, Tín ngưỡng thờ cúng Tổ nghề, Thờ cúng các
danh nhân, người có cơng.
4
1.1.2. Khái niệm thờ Mẫu:
Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là việc tôn thờ nữ thần phải do người nữ thực
hiện, tuyệt đối không là người nam, thờ Thánh Mẫu, thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ
xuất hiện khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa.Tục thờ mẫu
còn được đan xen với Phật Giáo ở thời kỳ đầu mới du nhập.
1.1.3: Tín ngưỡng thờ Mẫu:
Thờ mẫu chính là một tín ngưỡng dân gian có lịch sử lâu đời gắn liền với nền
sản xuất nông nghiệp lúa nước Việt Nam và biến chuyển, thích ứng với sự thay
đổi của xã hội; là tập tục thờ cúng các vị nữ thần có từ thời nguyên thuỷ đại
diện cho thiên nhiên như mẹ Đất, mẹ Nước, mẹ Lúa… Bởi trong quá trình mưu
sinh tìm nguồn sống, con người ln phải dựa vào thiên nhiên, đất trời vì vậy
họ đã tôn thờ các hiện tượng tự nhiên như đấng tối cao là Mẫu và thờ Mẫu, với
mong muốn Mẫu sẽ bảo trợ và che chở cho cuộc sống của họ được bình an, no
ấm.
Trình diễn các giá hát văn hầu đồng trong Lễ Tổng kết Liên Tín ngưỡng thờ
Mẫu Hà Nội 2014. (Ảnh: Anh Tuấn/TTXVN)
1.2: NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN
NGƯỠNG THỜ MẪU
1.2.1: Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu
Dưới góc độ dân tộc học: Cho tới nay, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta chưa
biết chính xác xuất hiện từ khi nào: Chế độ mẫu hệ để lại dấu tích trong truyền
thuyết họ Hồng Bàng về sự hình thành dân tộc Việt và nhà nước Văn Lang.
5
Trước hết, huyết thống của Lạc Long Quân được tính theo dịng mẹ. Cho nên
mới có chuyện Lạc Long Qn, nói với Âu Cơ: “Ta là nịi rồng, đứng đầu thủy
tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất….” Kế đó, tất cả các vị vua huyền thoại
của thời lập quốc, từ Kinh Dương Vương, Lộc Tục đến Lạc Long Quân, Sùng
Lãm và Hùng Vương, đều được lên ngôi trị vì trên địa bàn của mẹ mình ở
phương Nam.Đoạn cuối truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ còn cho biết
rằng khi chia tay, chỉ có năm mươi người con trai theo mẹ Âu Cơ mới được ở
lại, và một người được lập làm vua. Vua Hùng thứ nhất chính là người con trai
cả đi theo mẹ; trong khi năm mươi người con trai theo cha Lạc Long Quân thì
phải ra đi (xuống biển).
Chế độ mẫu hệ trong văn hóa Bắc Sơn (thuộc sơ kỳ đồ đá mới, niên đại khoảng
6.000 năm trước công nguyên): với các di chỉ được phát hiện ở Hịa Bình,
Thanh Hóa, Nghệ An, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Ninh Bình, Quảng Bình…Các di
chỉ văn hóa Bắc Sơn cho thấy các cư dân thời kỳ đó đã quần cư thành các công
xã thị tộc mẫu hệ.
Chế độ mẫu hệ trong giai đoạn đầu của thời kỳ Bắc thuộc: người phụ nữ vẫn
đóng vai trị quan trọng trong các hoạt động xã hội, điều này thể hiện rõ ở các
cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 – 43), Bà Triệu (246) chống quân xâm
lược phương Bắc.
Dưới góc độ văn hóa: Người mẹ đã trở thành biểu tượng đầu tiên cho sự sinh
tồn của giống nịi. Vì từ xa xưa, con người đã có ý thức về sự sinh sôi nảy nở.
Người mẹ mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng che chở cho con, bảo vệ người con
trước những tác động của ngoại cảnh.
Thần thánh hóa mẹ, coi mẹ như một vị thần: Do trình độ nhận thức và tri thức
thời đó cịn thấp, con người khơng lý giải được các hiện tượng tự nhiên, nên
dẫn đến việc sùng bái thiên nhiên. Đối với cư dân trồng lúa nước như Việt Nam,
đất, cây, nước, trời chính là biểu tượng cho sự sinh tồn. Người phụ nữ đảm
nhận hầu hết những công việc từ nội trợ, đồng áng đến buôn bán lo chi – tiêu
trong gia đình… Cũng chính từ nơi này, người dân ngồi việc sản xuất nơng
nghiệp là chính, cịn biết làm những ngành nghề kinh tế khác. Từ rất sớm, ở
đồng bằng Bắc Bộ đã ra đời những làng nghề truyền thống và cũng chính nhờ
đó xuất hiện các mẹ là tổ sư các ngành nghề.
Dưới góc độ tư tưởng: Trong cuộc sống, dân tộc nào cũng va chạm với những
cặp đối lập “đực-cái”, “nóng-lạnh”, “cao-thấp” …. Và đặc biệt là hai cặp đối
lập Mẹ-Cha và Đất-Trời.Người ta dần dần nhận ra rằng hai hình thái sinh sản
này có cùng một bản chất: Đất được đồng nhất với mẹ, còn trời được đồng nhất
với cha. Việc hợp nhất của hai cặp “mẹ-cha” và “đất- trời” chính là sự khái
quát hóa đầu tiên trên con đường dẫn tới triết lí âm dương. Đối với cư dân nơng
nghiệp trồng lúa nước như Việt Nam, đất giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đất
và mẹ có cùng sự tương đồng là tính âm. Vì thế, tín ngưỡng thờ thần đất và thờ
mẹ của người Việt cổ có liên quan đến tư duy lưỡng hợp của người nguyên
thủy và triết lý âm – dương sau này.
6
1.2.2: Q trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu
Xuất phát điểm: Thờ các nữ thần riêng biệt các nữ thần này là các tinh thần
thiên nhiên và khơng có đặc điểm của con người đặc biệt là người phụ nữ,
người mẹ. Người Việt xưa kia sống nhờ vào thiên nhiên, nhưng cũng phải
chống chọi rất nhiều với thiên nhiên. Do đó, con người ln cầu mong sự phù
hộ, giúp đỡ của các “Mẹ” thiên nhiên và các Mẫu có nguồn gốc nhiên thần
cũng lần lượt ra đời:Đất là nguồn gốc đầu tiên cho sự sinh sôi nảy nở, là nơi cư
trú và sinh sống của con người, do đó lẽ tất nhiên yếu tố đất được con người
quan tâm đến đầu tiên.Đối với trồng trọt, thời tiết giữ một vai trị đặc biệt quan
trọng, vì thế người Việt mới có câu: “Trơng trời, trơng đất, trơng mây, trơng
mưa trơng gió, trơng ngày trơng đêm…” Cùng với đất, cây chính là cái đầu tiên
đảm bảo cho sự sinh tồn của con người, nên ý thức về Mẹ Cây của con người
cũng dần được hình thành. Mẹ nước: khi con người lênh đênh trên những chiếc
thuyền, bè để tiến về xi, thì người mẹ nâng đỡ lúc này lại là nước. Khi xuống
đồng bằng định cư, sản xuất nơng nghiệp lúa nước, chế ngự sơng nước, biển cả,
thì hình ảnh Mẹ nước được hình thành.
Thời kỳ Bắc thuộc:Thờ các thánh mẫu đến giai đoạn này thì các nữ thần đã có
những đặc điểm của người mẹ như mẹ âu cơ-người mẹ của dân tộc Việt
Nam.Từ sau thất bại của khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đất nước chính thức bước
vào thời kỳ Bắc thuộc với gần một ngàn năm đô hộ. Dưới sự cai trị hết sức hà
khắc của các triều đại phong kiến phương Bắc, ngoài việc phản kháng lại các
thế lực bạo tàn, một điều chắc chắn, người dân Việt không thể không cầu vọng
đến các thế lực thần linh, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người mẹ
tâm linh – Mẫu.Thời kỳ này, các truyền thuyết về mẹ tâm linh xuất hiện mang
tính độc lập, chưa có sự liên kết hay các mối quan hệ ràng buộc với nhau. Có
thể do một phần nhận thức xã hội, hay một phần do sự trói buộc của các thế lực
cai trị, các bà mẹ tâm linh xuất hiện chưa thể hiện rõ quyền năng cũng như ý
thức phản kháng rõ rệt. Những người mẹ mang yếu tố nhân thần đã bắt đầu
xuất hiện, như: Mẹ Âu Cơ (sau này tôn vinh là Quốc Mẫu), Hai Bà Trưng, Bà
Lê Chân, Tứ vị Hồng Nương, Mẫu Man Nương…
Thời kỳ độc lập tự chủ:Thờ thánh mẫu Tam phủ, Tứ phủ ở đây "phủ" không
phải khái niệm số lượng xây dựng mà nó chính là 3 hay 4 khái niệm thành tố
của vũ trụ là: trời (thiên phủ), đất (địa phủ), nước (thủy phủ), rừng (nhạc phủ).
Sau thời kỳ Bắc thuộc kéo dài gần một ngàn năm, đến năm 938, khi Ngô
Quyền đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi của đất nước, nước ta chính
thức bước vào thời kỳ độc lập tự chủ. Ngoài việc xác lập lại nền độc lập của đất
nước, đây cũng là thời kỳ người Việt phục hưng các giá trị văn hóa của dân tộc,
trong đó có các tín ngưỡng dân gian, điển hình là niềm tin về mẹ tâm linh.
Ngồi những đối tượng đã được thờ phụng trước đó, thời kỳ này cịn phát triển
nhiều truyền thuyết liên quan, thậm chí xuất hiện nhiều truyền thuyết mới và
nhiều nhân vật mới.Trong các câu chuyện kể, truyền thuyết về mẹ tâm linh
trong thời kỳ này đã “nhạt” dần đi tính huyền bí, trái lại, tính đời thường lại
được phát triển đậm nét. Mẫu ngoài việc xuất hiện trong đời sống thường nhật
của người dân đã tham gia vào việc bảo vệ giang sơn, giữ yên bờ cõi của đất
7
nước.Vấn đề này cũng tương đối dễ hiểu: Thứ nhất, sự hiểu biết của con người
về các hiện tượng tự nhiên đã được nâng lên rõ rệt. Thứ hai, từ thực tiễn cuộc
sống vai trò của người phụ nữ cũng có sự thay đổi theo để thích ứng với thời
cuộc. Thứ ba, các triều đại phong kiến Việt Nam, để bảo vệ và củng cố quyền
lực thống trị của mình. Họ đã sắc phong các vị thần có cơng với dân, với nước,
với làng, xã và đời sống của người dân. Trong những nhân vật đó, chắc chắn
khơng thể thiếu vai trị của các Mẫu. Ngồi những Mẫu đã được tơn vinh trước
đó thì những người phụ nữ quyền năng xuất hiện trong giai đoạn này, sau khi
mất đi cũng được phong thần và lập đền thờ phụng.Những nhân vật mẫu tiêu
biểu thời kỳ này có thể kể đến: Nguyên phi Ỷ Lan, Thánh Mẫu Liễu Hạnh…
Mặc dù, kể từ khi Nho giáo vào Việt Nam, với việc nhấn mạnh vai trị của nam
giới thì phụ nữ bị đẩy ra khỏi chính quyền. Nhưng trên thực tế, trong đời sống
của lớp người Việt bình dân thì người phụ nữ vẫn giữ một vị trí đặc biệt. Trong
tâm thức của người dân, mẹ vẫn được tơn vinh thành riêng một tín ngưỡng –
thờ mẹ (Mẫu).
1.3. VAI TRỊ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG ĐỜI SỐNG.
1.3.1. Trong đời sống văn hóa, chính trị - xã hội.
Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều loại hình tín ngưỡng, tơn giáo. Trong đó
tín ngưỡng thờ Mẫu thu hút rất nhiều người, các sinh hoạt tín ngưỡng thời gian
trước đây diễn ra bán công khai, nay với chính sách tự do tín ngưỡng và tơn
giáo của Nhà nước ta thì nó trở nên cơng khai hơn, tự do hơn. Chính vì thế, vai
trị và ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đối với chính trị – xã hội ngày càng
lớn.
Góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam:Trải
qua lịch sử, trong q trình phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu khơng những tiếp
nhận sự ảnh hưởng tích cực của các tơn giáo (như Phật giáo, Đạo giáo, Nho
giáo), mà cịn tích hợp được văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam. Nhờ đó tín ngưỡng thờ Mẫu có vị trí trong đời sống tâm linh của người
Việt và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong bản sắc văn hóa của dân
tộc.
Liên kết tinh thần giữa những người có cùng một niềm tin vào các
“Mẫu”:Sự liên kết ấy được nâng lên nhờ sự “linh thiêng” của các “Mẫu” và
các thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Nếu tổ chức tốt các sinh hoạt tín ngưỡng
thờ Mẫu ở các vùng, các địa phương sẽ làm tăng cường tình đồn kết, cảm
thơng lẫn nhau một cách sâu sắc hơn giữa các thành phần và các tầng lớp khác
nhau trong xã hội.
Vai trị tích cực đối với cộng đồng, phản ánh được lịch sử văn hóa của tổ
tiên ta: Dù nhiều Mẫu chỉ là một nhân vật huyền thoại nhưng vẫn mang tính
chất hiện thực. Thờ Mẫu đã phản ánh được trong lịch sử văn hóa của tổ tiên ta
là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước và vai trò quan trọng của người
8
phụ nữ ln có vị trí quan trọng trong gia đình, xã hội và trong đời sống cộng
đồng.
Dung nạp các tín ngưỡng, tơn giáo khác ở Việt Nam: Góp phần trong truyền
thống hịa đồng các tơn giáo, tín ngưỡng: Thánh, Thần, Phật,…đều phù hộ độ
trì cho con người.Tín ngưỡng thờ Mẫu với tư cách là một tín ngưỡng bản địa,
cịn có sự ảnh hưởng ngược lại đối với tơn giáo ngoại nhập như Phật giáo,
Công giáo,…
1.3.2 Trong đời sống tinh thần và truyền thống đạo đức.
Là động lực tinh thần, nơi gửi gắm niềm tin, hy vọng, là chỗ dựa tâm linh:
Với niềm tin rằng các Thánh Mẫu sẽ yêu thương, che chở và bảo vệ, phù hộ
cho những đứa con của mình. Vì vậy, người ta đến với Mẫu, đứng trước Mẫu
để xin quyền năng của Người bằng cả lịng thành, sự chân thật và mang tính
trang nghiêm. Các Thánh Mẫu là chỗ dựa tinh thần cho họ. Họ gửi gắm cuộc
đời, số phận và sự nghiệp của mình đến các Mẫu để tìm kiếm sự bình yên và
tạo lại sự cân bằng trong tâm lý khi phải đương đầu với những khó khăn.
Chấn hưng nền văn hóa dân tộc, lưu truyền những tinh hoa văn hóa giàu
bản sắc địa phương: Vốn có từ xa xưa do cha ơng để lại cho con cháu sau này,
nó giúp cho thế hệ con cháu đời sau nhớ về cội nguồn lịch sử dân tộc. Bởi vì
các Mẹ là anh hùng văn hóa, anh hùng dân tộc. Ý thức về cộng đồng cũng được
củng cố thêm trong lễ hội của tín ngưỡng thờ Mẫu.
Tinh hoa và thể hiện khát vọng của cộng đồng: Trong tín ngưỡng thờ Mẫu,
cái đẹp của lễ hội là đề cao và khuyến khích chính những phẩm chất tốt đẹp
của cộng đồng được thể hiện qua các nhân vật được cử lễ. Các hình tượng nhân
vật trong tín ngưỡng thờ Mẫu thực chất là tinh hoa và thể hiện khát vọng của
cộng đồng tích tụ lại trong đó.
Khơi dậy tính lương thiện và bản chất chân thành của con người:Khi một
ai đó bước chân vào những nơi thờ tự họ đều nghĩ rằng đây là chốn linh thiêng.
Cho nên, tín ngưỡng có thể khơi dậy tính lương thiện và bản chất chân thành
của con người vì họ muốn thể hiện sự tốt đẹp của mình trước những vị thần
linh.
Góp một phần vào việc giáo dục và hướng con người đến với Chân – Thiện
– Mỹ: Những vị Thánh Mẫu được tơn thờ đã được lịch sử hóa gắn với danh
tiếng và những công trạng. Ở các Mẫu chứa đựng một tinh thần u nước, u
chuộng hịa bình và công lý, đấu tranh bảo vệ những người yếu đuối, lương
thiện, trừ gian diệt ác.
1.3.3 Trong quá trình hội nhập kinh tế và văn hoá.
Nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế -xã hội: Chúng ta đã biết, giữa văn hóa với kinh tế- xã hội có một mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Thế giới đã bước vào nền văn minh mới, văn minh
9
trí tuệ, cịn văn hóa khơng chỉ gắn với phát triển mà cịn có khả năng điều tiết
sự phát triển đúng hướng
Tiền đề cho sự mở rộng mọi mối quan hệ tiếp xúc, giao lưu, hội nhập văn
hóa: Khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đây cũng là điều kiện
để cho sự tích hợp và phát huy mọi tiềm năng văn hóa tinh thần vốn có của dân
tộc, là tiền đề cho sự mở rộng mọi mối quan hệ tiếp xúc, giao lưu, hội nhập văn
hóa giữa các vùng, miền trong và ngoài nước. Con người có cơ hội bày tỏ
những tâm tư nguyện vọng của mình, vừa được giao lưu tình cảm với cộng
đồng.
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THÁI CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ
MẪU
2.1 KHƠNG GIAN THỜ CÚNG PHỔ BIẾN Ở NƯỚC TA
Không gian thờ cúng là những địa điểm, kiến trúc thờ cúng các vị thần. Những
kiến trúc này đã được xây dựng từ lâu, trải qua nhiều biến cố và được tu sửa
nhiều lần nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính thời xưa
2.1.1 Đền
Đền là quần thể kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những
nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh.Ở Việt Nam, phổ biến nhất là
các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có cơng với
đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền
thuyết dân gian.Một số đền lớn ở nước ta như : Đền Nghè (Hải Phòng), Đền
Dầm ( Hà Nội), Đền Mẫu Cửu Trùng Thiên (Lạng Sơn).
Đền Nghè (Hải Phịng)
Tam Tịa Thánh Mẫu trong khơng gian thờ cúng bao gồm:
Tượng mang sắc phục đỏ là Bà Chúa Liễu Hạnh. Đây là vị thần cai quản
miền trời, có quyền năng tạo ra mây, mưa, sấm, chớp và có liên quan tới văn
hóa nơng nghiệp lúa nước của dân tộc ta.
Tượng mang sắc phục xanh là Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn. Đây là vị thần cai
quản rừng xanh, gắn liền với cây cỏ, chim thú và con người.
Tượng mang sắc phục trắng là Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ. Đây là vị thần cai
quản sông nước,gắn liền với cuộc sống thủy sinh của con người từ xưa đến nay.
10
2.1.2 Miếu
Khái niệm: là những cơ sở thờ tự một vị thần nhất định có quy mơ nhỏ hơn
đền. Đa số miếu cao chừng trên 2m, chiều rộng mỗi cạnh khoảng 3m, thường
đặt ở nơi công cộng của thôn, xã hay phường.
Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội)
Đối tượng thờ ở miếu đa dạng và tùy thuộc vào từng nơi, thể hiện ở tên gọi của
miếu (văn miếu Khổng Tử, văn miếu Thái Nguyên..).Miếu thường được xây
trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông, đầu làng, cuối làng và những nơi yên tĩnh
để họ có một nơi yên nghỉ cho riêng mình và khơng bị ảnh hưởng bởi những
tiếng ồn từ cuộc sống của con người.Một số miếu ở nước ta: Miếu Bà Đặng Xá
(Hà Nam), An Sơn miếu (Côn Sơn), miếu Trịnh Phong (khánh Hòa),...
2.1.3. Chùa
Chùa là cơ sở hoạt động và truyền
bá Phật giáo; tập trung sinh hoạt,
tu hành và thuyết giảng đạo Phật
của các nhà sư, tăng, ni. Tất cả
mọi người đều có thể đến thăm
viếng, nghe giảng kinh hay thực
hành các nghi lễ Phật giáo. Ở một
số nơi,chùa cũng là nơi cất giữ xá
lị và chôn cất các vị đại sư.
Chùa Hương (Hà Nội)
Nhờ sự giao thoa và ảnh hưởng lẫn nhau giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu
nên hầu hết các chùa ở miền Bắc đều có gian thờ mẫu. Sự giao thoa này được
hình thành bởi ở cả 2 tín ngưỡng này đều hướng con người đến cái thiện, cái tốt
11
đẹp.Một số ngôi chùa ở nước ta: Chùa Tam Chúc (Hà Nội), chùa Yến Tử
(Quảng Ninh), chùa Keo (Thái Bình),...
2.1.4. Phủ
Phủ thường chỉ một quần thể kiến trúc rộng lớn, có nhiều ngơi đền lớn nhỏ,
miếu, am liên kết lại với nhau. Trong phủ ngồi đền, miếu, am cịn có: tam
quan, hòn giả sơn, cây cổ thụ, tường bao. Trong quá trình tồn tại và phát triển,
nhiều phủ đã được xây dựng.
Các phủ đều hội tụ những nét đặc sắc, độc đáo của kiến trúc dân tộc cùng nhiều
cổ vật quý như đồ thờ tự, văn bia, sắc phong,.. tập trung các nghệ thuật chạm
khắc tinh vi, thể hiện đủ các mảng đề tài,
được trang trí tỉ mỉ, cơng phu.
Có thể kể đến những phủ thờ Mẫu lớn
như: phủ Dầy ở xã Kim Thái, huyện Vụ
Bản, tỉnh Nam Định; phủ Tây Hồ, quận
Tây Hồ, Hà Nội; phủ Sòng ở Sòng Sơn,
Thanh Hóa.
Phủ Tây Hồ - Hà Nội
Ý nghĩa của khơng gian thờ cúng: Xây dựng đền thờ, miếu, chùa, phủ là một
hành động hướng về cội nguồn và để truyền bá tín ngưỡng thờ mẫu. Là một vị
trí đặc biệt trong thế giới tâm linh của con người đại diện cho những hy vọng
của con người về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Còn là nơi thể hiện niềm tin, sự
tơn thờ, sùng bái của người dân đối với tín ngưỡng thờ mẫu, hướng con người
đến cái thiện, cái tốt đẹp.
2.2 ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT TRONG TÍN NGƯỠNG
THỜ MẪU Ở BẮC BỘ, TRUNG BỘ VÀ NAM BỘ
2.2.1 Điểm tương đồng:
Hình ảnh tín ngưỡng (phụ nữ): Sự tín vọng các Mẫu đã chứng tỏ thuyết ưu
thế của phụ nữ so với nam giới của người Việt. Người Việt cũng như các tộc
người khác coi lực lượng tự nhiên là mẹ và đề cao vai trò nữ giới trong đời
sống xã hội.
Mẫu là một hình tượng được trừu tượng hóa từ bà mẹ cụ thể trong chế độ mẫu
hệ. Người mẹ mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng con cái, quyết định đến sự sinh
tồn của con cái. Người mẹ cụ thể có những điểm tương đồng với trời, đất, núi,
rừng, sông nước, những nguồn sống đã và đang nuôi dưỡng con người.
Kể từ khi Nho giáo vào Việt Nam, với việc nhấn mạnh vai trị của nam giới thì
phụ nữ bị đẩy ra khỏi hệ thống quyền lực, đẩy ra khỏi văn học chính thống.
12
Giới chức cầm quyền và tầng lớp trên của xã hội khơng cịn coi trọng phụ nữ
nữa. Nhưng thực tế, trong đời sống của lớp người Việt bình dân thì vai trị của
người phụ nữ vẫn giữ một vị trí đặc biệt.
Hầu bóng (hầu đồng) là một nét đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu, xuất hiện
ở tất cả các trung tâm thờ tự của tín ngưỡng này và được trải đều ở cả ba miền
Bắc, Trung, Nam.
Lúc đầu người được chọn hầu đồng là các bé trai, dần dần về sau các em gái,
các bà, các cô cũng ngồi đồng, thậm chí nhiều người đàn ơng cũng ngồi đồng.
Cho nên người ta gọi những người đàn ông lên đồng đó là “đồng cơ”, “bóng
cậu”. Khi một người lên đồng sẽ có rất nhiều người phục vụ, người ta gọi là
hầu đồng, chầu đồng. Không phải bất kỳ ai cũng có thể tiếp xúc với thánh, thần,
tiên, Mẫu mà chỉ có những người đặc biệt mới có thể tiếp xúc được họ.
Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng,
bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho
các con nhang đệ tử.
Hầu đồng thường được diễn ra ở không gian thờ tự của Mẫu, có thể ở chính
điện hoặc ở sân chầu. Cùng với khơng gian, hầu đồng cịn gắn với thời gian và
hình thức tổ chức lễ chầu.
Hát chầu văn:Một điểm đặc biệt của hình thức lên đồng trong tín ngưỡng thờ
Mẫu là phải có âm nhạc, lời ca phục vụ cho hiện tượng đó gọi là hát chầu văn.
Hình thức diễn xướng này được thể hiện nhất quán trong tín ngưỡng thờ Mẫu,
và là yêu cầu bắt buộc trong một buổi hầu đồng.
Âm nhạc hát chầu văn là những điệu ví, đờn, đọc phú, nhị, đàn tỳ bà, đàn
nguyệt… Âm nhạc hát chầu văn nằm ở trong thang âm nhạc truyền thống,
được tích gộp từ nhiều làn điệu dân ca của nhiều vùng miền thành một điệu dân
ca chầu văn với nhiều luyến láy, nốt giật, kích thích hưng phấn, nhún nhảy, uốn
éo cơ thể khi say hương khói, kết hợp với những lời ca lục bát, song thất lục bát
giản dị, mộc mạc.
13
Âm thanh, ngơn từ và nghệ thuật trình diễn của một buổi lên đồng có quan hệ
hữu cơ và tương tác với nhau, hình thành một chỉnh thể nghệ thuật, một loại
hình văn hóa nghệ thuật tâm linh.
Đây là một loại hình nghệ thuật bản địa của người Việt, phản ánh hiện thực
đời sống nông nghiệp trong mối quan hệ với núi, rừng, đất, nước; đồng thời
chứa đựng những ước mơ, những ngưỡng vọng thiêng liêng, tốt đẹp từ người
mẹ (Mẫu) của mình.
2.2.2. Điểm dị biệt :Các nghi lễ cầu cúng
Trong thời đại mà đất nước ngày càng phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu cịn tiếp
biến với văn hóa, tín ngưỡng bản địa của từng vùng, từng miền. Do đó, trong
cái chung nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu thì mỗi miền lại có những nét khác
nhau về thời gian và hình thức tổ chức lễ hội.
Ở Nam Bộ, tín ngưỡng thờ Mẫu có ít
nhiều thay đổi so với tín ngưỡng thờ
Mẫu ở miền Bắc. Tục thờ Mẫu ở miền
Bắc khi vào đến miền Nam dần biến
đổi thành tục thờ các vị nữ thần gắn bó
với cuộc sống đời thường của người
dân miền Nam như: Bà Ngũ Hành, Tứ
vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà
Chúa Động, Bà Tổ Cô,…và những Mẫu
thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ,
Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,…
Nếu như ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với
biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ
sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng
này được giải thích với nguyên nhân: Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt,
khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp
nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức
tranh không chỉ đa dạng trong văn hố mà cịn cả trong tín ngưỡng.
Bên cạnh những sự khác nhau về danh xưng, thần linh, ngày tháng tổ chức lễ
hội, nghi lễ, sắc phục... thì ngay trong nghi lễ múa bóng, hầu đồng cũng có sự
khác nhau. Nếu nghi thức múa bóng và đặc biệt là hầu đồng của người Việt
Bắc Bộ thường được diễn ra theo một trình tự nghiêm ngặt, nhiều nghi lễ cùng
14
với âm nhạc chầu văn tạo nên một một tổng thể diễn xướng dân gian ở trong
các phủ, điện, đền thờ Mẫu, thì ngược lại nghi thức múa bóng, hầu đồng trong
tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung (Huế, Khánh Hòa), miền Nam (An Giang,
Tây Ninh) thường đơn giản hơn, mang tính thơng thống, cởi mở, và có sự pha
trộn giữa văn hóa Việt với với văn hóa Chăm, văn hóa Khmer, Lào.
Trên thực tế, một số ngơi đền, miếu, am và nghi lễ hầu bóng ở miền Trung hầu
như đều có nguồn gốc từ người Việt ở Bắc Bộ mang vào. Tuy nhiên, khi mang
vào miền Trung và miền Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu và hầu bóng, hầu đồng có
những sắc thái văn hóa riêng, thể hiện trong điện thờ Mẫu xuất hiện thêm các
vị thần địa phương, như: Thiên Y A Na, Quan Cơng, Ơng Nam Hải (miền
Trung), Bà Chúa Xứ, Bà Đen (miền Nam), cùng các vở tuồng, hát bả trạo, múa
chèo thuyền, âm nhạc Chăm, Khmer... đan xen trong các nghi lễ hầu bóng.
Trong lễ hội tháp Bà, am Chúa, đền thờ Thánh Mẫu Đệ Nhất Tiên Thiên (miền
Trung); lễ hội Bà Chúa Xứ, Bà Đen (miền Nam)..., nghi thức múa bóng, hầu
bóng đều được cắt bớt phần quy chuẩn nghi lễ so với tập tục của người Việt
Bắc Bộ
CHƯƠNG 3:TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG SINH
HOẠT TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM:
3.1.TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU BIỂU HIỆN ĐỜI SỐNG TÂM LINH
CỦA NGƯỜI VIỆT:
3.1.1.Đời sống tâm linh: dường như gắn bó chặt chẽ với con người suốt cả
cuộc đời. Nó biểu hiện nhiều mặt trong đời sống tinh thần của con người, Đời
sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần, biểu hiện những giá trị thiêng
liêng cao cả trong cuộc sống đời thường với những biểu tượng, thần tượng và
những kỳ vọng vươn tới chân, thiện, mỹ.
Đời sống tâm linh nhằm hướng đến cái thiêng liêng, cao cả, cái tốt đẹp vĩnh
hằng mà trong đời thường, con người thường khó đạt được. Đời sống tâm linh
được thể hiện bằng hai khía cạnh hình ảnh và biểu tượng, cùng với những ý
niệm và hành vi trong các nghi lễ của cá nhân và cộng đồng như cầu nguyện,
dâng cúng vật lễ, xướng đọc văn sớ, ca hát...
3.1.2.Mẫu là một hình tượng được trừu tượng hóa từ bà mẹ cụ thể trong chế độ
mẫu hệ, hòa trộn với sự ngưỡng vọng và các hành vi sùng bái, tơn thờ hiện
tượng tự nhiên; thần thánh hóa trời, đất, núi rừng, sơng nước thành những
Thánh Mẫu có nhiều quyền năng, phép thuật. Mẫu ở ngôi vị thượng đẳng, vì
vậy, để cai quản mọi miền cần có người trợ giúp để đưa quyền năng của Mẫu
đến khắp mọi nơi, và do đó hệ thống các chư vị thánh thần: Tứ phủ Chầu bà,
Ngũ vị Tôn ông, Tứ phủ Quan ông, Tứ phủ Thánh cô... lần lượt xuất hiện.
3.1.3.Tín ngưỡng thờ mẫu và dân tộc Việt Nam: trong quan niệm đa thần
của tín ngưỡng dân gian bản địa của người Việt, tín ngưỡng thờ Mẫu cịn tiếp
thu các yếu tố ngoại lai, điển hình nhất phải kể đến Đạo giáo.Trong quan niệm
đa thần của tín ngưỡng dân gian bản địa của người Việt, tín ngưỡng thờ Mẫu
cịn tiếp thu các yếu tố ngoại lai, điển hình nhất phải kể đến Đạo giáo. “Việc
thờ Mẫu chính là nơi Đạo giáo biểu lộ ảnh hưởng nhiều nhất. Có thể nói đây là
biểu hiện của Đạo giáo Việt Nam, thành một tôn giáo với học thuyết, một tăng
đoàn và một quần chúng(1).” Việc tiếp xúc với Đạo giáo của tín ngưỡng thờ
15
Mẫu trước hết được thể hiện ở hiện tượng “đồng bóng” (vấn đề này sẽ được
trình bày kỹ ở phần sau); ở sự tương đồng trong quan niệm về hệ thống thần
tiên của tín ngưỡng thờ Mẫu, hay thiên đình của Mẫu. Trong các vị thần của
Đạo giáo Trung Hoa có Ngọc Hồng Thượng Đế, Đế Thích, Thiên binh, Thiên
tướng,... Trong đó, Ngọc Hồng Thượng Đế đứng đầu cai quản miền trời. Nhạc
ngũ thần vương là năm ông vua cai quản năm ngọn núi nổi tiếng nhất Trung
Quốc (Nga My, Hoa Sơn, Ly Sơn, Thái Sơn, Cơn Lơn).
Ngồi Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu cịn tiếp xúc với Phật giáo và Nho giáo.
Tuy sự ảnh hưởng của hai tôn giáo này ít sâu đậm hơn Đạo giáo nhưng nó vẫn
có một ảnh hưởng nhất định.Tuy có sự tiếp xúc với những yếu tố ngoại lai,
nhưng Thánh Mẫu vẫn là chủ thể của tín ngưỡng thờ Mẫu. Trên cơ sở niềm tin
về Mẫu để hướng tới cái thiêng liêng, cao cả, cái tốt đẹp vĩnh hằng. Tín ngưỡng
thờ Mẫu cịn thể hiện rất rõ tâm thức của dân tộc Việt, một dân tộc ln mong
mỏi hịa bình, một cuộc sống bình dị, được sống dưới mái ấm của gia đình với
tình thương bao la của mẹ (Mẫu)
3.1.4.Hiện tượng mê tín trong tín ngưỡng thờ mẫu:Mê tín là tin một cách
mê muội, mù quáng, ngây ngô, là hiện tượng cực đoan của tín ngưỡng. Hiện
tượng này xuất hiện trong nhiều tín ngưỡng, tơn giáo, trong đó có tín ngưỡng
thờ Mẫu. Bên cạnh mặt tích cực là tín ngưỡng thờ Mẫu và chư vị thần thánh
hướng đến những điều tốt đẹp, những giá trị vĩnh hằng, cái hạnh phúc mà
chúng ta cần bảo tồn và phát huy trong đời sống tâm linh của con người, thì tín
ngưỡng thờ Mẫu có nhiều mặt tiêu cực, là nơi sản sinh ra nhiều hiện tượng mê
tín, dị đoan. Một thực tế đang diễn ra hiện nay một số người mở điện thờ Mẫu
để cúng bái với mục đích mưu lợi cá nhân, làm giàu bất chính với đủ các ngón
nghề từ xem bói, thánh hiển linh đến lên đồng, lập phủ. Đặc biệt, hiện nay cịn
có hiện tượng khá phổ biến trong hoạt động của tín ngưỡng nói chung và tín
ngưỡng thờ Mẫu nói riêng, đó là hiện tượng “khấn hộ” trong các cơ sở thờ tự.
Ngồi ra, cịn xuất hiện những đội hầu đồng, hầu bóng “chuyên nghiệp” thành
đội “dịch vụ” đến các nơi để xin chầu ở các giá đồng làm giảm bớt sự linh
thiêng của hình thức sân khấu tâm linh đặc thù vốn có của nó, làm ơ nhiễm mơi
trường văn hóa.Tín ngưỡng thờ Mẫu bị ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân khác
nhau trong xã hội và hiện tại nó đang tồn tại ở trạng thái vận động, biến đổi,
đan xen các yếu tố truyền thống - hiện đại, tiêu cực - tích cực. nguyên nhân
trực tiếp, phần lớn tín đồ của tín ngưỡng thờ Mẫu từ những thế kỷ trước thuộc
lớp người bình dân, ít chữ, nhận thức cả về xã hội và tự nhiên đều rất non kém.
Họ là những người nông dân chân lấm tay bùn, một nắng hai sương, chất phác,
thật thà... muốn thốt khỏi cảnh khốn khó,hay đó là những người làm nghề
bn bán, có tâm lý may rủi, mua may, bán đắt... Họ tin vào những hiện tượng
thần bí, những lời phán truyền, những hành vi ban phát tài lộc của chư vị thánh
thần để đạt được mục đích của lời cầu nguyện.
16
Tuy vậy, bên cạnh đó cũng xuất hiện những hiện tượng diễn ra khó hiểu và khó
giải thích, từ đó càng làm tăng tính kỳ bí của hiện tượng này.Chúng ta phải có
phương thức để bảo tồn những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng thờ Mẫu, đồng
thời cũng có những biện pháp để hạn chế những tác động tiêu cực của hiện
tượng mê tín.
3.2. LỄ HỘI CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
Việt Nam được biết đến là một đất nước đa văn hóa, phong tục tập quán. Cùng
với đó là đa dạng các lễ hội mang những nét đẹp khác nhau theo từng vùng
miền. Tuy nhiên, đối với lễ hội của tín ngưỡng thờ Mẫu có những điểm khác
biệt riêng, mang những nét văn hóa, tín ngưỡng bản địa của từng vùng, từng
miền từ Bắc vào Nam. Mỗi miền có những nét khác nhau về thời gian và hình
thức tổ chức lễ hội. Bên cạnh đó cịn khác nhau về danh xưng, thần linh, nghi
lễ, sắc phục,...Tiêu biểu nhất cho lễ hội của Mẫu đó chính là lễ hội hầu đồng
3.2.1. Lễ hội hầu đồng
Hầu đồng được hiểu là một hình thức diễn xướng dân gian, thể hiện đức tin về
sự giáng-nhập của các vị thần trong điện thần của Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam
phủ. Lễ hội hầu đồng thường được diễn ra ở không gian thờ tự của Mẫu vào
những ngày cố định trong năm và có nghi thức tổ chức nghiêm ngặt. Hai yếu tố
này khá phong phú và đa dạng, thậm chí là phức tạp nhưng có tính thống nhất
trong tín ngưỡng thờ Mẫu.
Ngày nay, hầu đồng vẫn cịn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín
ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt. Trải qua thời gian, nghi lễ hầu
đồng đang dần bị đổi thay. Tuy nhiên, người Việt vẫn tôn thờ tín ngưỡng này
đúng mực và khơng biến nó trở thành mê tín. Hơn thế nữa, nét đẹp văn hố này
cịn được người Việt mang đi khắp nơi trên thế giới.
3.2.2. Lễ hội thờ Mẫu theo từng vùng miền
Miền Bắc: Nghi lễ thường được diễn ra theo một trình tự nghiêm ngặt, nhiều
nghi lễ cùng với âm nhạc chầu văn tạo nên một một tổng thể diễn xướng dân
gian ở trong các phủ, điện, đền thờ Mẫu. Có những lễ hội trong tín ngưỡng thờ
Mẫu được tổ chức với quy mơ rất lớn và diễn ra trong một thời gian tương đối
dài như: lễ hội phủ Dầy (Nam Định), lễ hội Vía Bà (Bà Chúa Xứ An Giang).
Đối với những lễ hội theo định kỳ hằng năm, có thể kể đến như: lễ hầu Thượng
Nguyên (tháng giêng), lễ hầu Nhập Hạ (tháng tư), lễ Tán Hạ (tháng bảy), lễ Tất
17
Niên (tháng chạp), lễ Hạp Ấn (25 tháng chạp). Ngoài ra, trong năm cịn có hai
lễ hội lớn là: lễ hội giỗ Thánh Mẫu (tháng ba) và lễ hội giỗ vua cha Bắc Hải và
Đức Thánh Trần (tháng tám). Những lễ hội trên diễn ra chủ yếu ở đồng bằng
Bắc Bộ, nhiều lễ hội tổ chức quy mô lớn với nhiều nghi lễ rất phức tạp, để
chuẩn bị cho lễ hội, các tín đồ phải chuẩn bị từ trước đó rất lâu.
Miền Trung: Nghi lễ thường diễn ra đơn giản hơn so với miền Bắc, có sự pha
trộn giữa văn hóa Việt với văn hóa Chăm, văn hóa Khmer. Nghi lễ hầu bóng ở
miền Trung đều có nguồn gốc từ người Việt ở Bắc Bộ mang vào. Tuy nhiên,
nghi lễ có một số thay đổi để phù hợp với sắc thái văn hóa ở mảnh đất này.
Trong điện thờ Mẫu xuất hiện thêm các vị thần địa phương, như Thiên Yana,
Quan Cơng, ơng Nam Hải.
Hằng năm có hai lễ hội lớn là lễ hội Khai Bàn vào trung tuần tháng hai âm lịch
và lễ Tạ Bàn vào cuối tháng chạp âm lịch. Lễ hội Thánh Mẫu Thiên Yana được
tổ chức vào thượng tuần tháng bảy âm lịch hàng năm. Lễ hội Hòn Chén, lễ hội
lớn nhất và cũng là quan trọng nhất ở miền Trung. Trong lễ hội xuất hiện cả
các đệ tử của Mẫu ở miền Nam và miền Bắc.
Miền Nam: Hình thức tổ chức nghi lễ ở miền Nam gần giống với miền Trung.
Trong điện thờ Mẫu có các vị thần mang đậm nét đặc trưng địa phương như:
Bà Chúa Xứ, Bà Đen.
Ở miền Nam, có hai lễ hội Mẫu tiêu biểu, đó là lễ hội Bà Đen ở Tây Ninh và lễ
hội Vía Bà (Bà Chúa Xứ ở An Giang). Khác với miền Bắc và miền Trung, lễ
hội Vía Bà chỉ thờ độc nhất Bà Chúa Xứ (Thánh Mẫu) mà khơng có các Mẫu
khác trong Tam phủ, Tứ phủ.
Mặc dù có sự khác nhau về thời gian, địa điểm và đa dạng về hình thức biểu
hiện, nhưng các lễ hội hầu đồng thường có tính thống nhất cao. Những điểm
khác biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu giữa các miền, phần lớn là do ảnh hưởng
của các yếu tố bản địa. Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi, căn bản nhất trong tín ngưỡng
thờ Mẫu là niềm tin về Mẫu và những hạnh phúc do Mẫu mang lại thì không hề
thay đổi.
3.3 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA TÍN
NGƯỠNG THỜ MẪU
3.3.1. Tình hình chung
Tín ngưỡng thờ Mẫu từ lâu đã thâm nhập vào tâm hồn, lối sống của người Việt
Nam.Tuy nhiên từ khi Đảng và Nhà nước ta có cách nhìn nhận mới với bình
diện rộng hơn thì Tín ngưỡng thờ Mẫu đã ni dưỡng và lan tỏa rộng rãi
hơn trong xã hội.
Đời sống tâm linh đặc biệt tín ngưỡng thờ Mẫu càng thể hiện phong phú
bằng nhiều hình thức, cách thức khác nhau, càng bổ sung thêm nhiều những
câu chuyện huyền thoại, chuyện lịch sử... để từ đó dân gian tơn một số Mẹ lên
thành Mẫu, Mẫu Tam phủ, Mẫu Tứ phủ. Trong quá trình tồn tại và phát triển
tín ngưỡng thờ Mẫu đã dung nạp, đan xen nhiều hình thức tín ngưỡng, tơn giáo
khác. Ở nước ta, hình thức tín ngưỡng thờ Mẫu đã được nhân dân thờ phụng ở
nhiều nơi, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi xuống miền xuôi, trong Nam
ngồi Bắc. Vì tín ngưỡng thờ Mẫu mang tính bình dân, nên ngày càng thu hút
nhiều người, nhiều đối tượng tin và theo. Ngồi những nghi lễ thờ cúng, tín
18
ngưỡng thờ Mẫu còn sản sinh nhiều giá trị văn hóa - nghệ thuật, góp phần bảo
lưu nhiều yếu tố văn hóa có giá trị, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tiêu biểu nhất là ngày 01 tháng 12 năm 2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính
phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại
thành phố Addis Ababa, nước Cộng hịa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản
Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được
UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân
loại. Đây chính là niềm tự hào của những người thực hành tín ngưỡng nói riêng
và tồn thể người dân Việt Nam nói chung.
Lễ đón bằng UNESCO ghi danh “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ
của người Việt” là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó thì Tín ngưỡng thờ Mẫu còn tồn
tại một số vấn đề đáng quan tâm cùng nhiều biến tướng trong các nghi lễ đã
trở thành thách thức trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản.Thực hành
tín ngưỡng thờ Mẫu hiên diễn ra khá tùy tiện, xuất hiện không chỉ diễn ra ở đền,
phủ thờ Mẫu mà ở cả đình thờ Thành hoàng, nơi chùa chiền thờ Phật. Nơi thờ
những nhân thần có cơng với dân với nước nhưng theo năm tháng cũng đã biến
thành thờ tứ phủ.Thêm vào đó, nó cịn có biểu hiện lệch chuẩn từ trang phục,
đạo cụ, văn hầu cho đến vũ đạo. Điển hình có những cơ đồng đưa cả hò
hét, phán truyền và đeo trang sức mỹ ký lủng lẳng, phấn son lòe loẹt.
Mặt khác hiện tượng thương mại hóa, bn thần bán thánh cùng với mê tín dị
đoan đang có xu hướng phát triển và lan tràn, đan xen vào các hoạt động tín
ngưỡng và các lễ hội dân gian. Các hoạt động mê tín dị đoan trở nên khó kiểm
sốt; tập trung chủ yếu trong các lễ hội, “núp” dưới danh nghĩa phong tục cổ
truyền, tín ngưỡng dân gian như: xin xâm, hái lộc, xem tướng, xem tử vi, cúng
sao giải hạn, đốt vàng mã, hầu bóng... tạo ra một “hiệu ứng đám đơng” được
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, người này bắt chước người kia và được
thực hành một cách máy móc, khơng có sự phân biệt rõ đâu là tơn giáo, tín
ngưỡng, đâu là mê tín dị đoan.Hơn nữa việc lợi dụng và xâm hại quyền tự do
tín ngưỡng của công dân cũng tăng lên đáng báo động. Các hiện tượng không
đúng với truyền thống đã làm mất đi sự nghiêm túc và tính linh thiêng của tín
ngưỡng bị giảm sút
19
3.3.2. Giải pháp
Thứ nhất, linh hoạt và đa dạng các hình thức tun truyền, giáo dục đường lối
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng.Tuyên truyền những văn bản luật, dưới luật... xuống tận người dân để
họ hiểu được chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và hiểu rõ ranh
giới giữa sinh hoạt tín ngưỡng với các hoạt động mê tín dị đoan. Ngồi ra
chúng ta cần kiên quyết xử lý hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng, tơn giáo để
phá vỡ sự ổn định chính trị - xã hội, gây rối trật tự công cộng, chia rẽ khối đại
đồn kết dân tộc
Đồng chí Nguyễn Xn Thắng phát biểu khai mạc Hội thảo
Thứ hai, từng bước nâng cao trình độ nhận thức của nhân dân. Ở đời sống vật
chất, nhà nước phải đảm bảo các nhu cầu ăn, mặc, ở, việc làm, khai thác triệt
thế mạnh kinh tế để nhân dân có điều kiện nâng cao văn hóa, hiểu biết khoa
học, thoát khỏi những hủ tục lạc hậu .Về phía đời sống tinh thần, chăm lo cho
người dân dựa trên cơ sở giữ gìn và phát huy những giá trị tinh thần truyền
thống tốt đẹp, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại và
khôi phục các lễ hội truyền thống phát huy những giá trị tích cực của tín
ngưỡng thờ Mẫu
Thứ ba, xây dựng mơi trường văn hóa - xã hội lành mạnh tại các cơng trình tín
ngưỡng thờ Mẫu. Chúng ta phải biết kết hợp ba yếu tố: tính tín ngưỡng, tính
văn hóa và tính dân tộc. Lễ là ngun nhân thứ nhất dẫn đến việc hình thành
hội trong các lễ hội. Muốn phát triển nhiều hơn yếu tố hội, nhưng nếu mất đi
những yếu tố truyền thống dân tộc và tính tín ngưỡng hay tính “thiêng” của lễ,
thì hội cũng khó mà tồn tại được lâu dài .Đặc biệt là tại đền, phủ, miếu,...
những nơi thờ Mẫu là nơi thu hút nhiều người tham gia sinh hoạt tâm linh, sinh
hoạt văn hóa cộng đồng, muốn có một mơi trường văn hóa - xã hội lành mạnh
thì ngay từ những nơi này phải có những quy hoạch sắp xếp, hướng dẫn và
quản lý của các cấp chính quyền.
Thứ tư, tăng cường cơng tác đào tạo và nghiên cứu khoa học về tín ngưỡng,
tơn giáo nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng.Trước hết chúng ta
nên đầu tư nghiên cứu những vấn đề đang đặt ra về mặt lý luận và Sau đó đưa
ra những quan điểm rõ ràng, thống nhất về tín ngưỡng thờ Mẫu hiện nay. Thêm
vào đó xây dựng thêm các trung tâm, các viện đào tạo và trung tâm nghiên cứu
về tín ngưỡng, tơn giáo; biên soạn những tài liệu có tính chất tham khảo về loại
hình tín ngưỡng thờ Mẫu.Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm cơng tác tín
20
ngưỡng, tôn giáo, để không chỉ phục vụ cho yêu cầu hiện tại mà còn phải đáp
ứng cho tương lai.
Di sản văn hóa là một phạm trù lịch sử ln được bảo tồn và phát triển, trong
đó Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng nằm trong quỹ đạo đó..Việc bảo tồn thực hành tín
ngưỡng thờ Mẫu là cơng việc lâu dài và khó khăn. Tín ngưỡng thờ Mẫu vốn
chưa có quy định, khn mẫu cố định. Và những tranh luận về tín ngưỡng thờ
Mẫu cũng có nhiều ý kiến khác nhau, do vậy rất cần sự đóng góp của các nhà
khoa học cùng các thanh đồng và sự hung tay của cộng đồng để đảm bảo
những giá trị truyền thống của Tín ngưỡng thờ Mẫu cần được bảo tồn và những
bất cập cần được ngăn chặn để vừa giữ gìn nét đẹp vốn có, vừa phù hợp với đời
sống đương đại .Có như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu mới trở thành nét đẹp văn
hóa trong đời sống của người Việt.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Của Người Việt Nam (TS. Vũ Hồng Vận)
Đạo mẫu Việt Nam (GS. Ngô Đức Thịnh)
Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu: Thách thức trong bảo tồn và phát huy giá
trị di sản (báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam Chủ nhật, 18/02/2018 23:28)
21