Miền Trung - Tây Nguyên
NHỮNG VỊ THẦN TRONG TÍN NGƯỠNG
CỦA NGƯỜI HOA Ở HỘI AN
? Tống Quốc Hưng
*
T
rải qua mấy trăm năm định cư, sinh sống
ở Hội An, ngoài việc mưu sinh, phát triển
kinh tế, cộng đồng người Hoa nơi đây đã
tạo cho mình những sinh hoạt văn hóa
tinh thần rất phong phú và đa dạng, trong đó có các
sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Qua nhiều năm khảo
sát, nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng người Hoa ở Hội
An chủ yếu tin theo tín ngưỡng đa thần. Tại những
nơi thờ tự chung của cộng đồng, cũng như ở tại gia
đình, người Hoa thờ phụng rất nhiều các vị thần khác
nhau, trong đó có nhiều vị thần có nguồn gốc từ Nam
Trung Hoa như Thiên Hậu, Lục Tánh, Chiêu Ứng…
Những vị thần được cộng đồng người Hoa ở Hội An
thờ tự trong các địa điểm tâm linh, tín ngưỡng chủ
yếu là các vị sau:
Thiên Hậu thánh mẫu
Thiên Hậu còn gọi là Thiên Phi hay Mã Tổ. Ở Hội An,
Thiên Hậu được thờ chủ yếu tại các hội quán: Trung
Hoa, Phúc Kiến, Quảng Đơng và được thờ trong nhiều
gia đình người Hoa. Các hội quán có thờ Thiên Hậu
của người Hoa ở Hội An được xây dựng theo hình chữ
国 (quốc), gồm nhà tiền giảng (tiền điện), chánh điện,
tả vu và hữu vu (cịn gọi là nhà Đơng và nhà Tây). Nhà
tiền giảng gồm 3 gian với nhiều cột gỗ cao to, tường
lắp bằng các mảng đá lớn được vận chuyển từ Trung
Quốc sang. Chính điện được nối với nhà tiền điện bởi
tả vu và hữu vu. Kết cấu bên trong của chánh điện
chủ yếu là khung gỗ với hệ thống cột kèo cao to, sơn
son tráng lệ. Vì kèo được tạo theo kiểu “chồng rường
giả thủ”, chạm trổ tinh xảo, cầu kỳ. Gian giữa rộng
lớn là nơi bày khám thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu gọi
là Thiên Hậu cung. Trong gian thờ có đặt tượng của
thánh mẫu, các nữ thần hầu, phía trước thờ tượng hai
thần Thiên lý nhãn (Thần nhìn xa) và Vạn lý nhĩ (Thần
nghe xa, còn có tên là Thuận Phong nhĩ). Theo dân
*
Phịng Văn hóa & Thơng tin thành phố Hội An.
40
Phát triển
Kinh tế - Xã hội
Đà Nẵng
gian đây là 2 vị thần, bộ tướng của Thiên Hậu thánh
mẫu, một vị nhìn xa và một vị nghe xa có nhiệm vụ
giúp Thiên Hậu trong việc cứu nạn trên biển. Ngồi ra,
trong hội qn cịn thờ mơ hình thuyền buồm, đây là
mẫu thuyền ngày xưa được người Hoa sử dụng làm
phương tiện hàng hải giao thương buôn bán.
Theo sách Đại Thanh hội điển sự lệ, bà Thiên Hậu
họ Lâm, tên Mặc Nương, người huyện Bồ Điền, tỉnh
Mân (nay là tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc). Nhà họ Lâm
nhiều đời làm quan, đến đời cha bà là Duy Ý Công cưới
bà Vương Thị đã lâu mà khơng có con. Sau nhiều lần
cầu đảo, mẹ bà thọ thai và sinh bà vào ngày 23 tháng
Miền Trung - Tây Nguyên
3 năm Kiến Long triều Tống (960). Lên 13 tuổi bà được
một đạo sĩ truyền cho Nguyên trưng bí pháp, năm 16
tuổi được diệu bùa và cảm phép linh thơng biến hóa.
Từ đó bà hay đuổi tà giúp dân nên dân chúng tôn bà
là Linh hiền thông nữ. 13 năm sau, vào tiết trùng cửu
(mồng 9 tháng 9 âm lịch), bà lên núi ở đảo My Châu,
giữa ban ngày phi thẳng lên trời. Kể từ đó, bà thường
hiển linh cứu dân giúp nước, đặc biệt là cứu vớt
những tàu thuyền gặp nạn trên biển. Ngoài ra bà còn
thu nạp được 2 vị thần là Thiên lý nhãn và Vạn lý nhĩ.
Hai vị này thường xuyên nghe nhìn để bẩm báo bà
kịp thời cứu nạn. Để tưởng nhớ công đức của bà, các
triều đại phong kiến Trung Hoa đều ban sắc phong
thờ cúng. Lần sắc phong đầu tiên vào năm Tuyên Hòa
thứ 4 triều Tống (1122), bà được phong là Thuận tế
phu nhân. Lần sắc phong cuối là vào năm Đạo Quang
thứ 19 triều Thanh (1839), bà được gia phong mỹ tự
Hộ quốc tý dân diệu linh chiêu ứng hoằng nhân phổ tế
thiên thượng thánh mẫu. Các vua triều Nguyễn ở Việt
Nam cũng nhiều lần ban sắc cho bà. Năm Minh Mạng
năm thứ 7 (1826) bà được sắc phong là Hồng từ bác
nghĩa an tế thượng đẳng thần; năm Tự Đức năm thứ 3
(1850) gia phong mỹ tự Hồng từ bác nghĩa an tế phổ
trạch gia trang thiên phi thượng đẳng thần.
Từ xưa đến nay, người Hoa ở Hội An tổ chức cúng
bà vào hai dịp chính: ngày vía của bà vào ngày 23
tháng 3 âm lịch và ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch hàng
năm.
Quan Thánh đế quân
Sách Đào Viên Minh thánh kinh chép rằng vào
thời Tam Quốc (220 - 280) ở Trung Quốc có người tên
Quan Vũ, tự Vân Trường, từng ứng mộ dẹp giặc Khăn
Vàng và đã kết nghĩa đào viên với Lưu Bị và Trương
Phi. Ngài là một danh tướng bậc nhất đã có nhiều
cơng lao lớn, phị Hán dẹp Ngơ diệt Ngụy, nổi tiếng là
người trung nghĩa tiết liệt và đức độ.
tích cộng đồng lớn như: Miếu Quan Công (thường
gọi là Chùa Ơng), Hội qn Quảng Đơng. Ơng cịn
được thờ phổ biến tại các gia đình người Hoa. Bước
chân vào những ngơi nhà của người Hoa, điều đầu
tiên đập vào mắt là ngay trên gian trung ngơi nhà có
đặt một khám thờ lớn, đó chính là khám thờ Quan
Thánh đế qn. Quan Thánh là vị nam thần được thờ
phụng rộng rãi và được tôn sùng vào bậc nhất trong
cộng đồng người Hoa ở Hợi An, bởi vì họ cho rằng
“Ơng” rất linh thiêng, linh ứng. Tín ngưỡng này có
nguồn gốc từ rất lâu.
Khám thờ Quan Thánh đế quân hầu hết được sơn
son thếp vàng, bên ngồi đều có chạm những câu
đối mang nội dung ca tụng lịng trung nghĩa của ngài
như: Chí tại Xuân Thu công tại Hán. Trung đồng nhật
nguyệt nghĩa đồng thiên (Chí tại sách Xn Thu, lập
cơng lao cho nhà Hán. Trung nghĩa tự nhật nguyệt,
nghĩa khí cao bằng trời), hoặc: Tam Quốc anh hùng
vô đối thủ. Nhất trường trung liệt hữu hồn nhân (Thời
Tam Quốc khơng có ai là đối thủ. Trong trường trung
liệt ngài là người hoàn hảo nhất).
Bên trong khám thờ thường đặt một bức tranh
hay tượng của Quan Thánh, hai bên là bộ tướng Châu
Thương và quan thái tử Quan Bình. Nếu nhà nào
khơng có ảnh, tượng thì dùng giấy đỏ viết một bài vị
lớn: Hiệp thiên đại đế Quan Thánh đế quân. Vị trí khám
thờ thường đặt ở những nơi trang trọng nhất: giữa
nhà, cao hơn bàn thờ, khám thờ gia tiên và đại đa số
hướng khám quay theo hướng nhà. Người Hoa quan
niệm rằng Quan Thánh có tài trừ ma diệt quái nên
khám ngài phải quay ra hướng cửa để ngài giám sát
không cho tà ma vào quấy phá gia đình. Sau khi hiển
thánh ở núi Ngọc Tuyền, vì hay hiển linh giúp nước
cứu đời (hộ quốc tý dân) nên nhiều lần được ban sắc
phong thờ tự. Ngồi ra, người Hoa cịn cho rằng Quan
Thánh là vị thần hộ mạng cho những người đàn ông
Vào đời Hán Hằng Đế, niên hiệu Kiến An năm thứ
24 (219), ngài bị bại trận, mất rồi hiển thánh tại Lâm
Thư, núi Ngọc Tuyền. Sau đó, ngài hay hiển linh trừ
ma, đuổi tà, giúp nước, cứu đời nên được sắc phong
Tam giới phục ma đại đế thần uy viễn chấn thiên tôn
Quan Thánh đế quân và được lập miếu thờ ở nhiều
nơi. Ở Việt Nam, vào đầu thời Nguyễn cũng cho dựng
miếu Quan Công ở các tỉnh và ban sắc phong để thờ
cúng. Thần hiệu cao nhất của Quan Thánh được sắc
phong là Quan Thánh đế quân hộ quốc tí dân hiển hữu
cơng đức dực bảo trung hưng đại vương tôn thần.
Ở Hội An, Quan Thánh được thờ chủ yếu ở các di
Phát triển
Kinh tế - Xã hội
Đà Naüng
41
Miền Trung - Tây Nguyên
làm chủ gia đình nên càng cần phải thờ cúng ngài.
Quan Thánh thường được cúng vào các ngày sóc
(mờng 1 âm lịch), vọng (ngày rằm) hàng tháng và các
ngày lễ tiết trong năm. Đặc biệt, đến ngày “vía Ơng”
thì cúng càng lớn và sắm nhiều lễ vật hương hoa đến
lễ bái tại Miếu Quan Công và Hội quán Quảng Đông.
Phục Ba tướng quân
Theo truyền thuyết Phục Ba tướng quân là vị thần
có tài chém sóng trị gió, nên được vua sắc phong Phục
Ba tướng quân (tướng chinh phục sóng gió). Theo các
tư liệu lịch sử của Trung Hoa cũng như truyền thuyết
của dân gian thì ít nhất có 3 vị tướng được phong là
Phục Ba tướng quân là Lộ Bác Đức, Mã Viện và Trịnh
Thành Công. Tuy nhiên, trong các tư liệu thư tịch,
sổ sách cũng như các cơng trình nghiên cứu về tín
ngưỡng của người Hoa ở Hội An vẫn chưa xác định
được Phục Ba tướng quân hiện được người Hoa ở Hội
An thờ cúng là vị nào trong 3 vị kể trên.
Ở Hội An, Phục Ba tướng quân được giới thương
buôn người phủ Triều Châu phụng thờ tại Hội quán
Triều Châu để cầu mong thuận buồm xi gió, vượt
biển giao thương bn bán. Hàng năm vào tiết
Thượng nguyên (rằm tháng Giêng), Hội quán Triều
Châu đều tổ chức lễ Nguyên tiêu, giỗ tổ tiền hiền và
cúng Phục Ba tướng quân.
Chiêu Ứng công
Tại Hội An, các vị Chiêu Ứng được thờ tại Hội quán
Quỳnh Phủ của người Hải Nam. Thần tích hiện đang
lưu giữ tại Hội quán Quỳnh Phủ ghi chép về 108 vị
Chiêu Ứng như sau: Ngày 18 tháng 6 năm Tự Đức thứ
4 (16.7.1851), chiếc tàu Bằng Đoàn của triều đình nhà
Nguyễn, do Lang trung Tơn Thất Thiều và Suất đội
Phạm Xích điều khiển, trên đường tuần tiểu từ Thừa
Thiên vào Bình Định, đang đậu ở bến Thị Nại (Quy
42
Phát triển
Kinh tế - Xã hội
Đà Nẵng
Nhơn), thì được tin có 3 chiếc tàu khả nghi hạ neo ở
đảo Chiêm Dư, thuộc hải phận tỉnh Quảng Ngãi. Chiếc
Bằng Đồn vợi trở ra Quảng Ngãi, tới nơi thấy quả có
3 chiếc tàu Trung Hoa thật, liền xả đại bác bắn luôn.
3 chiếc tàu của Trung Hoa sợ quá bỏ chạy về hướng
Đông không dám kháng cự. Hai hơm sau thì tàu Bằng
Đồn lại phát hiện một trong 3 chiếc Trung Hoa đã
trúng đạn, tàu này hư nặng hạ b̀m xin hàng.
Thủy thủ của tàu Bằng Đồn bắt loa ra lệnh cho
hành khách lên tàu quan để khám. 33 người Trung
Quốc kéo sang với bộ điệu khúm núm sợ sệt. Họ xuất
trình thuyền bài và nói họ là các nhà buôn ở ngay
Thừa Thiên và Quảng Ngãi, nay về xứ Hải Nam chứ
không phải là giặc biển. Họ cịn khai là có biết quan
Lang trung Tơn Thất Thiều, nhưng cả viên Lang Trung
dòng Tôn Thất và vị Suất đội họ Phạm đều lờ đi. Quan
binh khám tàu Trung Hoa, chỉ thấy có hàng hóa mà
thơi, khơng có thứ vũ khí nào. Mặc dầu biết họ là
những người lương thiện Tôn Thất Thiều vẫn ra lệnh
cho Hiệp quản Lương Cù trói 47 hành khách trên tàu
Trung Hoa và giết hết, quẳng xuống nước vào khoảng
canh hai. Những người bước qua tàu Bằng Đồn cũng
khơng thốt chết. Tất cả là 107 nạn nhân, may một kẻ
nấp dưới khoang thuyền, nhảy xuống biển trốn được.
Bao nhiêu của cải bên tàu người Trung Hoa đều bị
tịch thu sạch, rồi chiếc tàu của nạn nhân được sơn
đen để trở thành tàu của giặc biển và được lơi về để
nêu cao thành tích.
Ngày 27 tháng 6 năm ấy, mấy ơng “gian quan” cịn
dâng biểu lên vua Tự Đức miêu tả chiến công oanh liệt
của mình, nhưng vua Tự Đức lấy làm hồi nghi, vì từ
trước đến nay chưa bao giờ thủy quân triều Nguyễn
chứng tỏ tài cán trong việc chống giữ giặc biển. Vì
thế, vua Tự Đức lệnh cho bộ Hình mở cuộc điều tra,
chất vấn qn lính của tàu Bằng Đồn và xem xét
hiện trạng của tàu Trung Hoa. Sự gian dối dần dần bị
phanh phui. Sau đó viên Đội trưởng Trần Văn Hựu do
hối hận về thảm cảnh của những người khách buôn
Trung Hoa nên đã khai hết sự thật với bộ Hình. Vụ án
kết thúc, Tơn Thất Thiều và Phạm Xích lãnh án lăng
trì, 5 người khác bị trảm quyết, vài người liên quan
khác bị phạt trượng và bị đày đi 3.000 dặm, một số
quan lại bị giáng chức. Tài sản của các thủ phạm bị
tịch biên để đền bù cho các nạn nhân. Số hàng hóa
bị thu đoạt cũng được trả lại cho quyến thuộc những
người xấu số. Từ đó người Hoa gốc Hải Nam thờ 108
vị Chiêu Ứng làm chủ thần và được cúng tế vào ngày
rằm tháng 6 hàng năm.
Miền Trung - Tây Nguyên
Bà Mụ
Bà Mụ được thờ gian phía đơng ở hậu điện của Hội
qn Phước Kiến. Đây là nơi “cầu tự” duy nhất ở tại Hội
An. Theo quan niệm của người Hoa, Bà Mụ là từ chỉ
chung cho 15 vị thánh gồm 3 Bà chúa sanh thai (còn
gọi là Sanh Thai nương nương) và 12 Bà Mụ (còn gọi là
Thập nhị hoa bà hay Kim Hoa nương nương).
Theo truyền thuyết, Sanh Thai nương nương là 3
bà Bích Tiêu tiên bà, Vân Tiêu tiên bà và Quỳnh Tiêu tiên
bà. 3 bà đã được phong thần và “có nhiệm vụ” chuyên
lo việc “nặn tạo” bào thai. 12 bà Kim Hoa nương nương
thì chuyên lo việc dạy cho đứa trẻ sau khi sinh biết
khóc, biết cười, biết ngủ... Cơng việc của 12 Bà Mụ
được phân bổ trong 12 tháng, cho đến ngày đứa trẻ
trịn tuổi (thơi nơi) như sau: Mụ bà Vạn Tứ nương coi
việc thai nghén (chú thai), Mụ bà Lâm Cửu nương coi
việc thụ thai (thủ thai), Mụ bà Lưu Thất nương coi việc
nặn hình hài nam, nữ cho đứa bé (chú nam nữ), Mụ bà
Lâm Nhất nương coi việc chăm sóc bào thai (an thai),
Mụ bà Lý Đại nương coi việc chuyển dạ (chuyển sanh),
Mụ bà Trần Tứ nương coi việc sanh đẻ (chú sanh), Mụ
bà Hứa Đại nương coi việc khai hoa nở nhụy (hộ sản),
Mụ bà Cao Tứ nương coi việc ở cữ (dưỡng sanh), Mụ
bà Tăng Ngũ nương coi việc chăm sóc trẻ sơ sinh (bảo
tống), Mụ bà Mã Ngũ nương coi việc ẵm bồng con trẻ
(tống tử), Mụ bà Trúc Ngũ nương coi việc giữ trẻ (bảo
tử), Mụ bà Nguyễn Tam nương coi việc chứng kiến và
giám sát việc sinh đẻ (giám sanh).
Ở hội quán Phúc Kiến, hằng năm đến dịp vía Bà
Mụ vào ngày mồng 1 tháng 2 âm lịch, có nhiều người
đến dâng hương cầu cúng. Lễ vía Sanh Thai tiên
nương - Bà Mụ tại hội quán Phước Kiến thường do
Hội Bà trong Nhuận Sanh phổ đứng ra chủ trì tổ chức.
Từ việc cúng vía Sanh Thai nương nương tại hội quán
Phước Kiến kết hợp với nhiều truyền thuyết liên quan
đến Bà Mụ cùng các tục lệ về cầu tự, cầu được bình
an trong sinh nở hiện lưu truyền tại địa phương phần
nào đã thể hiện sự quan trọng của tục thờ cúng Sanh
Thai nương nương - Bà Mụ cùng những vị thần bảo
trợ bà mẹ, trẻ em, bảo trợ việc sinh nở trong đời sống
tinh thần của người Hoa ở Hội An trước đây cũng như
hiện nay.
Thần Tài
Do người Hoa chủ yếu là tầng lớp thương nhân
nên Thần Tài được thờ rất phổ biến từ các hội quán
đến từng gia đình. Hệ thống thần tài được người
Hoa thờ cúng rất đa dạng, với nhiều vị thần chuyên
lo ban tài phát lộc, chưởng vạn dân phúc lộc, thông
thiên hạ tài nguyên (nắm giữ phúc lộc của vạn dân,
làm thông suốt nguồn tài nguyên), gồm: Tài Bạch tinh
quân, Phước Đức chánh thần, Ngũ Lộ tài thần, Chiêu Tài
đồng tử, Lợi Thị tiên quan, Huyền Đàn Triệu Cơng Minh
ngun sối...
Ở các hội qn, Thần Tài được thờ trong các khám
lớn ở các gian tả hoặc hữu của chánh điện. Khám thờ
thần tài ở các nhà thì thường đặt dưới đất, mặt quay
theo hướng nhà, bên trong có đặt bài vị ghi tên các
vị thần tài, thổ địa như sau: Ngũ phương ngũ thổ long
thần, Tiền hậu địa chủ tài thần và hai câu đối: Kim chi
sơ phát diệp. Ngân thụ chánh khai hoa. Ngồi ra cịn
phải đặt hai tượng Thần Tài và Thổ Địa cùng hương
hoa, trà rượu. Sở dĩ Thần Tài và Thổ Địa được thờ trong
cùng một khám vì dân gian quan niệm rằng: An nhân
tự an trạch, hữu thổ thử hữu tài (n nhân nghĩa thì
nhà tự n ổn, có đất đai thì mới có tiền tài), hay lại
cho rằng đất đai yên ổn thì tài lộc mới nảy sinh: Thổ
vượng tài thần vượng, thần an dân tự an (Đất vượng tài
mới vượng, thân yên dân tự yên).
Thần Tài được cúng vào những ngày sóc, vọng
hàng tháng, lễ tiết trong năm và các ngày vía của
Thần Tài, nhưng hầu hết các gia đình đều cúng Thần
Tài vào mỗi buổi sáng trước khi bán hàng. Lễ vật dâng
cúng thần tài bao gồm hương đèn, hoa quả, thịt quay
Phát triển
Kinh tế - Xã hội
Đà Nẵng
43
Miền Trung - Tây Nguyên
và những lễ vật khác tùy theo thành tâm của chủ nhà.
Ngoài việc cúng tế tại gia, hàng năm vào các dịp lễ
tiết lớn, nhất là ngày vía Tài Bạch tinh quân ở các hội
quán, người ta còn đến cúng tế cầu tài xin lộc làm ăn,
mong muốn buôn mau bán đắt, tài lộc dồi dào.
Ngũ tự gia đường
Người Hoa quan niệm rằng: Nước có vua, nhà có
chủ. Chủ nhà trong câu này chính là thần Ngũ tự gia
đường, do đó mà hầu như trong tất cả các gia đình
người Hoa đều có thờ Ngũ tự gia đường. Đây là một
tập tục có thuyền thống lâu đời và đang được duy
trì thờ tự. Theo truyền khẩu, người Hoa ở Hội An cho
rằng Ngũ tự gia đường gồm 5 vị thần cai quản nhà cửa,
đất đai, gồm: Định phước Táo quân; Thần Cửa, Thần
Cổng; Thần Giếng và Thần Trung lưu (Môn, Hộ, Táo,
Tỉnh, Trung lưu thị vi ngũ tự). Đây là 5 vị thần chủ nhà,
chưởng quản mọi việc tốt xấu, trừ hung tai, giáng cát
tường, chức năng của từng vị như sau:
- Định Phước Táo quân: Là bộ gồm ba Táo gọi
chung là Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân, gồm:
Thổ công (Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân), Thổ
địa (Thổ địa long mạch địa chủ tôn thần) và Thổ kỳ
(Ngũ phương ngũ thổ phước đức chánh thần). Ba Táo
chuyên lo việc bảo hộ bình an, trừ tai, giáng phước.
- Thần Cửa và Thần Cởng: Theo truyền thuyết của
người Hoa thì đây là Nhị vị môn thần với những tên
gọi khác nhau như: Thần Đồ - Uất Lũy (hay Thần Thư
- Uất Luật), Tần Quỳnh - Uất Trì (hay Tần Thúc Bảo Uất Trì Cung), Khương Duy - Ngụy Diên. Nhị vị mơn
thần có nhiệm vụ bảo hộ bình an cho gia chủ, canh
giữ không cho tà ma ngoại đạo xâm phạm nội gia
viên trạch, thậm chí đến ngày giỗ kỵ những người đã
khuất trong gia đình nếu gia chủ khơng thắp nhang
khấn vái xin phép thì những người đó cũng khơng
được phép vào nhà. Các vị thần này khơng có khám
thờ riêng mà chỉ có hai ống cặm nhang treo ở hai bên
cổng và cửa ra vào.
- Thần Giếng: Là Long mạch tỉnh thần, quản lý một
trong những vấn đề sống còn của con người, đó là
nước. Thần cịn chủ trì long mạch trong khn viên
điền thổ, vì vậy khi khai giếng, đào ao phải xem chọn
ngày giờ kỹ lưỡng và chọn vị trí phù hợp, nếu khơng
cẩn thận để động đến long mạch thì sẽ tổn hại khơng
nhỏ cho gia chủ.
- Thần Trung lưu: Chính là Đương cảnh thổ địa tơn
thần, cai quản đất đai, bảo hộ sự bình an cho gia viên
điền trạch. Vì vậy, nếu đất bị động thì bất lợi cho gia
chủ, trong nhà có người đau ốm, tiền của tiêu hao.
Trong khu phố, các nhà người Hoa thờ thần Trung
lưu trên một khám nhỏ (còn gọi là cảnh) đặt giữa sân,
trên khám có đặt lư hương và chưng bày hoa quả.
Ngồi ra, tại khơng gian sân trời các nhà người Hoa
cịn xây một khám thờ bên trong có đặt bài vị Thiên
quan Tứ phước, bên ngồi có thêm câu đối: Thiên tứ
bình an phước, nhân nghinh phú quý xuân (Trời ban
bình an phước, người đặng phú quý xuân). Tuy mỗi vị
thần trong Ngũ tự đều có một chỗ thắp hương riêng
nhưng ngay trong gian chính của mỗi nhà đều phải
đặt một khám thờ chính, mặt quay theo hướng nhà
để thờ Ngũ tự gia đường.
Định Phước Táo quân
Như trên đã nêu, Định Phước Táo qn cịn gọi
Đơng trù tư mệnh Táo phủ thần quân là danh hiệu
chung của 3 vị Táo quân (Thổ công, Thổ địa, Thổ kỳ).
Người Hoa cho rằng đây là vị thần tối cao quan trọng
nhất trong hệ thống Ngũ tự gia đường, là vị thần chủ
chốt trong một gia đình: Nhất gia chi chủ, Ngũ tự chi
thần. Từ xưa đã truyền tụng Tứ thời xuân tại thủ, Ngũ
tự táo vi tiên (Bốn mùa xuân trước hết, Ngũ tự Táo đầu
tiên), vì vậy mà phải thờ cúng Táo quân chu đáo, thận
trọng, không được khinh suất, xem thường. Vào ngày
23 tháng Chạp hàng năm, các Táo mang sớ về trời tâu
với Thượng Đế việc trần gian trong śt 1 năm. Ngày
đó gọi là tết ơng Táo nên mỗi nhà phải sắm sửa lễ vật
để tống tiễn. Đến ngày 30 tháng Chạp (tất niên) thì
Táo mới quay trở lại nhân gian, mọi nhà cũng phải
thành kính nghinh tiếp. Lễ vật cúng Táo quân thường
là hương hoa, trà quả, giấy tiền vàng bạc (kim ngân),
tranh vẽ Táo quân và bộ đồ ông Táo. Bộ đồ ông Táo
chỉ gồm một đơi hia và mão, khơng có quần áo như
những bộ đồ cúng gia tiên.
Qua khảo sát thực địa ở các nhà của người Hoa,
44
Phát triển
Kinh tế - Xã hội
Đà Naüng
Miền Trung - Tây Nguyên
chúng tôi thấy hầu hết khám thờ Táo quân đa số
quay về hướng tây hoặc hướng nam, hầu như khơng
có trường hợp quay về hướng bắc hoặc hướng đơng,
điều này có lẽ là họ kế thừa phong thủy truyền thống
bao đời của tổ tiên.
Chúa Tiên thánh mẫu
Tục thờ Chúa Tiên ở các gia đình cũng khá phổ
biến. Nhiều người Hoa cao tuổi cho biết họ thờ Chúa
Tiên cũng khơng ngồi mục đích cầu mong bà bảo
hộ sự bình an cho gia chủ: Chúa Tiên thường bảo hộ,
gia chủ đắc bình an (Chúa Tiên thường bảo hộ, Gia chủ
được bình an). Chúa Tiên thường được thờ trên một
khám riêng, bên trong có hình ảnh hoặc bài vị Chúa
Tiên thánh mẫu. Ngồi ra, có một số gia đình lại thờ
Chúa Tiên chung vào khám thờ Quan Thánh. Chúa
Tiên khơng có ngày cúng nhất định, chỉ phối tế (cúng
chung) vào các ngày sóc, vọng, lễ, tết,... Tục tin rằng
Quan Thánh đế quân là thần hộ mệnh cho nam giới,
thì Chúa Tiên thánh mẫu là thần hộ mệnh cho nữ giới
trong mọi gia đình.
Ngồi những vị thần, thánh chủ yếu được thờ tự
trên đây, cộng đồng người Hoa ở Hội An còn thờ một
số vị thần thánh khác như Huyền Thiên đại đế, Ngũ
Hành tiên nương… tại các di tích tín ngưỡng và ở gia
đình. Bên cạnh đó, trong q trình cộng cư sinh sống
cùng cộng đồng người Việt họ cịn tham gia sinh hoạt
tại các đình làng, miếu xóm nên trong quan niệm tín
ngưỡng của họ nhất định sẽ ảnh hưởng việc tôn thờ
những vị thần theo quan niệm của người Việt như:
Thiên Y A Na thánh mẫu, Đại càn quốc gia Nam hải tứ
vị thánh nương, Thành Hoàng bổn xứ, Nam hải cự tộc
ngọc lân tôn thần (Cá Ông), hay chúa Lồi, chúa Lạc...
T.Q.H.
4. Li Tana. 1999. Xứ Đàng Trong Lịch sử Kinh tế - Xã hội
Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII. TPHCM: Trẻ.
5. Lục Tánh Vương Gia chúc văn, thờ tại Hội quán Phước
Kiến ở Hội An.
6. Lục Tánh Vương Gia tế lễ nghi thức, lưu giữ tại Hội quán
Phước Kiến ở Hội An.
7. Nguyễn Quốc Hùng. 1995. Phố cổ Hội An và việc giao
lưu văn hóa ở Việt Nam. Đà Nẵng: Đà Nẵng.
8. Phan An. 1990. Chùa Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh.
TPHCM: Tổng hợp TPHCM.
9. Phan Du. 1974. Quảng Nam qua các thời đại Sài Gòn:
Cổ học tùng thư.
10. Phan Khoang. 1971. Việt sử xứ Đàng Trong 1558 1777. Sài Gịn: Khai Trí.
11. Quan Thánh đế quân chúc văn, lưu giữ tại miếu Quan
Công ở Hội An.
12. Quảng Triệu hội quán tế tiên hiền nghi thức, lưu giữ tại
Hội quán Quảng Triệu ở Hội An.
13. Sắc phong Quan Thánh đế quân (KH SP36), lưu giữ tại
miếu Quan Công ở Hội An.
14. Sắc phong Thiên Hậu thánh mẫu (KH SP42), lưu giữ
tại Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội An.
15. Thiên Hậu thánh mẫu chúc văn, thờ tại Hội quán
Phước Kiến ở Hội An.
16. Thiên Hậu thánh mẫu linh tích, bản khắc gỗ, thờ tại
Hội quán Phước Kiến ở Hội An.
17. Thiên Hậu thánh mẫu sử lược giản giới, bản khắc gỗ,
thờ tại Hội quán Trung Hoa ở Hội An.
18. Thiên Hậu thánh mẫu tế lễ nghi thức, thờ tại Hội quán
Phước Kiến ở Hội An.
19. Trần Kinh Hòa. 1960. “Mấy điều nhận xét về Minh
Hương xã và các cổ tích tại Hội An”. Việt Nam khảo cổ tập
san. Số 1.
20. Trần Kinh Hòa. 1957. “Thập thất thập bát thế kỷ Hội
An Đường nhân nhai cập kỳ thương nghiệp”, Tân Á học báo.
21. Trần Văn An, Nguyễn Chí Trung, Trần Ánh. 2005. Xã
Minh Hương với thương cảng Hội An thế kỷ XVII - XIX. Tam Kỳ:
Quảng Nam.
Tài liệu tham khảo
1. Cristoforo Borri. 1998. Xứ Đàng Trong năm 1621. Bản
dịch của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị
TPHCM: TPHCM.
2. Diệp Truyền Hoa. 1974. Hội An kim tích. Hợi An: Trung
Hoa hội qn.
3. Đỗ Bang. 1996. Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ
XVII - XVIII. Hà Nội: VHTT.
22. Triều Châu hội quán tế tiên hiền nghi thức, lưu giữ tại
Hội quá Triều Châu ở Hội An.
23. UBND thị xã Hội An 1986. Đô thị cổ Hội An. Đà Nẵng:
Đà Nẵng.
24. Ủy ban quốc gia Hội thảo khoa học quốc tế về Đô thị
cổ Hội An 1993. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Đô thị cổ Hội An.
Hà Nội: Khoa học Xã hội.
25. Vũ Lang. 1973. Đây Quảng Nam. Đà Nẵng: Đà Nẵng.
Phát triển
Kinh tế - Xã hội
Đà Nẵng
45