Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án mua bán người theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở địa bàn tỉnh hà giang) (luận văn thạc sỹ luật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (29.55 MB, 112 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH THẢO

THỤC HÀNH QUYÊN CONG TÔ VÀ KIÊM SÁT ĐIÊU TRA CÁC vụ
ÁN MUA BÁN NGƯỜI THEO LUẬT TĨ TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM

(trên cơ sở địa bàn tỉnh Hà Giang)

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐINH THỊ MAI

HÀ NỘI - 2022


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng
tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong bất kỳ

cơng trình nào khác. Các sổ liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm
bảo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các

mơn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đê tơi



có thê bảo vệ Luận văn.
Tôi xỉn chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thanh Thảo


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bia
Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng

MỞ ĐÀU....................................................................................................................... 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ THựC HÀNH QUYỀN CƠNG
TĨ VÀ KIÉM SÁT ĐIỀU TRA CÁC vụ ÁN MUA BÁN NGƯỜI.......... 7

1.1.

Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người, các quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán ngưỉri........................... 7

1.1.1.


Khái niệm tội mua bán người......................................................................... 7

1.1.2.

Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội mua bán người................................ 9

1.2.

Khái niệm, đặc điếm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra...................................................................................... 13

1.2.1.

Khái niệm thực hành quyền công tố............................................................. 13

1.2.2.

Khái niệm Kiểm sát điều tra......................................................................... 16

1.2.3.

Mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT trong tố tụng hình sự....................... 20

1.3.

Khái niệm, đặc điểm của thực hành quyền công tố và kiểm sát

điều tra các vụ án mua bán người.............................................................24
1.3.1.


Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án

mua bán người............................................................................................... 24
1.3.2.

Đặc điểm của thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ cán

mua bán người............................................................................................... 25

1.4.

Vai trị của thực hành quyền cơng tố và kiểm sát điều tra trong
các vụ án mua bán người đối với quá trình giải quyết đúng đắn vụ

án hình sự..................................................................................................... 28
Tiểu kết chương 1...................................................................................................... 31

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THựC TRẠNG THựC

HÀNH QUYỀN CƠNG TĨ VÀ KIÉM SÁT ĐIÈU TRA CÁC vụ

ÁN MUA BÁN NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG............ 32


2.1.

Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra....32

2.1.1.


Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố........... 32

2.1.2.

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự............... 39

2.2.

Thực trạng thực hành quyền cơng tố và kiểm sát điều tra các vụ

án mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang....................................... 43
2.2.1.

Đặc điểm địa bàn và tình hình tội phạm mua bán người trên địa bàn
tỉnh Hà Giang................................................................................................. 43

2.2.2.

Thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với các
vụ án mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang........................................ 52

Tiểu kết chưong 2....................................................................................................... 69
Chương 3: Dự BÁO TÌNH HÌNH VÀ CẢC GIẢI PHÁP NHẢM NÂNG

CAO HIỆU QUẢ THựC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỀM

SÁT ĐIÈU TRA CÁC vụ ÁN MUA BÁN NGƯỜI TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH HÀ GIANG.............................................................................. 70

3.1.

Dự báo tình hình tội phạm mua bán người và yêu cầu nâng cao

chất lương thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra trong các
vụ án mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang..................................70

3.1.1.

Dự báo về tình hình tội phạm mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà
Giang trong thời gian tới............................................................................... 70

3.1.2.

Yêu cầu nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát

điều tra trong các vụ án mua bán người........................................................74
3.2.

Các giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và

kiểm sát điều tra trong các vụ án mua bán ngưòi................................... 79
3.2.1.

Giải pháp về nghiên cứu, tham mưu hồn thiện quy định của pháp luật
hình sự về tội mua bán người và pháp luật tố tụng hình sự về thực

hành quyền cơng tố và kiểm sát điều tra trong vụ án hình sự..................... 79
3.2.2.


Các giải pháp về tố chức, thực hiện nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án mua bán người..................... 82

Tiểu kết chưoiìg 3......................................................................................................100
KÉT LUẬN...............................................................................................................101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 103


DANH MỤC TÙ VIẾT TẤT

ADPL

Áp dụng pháp luật

BLHS

Bơ• lt
• hình sư•

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hỉnh sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

ĐTV


Điều tra viên

KSĐT

Kiểm sát điều tra

THQCT

Thực hành quyền cơng tố

TNHS

Trách nhiêm
• hình sư•

VAHS

Vu• án hình sư•

VKS

Viên
• kiểm sát

VKSND

Viên
• kiểm sát nhân dân



DANH MỤC CÁC BẢNG

r

SƠ niêu

Tên bảng



Trang

So sánh tống số vụ án mua bán người được khởi tố trên toàn

Bảng 2.1

quốc với số vụ án mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang
trong 6 năm (2016 - 2021)

Bảng 2.2

47

So sánh tồng thụ lý KSĐT tội phạm nói chung với tội mua bán

người trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong 6 năm (2016 - 2021)

48

So sánh số liệu thống kê tổng số tội phạm về trật tự, trị an xã

Bảng 2.3

hội với tội mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong 6

năm (2016 - 2021)
Bảng 2.4

48

Số liệu thống kê khởi tố các vụ án mua bán người tại tỉnh Hà

Giang trong 6 năm (từ năm 2016 - năm 2021)

54


MỎ ĐÀU
1. Tính câp thiêt của đê tài
Thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động điều tra vụ án

hỉnh sự là chức nãng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), bảo đảm hoạt động

khởi tố, điều tra, truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội
phạm và người phạm tội, không làm oan người vơ tội, góp phần ốn định xã hội,

phát triển kinh tế, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đảng ta đã chủ trưong đổi

mới tố chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm
sát nhân dân. Đây là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng với mục tiêu là


“xây dựng nền tư pìỉảp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ

công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dãn, phụng sự Tô quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa...

Thực tiễn những năm qua cho thấy, Viện kiểm sát (VKS) đã thực hiện tốt
chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động điều tra góp phần đấu tranh, phịng ngừa

tội phạm nói chung đặc biệt là đấu tranh chống tội phạm mua bán người nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của VKS vẫn còn những hạn chế
trong việc thực hiện chức năng của minh như: vẫn để xảy ra tỉnh trạng hồ sơ vụ án

phải trả đế điều tra bổ sung, vẫn cịn tình trạng tạm đình chỉ kéo dài... Việc nghiên
cứu về hoạt động giải quyết vụ án hình sự về tội mua bán người nói chung và hoạt

động THQCT và KSĐT đối với các vụ án mua bán người nói riêng là một trong
những nội dung rất quan trọng ở Việt Nam hiện nay cũng như đối với tỉnh Hà

Giang. Điều này xuất phát từ một số lý do sau đây:
Thứ nhất, Hà Giang là tỉnh nằm ở cực Bắc của Tổ quốc, có đường biên giới
dài 274 Km, tiếp giáp với nhiều địa phương của Trung Quốc. Tồn tỉnh có 22 dân

tộc anh em sinh sống, đa phần là người dân tộc thiểu số. Với những đặc thù riêng

của địa phương, loại hình tội phạm mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang có
nhiều điểm khác biệt so với các địa phương trong cả nước. Hàng năm số vụ án mua

bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang ngày càng gia tăng chiếm tỷ lệ cao trong các

1



loại tội phạm xảy ra trên địa bàn. Tội phạm mua bán người đang có chiêu hướng
phức tạp, đặc biệt là nạn mua bán phụ nữ và trẻ em đang là một hiện tượng nhức nhối
chung ờ nước ta hiện nay. vấn nạn này không chỉ xâm hại đến quyền con người, làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoe, tinh thần, tính mạng của nạn nhân mà cịn tác

động xấu đến đạo đức, giống nòi, lối sống, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng trực tiếp

đến tình hình an ninh, trật tự của đất nước.

Thứ hai, Ớ VKSND tỉnh Hà Giang cho thấy chất lượng THQCT và KSĐT
các vụ án mua bán người ngày càng được nâng cao, chất lượng công tố được đảm

bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, những năm gần đây (giai đoạn

2016 - 2021) tình hình vi phạm pháp luật, đặc biệt là tình hình tội mua bán người
vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp, việc giải quyết các vụ án mua bán người đang

cịn gặp nhiều khó khăn cả về lý luận và thực tiễn bởi tội mua bán người diễn biến

phức tạp, quá trinh giải quyết án chia thành nhiều giai đoạn khác nhau do vậy hoạt
động điều tra, truy tố gặp nhiều khó khăn. Việc quản lý, chỉ đạo điều hành đối với

cơng tác này cịn có những thiếu sót nhất định. Hoạt động THQCT và KSĐT của
VKS trên địa bàn tỉnh Hà Giang đối với các vụ án mua bán người cịn bộc lộ những

hạn chế, thiếu sót chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, đồng thời một số
quy định cùa pháp luật cịn mang tính chung, chưa có hướng dẫn cụ thể nên ảnh


hưởng khơng nhở đến hoạt động THQCT và KSĐT của VKS. Những hạn chế, thiếu
sót này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, có những hạn chế, bất

cập cùa pháp luật và một phần trách nhiệm, năng lực cùa đội ngũ cán bộ THQCT và

KSĐT án hình sự.
Đe góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác THQCT và KSĐT
các vụ án mua bán người cần có sự nghiên cứu, đề ra những giải pháp nâng cao hiệu

quả để công tác THQCT và KSĐT các vụ án mua bán người của Viện KSND trên
địa bàn tỉnh Hà Giang đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện

nay tác giả chọn đề tài “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án

mua bán người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở địa bàn tỉnh Hà
Giang) ” làm luận văn thạc sĩ Luật học.

2


2. Tình hình nghiên cứu đê tài
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ cơ sở lý luận và
thực tiễn, chỉ ra những bất cập cịn tồn tại trong cơng tác “THQCT và KSĐT các vụ

án mua bán người theo Luật tố tụng hinh sự Việt Nam từ thực tiễn trên địa bàn tỉnh
Hà Giang”, nguyên nhân của những bất cập và đề xuất những giải pháp thiết thực

nâng cao hiệu quả THQCT và KSĐT đảm bảo đầy đủ tính dân chủ, bình đẳng,

khách quan, công khai theo đúng tinh thần của Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị


quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị (Khóa IX).

Nghiên cứu về tội mua bán người nói chung, cơng tác THQCT và KSĐT
trong các vụ án hình sự về mua bán người nói riêng trong giai đoạn vừa qua đã có

nhiều cơng trình đề cập, có thể kể đến như:
Cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người ở Việt Nam hiện nay (Luận văn
tiến sĩ Luật học (2020) của Đỗ Thị Lý Quỳnh bảo vệ tại Học viện chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh; Tội mua bán người, mua bán trẻ em trên địa bàn tỉnh Hà Giang - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn (Luận văn thạc sĩ Luật học (2014) của Trần Thị Quế

bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về tội mua bán người trong luật hình sự Việt Nam (Luận văn thạc sĩ Luật học

(2014) của Đoàn Ngọc Huyền bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội)...

Các bài viết: Luật Phòng, chống mua bán người - Cơ sở pháp lý đấu tranh chống tội
phạm mua bán người trong thời gian tới của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (Tạp chí
CAND số chuyên đề tháng 8 năm 2011); Thực hành quyền công tố và kiểm sát
trong giai đoạn truy tố các vụ án về mua bán người (Tạp chí Khoa học Kiểm sát số

2 năm 2020) của PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh; Thực trạng các vụ án mua bán người,
mua bán trẻ em - Một số vướng mắc và kiến nghị của tiến sĩ Phạm Minh Tuyên,

Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh (Tạp chí Tịa án nhân dân năm 2018); Tình hình tội
phạm mua bán người trong giai đoạn hiện nay và một số giải pháp phịng ngừa
(Tạp chí Khoa học Kiểm sát Chuyên đề 08 năm 2018) của TS. Nguyễn Thị Thu

Dung. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác THQCT, kiểm sát việc giải

quyết các vụ án mua bán người của tác giả Lê Minh Long (Tạp chí Khoa học Kiểm

sát Chuyên đề 02 năm 2020)...

3


Trong các cơng trình kê trên các tác giả đã nghiên cứu vê thực trạng, tỉm ra
nguyên nhân và đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội mua bán người trên toàn quốc

hoặc ở một số địa phương nhất định, một số tác giả đề cập đến những vấn đề
chuyên sâu như: các giải pháp phòng ngừa tội phạm hay vấn đề hồn thiện pháp luật

để phịng ngừa tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em dưới góc độ tội phạm học; các giải

pháp nâng cao chất lượng THQCT và kiểm sát giải quyết các vụ án mua bán người.

Tuy nhiên, cho đến hiện nay, chưa có một cơng trình nào nghiên cứu cụ thể về hoạt
động THQCT và KSĐT trong giải quyết các vụ án mua bán người trên một địa bàn
cụ thể là tỉnh Hà Giang ở góc độ nghiên cứu luật hình sự và tố tụng hình sự, do đó

việc tác giả lựa chọn đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
Kế thừa các kết quả nghiên cứu nêu trên tác giả mạnh dạn tiếp cận và nghiên
cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình THQCT và KSĐT các vụ án

mua bán người cùa VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Tác giả mong muốn tìm ra

giải pháp để nâng cao chất lượng trong công tác THQCT và KSĐT vụ án hình sự
nói chung và các vụ án mua bán người nói riêng trên địa bàn tỉnh Hà Giang.


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3. ỉ. Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án mua
bán người, làm rõ thực trạng hoạt động của VKSND trong quá trình THQCT và

KSĐT các vụ án mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Những kết quả, hạn
chế, nguyên nhân tồn tại và những vướng mắc, đề xuất một số giải pháp nâng cao
chất lượng THQCT và KSĐT các vụ án mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang

nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới.
5.2. Nhiệm vụ

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung làm rõ nhừng nội dung

nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu những quy định cụ thế về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
VKSND trong hoạt động THQCT và KSĐT, đặc biệt là đối với tội mua bán người.

- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn của hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án

4


mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang, đông thời phân tích làm rõ những tơn
tại, hạn chế, ngun nhân.

- Từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về
nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT, đặc biệt là
trong công tác THQCT và KSĐT các vụ án mua bán người.


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động THQCT và KSĐT theo
chức năng của VKSND đối với các vụ án mua bán người kể từ khi tiếp nhận tố giác,

tin báo về tội pham, kiến nghị khởi tố cho đến khi kết thúc điều tra vụ án.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về THQCT và KSĐT của VKSND đối với
các vụ án mua bán người xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Giang do Cơ quan Cảnh sát

điều tra thụ lý, trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021

5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy

vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp
luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác điều tra, xử lý tội phạm, về

vấn đề cải cách tư pháp.
Trong quá trinh nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể
như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương

pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học,
thảo luận, trực tiếp khảo sát, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.

6. Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn là một cơng trình nghiên cứu chuyên khảo. Những nghiên cứu của
luận văn là đóng góp nhỏ trong việc làm rõ nhận thức lý luận và đánh giá đúng thực
trạng hoạt động của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong việc thực


hiện chức nàng THQCT và KSĐT các vụ án mua bán người. Qua đó để thấy rõ
được vai trị của VKS, KSV trong cơng tác đấu tranh phịng chống tội phạm hình sự
nói chung và tội mua bán người nói riêng.

5


Kêt quả nghiên cứu của luận văn cịn có giá trị tham khảo cho cán bộ cơ
quan nhà nước có thẩm quyền nói chung cũng như ngành Kiềm sát nói riêng trong

việc đảm bảo chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án mua bán người,
các chính sách, cơ chế thực hiện. Đồng thời, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo

cần thiết và bố ích dành cho khơng chỉ các nhà lập pháp, mà cịn cho các nhà nghiên

cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh
viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật, trang bị những

kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các CQĐT, VKS,
Tòa án và cơ quan Thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách

quan, có căn cứ và đúng pháp luật.

7. Bố cục
văn
• của luận

Ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

Luận văn gồm 03 chương:


Chương 1'. Một số vấn đề lý luận chung về thực hành quyền công tố và kiểm
sát điều tra các vụ án mua bán người.

Chương 2‘. Quy định của pháp luật và thực trạng thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

Chương 3: Dự báo tinh hình và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành
quyền công tố và kiếm sát điều tra vụ án mua bán người trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

6


Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ THựC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIẺM SÁT ĐIỀU TRA CÁC vụ ÁN MUA BÁN NGƯỜI
1.1. Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người, các quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người

1.1.1. Khái niệm tội mua bán người
Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng sự ra đời

của nhà nước và pháp luật, cũng như xã hội phân chia giai cấp đối kháng. Vì vậy, để

bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định những hành vi nào là
tội phạm và áp dụng TNHS và hình phạt đối với người đã thực hiện hành vi đó.

Dưới góc độ pháp luật, theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 thì:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS,


do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn

hóa, quốc phịng an ninh, trật tự, an tồn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của

công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội
chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải xử lý hình sự.

Mua bán người là một loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy

hiểm cho xã hội được toàn nhân loại phản đối, lên án rất mạnh mẽ. Tội
mua bán người làm rối loạn tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xâm

phạm nhân quyền. Đe lại hậu quả nặng nề cả về sức khỏe và tinh thần
của con người. Tuy có những đặc điểm chung của một loại hình tội phạm
nhưng quan niệm về tội mua bán người ở mồi quốc gia so với các quy

định của quốc tế có sự khác biệt, tùy vào mức độ rộng hẹp và cách hiểu
khác nhau [2].

7


Theo Nghị định thư vê phòng ngừa, trân áp và trừng trị hành vì bn người

đặc
• biệt

• là phụ
1
• nữ và trẻ em năm 2000 đưa ra khái niệm;


Bn bán người là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp
hoặc nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt hay lạm dụng

quyền lực hoặc hoàn cảnh dề bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận

tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người để kiểm soát
những người khác. Hành vi bóc lột bao gồm: việc bóc lột mại dâm người

khác hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động
hoặc dịch vụ cường bức, nơ lệ hoặc những hình thức tương tự nô lệ, khổ

sai hoặc lấy đi các bộ phận cơ thể [20, Điều 3].

Các văn bản quy phạm pháp luật về Phòng chống mua bán người cùa Việt
Nam từ trước đến nay, kể cả Luật phòng chống mua bán người năm 2011 và BLHS

đều khơng có định nghĩa về mua bán người mà quy định cụ thể về tội mua bán

người và mua bán người dưới 16 tuổi. Theo quy định mới của Bộ luật hinh sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội mua bán người (Điều 150), tội mua bán

người dưới 16 tuổi (Điều 151) và Nghị quyết số 02/2019 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều 150 và Điều 151 thỉ có thể thấy
Khái niệm về tội mua bán người ở Việt Nam khơng cịn bó hẹp như trước đây mà


đã được mở rộng, phù hợp với Luật mua bán người năm 2011 và tiếp cận với định
nghĩa bn bán người của Nghị định thư về phịng chống mua bán người, theo đó,
Mua bán người được hiểu bao gồm cả ba yếu tố: (1) Hành vi; (2) Phương thức, thủ
đoạn; (3) Mục đích phạm tội [49].

Khác với Nghị định thư sử dụng thuật ngữ quốc tế là "buôn bán người ”,
pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ "mua bán người” để mô tả hành vi này,
theo đó "mua bán người là hành vi dùng tiền, tải sản hoặc lợi ích vật chất khác

đê trao đơi người (Từ đủ 16 tuổi trở lên) như mật loại hảng hóa”. Theo hướng
dẫn tại Nghị quyết số 02/2009 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

ngày 11/01/2019 thì:

8


1. Mua bán người là thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Chuyển giao người đề nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
b) Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

c) Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động,
lấy bộ phận cơ thế của nạn nhân hoặc vì mục đích vơ nhân đạo khác;

d) Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cường bức lao động, lấy bộ phận
cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vơ nhân đạo khác;
đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi

chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này.


2. Mua bán người dưới 16 tuồi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật

chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
b) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất

khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

c) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tinh dục, cưỡng bức lao
động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục địch vô nhân đạo khác;
d) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động,
lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục địch vơ nhân đạo khác;
đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành

vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này. [361.
Trên cơ sở quan niệm, quy định nói trên có thể thấy rằng việc xem xét, đánh
giá tính chất nguy hiểm cho xã hội cùa hành vi mua bán người là càn căn cứ vào các

yếu tố cấu thành tội phạm của các hành vi phạm tội. Từ đó, căn cứ vào các quy định

pháp luật hiện hành, có thể khái niệm: “Tợ/ mua bán người là hành vỉ nguy hiểm
cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự

thực hiện một cách cố ỷ nhằm mua hoặc bán người vì lợi ích cá nhân hoặc vì mục







(27









đích khác và phải chịu hình phạt theo quỵ định của BLHS

1.1.2. Các dấu hiệu pháp lỷ đặc trưng của tội mua bán người
Đẻ nâng cao chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án mua bán

9


người, trước hêt cân phải năm vững các dâu hiệu pháp lý đặc trưng của tội mua bán
người. Việc nắm vững các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này là càn cứ để

nghiên cứu đường lối, giải pháp, biện pháp đấu tranh, phòng chống phù hợp, đồng

thời giúp cho cơ quan, người có thẩm quyền có thề xác định hành vi đã xảy ra có
cấu thành tội phạm hay không, cấu thành tội danh cụ thể nào.

Qua nghiên cứu về tội mua bán người, có thể khái quát các dấu hiệu pháp lý
cùa tội mua bán người theo quy định hiện hành như sau:


* Khách thế của tội phạm
Theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 thì khách thể của Luật hình sự là
những quan hệ xã hội được Nhà nước xác định cần bảo vệ bằng những quy phạm

pháp luật hình sự.

Khách thể của tội mua bán người xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm,
danh dự của con người, xâm phạm đến quyền con người được pháp luật bảo vệ.
Người phạm tội coi con người như một loại hàng hóa để mua, bán, trao đổi nhằm
mục đích kiếm lợi hoặc vì mục đích khác [25].

* Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu như: Hành vi nguy hiểm

cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân

quả giữa hành vi và hậu quả, thời gian, địa điểm, phương tiện và cơng cụ phạm tội.
Trong các dấu hiệu trên thì hành vi nguy hiếm cho xã hội là dấu hiệu bắt

buộc ở mọi tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể được thực hiện bằng
hành động hoặc không hành động. Đối với tội mua bán người thỉ hành vi mua bán...

là hành vi xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm con người, là hành vi nguy
hiểm cho xã hội.
Hành vi mua bán người thề hiện ở hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác

để trao đồi, mua bán người như một thứ hàng hóa. Người phạm tội coi người bị hại
như một loại hàng hóa và có ý thức đế trao đối, mua bán. Trường hợp người bị hại

đồng ý hay không đồng ý thì người thực hiện hành vi mua bán vẫn bị truy cứu TNHS

vì người phạm tội ý thức được hành vi mua bán của mình. Đe thực hiện việc phạm

10


tội, người phạm tội có thê dùng các hành vi như sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực,
lừa gạt, dụ dỗ, ép buộc bằng nhiều hình thức và thủ đoạn. Hậu quả của hành vi mua
bán người là con người bị đem ra mua bán, trao đổi như hàng hóa, danh dự, nhân

phẩm bị trà đạp, bị cưỡng bức lao đơng, bóc lột tình dục... Tội phạm được coi là

hoàn thành khi đã thực hiện việc thỏa thuận mua bán, khơng cần thiết phải hồn
thành việc trao đổi người hay lợi ích vật chất. Tức là nếu người phạm tội đà thực hiện

một số hành vi như tìm kiếm người, liên hệ nơi bán, mua, thoa thuận giá cả, nơi giao

nhận... nhưng vì một ngun nhân nào đó ngồi ý muốn mà họ khơng thực hiện được
việc mua bán người thì đó là trường hợp phạm tội chưa đạt. Người thực hiện các hành

vi nêu trên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người [25].

Theo Điều 150, Điều 151 BLHS năm 2015 quy định, hành vi phạm tội mua
bán người là người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bàng các thủ

đoạn khác thực hiện hành vi: Chuyền giao hoặc tiếp nhận người để giao nhận tiền,

tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; Chuyền giao hoặc tiếp nhận người đề bóc lột tinh

dục, cường bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể nạn nhân hoặc vì mục đích vơ


nhân đạo khác; Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi
quy định tại điểm a, b khoản này.

Tội phạm mua bán người sử dụng các phương thức, thủ đoạn tinh vi, đa dạng
và ngày càng phức tạp như lập ổ nhóm, đường dây liên kết chặt chể với nhau,

không chỉ trong vùng mà thậm chí cịn xun quốc gia. Các hành vi tuyến mộ, vận

chuyển, chứa chấp, giao nhận người trong các vụ án mua bán người có thể do một
người thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người thực hiện. Những người thực

hiện ở các vai trò chủ mưu, tố chức, xúi giục hoặc giúp sức cho người thực hiện
hành vi mua bán người đều là đồng phạm của tội mua bán người [25].

* Chủ thể của tội phạm
Chủ thế của tội mua bán người là con người cụ thể thực hiện hành vi nguy

hiểm cho xã hội một cách cố ý, là người có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật
định. Đây là dấu hiệu pháp lý bắt buộc của tội danh này. Để xác định chủ thể của tội

mua bán người thì cần căn cứ vào Điều 12 BLHS năm 2015.

11


BLHS năm 2015 quy định nhũng người có năng lực TNHS là người không
mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và khả năng
điều khiển hành vi [31, Điều 21]. Có nghĩa là, chủ thể cùa tội danh này phải là người
có khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và đạt độ tuồi tù’ 14 trở lên, kể cả
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng phải chịu TNHS theo khoản 1 Điều 150 và


phải chịu TNHS theo quy định tại khoản 2, khoản 3 điều này. Trong thực tế thì người

phạm tội mua bán người hầu hết là người đà thành niên, nhừng người chưa thành niên
phạm tội này thường ờ vai trò đồng phạm. Để xác định tuổi của người phạm tội thì
cần căn cứ vào giấy khai sinh hoặc giấy tờ tùy thân khác, trường hợp khơng có giấy
khai sinh, giấy tờ tùy thân khác hoặc nghi ngờ tính xác thực của giấy tờ tùy thân cần

trưng cầu giám định để kết luận [25].

Theo quy định của phần chung và phần các tội phạm của BLHS năm 2015

thì đối với tội mua bán người, chù thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân mà không
thể là pháp nhân thương mại.

* Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chú quan của tội phạm là các dấu hiệu bên trong của tội phạm, phản ánh

trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiếm cho xã hội và hậu quả do
hành vi đó gây ra. Theo tâm lý học thì mọi hoạt động của con người đều có ý thức

và tội phạm là một dạng hoạt động có ý thức gồm bên trong và bên ngồi. Hai mặt
này ln là một thế thống nhất không tách rời nhau. Mặt bên trong của tội phạm là

diễn biến tâm lý của tội phạm gồm lỗi, động cơ, mục đích cùa tội phạm.

Như vậy, mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục đích, trong
đó lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có ờ mọi tội phạm, có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý. Lỗi

là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiếm cho xã hội và hậu

quả do hành vi đó gây ra. Mặt chủ quan của tội mua bán người là lỗi cố ý (ở loại tội
phạm này chỉ có thể là cố ý trực tiếp). Đây là tội phạm có cấu thành hình thức nên
hậu quả của tội phạm, người phạm tội có thể nhìn thấy trước hoặc khơng thấy trước.

Lồi cố ý trực tiếp là khi người phạm tội thực hiện hành vi mua bán, trao đổi

người khác và nhận thức rõ hành vi của mình, mong muốn hành vi đó diễn ra.

12


9

___

Động cơ của người phạm tội mua bán người có thê là vì vụ lợi hoặc vì những
động cơ đê hèn như trả thù cá nhân...

1.2. Khái niệm, đặc điểm, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và

kiểm sát điều tra

Theo quy định của Hiên pháp năm 2013 và pháp luật nước Cộng hòa xã hội
chù nghĩa Việt Nam thì VKS có hai chức năng đó là THQCT và kiểm sát hoạt động

tư pháp. Đây là chức năng hiến định của VKS. Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa

học pháp lý nói chung, trong thực tiễn hoạt động của VKS vẫn chưa đạt được sự
thống nhất cao về các vấn đề này cả trên phương diện khái niệm, nội dung, đối


tượng và phạm vi của THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp cũng như mối quan hệ
giữa chúng. Đe từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của

công tác kiểm sát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ trong nhận thức
về các vấn đề cơ bản có liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thế

nào là thực hành quyền công tố, thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp, đối tượng,
nội dung, phạm vi cũng như mối quan hệ giữa chúng.

1.2.1. Khái niệm thực hành quyền công tố
Để hiểu rõ về THQCT, trước hết Cần tìm hiểu về quyền cơng tố: khái niệm, nội
dung, phạm vi và đối tượng cả trên phương diện lý luận và thực tiễn ở Việt Nam.
Từ điển Luật học định nghĩa về quyền công tố như sau: “Quyền công tố là

quyền buộc tội nhản danh Nhà nuớc đối với người phạm tội” [44, tr,188J.
Theo nghĩa hẹp, nội dung của quyền công tố chỉ được thể hiện trong phạm vi

(giới hạn) từ sau khi kết thúc hoạt động điều tra tội phạm và vụ án được chuyến

sang VKS để truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội trước Tòa án và chấm dứt

sau khi Tòa án xét xử, tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật đối với
người đó, tức là trong giai đoạn của hoạt động tư pháp hình sự truy tố bị can ra Tòa

và buộc tội bị cáo của VKS tại phiên tòa xét xử của Tòa án [31.
Theo nghĩa rộng, nội dung của quyền công tố được thề hiện trong phạm vi
(giới hạn) từ khi bắt đầu hoạt động điều tra tội phạm, tiếp đó là vụ án hình sự được
7

7


r

-

chun sang VKS đê truy tơ người đã thực hiện hành vi phạm tội trước Tòa án và

13


châm dứt khi Tòa án xét xử, tuyên một bản án (qut định) có hiệu lực pháp luật đơi

với người đó, tức là trong ba giai đoạn của hoạt động tư pháp hình sự - điều tra tội
phạm, truy tố bị can và bị xét xử bởi Tòa án [3].
Đẻ xác định đúng đắn khái niệm quyền công tố cần phải xuất phát từ những

cơ sở có tính ngun tắc sau đây:
Một là, quyền công tố là quyền của Nhà nước, xuất hiện cùng với sự ra đời

cùa Nhà nước và thay đổi theo bản chất của Nhà nước. Với tính chất là một quyền
lực cơng, được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy tri trật tự xã hội để bảo vệ lợi ích của

giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan mà bất kỳ nhà nước nào cũng
đều cần phải can thiệp duy trì vi đó là mơi trường tồn tại của Nhà nước, là trách
nhiệm xã hội của Nhà nước chứ không phải trách nhiệm của cá nhân hay một nhóm

người, bởi vì Nhà nước nói chung “dường như” là người nhân danh xã hội duy trì
xã hội trong vịng trật tự.

//íừ là, quyền cơng tố là quyền lực cơng nghĩa là khi có vụ việc xâm phạm

lợi ích chung thì phải được phát hiện và đưa ra xử lý một cách công khai bằng con

đường Tòa án. Đây cũng là điểm chung cơ bản giữa các quan điểm khác nhau về
quyền công tố - quyền đưa vụ án ra tòa và “buộc tội” người phạm pháp tại Tòa án.
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng khơng có nghĩa cứ phải đưa vụ án ra Tịa mới

là THQCT, vì cũng như các quyền năng tố tụng khác, nó được thể hiện ở các giai

đoạn khác việc thực hiện quyền đó. Các quyền nàng ấy, trong đó có quyền cơng tố
vì có thể bị triệt tiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tượng tác động của quyền

cơng tố có đủ căn cứ để cơ quan tố tụng ra những quyết định tố tụng. Như vậy để
làm rõ phạm vi của quyền công tố không thề không xem xét đến các căn cứ làm
triệt tiêu quyền công tố.
Ba là, quyền công tố theo bản chất của mình là quyền yêu cầu trừng trị công

khai những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích chung, do đó quyền

cơng tố chỉ có thế do một cơ quan thực hiện và được gọi là cơ quan công tố (ở nước
ta là VKS). Đây là một trong những yếu tố quan trọng và cần thiết để phân biệt
quyền công tố với các thẩm quyền tố tụng khác của cơ quan công tố, của các cơ

14


quan tiên hành tô tụng khác với cơ quan điêu tra, Tòa án, hoặc với quyên khởi kiện,

quyền yêu cầu khởi tố của đương sự.

Từ những phân tích trên, khái niệm quyền công tố được hiểu như sau:

Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân danh
Nhà nước thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật đê truy cứu trách
nhiệm hỉnh sự đối với người phạm tội, thực hiện việc buộc tội người đó trước Tịa

án. [16, trang 7].
Cũng như khái niệm về “Quyền công tổ” khái niệm “Thực hành quyền công
tổ” cũng như nội dung, đối tượng tác động và phạm vi của nó cịn ít được đề cập

đến và chưa rõ ràng.
“Thực hành ” theo Từ điển Tiếng Việt được hiểu là “tóm đê lý thuyết áp

dụng vào thực tiễn ” [43]. Như vậy THQCT thực chất là hoạt động đưa những quy
định của pháp luật về công tố thuộc chức năng của VKS vào thực tế nhằm truy cứu

TNHS người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xà hội bị coi là tội phạm.
Theo Tiến sĩ Lê Hữu Thể “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tông
họp các quyền năng pháp lí thuộc nội dung quyền cơng tổ để thực hiện việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy

tố và xét xử” [35, tr57].
Qua nghiên cứu tổng hợp các quan điểm khoa học về thực hành quyền công

tố, cũng như qua thực tiễn quy định của pháp luật về thực hành quyền cơng tố, có
thể khái niệm về thực hành quyền công tố như sau: “Thực hành quyền công tố là

hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự đế thực hiện việc buộc tội của Nhà
nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố gỉảc, tin bảo

về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”. Ngành kiếm


sát nhân dân, đa số các nhà khoa học và cán bộ, công chức các cơ quan tư pháp nhất

trí cao với khái niệm này [23].

BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đà mở rộng phạm vi THQCT
bằng cách quy định thời điểm THQCT sớm hơn so với BLTTHS năm 2003. Theo
đó, VKS THQCT từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị

15


khởi tô, xét phê chuân lệnh băt người bị giừ trong trường hợp khân câp, gia hạn

tạm giữ và các biện pháp hạn chế quyền công dân, quyền con người [15]. Thời
điểm này chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can, mới là ở giai đoạn giải quyết nguồn

tin về tội phạm. Đây chính là yêu cầu của pháp luật giao cho VKS trong việc quản

lý và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm. Bởi vì bản chất việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, nhất là việc giữ người trong trường hợp khấn cấp và việc phê
chuẩn bắt người bị giữ trong trường họp khẩn cấp chính là việc bắt và tạm giữ
hình sự. Việc vào cuộc sớm cùa cơng tố chính là sự khẳng định chức năng

THQCT của VKS trong việc phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm. Nếu không
phân loại, xử lý đúng nguồn tin về tội phạm từ đầu đế có biện pháp xử lý đúng thì

dễ xảy ra oan, sai, như trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm, có yếu tố dân

sự nhưng lại bị tạm giữ về hình sự và ngược lại, hành vi có dấu hiệu tội phạm
nhưng lại tiến hành xử lý hành chính.


Như vậy, THQCT là hoạt động của VKS trong tố tụng hình sự đề thực hiện
việc buộc tội cúa Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Trong hoạt động điều tra, chức năng THQCT
của VKS có ý nghĩa hết sức quan trọng có tính quyết định việc buộc tội, gờ tội, đảm
bảo truy tố đúng người, đúng tội, không để xảy ra oan sai, không bỏ lọt tội phạm.

1.2.2. Khái niệm Kiếm sát điều tra
Kiêm sát hoạt động tư pháp
Khoa học luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất

nào về khái niệm “kiểm sát”, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngơn ngữ học thì
“kiểm sát là kiếm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” [431. Theo

đó, nội dung khái niệm “kiểm sát” là hoạt động kiểm tra, giám sát, với đối tượng kiểm
tra, giám sát là việc chấp hành pháp luật

Theo quy định của pháp luật hiện hành “Viện kiêm sát nhân dân là cơ quan

thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ” [30, Điều 2]. Bất kỳ ở đâu và khi nào có hoạt động tư pháp thì
ở đó có trách nhiệm kiểm sát của VKSND, trách nhiệm này xuất hiện tù' khi bắt đầu

16


và luôn song hành với việc thực hiện hoạt động tư pháp. Đây là một phương thức

kiểm soát quyền lực đối với các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp, mà

VKSND là chủ thể kiểm soát nhằm đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan tư pháp

được thực hiện một cách đúng đắn, nghiêm chỉnh, hạn chế việc lạm quyền từ phía
các cơ quan này. Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp là một phương thức kiểm

sốt, giám sát hiệu quả, có vai trị quan trọng trong phòng ngừa vi phạm pháp luật,

khả năng lạm quyền trong hoạt động tư pháp. Trong quá trình thực hiện chức năng
kiểm sát hoạt động tư pháp, nếu VKSND phát hiện vi phạm thi có quyền kháng

nghị, kiến nghị, yêu cầu cơ quan, cá nhân khắc phục vi phạm. Đây là sự khác biệt so

với các phương thức kiểm tra, giám sát của cơ quan thanh tra (chủ yếu là kiến nghị
về các biện pháp xử lý). Bên cạnh đó, so với chức năng thực hành quyền công tố,

kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh và

thống nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tố chức, cá nhân [7].
Pháp luật TTHS hiện hành nước ta quy định VKS là cơ quan thực hiện chức
năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo
đảm mọi hành vi phạm tội đều được xừ lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố,

xét xử, thi hành án phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội

phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Như vậy, trước hết cần khẳng
định “kiểm sát” là một loại quyền lực của Nhà nước, do VKS thực hiện với đối







X

*

z

••

tượng kiểm tra, giám sát là việc chấp hành pháp luật của Nhà nước nói chung và của
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
trong lĩnh vực TTHS nói riêng.

Kiểm sát các hoạt động tư pháp còn được hiểu là kiểm tra, giám sát, theo dõi
việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam
giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp,

kiện tụng trong nhân dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh và thống nhất. Theo khái niệm này thì đối tượng của kiềm sát hoạt động tư
pháp trong lĩnh vực TTHS là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong lĩnh
vực tố tụng hình sự.

17


Nhưng theo quy định của pháp luật hiện hành thì hoạt động kiêm sát việc
tuân theo pháp luật trong TTHS của VKS nhằm kịp thời phát hiện vi phạm cùa pháp
luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, áp dụng những biện


pháp theo quy định của BLTTHS hiện hành để loại trừ việc vi phạm pháp luật của
những cơ quan hoặc cá nhân này [32, Điều 4]. Theo quy định này, đối tượng của

hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS không chỉ là hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố, mà còn bao gồm hoạt động của người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng.

Khái niệm “Tuân theo pháp luật” là một thuật ngữ pháp lý thống nhất mang

tính chỉnh thể để chỉ một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật. Theo lý luận
chung về pháp luật, bốn hình thức thực hiện pháp luật bao gồm: Tuân thủ pháp
luật (tuân theo pháp luật) là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm, các quy

phạm pháp luật cấm được thực hiện ở hình thức này; Thi hành pháp luật là hình

thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp
lý của mình bằng hành động tích cực; Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện

pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền tự do pháp ký của mình
(những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thể tiến hành); Áp dụng pháp luật là

hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thơng qua các cơ quan nhà nước

hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện
những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật

để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những
quan hệ pháp luật cụ thể [40, tr 401-403]


Từ sự phân tích trên chúng ta có thể hiểu: Kiểm sát hoạt động tư pháp là một
chức năng hiến định của VKSND, cũng là việc VKSND sử dụng tông họp các quyền

năng pháp lý đê kiêm sát tỉnh họp pháp của các hành vỉ, quyết định của cơ quan, tô
chức, cá nhản trong hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm cho hoạt động tư pháp được

thực hiện đúng đắn. [7, tr2].

18


9

-

5

Kiêm sát điêu tra

Theo Từ điên Luật học, kiêm sát điêu tra là “cỏng tác kiêm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc điều tra của CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra” [44, tr260J.
Theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực hình sụ, VKS thực hiện chức

năng, nhiệm vụ THQCT và kiêm sát hoạt động tu pháp băng các công tác khác nhau
gắn với các giai đoạn tố tụng khác nhau: THQCT và kiểm sát tuân theo pháp luật
trong việc điều tra các vụ án hình sự của CQĐT; THQCT và kiểm sát tuân theo

pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; kiêm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc thi hành các bản án hình sự và các quyết định của Tòa án nhân dân [32,


Điều 4]. ứng với mỗi công tác này, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định một
____

\

A

chương riêng biệt. Trong đó, tại chương ĩĩ, các mục 2 (gơm các Điêu 14, 15) quy
định cụ thê vê nhiệm vụ, quyên hạn của VKS khi THQCT và kiêm sát việc tuân theo

pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự của CQĐT với tiêu đề “Thực hành quyền

công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự”.

Sau khi vụ án được khởi tố, giữa các chủ thể tiến hành tố tụng và những

người tham gia tố tụng phát sinh những quan hệ tố tụng, các quan hệ này tồn tại
trong suốt cả quá trình giải quyết vụ án hỉnh sự. Trong hoạt động điều tra thì đó là

mối quan hệ giữa CQĐT và VKS, là các hoạt động của CQĐT được thực hiện bởi

ĐTV, là các hành vi của ĐTV, là các quyết định của CQĐT, là hành vi của những

người tham gia tố tụng... Đồng thời với sự xuất hiện của các hoạt động tố tụng
cũng xuất hiện đòi hỏi có sự giám sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho
pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh.
Nội dung của KSĐT chính là các nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật
TTHS quy định khi KSĐT. Theo Điều 113 BLTTHS, nội dung của KSĐT là:


Kiềm sát việc khởi tố, kiềm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của

CQĐT; kiếm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra theo quy

định của pháp luật; yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt

19


×