ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM TIEN THANH
QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG CHÍNH SÁCH ĐĨI NGOẠI
CỦA LIÊN MINH CHÂU Âu (EU)
Chun ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: 8380101.07
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
Người hướng dân khoa học: PGS.TS vu CONG GIAO
HÀ NỘI - 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ cơng trình
nào khác. Các sổ liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tinh chính xác,
tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tơi có thế bảo
vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Phạm Tiến Thành
LỜI CÂM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lịng biết ơn sâu sắc tới:
PGS.TS Vũ Cơng Giao, người hướng dẫn khoa học giúp tôi thực hiện luận
văn này. Sự hướng dân, góp ý tận tình và những câu hỏi hóc búa của thây đà giúp
tơi định hướng, quyết tâm và hoàn thành bản luận vãn tốt hơn.
Xin bày tỏ lòng biêt ơn chân thành tới các thây cô giáo lớp Cao học Luật vê
Quyên Con người khóa QH2019 đã giúp tơi lĩnh hội những kiên thức cơ bản vê lĩnh
vực quan trọng này.
Xin trân trọng cảm ơn Khoa Luật Đại học Quốc gia đã tổ chức khóa học bổ
ích và lý thú, các thầy cơ giáo Khoa Luật, Phịng Đào tạo và Bộ mơn Luật Hiến
pháp - Hành chính đã tạo điều kiện giúp đờ trong suốt thời gian khóa học và thực
hiện luận văn.
Xin cảm ơn các bạn đồng môn và các đồng nghiệp, các cơ quan đối tác phát
triển, đã cung cấp những thông tin tư liệu hữu ích liên quan đến đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin đặc biệt cảm ơn gia đình và những người bạn đà ủng hộ, động
r
viên, khích lệ tơi trong st q trinh học tập và hồn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 thảng 6 năm 2021
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐÀU...................................................................................................................... 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VÈ CHÍNH SÁCH ĐÓI NGOẠI VÀ PHÁP
LUẬT VÈ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA LIÊN MINH CHÂU Âu.......... 6
1.1.
Khái quát về Liên minh châu Âu......................................................................6
1.2.
Khái quát về chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu.......................... 12
1.3.
Sự hình thành, phát triền và nội dung cơ bản của hệ thống pháp luật về
quyền con người cúa Liên minh châu Âu...................................................... 22
Chương 2: VỊ TRÍ, VAI TRỊ VÀ sụ THẺ HIỆN CỦA QUYỀN CON
NGƯỜI TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA LIÊN MINH
CHÂU ÂU...................................................................................................... 33
2.1.
Quá trình hình thành, phát triền và vị trí, vai trị của quyền con người
trong chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu...................................... 33
2.2.
Các nguyên tắc, mục tiêu và nội dung ưu tiên về quyền con người trong
chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu................................................ 38
2.3.
Phương thức thực hiện các nội dung về quyền con người trong chính
sách đối ngoại của Liên minh châu Âu.......................................................... 49
Chương 3: THỤC TIỄN TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐĨI NGOẠI VÈ
QUYỀN CON NGƯỜI CỦA LIÊN MINH CHÂU Âu VỚI MỘT SỐ
QUỐC GIA VÀ VIỆT NAM.......................................................................... 55
3.1.
Thực tiễn tác động của chính sách đối ngoại về quyền con người của
Liên minh châu Âu với một số quốc gia........................................................ 55
3.2.
Thực tiền tác động của chính sách đối ngoại về quyền con người của
Liên minh châu Âu với Việt Nam................................................................. 79
KÉT LUẬN CHUNG............................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 87
PHỤ LỤC.................................................................................................................. 94
DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẮT
Tên viết tắt
CFSP
Ten đây đủ
Chính sách Đối ngoại và An ninh chung (Common Foreign and
Security Policy)
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
EC
Cộng đồng Châu Âu (European Community)
ECC
Cộng đồng kinh tể châu Âu (European Economic Community)
ECSC
Cộng đồng Than Thép châu Âu (European Coal and Steel Community)
EDC
Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu (European Defence Community)
- Sáng kiến của châu Âu về Dân chủ và Nhân quyền, áp dụng từ
năm 1999 (European Initiative for Democracy and Human Righ ts)
E1DHR
- Công cụ Châu Âu về Dân chủ và Nhân quyền, áp dụng từ năm
2007 (European Instrument for Democracy and Human Rights)
EPC
Hợp tác Chính trị Châu Âu (European Political Cooperation)
EU
Liên minh châu Âu (European Union)
IOM
Tố chức Di cư Quốc tế (International Organization for Migration)
NATO
OSCE
TEU
UDHR
Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty
Organization)
Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Ầu (Organization for Security
and Co-operation in Europe)
Hiệp ước về Liên minh Châu Âu (the Treaty on European Union)
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (Universal Declaration of
Human Rights)
UNGA
Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (United Nations General Assembly)
UPR
Cơ chế Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (Universal Periodic Review)
MỎ ĐÀU
1. Tính câp thiêt của đê tài
Liên minh châu Âu (EU) là một trong ba nền kinh tế lớn nhất trên thế giới,
đóng vai trị quan trọng trong quan hệ quốc tế, là mơ hình liên kết khu vực độc đáo
trên thế giới thực hiện rất tốt chính sách đối ngoại và an ninh. Tôn trọng nhân quyền
cùng với tụ do, dân chủ và pháp quyền là các nguyên tắc nền tảng của Eư. Mong
muốn của EU là có thể thực thi các nguyên tắc này không chỉ đối với các quốc gia
thành viên và trong biên giới của mình mà cịn trong cả các mối quan hệ đối ngoại
của mình với các quốc gia khác. Với vai trị quan trọng của mình, có thề coi EU là
lực lượng tiên phong thúc đẩy nhân quyền, hòa bỉnh và dân chủ trên thế giới. Vì
vậy, việc nghiên cứu về vấn đề quyền con người trong chính sách đối ngoại của EƯ
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao trong nghiên cứu vấn đề quyền con người và
quan hệ quốc tế ở Việt Nam.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ đối với các
nhà nghiên cứu trong nước. Từ trước đến nay mới chỉ có rất ít bài viết, ấn phấm
xuất bản bằng tiếng Việt về chú đề này. Trong khi đó, có rất nhiều quan hệ về nhân
quyền đang đặt ra cần giải quyết giữa EƯ và Việt Nam, ở mọi cấp độ và trên mọi
lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá...
Xuất phát từ lý do trên, học viên quyết định chọn đề tài: “Quyền con người
trong chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu (EU)” để thực hiện luận văn
thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khảo sát các tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngồi nước liên quan
đến đề tài, đã có một số cơng trình ờ nước ngồi phân tích về vấn đề quyền con
người trong chính sách đối ngoại của EƯ như The Foreign Policy of the European
Union: Assessing Europe's Role in the World (Chính sách đối ngoại của Liên minh
châu Âu: Đánh giá vai trò của châu Âu trên thế giới) cùa tác giả Federaga Bindi viết
năm 2012; EU and US External Policies on Human Rights and Democracy
1
Promotion: Assessing Political Conditionality in Transatlantic Partnership (Chính
sách đối ngoại cùa Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ về thúc đẩy nhân quyền và dân
chủ: Đánh giá điều kiện chính trị trong quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương) viết
năm 2015 của tác giả Beatriz Perez de las Heras trong Tạp chí các vấn đề châu Âu
của Romania; Luận án tiến sĩ tại Đại học Công giáo Pázmány Péter, Hungary năm
2017 của András Kásler có tên Human rights in the foreign policy of the EU (Nhân
quyền trong chính sách đối ngoại của EU).
Trong khi đỏ, ở nước ta hầu như chỉ có các cơng trình nghiên cứu về chính
sách đối ngoại cùa EU, chưa có nghiên cứu nào phân tích quyền con người trong
chính sách đối ngoại của EU, trong đó tiêu biểu có thể kể những cơng trình sau:
- Bài viết “Chính sách đối ngoại và an ninh chung của Liên minh Châu Ầu
(CFSP) của Bùi Hồng Hạnh tại Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 1 năm 2010. Bài
viết đưa ra cái nhìn khá hay về tiến trình hình thành và một số nội dung chủ chốt
cùa Chính sách đối ngoại và An ninh chung cùa châu Âu cũng như đã tập trung xem
xét một số vấn đề và khả năng thực thi chính sách đối ngoại chung trong khuôn khổ
của CFSP hiện nay.
- Luận văn tốt nghiệp cử nhân có tên “Chính sách đối ngoại và an ninh
chung của EU và tác động đôi với an ninh châu Au” của Bùi Thị Thu Hà năm 2001.
Bài viết đã đề cập đến quá trình hình thành của CFSP, những vấn đề liên quan đến
chính sách cũng như tác động của chính sách này đơi với an ninh châu Au.
- Bài viết “Chính sách an ninh và đối ngoại chung cùa Liên minh châu Âu và
một sổ gợi ỷ cho xây dựng cộng đồng an ninh - chỉnh trị ASEAN” của Đặng Minh
Đức, Viện nghiên cứu Châu Âu năm 2015. Tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan về
chính sách an ninh và đối ngoại chung của EU cùng những điều chỉnh hài hòa với
bối cảnh thế giới mới. Tác giả cũng nhấn mạnh những khuyến nghị hừu ích cho khu
vực ASEAN trong việc hội nhập, liên kết khu vực.
- Luận án Tiến sĩ tại Học viện Ngoại giao năm 2018 của Mạc Như Quỳnh có
tên “Hội nhập khu vực ở châu Au: Trường hợp nghiên cứu chính sách đôi ngoại và
an ninh chung châu Âu”. Trên cơ sở đánh giá thực trạng triển khai Chính sách Đối
2
ngoại và An ninh chung châu Au, luận án phân tích q trình hội nhập khu vực vê
đối ngoại và an ninh, xác định mức độ hội nhập, dự báo xu hướng hội nhập khu vực
và triển vọng thực thi Chính sách Đối ngoại và An ninh chung châu Âu đến năm
2025, liên hệ thực tiễn với ASEAN và Việt Nam.
- Luận vãn Thạc sĩ Châu Âu học tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
năm 2018 của Vũ Bình Minh có tên “Chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu
đổi với khu vực châu A - Thái Bình Dương trong bổi cảnh mớỉ”. Tác giả đã đưa ra
cái nhìn tồn diện về sự hình thành và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại của
Liên minh châu Âu, các yếu tố ảnh hưởng, nội hàm của chính sách đối ngoại chung
của EƯ và đưa ra bức tranh tổng quát về chính sách đối ngoại chung của Liên minh
châu Âu những năm 2009 đến nay, bức tranh toàn cảnh về khu vực châu Á -Thái
Binh Dương, khu vực EU, đặc biệt nhấn mạnh quan hệ họp tác của EU và khu vực
châu Á - Thái Bình Dương cũng như với Việt Nam.
Từ những phân tích ở trên, có thể khẳng định chủ đề luận văn này có tính
mới và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Kết quả của đề tài có thể là nguồn tư
liệu cho các học giả trong nước khi nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là làm rõ nội dung chính sách đối ngoại nhân quyền của
Liên minh châu Âu, thực trạng thực hiện chính sách này và tác động của nó với các
quốc gia, khu vực trên thế giới, trong đó bao gồm với Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hướng đến mục đích đó, luận văn đề ra những nhiệm vụ cần giải quyết như sau:
- Nghiên cứu làm rõ nguồn gốc hình thành, phát triển chính sách đối ngoại
của Liên minh châu Âu, từ đó có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề quyền con người
trong chính sách này;
- Phân tích các nguyên tắc, lĩnh vực ưu tiên và phương pháp đế Liên minh
châu Âu có thể thực hiện các nội dung về quyền con người trong chính sách đối
ngoại của mình;
3
- Nghiên cứu thực tiên tác động của chính sách đôi ngoại vê quyên con người
cùa Liên minh châu Âu với một số quốc gia, trong đó có Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nội dung và tác động của chính sách
đối ngoại của EU đối với vấn đề quyền con người trên thế giới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
về nội dung, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề quyền con người trong
chính sách đối ngoại của EƯ. Những vấn đề khác trong chính sách đối ngoại của
Eư cũng có thể được phân tích, nhưng chỉ để làm nền cho việc nghiên cứu vấn đề
nhân quyền.
về không gian và thời gian, đề tài nghiên cứu vấn đề quyền con người trong
chính sách đối ngoại của EƯ từ nãm 2009 đến năm 2019, và tác động cúa nó trên
tồn cầu. Tuy nhiên, trong q trình phân tích, đề tài sẽ tập trung vào một số quốc
gia tiêu biểu.
5. Phuong pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.7. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng các phương pháp luận duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin
và các lý thuyết về tính phổ qt, tính khơng thể tước đoạt và tính phụ thuộc lẫn
nhau của quyền con người là cơ sở để phân tích.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng
họp, đánh giá, so sánh để làm sáng tỏ các vấn đề trong luận văn.
6. Y nghĩa lý luận, thực tiên
về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần củng cố những hiểu
biết khoa học về nguồn gốc, động lực, nội dung, cơ chế tổ chức thực hiện và tác
động của chính sách đối ngoại quyền con người của EU.
về mặt thực tiễn, đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên
cứu, dự đốn, phân tích các chính sách đối ngoại của châu Âu của các cơ quan, tổ
4
chức trong nước. Kêt quả nghiên cứu cũng có thê sử dụng làm tài liệu trong giảng
dạy, nghiên cứu về quyền con người và luật quốc tế ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và
các cơ sở đào tạo khác.
7. Kêt câu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao
gôm 03 chương với kêt câu như sau:
Chương 1. Khái quát vê chính sách đôi ngoại và pháp luật vê quyên con
người của Liên mỉnh châu Âu
1.1. Khái quát về Liên minh châu Âu
1.2. Khái quát về chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu
1.2.1. Nguồn gốc chính sách đối ngoại cùa Liên minh châu Âu
1.2.2. Nội dung chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu trong giai đoạn
hiện nay
1.3. Sự hình thành, phát triển và nội dung cơ bản cùa hệ thống pháp luật về
quyền con người của Liên minh châu Âu
Chương 2. Vị trí, vai trị và sự thê hiện của qun con ngưịi trong chính
sách đơi ngoại của Liên minh Châu Au
9
\
2.1. Quá trình hình thành, phát triên và vị trí, vai trị của qun con người
trong chính sách đôi ngoại của Liên minh châu Au
2.2. Các nguyên tăc, mục tiêu và nội dung ưu tiên vê quyên con người trong
chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu
2.3. Phương thức thực hiện các nội dung về quyền con người trong chính
£
/\
sách đơi ngoại của Liên minh châu Au
Chương 3. Thực tiên tác động của chính sách đơi ngoại vê quyên con
người của Liên minh châu Âu với một số quốc gia và Việt Nam
3.1. Thực tiễn tác động của chính sách đối ngoại về quyền con người của
Liên minh châu Âu với một số quốc gia
3.2. Thực tiễn tác động cúa chính sách đối ngoại về quyền con người của
Liên minh châu Âu với Viêt Nam
5
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VÀ PHÁP LUẬT
VÈ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA LIÊN MINH CHÂU Âu
1.1. Khái quát về Liên minh châu Âu
Liên minh châu Âu là một tổ chức liên chính phủ của các nước châu Âu. Từ
6 thành viên ban đầu (Bỉ, Tây Đức, Pháp, Ý, Luxembourg và Hà Lan), hiện nay EU
đã có 27 quốc gia thành viên, chiếm phần lớn diện tích của lục địa.
EƯ ra đời trong tro tàn của Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (từ năm 1939
đến năm 1945), có nguồn gốc từ Cộng đồng Than Thép châu Âu (The European
Coal and Steel Community - ECSC). Ngày 18 tháng 4 năm 1951, với mục đích phối
hợp quản lý giá cả, sản xuất và điều kiện lao động liên quan đến các tài nguyên than
và thép là những đầu vào thiết yếu cho sản xuất quân nhu - những yếu tố góp phần
gây ra hai cuộc chiến tranh thế giới, các quốc gia Pháp, Tây Đức, Ý, Bỉ, Luxembourg
và Hà Lan đã ký Hiệp ước Paris năm 1951 thành lập Cộng đồng Than Thép châu
Âu. Hiệp ước này được coi như nền tảng trong việc đem các nước châu Âu xích lại
với nhau trong hịa bình sau Thế chiến thứ hai. Một số kẻ thù chính trong chiến
tranh nay đã chia sẻ với nhau việc sản xuất than và thép, các nguồn tài nguyên then
chốt, trước đây là tâm điểm cùa các cuộc chiến tranh, tranh chấp. Có thể thấy,
những bước đi đầu tiên là nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, ý tưởng là các nước có
trao đồi bn bán phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sè có nhiều khả năng tránh được
xung đột. Kẻ từ đó, EU đã phát triển thành một thị trưòng chung khổng lồ, với đồng
euro (€) là đồng tiền chung chính thức từ năm 1999. Hiện nay có 19 quốc gia thành
viên của Liên minh châu Âu (Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Ireland,
Luxembourg, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Ý, Slovenia, Malta, Cộng hịa Síp,
Estonia, Latvia, Litva, Slovakia) và 06 nước, lãnh thổ không thuộc Liên minh châu
Âu sử dụng đồng euro. Với khởi đầu là một liên minh thuần túy về kinh tế, nhưng
đến nay, EU đã phát triển thành một tổ chức bao trùm tất cả các lĩnh vực chính sách.
EƯ đã trải qua nửa thế kỷ hịa bình, ổn định và thịnh vượng, nâng cao mức
6
sống của người dân và sử dụng đồng tiền chung. Nhờ bãi bỏ kiếm soát biên giới
giữa các nước EU, người dân có thể đi lại tự do, sống và làm việc ở Châu Âu nhờ
vậy cũng trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Liên minh Châu Âu dựa trên cơ sở pháp trị.
Điều này có nghĩa là mọi cơng việc mà EU thực hiện là dựa trên các hiệp ước được
tất cả các quốc gia thành viên thỏa thuận một cách tự nguyện và dân chủ. Những
hiệp định này đề ra các mục tiêu của EU trong rất nhiều lĩnh vực. Nhân phẩm,
quyền tự do, dân chủ, bình đẳng, nền pháp trị và sự tôn trọng quyền con người là
các giá trị nòng cốt của EU. Kể từ khi ký kết Hiệp ước Lisbon vào năm 2009, Hiến
chương của EU về các quyền cơ bản (The EU’s Charter of Fundamental Rights) đã
tập họp tất cả những quyền này trong một văn kiện chung. Các thể chế và Chính
phủ các quốc gia thành viên EU có nghĩa vụ gìn giữ các giá trị đó. Thị trường chung
là động lực kinh tế chủ yếu của EU, cho phép hầu hết các hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ
và người dân được di chuyền tự do. Với hơn 500 triệu dân, EU chiếm hơn một phần
tư GDP của thế giới, là nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất trong nền kinh tế
toàn cầu và chiếm một phần năm thương mại toàn cầu, một công cụ chủ chốt để
phát triển kinh tế. Châu Âu là nhà xuất khẩu hàng hóa sản xuất công nghiệp và dịch
vụ lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hơn một
trăm quốc gia, vùng lãnh thổ. Liên minh có một cơ cấu thể chế độc đáo. Các ưu tiên
chính, khái quát của EƯ được đề ra bởi Hội đồng Châu Âu, Hội đồng này tập họp
các nhà lãnh đạo cấp quốc gia và cấp Liên minh. Các Nghị sĩ được bầu trực tiếp đại
diện cho các công dân Châu Âu trong Nghị viện Châu Âu (European Parliament).
Lợi ích của EU được thúc đẩy bởi ủy ban Châu Âu và các ủy viên - do các quốc
gia thành viên đề cử với sự tham vấn ý kiến của Chủ tịch ủy ban Châu Âu, sau khi
được Nghị viện Châu Âu thông qua. Cuối cùng, các Chính phù bảo vệ lợi ích của
đất nước mình trong Hội đồng Liên minh Châu Âu. Trong số rất nhiều các thể chế
và cơ quan liên thể chế khác, có hai cơ quan đóng vai trị trọng yếu, đó là: Tịa án
Cơng lý (The Court of Justice) đế duy trì quyền lực của luật pháp Châu Âu và Tịa
Kiểm tốn để kiểm sốt tài chính đối với các hoạt động của EƯ (The European
Court of Auditors). Cùng với sự tiếp tục lớn mạnh của Liên minh, Eư vẫn tập trung
7
minh bạch hóa và dân chủ hóa các thê chê quản trị của minh. Nghị viện Châu Au
(được bầu trực tiếp) đang được trao thêm nhiều quyền hơn, các nghị viện quốc gia
được giao một vai trò to lớn hơn, hoạt động bên cạnh các thể chế của Châu Âu.
Công dân Châu Âu ngày càng có nhiều kênh để tham gia vào tiến trình chính trị của
EƯ và có thế tham gia bằng bất kỳ ngôn ngữ nào trong số 23 ngơn ngữ chính thức
của EU. Liên minh Châu Âu cũng đóng một vai trị quan trọng trong quan hệ quốc
tế thông qua ngoại giao, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển và các tổ chức quốc
tế, với các lợi ích và trách nhiệm với an ninh khu vực và toàn cầu ngày càng tăng.
Đặc biệt, EU thể hiện tình đồn kết qua việc cung cấp hơn một nửa tổng số viện trợ
phát triển quốc tế và là nhà tài trợ lớn nhất thế giới về viện trợ nhân đạo. EU ngày
càng tích cực trong cơng tác phịng ngừa xung đột, quản lý khủng hoảng và kiến
thiết hịa bình, thông qua các cơ quan quản lý khủng hoảng do EU đứng đầu, cũng
như thông qua các công cụ đối phó khùng hoảng và ổn định tình hình. Ngồi ra, EU
cũng cam kết hỗ trợ, cải cách hệ thống đa phương, các cuộc đàm phán toàn càu về
thương mại và biến đổi khí hậu, cũng như chương trình nghị sự về quản trị tồn cầu.
EƯ có quan hệ ngoại giao với gần như tất cả các nước trên thể giới. Liên minh có
quan hệ đối tác chiến lược với các đối tác quốc tế chủ chốt, có cam kết sâu sắc với
các cường quốc đang nồi lên trên toàn cầu, và đã ký các Hiệp định liên kết song
phương với một số quốc gia lân cận. Ớ nước ngoài, Liên minh được đại diện bởi các
Phái đồn EU có chức năng tương tự như của một Đại Sứ quán. Cơ quan Đối Ngoại
Châu Âu (The European External Action Service - EEAS) trợ giúp Đại diện cấp
Cao của Liên minh Châu Âu về Đối Ngoại và Chính sách An ninh, người chủ tọa
Hội đồng Đối Ngoại cùa Bộ trưởng Ngoại giao các quốc gia thành viên và thực hiện
chính sách ngoại giao, an ninh chung, đảm bảo tính nhất quán và sự phối hợp trong
hoạt động đối ngoại của EƯ. Cuối cùng, EU được nhận diện thông qưa nhiều biểu
tượng, trong đó biểu tượng được nhiều người biết đến nhất là Lá cờ Châu Âu, một
vịng trịn gồm 12 ngơi sao vàng trên nền xanh lam tượng trưng cho các lý tưởng
thống nhất, đồn kết và hịa hợp giữa các dân tộc Châu Âu. “Thống nhất trong đa
dạng” là khẩu hiệu cùa Liên minh. Khẩu hiệu này biểu thị cách thức người dân
8
Châu Au tập hợp dưới hình thức Liên minh Châu Au đê phân đâu vì hịa bình và
thịnh vượng, trong khi vẫn duy trì được sự phong phủ và đa dạng cùa các nền văn
hóa, truyền thống và ngơn ngữ khác nhau của lục địa [2, tr.8O-83].
Sau hơn 60 năm hình thành và phát triển, EU được xây dựng từng bước với
mức độ liên kết giữa các thành viên ngày càng mở rộng và sâu sắc trên nhiều lĩnh
vực. Cùng với phát triển về chiều sâu, EƯ cũng trải qua nhiều đợt mở rộng, kết nạp
nhiều thành viên mới. Sự kiện mở rộng lãnh thố gần đây nhất của EU là sự họp nhất
cùa Mayotte vào năm 2014. Hiện nay, một số quốc gia trong khu vực Tây Balkan
(Albania, Montenegro, Bắc Macedonia, Serbia, Thổ Nhĩ Kỳ) cũng đang tiến hành
những thủ tục để gia nhập Eư. Ke từ năm 2018, các cuộc đàm phán gia nhập đang
được tiến hành với Serbia (kể từ 2014), Montenegro (từ 2012) và Thổ Nhĩ Kỳ (kể từ
năm 2005). Serbia và Montenegro được các lãnh đạo EU coi là những ứng cử viên
hàng đầu, và dự kiến rằng họ sẽ tham gia vào năm 2025. Các cuộc đàm phán với
Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang diễn ra với tốc độ chậm hơn, đặc biệt kể từ nồ lực đảo chính
Thổ Nhĩ Kỳ năm 2016 do sự phản đối của EU đối với phản ứng của chính phủ Thổ
Nhĩ Kỳ. Bên cạnh đó, Bosnia & Herzegovina và Kosovo cũng là những ứng viên
tiềm năng mặc dù chưa đáp ứng được các yêu cầu của EU.
Bên cạnh đó cũng có những lần mà lãnh thổ EƯ bị thu hẹp như sự ra đi của
Algeria khi giành độc lập vào năm 1962 và của Greenland năm 1985. Tuy nhiên,
năm 2018 có thể coi là một năm lịch sử đối với EU. Trải qua hơn 60 năm hình
thành và phát triển (từ năm 1951 đến năm 2017), EU chỉ kết nạp thêm thành viên
mới và chưa từng có việc một quốc gia thành viên tách khỏi EU. Anh là quốc gia
đầu tiên làm điều này (sự kiện Brexit). Ngày 01/01/1973, Vương quốc Anh chính
thức trở thành thành viên EƯ. Tuy nhiên, mối quan hệ tốt đẹp giữa Anh và EU
không kéo dài được lâu. Ngay đầu thập niên 1980, Chính phủ của Thủ tướng Anh
Margaret Thatcher đã có những tranh cãi với EU về việc đóng góp cho ngân sách
của khối này. Đến những năm 1990, mâu thuẫn giữa Anh và EU tiếp tục nảy sinh,
Anh quyết định rút khỏi Cơ chế tỷ giá hối đoái (The European Exchange Rate
Mechanism - ERM) của châu Âu năm 1992 và sau đó là không tham gia Khu vực
9
đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) năm 1997. Mâu thuẫn giữa Anh và EU bị đẩy
lên đỉnh điểm vào ngày 29/3/1996 khi ủy ban châu Âu công bố lệnh cấm xuất khẩu
tồn cầu đối với thịt bị của Anh do những lo ngại liên quan đến bệnh bị điên. Các
chính trị gia và cả những nguời nông dân Anh đều cảm thấy độc lập chủ quyền quốc
gia bị tổn thương nặng nề khi họ khơng cịn được tự quyết định, mà chỉ khi ủy ban
châu Âu đồng ý thì Anh mới có quyền bán sản phẩm của mình ra thế giới. Lần đầu
tiên sau hon 20 năm gia nhập EU, các chính trị gia Anh và EU đã có những suy nghĩ
nghiêm túc về tư cách thành viên của Anh trong EU [8]. Ngày 23/6/2016, Anh tổ
chức cuộc trưng cầu dân ý, theo đó 52% cử tri Anh đã lựa chọn rời khởi EU, từ đây
nước Anh bước vào một giai đoạn đầy khó khăn và bất ồn. Đen ngày 31/01/2020,
Anh thông qua Luật Brexit. Sau ngày này, nước Anh sẽ bước vào giai đoạn chuyển
tiếp kéo dài 11 tháng, sẽ tiếp tục được hưởng các quyền lợi cũng như phải gánh
những nghĩa vụ như khi là thành viên EƯ. Cơng dân Anh sẽ khơng cịn là cơng dân
EU, nhưng sẽ vẫn được tự do đi lại giữa các quốc gia thành viên EU như trước đây.
Anh sẽ tiếp tục phải tuân thủ các quy định và pháp luật của EU, tiếp tục đóng góp
vào ngân sách của khối, nhưng nước này bị đấy ra khỏi các thế chế chính trị của
EU: các nghị sĩ Anh không được tham gia Nghị viện châu Âu, Anh khơng cịn ghế
trong các cuộc họp của các nhà lành đạo EƯ cũng như không cịn tiếng nói trong vơ
số các cơ quan kỹ thuật của khối... Việc Anh tách ra khỏi EU có thể sẽ làm đảo lộn
những mối quan hệ vốn đã ổn định của EƯ, Anh và các nước quốc gia khác trên thế
giới, kết hợp với ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 khiến EU đối mặt với sự bất ồn
về mặt tài chính, chính trị, kinh tế, thương mại trên mọi lĩnh vực.
Châu Âu có vai trị rất quan trọng trên phạm vi toàn thế giới, cụ thể [4]:
- Đặt ra những chính sách nhân quyền: Ngăn chặn sự tàn bạo của Chiến tranh
thế giới thứ hai không được lặp lại sau này, các luật cấm phân biệt đối xử, thể hiện
quyền bình đẳng và tự do đi lại các nước trong khối EƯ. Việc làm này đã tác động
tích cực cho việc nhân quyền trở thành một khía cạnh của quan hệ đối ngoại chính
trị với các nước thứ ba. Ngồi ra, EU cịn có các chính sách nhân quyền liên quan
đến tự do ngôn luận, tra tấn, án tử hình... Ở các quốc gia, nơi mà con người được có
10
những qun lợi cao nhât, thì cơng cụ dân chủ và nhân quyên của Eư luôn đáp ứng
việc tăng cường sự tự do cơ bản và tôn trọng quyền con người. Thể hiện tính độc
lập tuyệt đối trong việc bầu cử, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền và luật pháp trên thế
giới thì việc quan sát bầu cử là một hoạt động quan trọng của EU. Cộng tác viên
hịa bình của EƯ đà thực
• hiện
• tốt sứ mệnh
• là lãnh đạo
• và hỗ trợ• các cuộc
• đàm phán
1
hịa bình với các nước trên thế giới. Tránh xung đột vũ trang, tạo điều kiện các giải
pháp hịa bình. Đây là mục tiêu ý nghĩa và lớn nhất của liên minh Châu Âu.
- Nhà viện trợ lớn nhất thế giới: Liên minh Châu Âu là tổ chức cung cấp viện
trợ nước ngoài nhiều hơn bất kỳ tồ chức hiệp hội kinh tế nào khác trên thế giới. EU
và các quốc gia thành viên đã cung cấp hơn một nửa trong gói ODA trên tồn cầu.
Nhờ sự đóng góp này mà hàng triệu người dân trên thế giới có được việc làm ốn
định hơn rất nhiều. EU cịn cung cấp các gói viện trợ trong lĩnh vực thiên tai, lũ lụt,
hởa hoạn, người tị nạn ở nhiều quốc gia. Các chương trình trợ giúp nhân đạo dựa
trên tiêu chí: tồn thương vật chất, tinh thần và đánh giá nhu cầu tùy theo từng
trường họp. Ngồi ra, EU cịn là một đơn vị phản ứng cực nhanh đối với các trường
hợp khẩn cấp tầm quốc tế. Điển hỉnh như năm 2015, EƯ đã cung cấp nơi trú ẩn,
lương thực, chãm sóc sức khỏe, cung cấp nước sạch cho hơn 120 triệu người bị ảnh
hưởng bởi xung đột chiến tranh, thiên tai ở 80 quốc gia trên toàn thế giới.
- Bảo vệ an ninh toàn cầu: Theo Chính sách an ninh quốc phịng chung thì
EƯ luôn quan tâm đến các nhiệm vụ quân sự và dân sự trên thế giới theo hướng tích
cực gồm các nhiệm vụ: đào tạo cảnh sát địa phương, quản lý biên giới... như các
chiến dịch: Lực lượng hải quân EU “Atalanta” giải quyết vi phạm bản quyền và bảo
vệ các chuyến hàng nhân đạo của Chương trình Thế Giới, Chiến dịch “Sophia” phá
vờ việc kinh doanh buôn người, buôn lậu khu vực Nam Địa Trung Hải.
- Đóng góp vào hiện tượng biến đổi khí hậư tồn cầu: Tại hội nghị khí hậu
Paris (COP21) năm 2015, hầu hết các quốc gia trong khối EU đã tham gia ký kết
đảm bảo thỏa thuận khí hậu tồn cầu có tính pháp lý. Đồng thời, các quốc gia thành
viên EU cũng đóng góp tài chính rất lớn để thực hiện các biện pháp thay đối khí hậu
cho các nước đang phát triển. Khối thương mại lớn nhất thế giới EƯ là khối thương
11
mại lớn nhât trên tồn thê giới. Vì thương mại là một chính sách chung, các hiệp
định thương mại quốc tế được ký kết bởi EƯ chứ không phải bởi các quốc gia thành
viên riêng lẻ.
1.2. Khái quát vê chính sách đôi ngoại của Liên minh châu Au
1.2.1. Nguồn gấc chính sách đối ngoại của Liên minh châu Ầu
EU là một chú thể đặc biệt của quan hệ pháp luật quốc tế. Trong tiến trinh nhất
thề hoá, EU đã thống nhất về mặt kinh tế và đang trên con dường hội nhập chính trị.
Việc ra đời Chính sách Đối ngoại và An ninh chung năm 1992 đã thể hiện tham vọng
của các quốc gia thành viên trong tiến trình xây dựng một châu Âu thống nhất.
Sau Thế chiến thứ Hai, vào những năm cuối thập niên 1940 đầu thập niên
A
r
1950, Chiên tranh Lạnh giữa hai hệ thông xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa
__
ọ
- c — —_
L
'
r.
-
~
'
đang leo thang. Tại châu Au, chính phủ Mỹ vân cơ găng thiêt lập ảnh hưởng đôi với
các nước châu lục này băng kê hoạch Marshall và thành lập Tô chức Hiệp ước Băc
Đại Tây Dương - NATO (1949). Còn các nước Tây Âu, dù phải dựa vào Mỹ do
những khó khăn về kinh tế thời kỳ hậu chiến, song vẫn tim cách duy trì và bảo vệ
lợi ích của mình, chống lại sự khống chế của Mỹ. Năm 1949, hai nước Đức được
thành lập và phát triền theo hai hướng hoàn tồn trái ngược, khi đó vấn đề thống
nhất đối với Đức trở nên xa vời và hầu như chưa có triển vọng tiến triển. Ở châu Á,
chiến tranh Triều Tiên bùng nổ có những tác động nhất định đến khu vực châu Âu.
Tình hình thê giới căng thăng, một cuộc khủng hoảng mới ở châu Au có khả năng
xảy ra, vì vậy, vào tháng 9/1950, tại Hội đồng NATO, Mỹ đã chính thức gợi ý vấn
đề tái vũ trang Tây Đức. Ngay sau đó Chính phủ Mỹ đã cụ thể hoá ý định này bằng
kế hoạch Spofford, bộc lộ rõ ràng ý đồ tái vũ trang Tây Đức dưới quyền kiểm soát
của NATO. Vấn đề thành lập quân đội Tây Đức khi đó vẫn bị dư luận Tây Âu, đặc
biệt là nhân dân Pháp phản đối. Chính phủ Pháp đã bác bỏ kế hoạch đó và phủ
quyết việc Tây Đức gia nhập NATO. Giới cầm quyền nước Pháp lo ngại sự trỗi dậy
của nước Đức, không muốn thấy nước Đức q mạnh và vượt khỏi vịng kiểm sốt
của họ. Chính vì vậy, tháng 10/1950, Thù tướng Pháp Pléven đã đưa ra kê hoạch
thành lập Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu (European Defence Community - EDC).
12
Mục đích của Kê hoạch Pléven là thành lập một Quân đội Châu Au, trong đó các
quốc gia thành viên sể gửi lực luợng quân đội tham gia, duới sụ chỉ huy cùa Bộ
trưởng Phịng thủ Châu Âu có tính chất siêu quốc gia (supranational authority).
Đồng thời, EDC cũng sẽ có các cuộc họp thường xuyên để nguyên thủ các quốc gia
thành viên phối hợp hành động trong chính sách đối ngoại.
Nếu dự án về việc xây dựng lực lượng quân sự châu Âu được thực hiện thì
các quốc gia thành viên sẽ khơng thề duy tri một chính sách đối ngoại hoàn toàn độc
lập. EDC sẽ trở thành đại diện chung cho các quốc gia thành viên trước cộng đồng
quốc tế, có tư cách tham gia các hiệp định phịng thủ và tham gia các tố chức quốc
tế. Ngồi ra, việc thành lập quân đội chung sẽ đặt ra những yêu cầu về đào tạo, huấn
luyện quân đội và quan trọng hơn cả là cần có một ngân sách chung để chi trả cho
các hoạt động trên. Như vậy, có thế nói Kế hoạch Pléven là ý tưởng đầu tiên về một
chính sách phịng thủ và đối ngoại chung cho châu Âu. Năm 1951, Cộng đồng Than
Thép chính thức được thành lập. Một năm sau (1952) Hiệp ước thành lập EDC cũng
được ký kết tại Paris, tuy nhiên sau đó EDC vẫn chỉ là “một kế hoạch trên giấy”. Có
thể thấy, mục đích của Kế hoạch Pléven là kiểm soát việc tái thiết lập quân đội Tây
Đức và đưa nước này vào hệ thống khối quân sự của phương Tây với điều kiện
Pháp vẫn có thể kiếm sốt và duy trì vai trị lãnh đạo của mình ở Tây Âu. Theo kế
hoạch này, Tây Đức có thể gia nhập với một số đơn vị nhỏ lẻ, chịu sự lãnh đạo cùa
một cơ quan quyền lực siêu quốc gia. Giới cầm quyền Tây Đức phản đối việc tham
gia Quân đội Châu Âu với những điều kiện mà Ke hoạch Pléven đưa ra và cương
quyết địi phải được bình đẳng với Pháp, tương xứng với khả năng kinh tế và quân
sự của Đức. Lúc này, nhiều nước Tây Âu khác, đặc biệt là các nước chưa tham gia
Cộng đồng Than Thép như Anh, cũng muốn ngăn chặn ý đồ nắm giữ vị trí lành đạo
của Pháp trong Quân đội Châu Âu. Bên cạnh đó, Mỷ lại coi Tây Đức là một trong
những đồng minh Tây Âu tiềm năng nên cũng ủng hộ lập trường của Tây Đức, bác
bỏ Kế hoạch Pléven. Tiến trình thương lượng về việc thành lập quân đội chung kéo
dài gần hai năm, cuối cùng Pháp bị cô lập nên buộc phải nhượng bộ. Năm 1954,
Quốc hội Pháp đà chính thức bác bỏ việc thành lập EDC.
13
Sau sự that bại của EDC năm 1954, tư tưởng nhât thê hố Tây Au vê mặt
qn sự, chính trị không được ủng hộ, các nước này đều tập trung vào mục tiêu
phát triển kinh tế nhằm tập hợp lực lượng thống nhất châu Âu, đồng thời tách dần
khởi phạm vi ảnh hưởng của Mỹ. Ba tổ chức kinh tế lần lượt ra đời và đến năm
1967 hợp nhất lại thành Cộng đồng Châu Âu (European Community - EC). Với
mục tiêu phát triền kinh tế, các nhà lãnh đạo Tây Âu đặt ưu tiên cho các chính
sách kinh tế nội khối, thúc đẩy hợp tác và hội nhập về phương diện kinh tế, thiết
lập một thi trường chung. Chính vì vậy, vấn đề về chính sách đối ngoại chung hầu
như không được để cập tới.
Tuy nhiên, tất cả đều nhận thấy một điều hiển nhiên rằng, việc phát triển một
thị trường chung, thực hiện mục tiêu nhất thể hóa châu Âu tất yếu sẽ tạo nên những
vấn đề đòi hỏi phải hợp tác chính trị và có những chính sách đối ngoại chung. Vì
vậy, năm 1969, tại Hội nghị Thượng đỉnh Fague, các quốc gia thành viên EC đã
quyết định xem xét việc đưa ra một chính sách đối ngoại chung. Bản Báo cáo
Davigonon đưa ra những phân tích về các phương thức hợp tác chính trị, được cơng
bố tại Hội nghị Thượng đỉnh Luxembourg năm 1970, đã đánh dấu sự ra đời của
EPC (Europe Political Cooperation) - Hợp tác Chính trị Châu Âu.
Khi đó, EPC khơng được thiết lập bằng một hiệp ước, nói cách khác, EPC
khơng có một thể chế hoạt động chính thức. Các thành viên tham gia EPC đều trên
cơ sở tự nguyện, vẫn duy trì các chính sách cũng như các hoạt động đối ngoại một
cách độc lập. Chính vi vậy, EPC hoạt động chưa thực sự có hiệu quả và chưa thể
hiện được chính sách đối ngoại chung của EC. Năm 1974, các hoạt động của EPC
được hỗ trợ phần nào khi Hội đồng Châu Âu được thành lập, tạo điều kiện cho các
nguyên thú quốc gia gặp gỡ, trao đổi và phối họp chính sách đối ngoại với nhau,
Tuy nhiên, sau 17 năm, EPC mới có một cơ sở pháp lý và một thể chế hoạt
động chính thức. Năm 1986, EPC đã được chính thức cơng nhận trong Đạo luật
Châu Âu thống nhất (Single European Act). Theo đạo luật này, mục tiêu của EPC
bao gồm tất cả các vấn đề về chính sách đối ngoại chung liên quan đến các lợi ích
chung. Các quốc gia thành viên cũng khẳng định sẽ “nỗ lực tham gia thiết lập và
14
thực hiện chính sách đơi ngoại chung của Cộng đơng châu Au [30]”. Thơng qua
EPC, các nhà hoạch định chính sách ECC cố gắng tập trung giải quyết những vấn
đề thường gặp trong giai đoạn đầu của tiến trình nhất thể hóa, đó là: Yêu cầu thành
lập một cơ sở pháp lý tồn diện; Đảm bảo tính dân chủ giữa các thành viên và đạt
được sự cân bằng giữa hiệu quả của một chính sách đối ngoại chung với việc tơn
trọng chủ quyền quốc gia. Song có thể thấy, đặc trưng chính sách đối ngoại thời kỳ
này là sự thiếu trọng tâm, thiếu sự dẫn dắt, khiến các đối tác khơng tin tưởng vào
một chính sách đối ngoại chung của EC.
Đầu thập niên 1990, Chiến tranh Lạnh kết thúc đã làm thay đổi toàn bộ cục
diện quan trọng quốc tế. Hàng loạt các sự kiện như giải thể Liên bang Xô viết, sự
tan rã của Liên bang Nam Tư, thống nhất nước Đức... đã có tác động mạnh mẽ đến
cộng đồng các nước Tây Âu. Lúc này EC đã được cúng cố với ba lần mở rộng từ 6
thành viên lên 12 thành viên. Những tác nhân bên ngoài cùng với các yếu tố nội tại
buộc EC phải củng cố và cải cách chính sách đối ngoại chung nhằm nâng cao vai
trị của EC trên trường quốc tế.
Thêm vào đó, cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1990 - 1991 đà làm lộ ra
những bất đồng về quan điểm đối ngoại giữa các thành viên EC, khiến các quốc gia
thành viên bộc lộ những phản ứng khác nhau. Anh vẫn tích cực ủng hộ Mỹ sừ dụng
vũ lực, Pháp lại muốn giải quyết xung đột bằng biện pháp ngoại giao, Đức đang
vướng bận với việc thống nhất đất nước, Tây Ban Nha, Bỉ và một số nước giữ thái
độ cầm chừng, khơng cho lực lượng hải qn tham chiến, cịn một số quốc gia khác
như Ireland lại giữ thái độ trung lập. Ngoại trưởng Bỉ thậm chí cịn phát biểu rằng,
sự đối lập trong chính sách đối ngoại của các thành viên EC đã chứng tỏ: “Cộng
đồng Châu Âu là một tên khổng lồ về kinh tế, một chú lùn chính trị và là một con
sâu về quân sự”. Sự bất đồng trong quan điểm về cuộc chiến Iraq đà buộc EC phải
xem xét lại chính sách đối ngoại của mình và thêm một lần khẳng định sự cẩn thiết
có một bộ máy mang tính thể chế giúp EC hoạt động với tư cách là một tổ chức
thống nhất. Năm 1992, Hiệp ước Masstricht, hay còn gọi là Hiệp ước Liên minh
Châu Âu, đã được thơng qua và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1993, theo đó EC được
15
đôi thành Liên minh Châu Au - European Union (Eư). Theo Hiệp ước này, EPC đã
được thay thế bàng Chinh sách Đối ngoại và An ninh chung EU (The EU Common
Foreign and Security Policy - CFSP). CFSP là trụ cột liên chính phủ thứ hai trong
ba trụ cột của EU (Trụ cột thứ nhất là Cộng đồng Châu Âu, còn trụ cột thứ ba là Tư
pháp và các vấn đề nội bộ của EƯ). Đây là quyết định quan trọng đối với sự phát
triền chính sách đối ngoại chung của EU. Hiệp ước Liên minh Châu Âu đã đề ra 05
mục tiêu cơ bản của CFSP đó là: Bảo vệ những giá tri chung, những lợi ích căn bản
cùa EU; Tăng cường an ninh cho EU; Duy trì hồ bình và củng cố an ninh quốc tế;
Thúc đẩy hợp tác quốc tế; Thúc đẩy dân chủ, pháp quyền và nhân quyền. CFSP bao
gồm vị thế chung, phối hợp hành động giữa các thành viên và có chiến lược chung
của EU. Tổng Thư ký Hội đồng Châu Âu là đại diện cho CFSP, ngồi ra cịn có các
đại diện ngoại giao đặc biệt được chỉ định của EU tại một số khu vực như Trung
Đông, Đông Âu... Với CFSP, EU được coi là một chủ thể thống nhất trong quan hệ
quốc tế. So với EPC, CFSP đã thể hiện sự cam kết mạnh mẽ hơn giữa các quốc gia
thành viên EU trong việc hoạch định một chính sách đối ngoại và an ninh chung, từ
đó có thể tiến đến một chính sách phịng thủ chung. Khơng dừng lại ở việc trao đối,
tham vấn ý kiến giữa các quốc gia thành viên, CFSP đã có một cơ chế cụ thể cho
việc phối họp hành động giữa các thành viên. Việc tiến hành các hoạt động liên
quan đến CFSP đều được quyết định thông qua biểu quyết đa số tại Hội đồng Châu
Âu. Như vậy, có thể coi CFSP là một bước tiến trong tiến trình nhất thể hóa của
EU, từ hợp tác chính trị đến một chính sách đối ngoại chung.
So với các liên kết khu vực khác, rõ ràng EU đang thể hiện sự vượt trội về
hiệu quả hoạt động nội khối và sự liên kết chặt chẽ giữa các quốc gia thành viên.
Những động thái mới đây như việc mở rộng EU, thúc đẩy sự hoàn thiện của các
thể chế, không những tiếp tục chứng tỏ sức sống mạnh mè của mơ hình liên kết
này mà cịn thể hiện một tầm ảnh hưởng lớn hơn của EU trên trường quốc tế. Tuy
vậy, để sự hợp tác nội khối tiếp tục đạt được một cách thực chất hơn cũng như
nâng cao vai trò của EU với tư cách là một tố chức có sức mạnh và tiếng nói trong
việc giải quyết các mâu thuẫn trên thế giới, EU cần có những nỗ lực lớn hơn nhằm
16
đưa các chương trình đã đặt ra đi vào đời sơng chính trị và kinh tê của EU một
cách nhanh chóng và hiệu quả.
1.2.2. Nội dung chinh sách đổi ngoại của Liên minh châu Âu trong giai
đoạn hiện nay
Ngày 28/6/2016, Liên minh châu Âu cơng bố Chiến lược tồn cầu mới với
trọng tâm là đẩy mạnh sự hợp tác chặt chẽ, tồn diện hơn vì một châu Âu hùng
mạnh. Đây được xem là sự thay đồi có tính nền tảng về chính sách đối ngoại và an
ninh của châu Âu kể từ năm 2003 đến nay và ở thời điểm này đà dự báo sẽ có tác
động mạnh mẽ tới cục diện an ninh quốc tế. Theo đánh giá của giới phân tích quốc
tế, với tiêu đề: “Tầm nhìn chung, hành động chung, vì một châu Âu hùng mạnh”,
Chiến lược toàn cầu mới của Liên minh châu Âu (EU) bao hàm nội dung quan trọng
về việc áp dụng “chủ nghĩa thực dụng có nguyên tắc” đối với các thách thức quốc tế
tại những khu vực láng giềng gần châu Âu và cả khu vực châu Á. Điều này có nghĩa
Chiến lược mới này sẽ không chỉ đẩy mạnh gắn kết kinh tể giữa EƯ với các nước
trên thế giới, mà còn hướng tới giải quyết những thách thức an ninh mới trên các
khu vực, nhất là ở châu Á, nhằm tăng cường sức mạnh, vị thế và tầm ảnh hưởng của
châu Âu trong tương lai [3J.
- Bổi cảnh ra đời Chiến lược
Hơn một thập kỷ sau khi Chiến lược An ninh châu Âu được công bố (năm
2003) và sau một thập kỷ ủy ban châu Âu công bố tài liệu chính sách định hướng
hợp tác với Trung Quốc (năm 2006), thế giới đã có những thay đổi cãn bản: Trung
Quốc trồi dậy mạnh mẽ; Nga khôi phục vị thế cường quốc thế giới; Mỹ thực hiện
chiến lược tái cân bằng tại châu Á - Thái Bình Dương và trung tâm địa - chính trị,
địa - kinh tế của thế giới có xu hướng dịch chuyển về châu Á. Trong khi đó, bản
thân EƯ cũng gặp phải những biến động sâu sắc, mà điển hình là cuộc đại khủng
hoảng nhập cư vào lục địa già, các cuộc khủng bố đẫm máu tràn lan ở châu Âu. Đặc
biệt, việc cừ tri Anh quyết định rời EU (Brexit) tạo nguy cơ ảnh hưởng đến chiến
lược quốc phòng mới của châu Âu và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
(NATO). Trên thực tế, vương quốc Anh là quốc gia có ngân sách quốc phòng lớn
17
nhất trong Eư và là một trong năm quốc gia Eư có vai trị quan trọng nhất trong chỉ
huy chiến dịch quân sự ở nuớc ngoài. Theo con số thống kê, Anh là một trong
những nước có đóng góp lớn nhất vào các chiến dịch do EU đứng đầu, với quy mơ
tương đương 15% tổng chi phí của tồn Liên minh. Hiện tại, Anh cũng đứng đầu
chiến dịch chống cướp biến (Operation Atlanta) của EƯ ở vùng Sừng châu Phi,
đóng góp các tàu tuần tra ở Địa Trung Hải và cam kết cung cấp binh sĩ, vũ khí,
phương tiện cho lực lượng chiến đấu của EU. Nói cách khác, việc khơng có Anh
trong EU sẽ tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của toàn Khối, gây cản
trở nỗ lực tăng cường an ninh tập thể, bao gồm cuộc chiến chống lại lực lượng Tổ
chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) và thành lập mặt trận thống nhất tại khu vực
gần biên giới Nga.
Tất cả các biến cố trên đang thử thách sự tồn tại và phát triến của EU. Trước
bối cảnh đó, EU nhận thấy cần phải có chiến lược mới, với một tầm nhìn và hành
động mới để không chỉ đảm bảo cho EƯ đủ sức đối phó với các thách thức mà cịn
tạo nên một châu Âu hùng mạnh hơn, có sự kết nối trực tiếp giữa sự thịnh vượng
của châu Âu và an ninh của châu Á. Vì thế,X sự• ra đời của Chiến lược
được
chính
•
•
giới châu Âu đánh giá là có ý nghĩa và tàm quan trọng đặc biệt. Bởi lẽ, nó đà suy
xét lại cách thức mà EƯ đang hành động; chỉ rõ EU đại diện cho điều gì và hy vọng
đạt được điều gì trong thế giới đương đại; đồng thời, đặt ra phương hướng hoạt
động, các nguyên tắc, lợi ích và ưu tiên trong quan hệ song phương và đa phương
của Liên minh, cả trong nội bộ các quốc gia thành viên EU, cũng như giừa EU với
phần còn lại của thế giới.
- Mục tiêu của Chiến lược
Trong Chiến lược mới của mình, EƯ đã đề ra nhiều mục tiêu, cả mục tiêu
tổng quát, cốt lõi và các mục tiêu khác, nhằm làm cho châu Âu hùng mạnh hơn.
Trong đó, cùng với quan tâm tới các khu vực láng giềng gần châu Ầu, việc hướng
tới châu Á cũng được Chiến lược mới thế hiện tương đối rõ nét, với các nội dung
chù yếu sau. Thứ nhất, tăng cường sự hiện diện về kinh tế của EU tại châu Á nhằm
duy trì vai trị nổi trội trong kinh tế thế giới. Thơng qua đó, cho phép EƯ chăm lo
18
những lợi ích của mình cũng như nhận được sự tơn trọng hồn tồn của khu vực
then chốt này ngay từ đầu thế kỷ XXI. Thứ hai, góp phần vào sự ổn định ở châu Á
bằng cách khuyến khích hợp tác và hiểu biết lẫn nhau ở cấp độ quốc tế. Thứ ba,
khuyến khích sự phát triển kinh tế của các nước và khu vực kém thịnh vượng nhất.
Các thành viên EƯ sẽ tiếp tục góp phàn làm giảm nghèo nàn, tạo tăng trưởng bền
vừng của các nước và nhóm nước ở khu vực này. Thứ tư, củng cố và thúc đẩy phát
triền nền dân chủ, nhà nước pháp quyền cũng như các phương tiện tôn trọng quyền
con người và các quyền tự do cơ bản khác ở châu Á.
Như vậy, có thể thấy, sự cụ thể hóa về mục tiêu trong Chiến lược mới của EU
đối với châu Á chứng tỏ Liên minh này đang tiến thêm một bước quan trọng trong
chính sách đối ngoại và an ninh chung của mình. Các nhà quan sát cho rằng, thơng
qua các mục tiêu của Chiến lược mới, EU đã, đang chuyển mình vươn lên, từng bước
tách khỏi sự lệ thuộc vào Mỹ, vươn tầm hoạt động vào các khu vực đầy tiềm năng,
nhằm củng cố và nâng cao hơn nữa vị thế của mình trước thềm thế kỷ XXL
- Nội dung cơ bủn của Chiến lược
Trên cơ sở các mục tiêu đề ra, EU đưa ra hàng loạt chính sách và cũng là nội
hàm chủ yếu của Chiến lược, nhằm giải quyết những thách thức quốc tế tại các khu
vực trên thế giới, nhất là khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với các nước, nhóm
nước có nhiều tiềm năng, như: Trung Quốc, Ẩn Độ và khu vực Đông Nam Á...
Đối với Trung Quốc, Chiến lược toàn cầu mới của EƯ xác định cơ sở quan
hệ EU - Trung Quốc tù’ nay đến năm 2020, với các nội dung trọng tâm, như: thúc
đẩy các lợi ích, mở rộng hợp tác và kêu gọi Trung Quốc tham gia có trách nhiệm
giải quyết các thách thức tồn cầu. Theo đó, EƯ đưa ra 6 nguyên tắc chính trong
quan hệ với Trung Quốc:
(1) Đẩy mạnh hợp tác giữa hai bên theo nguyên tắc cùng có lợi, “có đi có
lại”; trong đó, EƯ cam kết hỗ trợ tiến trình cải cách kinh tế của Trung
Quốc; đặt ưu tiên ký Hiệp định đầu tư toàn diện và đàm phán Hiệp định
Thương mại tự do. EU cho rằng, sáng kiến “một vành đai, một con
đường” của Trung Quốc, bên cạnh các cơ hội về kinh tế sẽ có nhiều tác
19
động vê địa - chính trị, địi hỏi Băc Kinh phải tôn trọng quy luật thị
trường và chuẩn mực quốc tế, nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các bên;
(2) Trung Quốc phải hành xử có trách nhiệm, tơn trọng luật pháp quốc tế;
(3) Nội bộ EU phải có tiếng nói thống nhất;
(4) Hai bên cam kết thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền;
(5) EU tơn trọng chính sách “một Trung Quốc”, thực hiện công thức
“một quốc gia, hai chế độ”, tiếp tục thúc đẩy quan hệ với Hồng Kơng,
Ma Cao và Đài Loan;
(6) Tăng cường phối hợp chính sách với Mỹ trong chính sách tổng thể
của EƯ đối với Châu Á - Thái Bình Dương và với các đối tác khác, như:
Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN và Australia...
Đối với Nga, Chiến lược toàn cầu mới của EU xác định Moscow là một
“thách thức chiến lược”. Trong đó, việc Nga sáp nhập Crimea và gây bất ồn tại
miền Đông Ukraine là những hành động thách thức nền móng trật tự an ninh tại
châu Âu. EU có kế hoạch sử dụng hai Hội nghị thượng đỉnh riêng rẽ của EU và
NATO đế thúc đấy các cuộc cải cách của hai trụ cột an ninh nhàm giảm sự phụ
thuộc của EU đối với Mỹ. Việc này nhằm thực hiện chủ trương liên kết giữa NATO
với một EƯ hùng mạnh hơn trong bối cảnh phải đối mặt với cuộc khủng hoảng
nhập cư cũng như những hành động của Nga mà họ cho là “gây hấn”. Thực chất, đó
là cách để EU có thể tiến hành các “hoạt động độc lập” khi cần thiết. Tuy nhiên,
trên bình diện quốc tế, EU kêu gọi ủng hộ “sự hợp tác có chọn lọc” với Nga trong
các lĩnh vực có lợi ích song trùng, bao gồm: biến đổi khí hậu, an ninh hàng hải, giáo
dục và giao lưu nhân dân...
Đối với khu vực Đông Á và Đông Nam Á, EU dự kiến sẽ hỗ trợ nâng cao
năng lực hàng hải và ủng hộ “cấu trúc an ninh do ASEAN dẫn dắt”. Đồng thời, tăng
cường hợp tác với Nhật Bản, Indonesia và các nước khác, tiến tới thúc đẩy các Hiệp
định thương mại tự do (FTA) giữa EU và ASEAN.
Chiến lược tồn cầu mới của EƯ cịn nhấn mạnh rằng, các quốc gia thành
viên có tồn quyền về chính sách quốc phịng của mỗi nước, nhưng phải họp tác
20