Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

Phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật hình sự việt nam và so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới (luận văn thạc sỹ luật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (29.55 MB, 114 trang )

ĐẠI HỌC QUOC GIA HA NỌI
KHOA LUẬT

NGUYỄN MINH THẮNG

PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG THEO QUY ĐỊNH củ
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ so SÁNH VỚI PHÁP
LUẬT CỦA MỘT SỐ QUÓC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 83801Ỏ1.03

LUẬN VẢN THẠC sĩ LUẬT HỌC

Nguôi hướng dân khoa học: PGS.TS TRỊNH QUOC TOAN

HÀ NỘI - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xỉn cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tơi. Các kết quả nêu trong Luận vãn chưa được cơng bố trong bất kỳ

cơng trình nào khác. Các sổ liệu, vỉ dụ và trích dẫn trong Luận vãn đảm
bảo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các
mơn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định

của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tơi

có thế bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!



NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Minh Thắng


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

HÌNH SỤ VIỆT NAM VỀ PHỊNG VỆ CHÍNH ĐÁNG........................... 6
1.1.

Khái niệm, đặc điếm và ý nghĩa của phịng vệ chính đáng........................ 6

1.1.1. Khái niệm phịng vệ chính đáng........................................................................ 6
1.1.2. Đặc điểm của phịng vệ chính đáng................................................................. 10
1.1.3. Ý nghĩa của phịng vệ chính đáng.................................................................... 12

1.2.

Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính


đáng từ năm 1945 đến trước năm 2015........................................................ 13
1.2.1. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính đáng

từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước lần pháp điển hố luật

hình sự lần thứ nhất năm 1985..........................................................................13
1.2.2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính đáng

từ năm 1985 đến năm 1999............................................................................. 17

1.2.3. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính đáng
từ Từ năm 1999 đến trước năm 2015.............................................................. 19

1.3.

Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính đáng

theo BLHS 2015.............................................................................................. 23
TIẾU KẾT CHƯƠNG 1.............................................................................................. 36

Chưong 2: QUY ĐỊNH VÈ PHỊNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG PHÁP
LUẬT HÌNH Sự CỦA CANADA VÀ CỘNG HỖ NHÂN DÂN

TRUNG HOA................................................................................................... 37

2.1.

Quy định về phịng vệ chính đáng trong Pháp luật hình sự Canada...... 37



2.1.1. Phịng vệ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình hoặc của người khác

(defence of self and others).............................................................................. 39
2.1.2. Phòng vệ để bảo vệ tài sản (defence of property)........................................... 54

2.1.3. Giúp đỡ người thi hành công vụ (assisting those in authority)...................... 62

2.2.

Quy định về phịng vệ chính đáng trong Pháp luật hình sự của
Cộng hồ nhân dân Trung Hoa................................................................... 65

2.2.1. Chế định phịng vệ chính đáng theo pháp luật hình sự Cộng hồ nhân

dân Trung Hoa................................................................................................. 65
2.2.2. Các trường hợp đặc biệt trong phịng vệ chính đáng theo pháp luật hình

sự của Cộng hồ nhân dân Trung Hoa.............................................................74
TIẾU KẾT CHƯƠNG 2............................................................................................... 80
Chương 3: PHÂN TÍCH, so SÁNH VÀ ĐÈ XUẤT CÁC QUY ĐỊNH VÈ

PHỊNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG PHÁP LUẬT HÌNH sự VIỆT
NAM.................................................................................................................. 81

3.1.

Phân tích, so sánh các quy định về phịng vệ chính đáng giữa pháp

luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Canada................................ 81


3.1.1. Một số điểm tương đồng giữa các quy định về phịng vệ chính đáng của
pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Canada..............................81

3.1.2. Một số điểm khác biệt giữa các quy định về phịng vệ chính đáng của

pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Canada..............................83

3.2.

Phân tích, so sánh các quy định về phịng vệ chính đáng giữa pháp

luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Trung Quốc........................ 86

3.2.1. Một số điểm tương đồng giữa các quy định về phịng vệ chính đáng của

pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Trung Quốc..................... 87
3.2.2. Một số điểm khác biệt giữa các quy định về phịng vệ chính đáng của

pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự Trung Quốc..................... 88
3.3.

Kiến nghị hồn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ
chính đáng........................................................................................................90

3.3.1. Nhận xét các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính
đáng................................................................................................................... 90


3.3.2. Kiến nghị hồn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính


đáng....................................................................................................................94

TIỄU KÉT CHƯƠNG 3............................................................................................. 100

KÉT LUẬN................................................................................................................ 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................. 103


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

BƠ• lt
• hình sư•

LHS:

Lt
• hình sư•

TNHS:

Trách nhiêm
• hình sư•


MỞ ĐÀU
1. Tính câp thiêt của đê tài
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất


lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện

tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể
hiện ở bản án kết tội của Tịa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện

pháp cường chế hình sự khác do luật hình sự quy định. Khi nào thì người ta phải

chịu trách nhiệm hình sự? BLHS 2015 có quy định tại khoản 1 điều 2 như sau: “C7zz
người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình

sự” [47]. Mặc dù BLHS 2015 có quy kết trách nhiệm hình sự cho cả pháp nhân,
nhưng trong bài luận văn này về chủ đề phịng vệ chính đáng, chúng ta chi nhắc đến
trách nhiệm hình sự cho cá nhân, bởi khơng có phịng vệ chính đáng của pháp nhân.

Như vậy, một người chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi phạm một tội đã

được BLHS quy định. Tuy nhiên, không phải tất cả những trường hợp người có

hành vi quy định trong BLHS đều phải chịu trách nhiệm hình sự, bởi có một số
trường hợp, những hành vi đó chứa đựng một số yếu tố làm loại trừ tính chất nguy

hiểm của hành vi, hoặc không đủ điều kiện để truy cứu. Một số trường họp đó là

người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người thực hiện

hành vi khơng có năng lực chủ thể hình sự, hành vi được thực hiện là phịng vệ
chính đáng, tỉnh thế cấp thiết hay sự kiện bất ngờ.
Chế định phịng vệ chính đáng là một trong nhừng chế định được quy định từ
lâu và thực tiễn áp dụng đạt được những kết quả nhất định. Phịng vệ chính đáng đà


được quy định trước khi có BLHS năm 1983 thơng qua chỉ thị số 07 ngày
22/12/1983 của Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính

mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng

hoặc trong khi thi hành công vụ.

Nhận thấy tầm quan trọng của chế định này, nhà làm luật đã luôn duy trỉ việc
quy định về phịng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự. Phịng vệ chính đáng là

1


quyên con người, quyên được tự bảo vệ cho mình, bảo vệ cho người khác và bảo vệ

lợi ích chung của xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật về phịng vệ chính
đáng cịn nhiều thiếu sót, hạn chế nhất định, đặc biệt là những trường hợp cơ quan
thực hiện quyền tư pháp áp dụng khơng chính xác các quy định về phịng vệ chính

đáng trên thực tế. Những hạn chế này chủ yếu do pháp luật hình sự quy định chưa
hồn thiện và do trình độ chun mơn của người có thẩm quyền. Do đó, việc tiếp
thu kinh nghiệm của nước ngồi, trong đó có luật hình sự Trung Quốc và Canada về

phịng vệ chính đáng là rất cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Mặc dù chế định phịng vệ chính đáng chỉ là một chế định nhỏ trong hệ
thống pháp luật hình sự Việt Nam, nhưng nó đóng một vai trị rất quan trọng. Do

đó, ngày càng có nhiều sự chú ý, tìm hiếu về chế định này, cả trong và ngồi nước.


Tính đến nay, đã có nhiều tấc giả, nhà nghiên cứu cho ra đời nhừng bài viết, cơng
trình nghiên cứu nổi bật, có đóng góp to lớn cho lĩnh vực tư pháp trong nước. Có
thể kể đến một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- Trịnh Tiến Việt (2019), Trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình
sự, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội;

- Nguyễn Văn Hải (2017), Một sổ vấn đề lý luận và thực tiễn về phịng vệ
chính đủng trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật, Đại

học quốc gia Hà Nội;

- Nguyễn Sơn (2014), Phịng vệ chính đáng và các tội phạm do vượt quá
giới hạn phòng vệ chinh đáng trong luật hĩnh sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật
học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Phạm Văn Beo, Chế định phịng vệ chính đáng trong luật hình sự Canada;
- Hồng Văn Hùng (1999), Những quy định về phịng vệ chính đáng và tình

thế cấp thiết trong BLHS Nhật Bản và Trung Quốc, Tạp chí Luật học số 01/1999,
tr43-45.
Ngồi ra cịn có rất nhiều cơng trình nghiên cứu được cơng bố trên tạp chí
chuyên ngành, sách, báo...đề cập đến lĩnh vực phịng vệ chính đáng. Nhìn chung,

2


các cơng trình nghiên cứu trước đây, ở các mức độ khác nhau đã ít nhiêu đê cập đên
những vấn đề của đề tài luận văn; các kết quả nghiên cứu đó sẽ là nguồn tài liệu


tham khảo có giá trị trong việc nghiên cứu và thực hiện nội dung đề tài.

Tuy nhiên, hiện nay, việc đúc kết từ pháp luật nước ngồi đế rút ra những
điểm phù hợp có thề áp dụng cải thiện pháp luật Việt Nam về chế định phịng vệ

chính đáng chưa có nhiều nghiên cứu. Do đó, kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát
triển những kết quả nghiên cứu trên, luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu một cách có

hệ thống vấn đề so sánh và đưa ra các phương án cải cách chế định phịng vệ chính
đáng trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.

3. Mục đích của luận văn
3.1. Mục tiêu tổng quát
Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và các quốc gia
Canada và Trung Quốc về phịng vệ chính đáng. Qua những nghiên cứu này, tác giả

đưa ra những giải pháp hoàn thiện các quy định cùa pháp luật Việt Nam về phịng

vệ chính đáng.
3.2. Mục
♦ tiêu cụ• thể
- Nghiên cún làm rõ chế định phịng vệ chính đáng trong BLHS nàm 2015, rút

ra được khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, điều kiện áp dụng của chế đinh.

- Đưa ra các trường hợp được coi là phịng vệ chính đáng và các trường hợp
được coi là vượt q giới hạn của phịng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật
Việt Nam, Canada và Trung Quốc.


- Nghiên cứu, phân tích và rút ra các điểm chung và điểm đặc thù của luật
hình sự Việt Nam, Canada và Trung Quốc về phịng vệ chính đáng.

- Nhận xét những hạn chế, thiếu sót trong quy định cùa pháp luật Việt Nam

về phịng vệ chính đáng.
- Đưa ra những nguyên nhân của hạn chế thiếu sót đó.
- Kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Viêt Nam về
phịng vệ chính đáng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

3


Đê tài nghiên cứu những đôi tượng cụ thê là những quy định của pháp luật

Việt Nam, Canada và Trung Quốc về Phịng vệ chính đáng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở phạm vi pháp luật hình sự Việt Nam và
pháp luật hình sự của Trung Quốc, Canada. Đề tài nghiên cứu những quy định pháp

luật của các quốc gia này từ thời điểm xuất hiện pháp luật hình sự, sự thay đổi qua
từng thời kỳ và pháp luật đang áp dụng hiện nay cũng như hiệu quả của nó trong

việc đấu tranh phịng chống và ngăn ngừa tội phạm.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cún cùa luận văn


5.7. Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Các quan điểm mang tính lý luận

của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước và pháp luật; các quan điểm
của Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách tư
pháp nói riêng.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên sự kết hợp của những phương pháp chủ yếu

như: phương pháp phân tích luật học, phương pháp phân tích - so sánh, phương

pháp tổng hợp, phương pháp trích dẫn, phương pháp hệ thống...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1, Ỷ nghĩa lý luận

về

mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm bố sung và

hồn thiện hệ thống lý luận, cơ sở pháp lý về chế định phịng vệ chính đáng, qua đó

đảm bảo quyền con người được tự vệ trước hành vi trái pháp luật.
6.2, Ỷ nghĩa thực tiễn

về


mặt thực tiễn, kết quả nghiên cửu của luận vàn có thể được sử dụng làm

tài liệu học tập, nghiên cứu, tham khảo cho cán bộ xây dựng pháp luật, cán bộ

nghiên cứu, cán bộ thực tiễn cùa các cơ quan thực hiện quyền tư pháp là Tòa án, cơ
quan kiểm sát hoạt động tư pháp là Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra; có thể khai

thác, sử dụng trong việc lãnh đạo, chỉ huy, xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng

4


cán bộ và tô chức thực hiện nhiệm vụ đê nâng cao chât lượng, hiệu quả áp dụng

pháp luật hình sự nói chung và quy định về phịng vệ chính đáng nói riêng.
7. Kết cấu luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

đề tài gồm 3 chương như sau:

Chương r. Một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật hình sự Việt Nam về
phịng vệ chính đáng.

Chương 2\ Quy định về phịng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự của
Canada và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

Chương 3: Phân tích, so sánh và đề xuất các quy định về phịng vệ chính
đáng trong pháp luật hình sự Việt Nam.

5



Chương 1

MỘT
SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN
VÀ QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT
HÌNH sự






VIỆT NAM VÈ PHỊNG VỆ CHÍNH ĐÁNG
1.1. Khái niệm, đặc điếm và ý nghĩa của phịng vệ chính đáng
1.1.1. Khái niệm phịng vệ chính đáng

Phịng vệ chính đáng là một trong các tình tiết loại trù’ trách nhiệm hình sự. Có
nhiều quan điếm khác nhau về khái niệm cũng như thành phần của các tình tiết loại
trừ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên đều thống nhất rằng, phịng vệ chính đáng là một

tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự. Chế định phịng vệ chính đáng được xây dựng

dựa trên chính sách của Nhà nước khuyến khích mọi cá nhân trong xã hội tham gia
chống lại hành vi xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm ngay tức khắc các khách thể

được pháp luật hình sự bảo vệ. Việc chống lại những hành vi này sẽ giúp giảm thiếu
tối đa những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, giúp ích cho cơng cuộc đấu tranh phịng


chống tội phạm. Phịng vệ chính đáng là tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự xảy ra

phổ biến nhất trong thực tiễn xét xử, thể hiện rõ ràng nhất sự ủng hộ của Nhà nước
đối với các hành vi cơng dân chủ động đấu tranh phịng chống tội phạm.

Nhiều nhà nghiên cứu khoa học có các khái niệm và cách hiểu khác nhau về

phịng vệ chính đáng cũng như những điều kiện phịng vệ chính đáng.

GS. TSKH. Lê Văn Cảm đã đưa ra kết luận như sau:
Phịng vệ chính đáng là hành vi chống trả của người phịng vệ để gây

thiệt hại cho người đang có hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp của

mình hoặc của những người khác, cũng như của xã hội hay của Nhà
nước, nếu hành vi chống trả tương xứng với hành vi xâm hại [7, tr. 546].

PGS. TS. Trịnh Tiến Việt định nghĩa phịng vệ chính đáng như sau:
Phịng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ quyền hoặc
lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà
nước, cùa cơ quan, tổ chức, của người khác mà chống trả lại một cách

cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên, được

6


coi là trường hợp không phải tội phạm và người đó khơng phải chịu
trách nhiệm hình sự [64, tr. 255].


PGS. TS. Trịnh Tiến Việt đưa ra các các điều kiện của phịng vệ chính đáng:
a) Có hành vi trái pháp luật đang xâm hại đến các lợi ích họp pháp - cơ

sở để phát sinh quyền phịng vệ chính đáng.
b) Hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp phải đang diễn ra, đang

hiện hữu và có thật, chứ khơng phải do suy đốn tưởng tượng.

c) Hành vi phịng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người đang
có hành vi tấn cơng - nơi phát sinh nguồn nguy hiểm để bảo vệ các lợi
ích hợp pháp.
d) Hành vi phịng vệ được coi là chính đáng, khi đó hành vi chống trả là

cần thiết [64, tr. 261-265].
Phòng vệ chính đáng xét về mặt hình thức đã có đủ các dấu hiệu của tội

phạm nhưng không được coi là tội phạm. Thiệt hại xuất phát từ hành vi phòng vệ
chính đáng phù hợp với yêu cầu chung của xã hội. Phịng vệ chính đáng khơng phải

tội phạm mà là hành vi tự vệ trước hành vi trái pháp luật của người khác, nhằm mục
đích ngăn ngừa, chống lại, hạn chế hậu quả nguy hiềm cho xã hội của hành vi vi

phạm pháp luật đó gây ra. Do đó, hành vi phịng vệ chính đáng mặc dù về mặt hình
thức có vẻ mang tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng thực tế tính nguy hiểm đó đã bị

loại trù’ và hành vi ấy hoàn toàn phù hợp với xã hội, đồng thời thế hiện rõ ý thức

trách nhiệm của công dân góp phần vào việc bảo vệ và củng cố trật tự xã hội.
Phịng vệ chính đáng là quyền của mỗi cá nhân nhưng khơng phải là nghĩa


vụ pháp lí [24, tr. 47]. Họ có thể khơng sử dụng quyền đó vì những lý do khác nhau
nhưng về mặt đạo đức, địi hỏi một người phải có những trách nhiệm riêng đối với
những lợi ích chung trong xã hội, qua đó chống lại những hành vi vi phạm. Trong

mỗi một cá nhân luôn mang thêm trách nhiệm đối với cộng đồng, với những người

xung quanh, đây là sợi dây liên kết giữa những cá nhân trong xã hội, do đó việc họ

sử dụng quyền phịng vệ chính đáng khi thấy lợi ích hợp pháp của người khác bị
xâm phạm ln luôn được tuyên dương, ủng hộ. Đối với những người có chức vụ,

7


có trách nhiệm
bảo vệ• lợi
ích của Nhà nước hoặc
của nhân thân thì đây



ụ trờ thành

nghĩa vụ pháp lí.
Lịch sử lập pháp cho thấy chế định phịng vệ chính đáng đã được đề cập đến

từ rất sớm, trước cả khi ban hành BLHS đầu tiên năm 1985. Đe đảm bảo yêu cầu đấu

tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo nhu cầu về an ninh trật tụ* lúc bấy giờ, Nhà nước

đã ban hành nhiều luật, văn bản, sắc luật như: Luật số 103/SL/L.005 ngày 20/5/1957
đảm bảo quyền tụ’ do thân thế và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín

cùa nhân dân; Bản tổng kết số 452/SL ngày 10/6/1970 của TANDTC; Chỉ thị số

07/CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe
của người khác do vượt quá giới hạn phịng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành

cơng vụ,.... Sau đó, trong lần pháp điển hố đầu tiên của BLHS nàm 1985, phịng vệ
chính đáng được đưa vào BLHS tại Điều 13 như sau: "Phòng vệ chỉnh đáng là hành

vi vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tập thế, bảo vệ lợi ích chỉnh đáng của mình,

của người khác mà chổng trả lại một cách tương xứng người có hành vi xâm phạm
các lợi ích nói trên. Phịng vệ chính đảng khơng phải là tội phạmTrải qua 4 lần

sửa đổi bổ sung (28/12/1987, 12/8/1991, 22/12/1992 và 10/5/1997), chế định phịng

vệ chính đáng khơng bị điều chỉnh. Như vậy, quy định tại Điều 13 BLHS năm 1985
đã được thực hiện suốt thời gian có hiệu lực của BLHS này. Đen năm 1999, khi luật
hình sự Việt Nam tiếp tục pháp điển hố lần thứ 2, chế định phịng vệ chính đáng đã

được quy định tại Điều 15 như sau:
Phịng vệ chính đáng là hành vi cùa người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người

khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm
các lợi ích nói trên.Phịng vệ chính đáng khơng phải là tội phạm.

Nội dung cơ bản cùa chế định vẫn tương tự như được quy định tại BLHS

năm 1985, tuy nhiên đã có những thay đổi nhằm đến bản chất và ý nghĩa của chế

định này (nội dung sẽ được đề cập trong phần sau của luận văn). Đen lần pháp điển
hóa thứ 3 của luật hình sự Việt Nam năm 2015, tuy có vấn đề và phải sửa đổi, bổ

sung năm 2017, nhưng chế định về phịng vệ chính đáng vẫn được đảm bảo tại Điều

8


22 BLHS: “Phòng vệ chỉnh đảng là hành vi của người vì báo vệ qun hoặc lợi ích
chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tô

chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang cỏ hành vi xâm phạm các lợi

ích nói trên. Phịng vệ chính đáng khơng phải là tội phạm
Nhà nước và xã hội ủng hộ, khuyến khích cá nhân thực hiện quyền phịng vệ

chính đáng để đảm bảo quyền và lợi ích bản thân và của xã hội, nhưng khơng có

nghĩa bở mặc cho các cá nhân tự xử lý lẫn nhau, bởi chỉ có Nhà nước mới có quyền
xử lý những người vi phạm pháp luật. Do đó, phịng vệ chính đáng cũng có những
giới hạn, nếu khơng có giới hạn, con người có thể lợi dụng chế định này để thực hiện

một hành vi phạm tội mà khơng phải chịu trách nhiệm hình sự. Giới hạn này luôn

được đặt ra trong các điều luật của BLHS Việt Nam các thời kỳ, nếu trong BLHS
năm 1985 và các bản sửa đổi, bố sung, giới hạn của phịng vệ chính đáng là những
chống trả “tươngxứng” với những hành vi vi phạm pháp luật thì tới BLHS năm 1999


và BLHS 2015, giói hạn của phịng vệ chính đáng đã đổi thành những chống trả “cổ7

thiết ”, Chỉ có thể coi một hành vi là phịng vệ chính đáng khi nó có thể thoả mãn các
điều kiện thể hiện sự phịng vệ là “chính đáng” phù hợp với lợi ích của xã hội.
Hiện nay, cơ bản trong khoa học hình sự các quốc gia trên thế giới, trong đó
có Việt Nam đều thống nhất nội hàm khái niệm của phịng vệ chính đáng. Tuy

nhiên, hai loại chống trả “tương xứng” hay “cần thiết” đối với phịng vệ chính đáng
cịn đang được tranh cãi. Cá nhân người viết đánh giá, hành vi phịng vệ chính đáng

cần phải đáp ứng cả hai yêu cầu là hành vi chống trả “tương xứng” và “cần thiết”.

Tuy nhiên, cần xác định rõ hành vi chống trả “tương xứng” không phải tương
đương một cách máy móc như sau:
Người phạm tội sử dụng cơng cụ, phương tiện, phương pháp gi, thì

người phịng vệ cũng phải sử dụng cơng cụ, phương tiện, phương pháp
tương tự, hoặc có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người
có hành vi xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại mà người
xâm hại gây ra hoặc đe doạ gây ra [31].

Cần hiếu những hành vi chống trả “tương xứng” là những hành vi chống lại

9


hành vi vi phạm pháp luật có phạm vi tương tự như phạm vi của hành vi vi phạm
pháp luật. Tuỳ thuộc vào tính nghiêm trọng, tính nguy hiểm và tính có thể gây nguy
hiểm của hành vi vi phạm pháp luật mà người chống trả phải sử dụng những biện


pháp chống trả có mức độ nguy hiểm tương đương. Khơng thể có phịng vệ chính
đáng khi chống lại một hành vi gây nguy hiểm ít cho xã hội bằng một hành vi gây

nguy hiểm nhiều hoặc rất nhiều cho xã hội [57].
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm phịng vệ chính đáng như sau:
Phịng vệ chính đáng là hành vi của một người nhằm bảo vệ quyền và lợi ích

của bản thân hoặc của người khác, bảo vệ lợi ích Nhà nước, xã hội, tơ chức mà

chống trả lại một cách hợp lỵ người đang có, đe doạ ngay lập tức sẽ có hoặc có căn

cứ chắc chắn sẽ có hành vi xâm hại những lọi ích trên, người thực hiện hành vi
phòng vệ chính đáng được loại trừ trách nhiệm hình sự.
1.1.2. Đặc điểm của phịng vệ chính đáng

Thứ nhất, cơ sở để có hành vi phịng vệ chính đáng là hành vi xâm hại (hành

vi cơ sở) các khách thể được pháp luật hình sự được bảo vệ, là hành vi phạm tội

hoặc rõ ràng có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Hành vi nguy hiểm cho xã
hội đó phải đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc

cho những lợi ích (đã nêu) cần bảo vệ. Hành vi cơ sở có thể là hành vi xâm phạm
tới các khách thể pháp luật hình sự bảo vệ, nhưng cũng có thể là những hành vi xâm

phạm tới các khách thể mà các ngành luật khác bảo vệ. Trong một số trường hợp,

hành vi cơ sở có thể xảy ra trên thực tế, nhưng cũng có thể khơng xảy ra mà chỉ là

“lầm tưởng” cùa người phịng vệ. Nhưng hành vi cơ sở đó vẫn có thể được chấp

nhận nếu trong trường hợp đó, đa số người có nhận thức bình thường đều bị lầm

tưởng như vậy.
Thứ hai, phịng vệ chính đáng phải là hành vi cần thiết, khơng chỉ nhằm mục

đích tự• vệ,
• < loại
• bỏ hành vi xâm hại
• hoặc
• sự• đe dọa
• của hành vi xâm hại
• mà cịn có
mục đích bảo vệ các lợi ích chung của xã hội. Đặc điểm này của phịng vệ chính

đáng được sử dụng đế xác định một hành vi có phải hành vi vượt quá giới hạn

phịng vệ chính đáng hay khơng, khơng có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây
ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhở hơn thiệt hại do người xâm hại đe

10


doạ gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

Để xem xét hành vi phòng vệ của một người có cần thiết hay khơng, có vượt

q giới hạn cho phép hay khơng thì phải xem xét tồn diện những tình tiết có liên
quan đến hành vi xâm phạm lợi ích và hành vi phịng vệ đó như khách thế bị xâm
hại; mức độ thiệt hại xảy ra hoặc có thể xảy ra nếu khơng sử dụng hành vi phịng


vệ; mức độ thiệt hại của hành vi phòng vệ gây ra nhằm ngăn chặn hành vi gây thiệt
hại đến lợi ích chính đáng cần được bảo vệ; phương tiện, vũ khí, phương pháp mà

hai bên đã sử dụng trong tình huống; cường độ tấn công của người xâm hại lợi ích

và người phịng vệ; nhân thân của hai bên, hồn cảnh, điều kiện và nơi xảy ra sự
việc.
Sau khi xem xét hết đầy đủ và khách quan các yếu tố này trên hồn cảnh
thực
tế xảy ra sự• việc
mới có thể kết luận
được
sự• cần thiết của việc
đưa ra quyết





JL J

định sử dụng hành vi bạo lực chổng trả lại sự xâm hại lợi ích của bên phịng vệ là
cần thiết hay khơng, có vượt q giới hạn hay khơng.

Sự cần thiết trong hành vi phòng vệ khác với sự tương xứng về hành vi,
khơng có nghĩa là ngang bằng. Trong nhiều trường hợp hành vi phịng vệ khơng

tương xứng với hành vi xâm phạm nhưng vẫn được coi là phòng vệ chính đáng.

Cần thiết ở đây phải được hiểu theo nghĩa là cần phải chống trả, không thể không

chống trả trước hành vi xâm hại lợi ích của xã hội. Khi đã xác định là hành vi chống
trả cần thiết thì thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm phạm dù có lớn hơn thiệt
hại mà người có hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi là

phịng vệ chính đáng.
Thứ ba, hành vi phịng vệ chính đáng có mức độ phù hợp với hành vi xâm

hại tức là khơng có sự chênh lệch q đáng, q mức giữa hành vi phịng vệ với tính
chất và mức độ nguy hiềm của hành vi đang xâm hại. Như đã trình bày, mặc dù

hành vi phịng vệ không nhất thiết phải cân bằng một cách dập khuôn, máy móc với

hành vi xâm phạm, nhưng hành vi phịng vệ, trong một phạm vi mức độ, khơng

được có sự quyết liệt hoặc gây ra một hậu quả quá lớn so với hành vi xâm phạm.
Trong một tình huống diễn ra nhanh, khẩn cấp như phịng vệ chính đáng, người

phịng vệ cần binh tĩnh và đưa ra những quyết định ngăn chặn chứ không phải

11


những qut định tân cơng.

Thứ tư, phịng vệ chính đáng là quyền của con người, họ khơng có nghĩa vụ

phải chống trả, có chăng nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ đạo đức. Việc chống trả hoàn
toàn phù hợp với quy luật tự nhiên và xã hội. Bất cứ con người nào đều có quyền

được sống và đảm bảo về sức khoe, do đó, việc chống trả lại một hành vi xâm phạm

một cách cần thiết cũng tự trở thành một quyền con người. Bởi vì chỉ là quyền mà

khơng phải nghĩa vụ, do đó khi người khác bị tấn cơng, chúng ta có thể lựa chọn
chống trả đế bảo vệ họ hoặc bỏ đi, pháp luật không bắt buộc chúng ta phải bảo vệ

người khác, thậm chí bảo vệ bản thân mình.
Thứ năm, người thực hiện hành vi phịng vệ chính đáng là thực hiện một hành
vi có ích cho xã hội, vì lợi ích của xã hội, trong đó có lợi ích cùa mình nên phải gây
thiệt hại về sức khỏe hoặc tính mạng cho người đang có hành vi tấn cơng xâm hại

các lợi ích hợp pháp, do đó, hành vi của họ khơng bị coi là tội phạm và người thực

hiện nó khơng phải chịu TNHS - được loại trừ TNHS.
1.1.3. Ỷ nghĩa của phòng vệ chính đáng

Trên cơ sở khái niệm phịng vệ chính đáng đã nêu, căn cứ vào các quy định
của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử, có thể rút ra ý nghĩa của chế

định này như sau:

- Quy định phịng vệ chính đáng đã khuyến khích mọi cơng dân đấu tranh
phịng, chống tội phạm, ngăn chặn những hành vi xâm hại đến lợi ích cùa cá nhân,

tập thể và của Nhà nước, và góp phần phịng chống tội phạm một cách có hiệu quả.

- Quy định phịng vệ chính đáng giúp xử lý người có hành vi gây thiệt hại
cho các chủ thể khác, qua đó trừng trị nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi vi

phạm pháp luật, phịng vệ chính đáng là một điều kiện loại trừ tính nguy hiểm cho
xã hội và tính trái pháp luật cùa hành vi khi có đầy đủ các dấu hiệu mà pháp luật


quy định, đồng thời góp phần bảo đảm công lý, công bằng trong xã hội.

- Quy định về phịng vệ chính đáng góp phần thực hiện tốt chính sách hình

sự của Nhà nước và ngun tắc xử lý về hình sự và trách nhiệm của cơng dân. Đặc
biệt, nó cịn góp phần xác định rõ ranh giới giữa hành vi phạm tội với hành vi

không phải là tội phạm, giữa trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự với trường

12


hợp khơng phải chịu trách nhiệm hình sự, qua đó phát huy tính tích cực và chủ động

của người dân trong cơng tác đấu tranh phịng, chống tội phạm trước yêu cầu mới
của đất nước [50, tr. 151.

1.2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính

đáng tù’ năm 1945 đến trước năm 2015
1.2.1. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính

đáng từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước lần pháp điến hố luật hình
sự lần thứ nhất năm 1985

Quyền phịng vệ chính đáng đã có từ khi con người có pháp luật, bởi đây là
một quyền con người được tự bảo vệ bản thân. Sau khi giành chiến thắng ờ Cách

mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được khai sinh

ngày 02/09/1945, đưa đất nước ta bước vào một thời kỳ lịch sử mới. Tuy nhiên, vì
tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia non trẻ như vậy vơ cùng phức

tạp, nạn đói triền miên, thù trong giặc ngoài, đất nước bị chia cắt khiến cho công tác

ban hành pháp luật không thể thực hiện. Mặc dù vậy, đến ngày 09/11/1946, Quốc
hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hồ thơng qua bản Hiến pháp đầu tiên, mở

ra thời kỳ lập hiến, lập pháp cho đất nước. Trong đó chưa ghi nhận các quy định về
phịng vệ chính đáng, nhưng cơ sở của quyền này là quyền con người đà được ghi

nhận và thực thi trên đất nước Việt Nam.
Nhằm ổn định tình hình và cũng là giải pháp tình thế tạm thời, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 47/SL cho phép áp dụng các văn bản cúa Đế quốc
phong kiến, nhưng khồng được trái với tinh thần và nguyên tắc độc lập của đất nước và

chính thể [56, tr. 5]. Theo đó, ở Bắc Kỳ áp dụng Hình luật An Nam, Trung Kỳ áp dụng
Hồng Việt hình luật, Nam Kỳ áp dụng Hình luật pháp tu chính [3, tr. 491]. Tất nhiên,
những quy định của nhừng văn bản pháp luật này khơng giống nhau, do đó việc áp
dụng pháp luật hình sự ở 3 miền cũng khồng được thống nhất.

Đến năm 1955, các văn bản pháp luật cũ lần lượt bị loại bỏ hồn tồn bởi
Thơng tư số 19/VHH-HS u cầu các Tồ án khơng áp dụng pháp luật thực dân và

phong kiến nữa, khi đó Tồ án xét xử theo án lệ, theo đường lối chính sách của

13



Đảng và nhà nước, nhưng chưa có văn bản quy phạm pháp luật chính thức nên việc

áp dụng rất khó khăn, mỗi nơi một khác và gây nhiều sự bất bình, bất cơng cũng
như các tệ nạn tham nhũng, hối lộ trong xã hội [56, tr. 51. Đứng trước những khó

khăn đó, lập pháp hình sự Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới phát triển mạnh
mẽ, có những bước tiến rất lớn. Trong đó, Tồ án nhân dân tối cao ban hành Bản

tổng kết số 452/SL ngày 10/06/1970 bước đầu đã đề cập đến quyền tự do thân thể,
trong đó cho phép người thi hành cơng vụ dùng vũ khí và việc giết người do vượt
quá giới hạn phịng vệ chính đáng [56, tr. 23].

Với việc miền nam được giải phóng ngày 30/04/1975, đất nước được thống

nhất, thù trong giặc ngoài đã được giải quyết, kinh tế đang hồi phục và nhận thức

của người dân đã tãng lên rất nhiều, yêu cầu về một văn bản pháp luật hình sự đế dễ

áp dụng đang rất cấp bách. Sau đó, xuất hiện nhiều văn bản đã đề cập tới chế định
phịng vệ chính đáng một cách cụ thể và kỹ càng hơn, Ví dụ: Bản tổng kết 452-HS2

ngày 10/06/1970 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc thực hiện xét xử các tội giết
người, đặc biệt là chỉ thị 07-TANDTC/CT về việc xét xử các hành vi xâm phạm
tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng
hoặc trong khi thi hành công vụ ngày 22/12/1983, cụ thể như sau:

“Vậy hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi
là phịng vệ chính đáng khơng phải là tội phạm, khi có đầy đủ các điều kiện sau

đây:

a) Hành vi xâm hại lợi ích cúa Nhà nước, của tập thể hoặc lợi ích chính đáng
của cơng dân phải có tính nguy hiểm cho xã hội với mức độ đáng kể, mặc dù không

nhất thiết phải là một hành vi phạm tội. Ví dụ: Người có năng lực chịu trách nhiệm

hình sự, trong điều kiện bỉnh thường, dùng dao chém người khác; người khơng có
năng lực chịu trách nhiệm hình sự (người mắc bệnh tâm thần, trẻ em dưới 14 tuổi)

có hành vi nguy hiểm đáng kế cho xã hội hay cho người khác như đốt nhà hoặc

dùng dao chém người khác.
Nếu hành vi xâm hại chỉ có tính chất nhỏ nhặt, tức là tính nguy hiếm cho xã

hội không đáng kể, không phải là phạm tội (như trộm cấp vặt, xô đẩy, đấm đá

14


nhẹ...) thì việc phịng vệ băng cách gây thiệt hại đên tính mạng hoặc sức khỏe của
người xâm hại khơng được coi là phịng vệ chính đáng, mà là hành vi phạm tội theo

các tội danh khác nhau, tùy từng trường hợp cụ thể (gọi tắt là theo quy định chung
của pháp luật).

Việc người có hành vi nguy hiếm cho xã hội khi bị người khác bắt, giữ (tức
là thực hiện hành vi có ích cho xã hội) đà chống trả lại, gây thiệt hại cho người bắt
giữ không được coi là phịng vệ chính đáng, mà phải chịu trách nhiệm hình sự theo
quy định chung cùa pháp luật. Ví dụ: Hành vi của kẻ gây rối trật tự đánh lại nhân

viên công an hoặc đội viên thanh niên cờ đỏ đang dùng vũ lực để bắt giữ thì bị coi


là tội chống người thi hành công vụ.
b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là đã bát đầu, nếu nó đang gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người xâm hại khơng

được coi là phịng vệ chính đáng. Ví dụ: B gặp A đang đi ngoài phố, B bảo A: “Nếu
đến giờ X, ngày Y... mà A không đem tiền hoặc đồ vật đến nộp ở địa điếm z..., thì

sẽ bị giết”, A bực mình rút ngay súng bắn chết B. c cãi nhau với D và bị D đánh; khi
D bở đi, c lấy súng bắn đuổi theo làm cho D chết. Hành vi phòng vệ “quá sớm” của

A và hành vi phòng vệ “quá muộn” của c khơng được coi là phịng vệ chính đáng,
mà cấu thành tội giết người thơng thường với tình tiết giảm nhẹ do nạn nhân có lỗi.

c) Hành vi phịng vệ chính đáng được thực hiện không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe

dọa, đẩy lùi sự tấn cơng, mà có thể bàng cách tích cực, chống lại sự xâm hại, gây
thiệt hại cho chính người xâm hại và do đó chỉ có thể là cố ý. Ví dụ: A cầm gậy

đánh B, B tránh được rồi đâm A ngà gục.
Vì vậy, nếu một người dù có khả năng bỏ chạy hoặc kêu cứu mà vẫn gây

thiệt hại cho người xâm hại để phòng vệ, thi hành động của họ vẫn được coi là

phịng vệ chính đáng.

Nếu trong khi phịng vệ mà gây thiệt hại, không phải là cho người xâm hại,
mà cho người thứ ba, thì hành vi gây thiệt hại khơng được coi là phịng vệ chính

đáng, mà tùy theo tình tiết của sự việc cấu thành tội giết người, tội cố ý gây thương

tích nặng, gây tổn hại cho sức khoe người khác..., theo quy định chung cùa pháp

luật và có thể có tình tiết giảm nhẹ nhất định. Ví dụ: vì bị A đánh, B vừa tránh vừa

15


chém lại A, nhưng không may lại chém nhâm phải c là người vừa vào đê can ngăn.
Hành vi vô ý gây thiệt hại cho người xâm hại không phải là phịng vệ chính

đáng, mà có thế là hành vi phạm tội thơng thường vơ ý. Ví dụ: Khi giằng co để
khơng cho người say rượu đánh mình, người cầm súng đã vô ý để súng nổ làm chết

người say rượu.
Hành vi phòng vệ bằng cách cố ý gây thương tích, nhưng dẫn đến hậu quả

chết người (ngồi sự mong muốn của người gây thương tích), cũng được coi là có
tính chất phịng vệ.

d) Hành vi phịng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là khơng có

sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm
của hành vi xâm hại.

Tương xứng khơng có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người
xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra

hoặc đã gây ra cho người phòng vệ. Giữa hai thiệt hại đó có thế khơng có sự phù

hợp về lượng hoặc về chất, chỉ miễn là không có sự chênh lệch q đáng sau khi

cân nhắc tính chất quan trọng của lợi ích được bảo vệ bằng phịng vệ chính đáng,

sức mạnh của sự xâm hại, khả năng và hồn cảnh thực tế của người phịng vệ. Ví
dụ: một nhóm người xơng vào đánh B, B bất ngờ bị đánh đau và bở chạy; chạy

được mấy chục mét vẫn thấy có một số người đuổi theo, B đứng lại, mở dao nhíp có
sằn trong người để đe “đứa nào vào đây, tao đâm”; một trong số nhừng người đuổi

theo xông vào để tiếp tục đánh, B dùng dao nhíp dâm bừa một nhát vào ngực người
đó làm người đó chết.

Trong ví dụ này, B ở vào tình thế bị một nhóm người tấn cơng trước, bất ngờ
nên phải bỏ chạy. Sự tấn công tuy là bằng chân tay không, nhưng là do đông người

gây ra, lại gây ra trong đêm tối, B phịng vệ bằng dao có sẵn trong người, đã răn đe
trước, nhưng vẫn bị đối phương ỷ thế đông người tiếp tục tấn công. Hành vi phòng

vệ của B... bàng cách dùng dao đâm một trong số những người tấn công, dẫn đến

chết người, được coi là tương xứng, là chính đáng, là hợp pháp.
Nếu hành vi phịng vệ khơng tương xứng, khơng phù hợp, có chênh lệch q
đáng so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, nghĩa là người

16


phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây thiệt hại quá đáng cho

người xâm hại, mà tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm cũng như
hồn cảnh cụ thế chưa địi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó, thì

người phịng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt q giới
hạn phịng vệ chính đáng hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ví dụ: H tổ viên
bảo vệ nhà trường, nghe tin có bọn càn quấy đến trường gây sự đánh mình; đáng lẽ

trong hồn cảnh nhà trường có đơng người, H có thể cùng mấy người ra đối phó,
nhưng H đã một mình vác súng ra cổng trường; hoặc đáng lẽ trong trường hợp có

súng để đối phó, H phải răn đe khi bị tấn công, nhưng H đã sử dụng bắn chết ngay
một người xông vào tấn cơng mình” [571.

Như vậy, từ trước năm 1985, chế định phịng vệ chính đáng đã được đề cập
nhưng chưa thực sự rõ ràng, tới năm 1983 mới thực sự được quy định và đặt ra các

điều kiện cụ thể. Những quy định của chỉ thị 07 năm 1983 thực sự đã tương đồng

với quy định hiện tại và phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế.
1.2.2. Các quy đinh của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính

đáng từ năm 1985 đến năm 1999

Ngày 27/6/1985 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông
qua BLHS đầu tiên năm 1985. Trong BLHS 1985 đã chính thức ghi nhận chế định

phịng vệ chính đáng ở Điều 13:

1. Phịng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng cùa chính mình hoặc của


người khác, mà chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành

vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phịng vệ chính đáng khơng phải là tội phạm.
2. Nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt q giới hạn

phịng vệ chính đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm
hình sự [42, Điều 13].

BLHS năm 1985 được thi hành trong cả nước bắt đầu từ ngày 01/01/1986.
Phần chung của BLHS rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản

17


vê hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Do đó, Hội đơng Thâm phán Tồ án nhân dân
tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/ HĐTP- TANDTC/QĐ này 05/01/1986 hướng
dẫn áp dụng một số quy định của BLHS. Trong đó có hướng dẫn hành vi xâm phạm

tính mạng, sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng, cụ thế như
sau:

Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là

phòng vệ chính đáng khi có đù các điều kiện sau đây:
a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội

hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiềm cho xã hội.

b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt

hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ.

c) Phịng vệ chính đáng không chỉ gạt bở sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn cơng,
mà cịn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính

người xâm hại.
d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là khơng
có sự chênh lệch q đáng giữa hành vi phịng vệ với tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi xâm hại [22, tr. 132, 133]

Tương xứng khơng có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người

xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra
hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

Đe xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay khơng, có rõ ràng là q
đáng hay khơng, thì phải xem xét tồn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi
xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (Ví dụ: bảo vệ địa điểm

thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có
thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện,

phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại (nam, nữ; tuối;

người xâm hại là côn đồ, lưu manh...); cường độ của sự tấn cơng và của sự phịng
vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya)
v.v... Đồng thời cũng Cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phịng vệ có
khi khơng thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp,

18



phương tiện chơng trả thích hợp, nhât là trong trường họp họ bị tân công bât ngờ.
Saư khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà
nhận thấy rõ ràng là trong hồn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đà sử dụng
những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức

(như: gây thương tích nặng, làm chết người) đối với ngưịi có hành vi xâm hại thì coi

hành vi chống trả là khơng tương xứng và là vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng.
Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phịng vệ chính đáng.
Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đà được sửa đổi, bổ sung 5
lần vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 và 1999, với sự thay đổi đó đã ban hành ra

BLHS năm 1999. So với BLHS năm 1985, BLHS 1999 có những thay đôi cơ bản.
Đặc biệt, các thay đối trong các quy định thuộc Phần chung, trong đó chế định

phịng vệ chính đáng được sửa đổi thành Điều 15 BLHS năm 1999 như sau:

Khoản 1 Điều 15 Bộ luật này quy định:
Phịng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà

nước, tập thể, bảo vệ lợi ích chỉnh đáng cùa mình hoặc của người khác,
mà chong trả lại một cách cần thiết (BLHS việt nam 1985 quy định... sự

chồng trả một cách tương ứng) người đang cỏ hành vi xâm phạm các lợi
ích nói trên, Phịng vệ chỉnh đảng khơng phải là tội phạm .

Chế định này được xây dựng nhằm khuyến khích mọi công dân đấu tranh


chống những hành vi xâm hại các quan hệ xã hội, ngàn chặn hoặc hạn chế những

thiệt hại do sự xâm hại đỏ đe dọa gây ra.
1.2.3. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phịng vệ chính

đáng tù' Tù' năm 1999 đến trước năm 2015
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ các lợi ích của cá nhân, Nhà

nước, tố chức và của xã hội, việc phòng chống tội phạm từ người dân cũng như
những bất cập, chưa phù họp của các quy định pháp luật, các nhà làm luật đà quy

định chế định phịng vệ chính đáng tại điều 15 BLHS 1999. Đen năm 2009, Quốc
hội thông qua và ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999,

tuy nhiên các quy định về phòng vệ chính đáng khơng được sửa đối và giữ ngun

19


×