MỎ ĐÀU
m Z’
_
J 1- •
J
1
• /K
A
->
X
•
I. Tính cap thiêt cua việc nghiên cứu đê tài
A
Từ thực tiễn thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân
hàng tại Việt Nam thời gian gần đây cho thấy, đây là hoạt
động phức tạp và ln có sự liên quan đến rất nhiều chủ thể
khác nhau. Trong đó, các cơ quan, tổ chức như ngân hàng,
khách hàng, ngân hàng bảo lãnh, cơ quan thi hành án dân
sự, các cơ quan nhà nước khác... luôn tốn kém khá nhiều
thời gian, công sức và tiền bạc liên quan đến vấn đề thi
hành án tín dụng ngân hàng. Tính chất rắc rối, phức tạp của
thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng thể hiện khi
thời gian thi hành án thường kéo dài, việc thi hành án gặp
khá nhiều khó khăn, vướng mắc hay điển hình như việc
giải quyết các tài sản bảo đảm của đương sự, vấn đề xác
minh điều kiện thi hành án... Chính vì vậy, thi hành án
trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng địi hỏi cần có hành lang
pháp lý (quy tắc hành vi) vững chắc, sự phối hợp đồng bộ
giữa các cơ quan ban ngành... để có thể giải quyết đơn
giản, hiệu quả và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các
ngân hàng, tơ chức tín dụng, đương sự, cơ quan thi hành án
dân sự và các bên liên quan.
Mặt khác, các văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh
về tín dụng ngân hàng như Luật các tổ chức tín dụng năm
2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sau một số năm vận
hành triển khai cũng đã bộc lộ khơng ít hạn chế, bất cập.
Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn mặc dù
được ban hành thường xuyên và khá nhiều về mặt số lượng
nhưng lại thiếu sự đồng bộ, thống nhất và chưa phù hợp với
thực tiễn của hoạt động cấp tín dụng và cả thi hành án trong
lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Điều này địi hỏi cần tiếp tục
có sự nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung nhằm hạn chế các tồn
tại, hạn chế, vướng mắc. Có như vậy, việc thi hành án trong
lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam mới diễn ra an
tồn, thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả, để từ đó, niềm tin
của khách hàng vào các tổ chức tín dụng hay sự tin tưởng,
tín nhiệm đối với cơ quan thi hành án dân sự càng có thể
được tăng cường, củng cố vững chắc hơn. Bởi lẽ, ngân
hàng là nơi cấp tín dụng cho khách hàng, cịn cơ quan thi
hành án dân sự chính là nơi giúp cho các ngân hàng có thể
địi lại các khoản tín dụng đã cấp cho người vay.
Ngoài ra, hiện nay, chủ trưong của Đảng và Nhà
nước ta luôn luôn hướng đến nhiệm vụ xây dựng và phát
triển một hệ thống pháp luật tiên tiến, khoa học, hiện đại và
phù hợp với thông lệ và chuẩn mực của quốc tế. Nhất là
lĩnh vực pháp luật tài chính, ngân hàng và thi hành án trong
các lĩnh vực này lại càng trở nên vô cùng quan trọng, bởi
lẽ, một trong những ngành luật chịu sự điều chỉnh đầu tiên,
trực tiếp và nặng nề chính là hệ thống pháp luật về tài
chính, ngân hàng và thi hành án trong các lĩnh vực này. Sở
dĩ như vậy là vì đó là cơ sở để các định chế tài chính lớn và
các nhà đầu tư từ khắp mọi nơi trên thế giới đến hợp tác,
chia sẻ cơ hội kinh doanh tại Việt Nam. Do đó, việc hồn
thiện hệ thống pháp luật về ngân hàng và thi hành án trong
lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam càng trở nên
quan trọng và vô cùng cần thiết.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên lựa chọn đề
tài “Pháp luật về thỉ hành án trong lĩnh vực tín dụng ngần
hàng
c J tại Việt Nam hiện nay” để làm Luận
• văn thạc
• sĩ luật
•
học. Việc nghiên cứu đề tài không những bổ sung vào hệ
thống lý luận khoa học mà cịn góp phần tìm ra các giải
pháp nhằm hồn thiện hệ thống pháp luật tín dụng ngân
hàng và thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng.
Việc học viên nghiên cứu đề tài “Pháp luật về thỉ
hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam
hiện nay” nhằm trả lời cho các câu hỏi quan trọng sau:
____
r
Thứ nhât, hoạt động thi hành án trong lĩnh vực tín
dụng ngân hàng tại Việt Nam hiện nay tơn tại các hạn chê,
vướng mắc, bất cập gì?
Th ứ hai, quy định pháp luật về thi hành án trong lĩnh
vực tín dụng ngân hàng của Việt Nam có thực sự phù hợp
với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và phù họp với
xu thế hội nhập quốc tế hiện nay hay không?
Thứ ba, việc nghiên cứu đề tài rút ra các giải pháp
pháp lý gì để hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành
án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam?
2. Tình hình nghiên cứu đê tài
Cần khẳng định, thi hành án trong lĩnh vực tín dụng
ngân hàng là một đê tài luôn thu hút được sự quan tâm, chú
ý của khơng ít nhà nghiên cứu và các học giả cả trong nước
và ngoài nước. Tùy từng cách tiếp cận, mỗi cơng trình
nghiên cứu lại phân tích, tìm hiểu hoạt động thi hành án tín
dụng ngân hàng dưới từng góc độ khác nhau. Vậy nên, cho
đến nay, cơng trình nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ,
tồn diện về thi hành án tín dụng ngân hàng tại Việt Nam
và nhất là trong bối cảnh tồn cầu hóa, hội nhập quốc tế
gần như chưa thật sự có nhiều. Trong khả năng giới hạn,
học viên có thể tìm thấy một số cơng trình nghiên cứu điển
hình, tiêu biểu mà có sự liên quan nhất định đến đề tài như
sau:
Nhóm các tài liệu dưới dạng sách giáo trình, sách
chun khảo, các cơng trình điển hình có đề cập đến một
phần nội dung của đề tài có thể kể đến: Giáo trình Luật
Ngân hàng Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb. Công an nhân dân 2020; Giảo trình Luật Ngân hàng
Việt Nam của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb.
Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005; Giáo trình Luật Thỉ
hành án dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb.
Công an nhân dân năm 2013, Pháp luật Thỉ hành án dân sự
Việt Nam - Những vẩn đề lý luận và thủ tục (sách chuyên
khảo) của đồng tác giả Nguyễn Vinh Hưng và Trần Công
Thịnh, Nxb. Công an nhân dân năm 2022... Nội dung cơ
bản của các giáo trình và sách chuyên khảo đề cập đến hoạt
động tín dụng ngân hàng và cơng tác thi hành án dân sự,
trong đó, liên quan đến hoạt động thi hành án tín dụng ngân
hàng tại Việt Nam hiện nay.
Nhóm các cơng trình dưới dạng bài viết trên các tạp
chí ở Việt Nam, có thể liệt kê các cơng trình tiêu biểu như
sau: Giải quyết việc thỉ hành án dân sự liên quan đen các
tổ chức tín dụng trên địa bàn thành pho Hồ Chỉ Minh của
tác giả Linh Quân năm 2014 đăng trên tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, số chuyên đề: Thực hiện Luật Thi hành án dân
sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thi hành án dân
sự trong trường hợp người được thi hành án là ngân hàng
và các tể chức tín dụng của tác giả Trần Đại Sỹ năm 2015
trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 01; Thỉ hành án dân
sự liên quan đen tín dụng, ngân hàng trên địa bàn tỉnh Gia
Lai - Thực trạng và giải pháp của Tổng cục Thi hành án
dân sự năm 2019; Thi hành án tín dụng ngần hàng đoi với
các khoản vay có biện pháp bảo đảm: Một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật của tác giả Vũ Thị Hong Yen đăng
trên tạp chí Ngân hàng số 05 năm 2020; Thực trạng thỉ
hành án tín dụng, ngân hàng, vướng mắc từ thực tiễn và
giải pháp, kiến nghị của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hậu
Giang năm 2021; Đà Nang thỉ hành án tín dụng, ngân hàng
thu hồi hơn 24 tỷ đồng của tác giả Nguyễn Lộc trên tạp chí
Tài chính năm 2021; Thi hành án tỉn dụng, ngân hàng: Còn
nhiều việc phải làm của tác giả Lê Xuân Hồng trên tạp chí
Đầu tư Chứng khốn năm 2021; Vai trị giữ ổn định chính
sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng của Ngân hàng nhà
nước Việt Nam của tảc giả Nguyễn Vinh Hưng trên tạp chí
Dân chủ và pháp luật năm 2021, số 07.
Ngồi ra, các nghiên cứu dưới dạng các Luận văn
thạc sĩ cũng có số ít cơng trình đề cập sơ lược đến một số
nội dung có liên quan của đề tài như: Pháp luật về thỉ hành
án dân sự trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
trên địa bàn tỉnh Trà Vinh của tác giả Dương Chí Linh năm
2018 tại Đại học Trà Vinh; Thỉ hành các bản án, quyết định
của Tịa án về hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn
quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội của tác giả Nguyễn
Kiểu Dũng năm 2019 tại Viện Đại học Mở Hà Nội; Thi
hành án về tín dụng ngân hàng theo pháp luật Việt Nam
qua thực tiễn tại thành pho Hà Nội của tác giả Nguyễn
Khánh Linh năm 2020 tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội... về cơ bản, các cơng trình nghiên cứu này chỉ giới
hạn tại một địa bàn cụ thê nên khơng có tính bao qt rộng
rãi, tổng thể, tồn diện để có thể đưa ra các giải pháp phù
hợp khi áp dụng tại Việt Nam. Hơn nữa, các đối tượng và
phạm vi nghiên cứu của các đề tài này khá giới hạn, vậy
nên, chưa có đủ đánh giá, nhìn nhận chi tiết về bức tranh
thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam.
Mặc dù các cơng trình nghiên cứu trên chỉ đề cập
đến một số nội dung cơ bản của pháp luật thi hành án tín
dụng ngân hàng tại Việt Nam và về tổng thể, các nghiên
cứu trên chưa có tính hệ thống, tồn diện, tuy nhiên, học
viên vẫn nghiên cứu, tìm hiểu, kế thừa và phát triển các
cơng trình nghiên cứu trước đó, để làm cơ sở cho việc
nghiên cứu đề tài này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
về cơ bản, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các
quy định pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng
ngân hàng theo pháp luật Việt Nam hiện nay và tập trung
nghiên cứu việc thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng thơng
qua cơ quan thi hành án dân sự.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đê đánh giá tơng thê, tồn diện vê hoạt động thi
hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng và từ đó, đưa ra
các giải pháp phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế
- xã hội, đề tài nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ của Việt
Nam. Tuy nhiên, để tránh việc nghiên cứu quá dàn trải, đề
tài tập trung nghiên cứu các số liệu thi hành án tín dụng
ngân hàng tại Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn 2017 -
2021.
4. Mục
đích và nhiệm
vụ• nghiên
cứu
•
•
”
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đe tài hướng đến mục đích nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thi hành án
trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt N am.
- Phân tích, đánh giá thực trạng của quy định hiện
hành về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại
Việt Nam.
- Những khó khăn, vướng mắc và ngun nhân của
những khó khăn, vướng mắc của q trình thi hành án
trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam hiện nay.
- Đe xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy
định pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân
hàng và góp phân nâng cao hiệu quả thi hành án trong lĩnh
vực tín dụng ngân hàng.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ
nghiên cứu của đề tài tập trung vào:
- Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về thi hành
án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng.
- Phân tích các quy định pháp luật về thi hành án
trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, để từ đó, xác định
những hiệu quả, hạn chế và nguyên nhân.
- Đe xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng và hồn thiện
pháp luật về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đẻ có thể nghiên cứu đề tài, học viên dựa vào
phương pháp luận chủ yếu là phép duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, kết hợp
với đó là tư tưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, đề tài cịn
thường xun vận dụng các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam làm định hướng cho việc
nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu chinh trong đề
tài
Là đề tài thuộc lĩnh vực khoa học pháp lý và của hệ
thống khoa học xã hội, vậy nên, các phương pháp nghiên
cứu được sử dụng là các phương pháp nghiên cứu truyền
thống, điển hình của khoa học xã hội và lĩnh vực khoa học
pháp lý. Cụ thể:
Phương pháp phân tích quy phạm và phương pháp
đánh giá thực trạng pháp luật, đây là các phương pháp
chính được sử dụng trong suốt q trình thực hiện đề tài
này. Thơng qua các phương pháp trên, học viên chỉ ra
những điểm hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật về
thi hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng.
Phương pháp tổng họp, trên cơ sở đánh giá, nhìn
nhận đa chiều để có thể bao quát các vấn đề liên quan đến
đề tài, học viên kết hợp trình bày tổng hợp từ nhiều nguồn
tư liệu khác nhau về thi hành án trong lĩnh vực tín dụng
ngân hàng tại Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, học viên kết
hợp giữa phương pháp tông họp và các phương pháp
nghiên cứu khác để nhằm mục đích có được sự nhận thức
về vấn đề nghiên cứu một cách khoa học, hệ thống, hài hịa,
tồn diện và đầy đủ.
Phương pháp xã hội học, để có được những số liệu
quan trọng phục vụ cho q trình nghiên cứu đề tài và từ
đó, đưa ra các đánh giá, nhìn nhận làm cơ sở cho các đề
xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật thi hành án trong lĩnh
vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam.
Tóm lại, các phương pháp nghiên cứu trên luôn được
học viên sử dụng và kết họp chặt chẽ, hài hòa, hợp lý để
cùng giải quyết tốt nhất các vấn đề nghiên cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu giới hạn, về cơ bản, luận
văn mang lại những giá trị về mặt khoa học và thực tiễn
sau:
- về mặt ỉỷ luận, đề tài nghiên cứu, phân tích một
cách có hệ thống và tương đối toàn diện về các vấn đề lý
luận như khái niệm, bản chất, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc,
phân loại, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của thi hành
án tín dụng ngân hàng...
- Vê mặt thực tiên, từ thực trạng quy định của pháp
luật về thi hành án trong lĩnh vục tín dụng ngân hàng, đề tài
đánh giá hiệu quả, chỉ ra các tồn tại, hạn chế, nguyên nhân
của tồn tại hạn chế, khó khăn, vuớng mắc của hoạt động thi
hành án trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng tại Việt Nam
hiện nay.
- về mặt định hướng hoàn thiện, đề tài nghiên cứu
các định huớng hoàn thiện và đề xuất một số giải pháp để
hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành án trong lĩnh
vực tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả thi hành án
trong lĩnh vục tín dụng ngân hàng tại Việt Nam.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn đuợc xây dựng và thiết kế theo kết cấu
truyền thống và theo quy định của một Luận văn thạc sĩ
luật học tại Việt Nam. Vì vậy, ngồi phần mở đầu, kết luận
chung, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu
03 chuơng:
Chuơng 1: Những vấn đề lý luận thi hành án tín dụng
ngân hàng
Chuơng 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành
án tín dụng ngân hàng tại Việt Nam
Chương 3: Định hướng và một sơ giải pháp hồn
thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành án tín dụng
ngân hàng
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN
'À
VÈ THI HÀNH ÁN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VÈ TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG VÀ THI HÀNH ÁN TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng và thỉ hành
án tín dụng ngân hàng
Ngày nay, có lẽ khơng ai trong chúng ta chưa từng
nghe đến thuật ngữ “tín dụng”. Bởi vì, thuật ngữ “tín dụng”
được sử dụng rất phổ biến và đặc biệt gắn liền với định chế
tài chính khơng thể thiếu của bất kỳ nền kinh tế hay đó
chính là ngân hàng. Và nếu chính xác hơn cần phải gọi đầy
đủ là “quan hệ tín dụng” hay đó là mối quan hệ cho vay có
tài sản bảo đảm giữa một bên là ngân hàng với một bên là
khách hàng. Nếu phân tích về mặt ngữ nghĩa, “tín” được
hiểu là sự tin tưởng, tín nhiệm giữa những chủ thể với
nhau. Tuy nhiên, cơ sở của sự tin tưởng còn tùy thuộc vào
nhiều yếu tố, ví dụ như mối quan hệ giữa các bên, một bên
thứ ba đứng làm bảo lãnh cho khoản vay hay bên đi vay
phải sử dụng tài sản thê châp đê bảo đảm cho khả năng
thanh tốn của khoản vay. Cịn “dụng” hàm ý ở đây là việc
một chủ thể cho một chủ thể khác “mượn”, “vay” một
khoản khả dụng hay đó chính là “tài sản” hoặc “vốn” để sử
dụng. Như vậy, tín dụng được hiểu với ý nghĩa chính là
việc một chủ thể cho một chủ thể khác “dùng”, “mượn”,
“vay” một khoản tiền, tài sản nhưng địi hỏi cần có sự tin
tưởng hay thơng thường nhất là phải có tài sản thế chấp để
bảo đảm khả năng thanh toán cho khoản vay khi đến hạn
mà không thể thực hiện việc trả cả gốc và lãi.
Thơng thường, khi nhắc đến tín dụng, người ta
thường liên tưởng đến ngân hàng. Sở dĩ như vậy là vì ngân
hàng về bản chất là loại hình tổ chức tín dụng hoạt động
chủ yếu liên quan đến việc kinh doanh tiền tệ. Trong đó,
hoạt động mua tiền được thực hiện theo cách ngân hàng
nhận tiền gửi của khách hàng với một lãi suất thấp hơn lãi
suất bán tiền cho một khách hàng khác sử dụng. Còn hoạt
động bán tiền (chính là tín dụng) là hoạt động ngân hàng
cho khách hàng vay tiền với lãi suất cao hơn lãi suất huy
động (lãi suất mua tiền). Nói cách khác, ngân hàng thường
sống nhờ việc thu được khoản tiền chênh lệch giữa việc
mua tiên giá thâp và bán tiên với giá cao hon. Đôi với nên
kinh tế, ngân hàng được coi như một là trong những kênh
dẫn vốn gián tiếp cho nền kinh tế hay là nơi dịch chuyển
các nguồn tài chính. Và như đã nêu, hoạt động bán tiền
chính là hoạt động tín dụng và là một trong những nghiệp
vụ ngân hàng. Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động
được pháp luật cho phép thực hiện không chỉ ở Việt Nam
mà còn ở mọi quốc gia trên thế giới. Đây cũng là một trong
những hoạt động đầu tiên của các ngân hàng thương mại
tính từ khi xuất hiện cho đến nay.
Theo quy định tại khoản 14 của Luật các Tổ chức tín
dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Cấp tín
dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một
khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền
theo ngun tắc có hồn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Điều này cho
thấy, cấp tín dụng chính là một hoạt động của ngân hàng
hay đó được coi là nghề nghiệp của ngân hàng. Trên thực
tế, tín dụng ngân hàng tồn tại nhằm đáp ứng, phục vụ nhu
cầu về vốn cho nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng phản ánh
mối quan hệ tài chính (vay và trả nợ) giữa một bên là tổ
chức tín dụng và bên cịn lại là khách hàng (tố chức, cá
nhân). Có thể khẳng định, đây là hình thức tín dụng rất phổ
biến và thậm chí có thể coi là thuận lợi, nhanh chóng, linh
hoạt nhất trong số các hình thức tín dụng. Đối tuợng của tín
dụng ngân hàng chính là quan hệ cho vay muợn về tiền tệ.
Còn về hoạt động thi hành án tín dụng ngân hàng,
trước hết, cần phải nói rõ, đây là một phần trong hoạt động
thi hành án dân sự và do hệ thống cơ quan thi hành án dân
sự• tại
• Việt
• Nam thực
• hiện
• theo một
• trình tự,
• ✓ thủ tục
• do
pháp luật quy định. Vậy nên, để làm rõ khái niệm thi hành
án tín dụng ngân hàng, có lẽ, cần hiểu sơ lược về thi hành
án dân sự. Trong đó, “nối tiếp giai đoạn xét xử giải quyết
vụ việc dân sự (bao gồm cả bốn lĩnh vực: dân sự, hơn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động) là giai đoạn
thi hành án dân sự. Vì vậy, thi hành án dân sự chính là q
trình tổ chức thực hiện các bản án, quyết định dân sự sau
khi chúng có hiệu lực pháp luật hoặc những phần của bản
án, quyết định dân sự sơ thẩm nhưng được phép thi hành
cho dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị”.[18, tr. 7] về bản
chất, “thi hành án dân sự là quá trình thực hiện bản án,
quyêt định dân sự (bao gôm các lĩnh vực dân sự, kinh
doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình) của
Tịa án hoặc các chủ thể có thẩm quyền ra các phán quyết
khác” [15, tr. 3 - 8]. Nghiên cứu cho thấy, trước đây tại
Việt Nam, thi hành án dân sự được gọi là thủ tục thi hành
án văn (procedure d’execution de jugementỴ[10, tr. 04]
Hiện nay, thi hành án dân sự “là hoạt động quan trọng để
các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tịa án
và các cơ quan tài phán được thực hiện trên thực tế, góp
phần giữ vững kỷ cương phép nước, bảo đảm cơng bằng,
thực thi cơng lý và củng cố lịng tin của người dân” [11, tr.
39]. Còn theo cách thức phân loại tranh chấp tại Việt Nam,
tranh chấp trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng được quan
niệm là tranh chấp kinh doanh, thương mại và được giải
quyết bởi Tòa án nhân dân [35, Điều 30]. Ngoài việc được
giải quyết tranh chấp tín dụng, ngân hàng tại Tịa án, loại
tranh chấp này cịn có thể được giải quyết bằng Trọng tài
thương mại [29, Điều 2]. Tuy nhiên, kết quả giải quyết của
Tịa án hay Trọng tài thương mại chỉ có thể được hiện thực
hóa thơng qua q trình tổ chức thi hành án dân sự. Và theo
quy định tại Việt Nam hiện nay, chỉ có hai chủ thể có
quyên tô chức thi hành bản án, quyêt định của Tịa án chính
là cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng Thừa phát lại.
Nhu vậy, bên cạnh cơ quan thi hành án của công quyền - cơ
quan thi hành án dân sự, Văn phịng Thừa phát lại chính là
tổ chức thi hành án dân sự của tu nhân thành lập, hoạt động
và chịu mọi trách nhiệm trong quá trình hoạt động. Cịn đối
với phán quyết của Trọng tài thương mại, Văn phịng Thừa
phát lại khơng được phép tổ chức thi hành [7, khoản 4,
Điều 3]. Từ đó, có thể quan niệm thỉ hành án tín dụng ngân
hàng là hoạt động do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến
hành theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định để
nhằm mục đích thi hành nội dung của bản án, quyết định
liên quan đến đắỉ tượng là hoạt động tín dụng ngân hàng
do Tịa án nhân dân, Trọng tài thương mại có thẩm quyền
ra phản quyết theo quy định của pháp luật.
Mục đích của thi hành án tín dụng ngân hàng chính
là việc hiện thực hóa bản án, quyết định sau khi được các
cơ quan có thẩm quyền xét xử để bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của người được thi hành án ở đây là các tổ chức
tín dụng. Diễn đạt theo cách khác, cơ quan thi hành án dân
sự và Văn phịng Thừa phát lại chính là nơi tiến hành hoạt
động thu hơi nợ cho tơ chức tín dụng thơng qua hoạt động
tố chức thi hành bản án, quyết định. Tuy nhiên, cần lưu ý,
hiện nay hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của
Thừa phát lại gần như khơng cịn được thực hiện trên thực
tế vì rất nhiều nguyên nhân [17, tr. 104]. Vậy nên, đề tài
chủ yếu tập trung đối với hoạt động thi hành án tín dụng
ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thực hiện.
1.1.2. Đặc điếm thi hành án tín dụng ngân hàng
Thi hành án nói chung và thi hành án tín dụng ngân
hàng nói riêng có cùng một mục tiêu là thực hiện nội dung
của bản án, quyết định đã được đưa ra thi hành án theo quy
định của pháp luật. Mặt khác, chủ thể tổ chức thi hành án
của chúng đều là cơ quan thi hành án dân sự với quy trình
tiến hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm
2008 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 64/2014/QH13 ngày
25/11/2014; sau đó lại được sửa đổi, bổ sung theo Luật
Cạnh tranh số 23/2018/QH14 ngày 12/6/2018 và hợp nhất
thành Luật Thi hành án dân sự số 13/VBHN-VPQH ngày
29/6/2018). Tuy nhiên, để thuận tiện và tránh rườm rà nên
tất cả các nội dung trong toàn bộ Luận văn đều thống nhất
viết tắt là “Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ
sung năm 2014)” trên cơ sở quy định từ Luật Thi hành án
dân sự số 13/VBHN-VPQH ngày 29/6/2018. Nhu vậy, từ
khái niệm thi hành án tín dụng ngân hàng và bên cạnh
những đặc điểm chung giống như thi hành án trong các lĩnh
vực khác, thi hành án tín dụng ngân hàng có các đặc điểm
pháp lý riêng biệt sau:
Thứ nhắt, thi hành án tín dụng ngân hàng là hoạt
động mang tính quyền lực nhà nước:
Kể từ “Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, Tịa
án nhân dân khơng chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án
dân sự• nữa mà việc
tổ chức thi hành án dân sự• kể từ thời
•
điểm này được chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự
thuộc các cơ quan tư pháp đảm nhiệm” [18, tr. 24]. Dựa
theo cơ câu tô chức theo ngành dọc của hệ thống thi hành
án dân sự Việt Nam, Tông cục Thi hành án dân sự là cơ
quan quản lý hoạt động thi hành án dân sự trong tồn
ngành. Cịn cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm thi hành án
là Cục thi hành án dân sự (được tổ chức tại từng tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương) và Chi cục thi hành án dân sự
(tổ chức tại mỗi quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc
tỉnh và tương đương). Do đó, hoạt động thi hành án dân sự
được tiên hành bởi các cơ quan nhà nước chuyên trách
trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Mặt khác, quy trình tiến
hành thi hành án tín dụng ngân hàng hồn tồn dựa trên
luật định. Nói cách khác, luật quy định ra sao thì cơ quan
thi hành án dân sự tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục như
vậy. Vì thế, thi hành án tín dụng ngân hàng đương nhiên là
hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
Thứ hai, đối tượng thi hành án tín dụng ngân hàng
hướng đến là các loại tài sản đã được thế chấp cho ngân
hàng trong hợp đồng tín dụng:
Khi vay mượn tiền từ các tổ chức tín dụng, thơng
thường, người vay buộc phải thế chấp các tài sản như nhà
đất, xe cộ đến kho xưởng, máy móc, giấy tờ... Đến khi
khơng thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng và phát
sinh tranh chấp buộc phải cần đến Tòa án xem xét, giải
quyết thì kết quả giải quyết cuối cùng của Tịa án chính là
bản án, quyết định. Cơ sở của Tịa án khi xem xét, giải
quyết chính là các thỏa thuận về quyền hạn và nghĩa vụ hay
tài sản thế chấp của các bên trong hợp đồng tín dụng. Do
đó, nội dung của bản án, quyết định của ngân hàng là các
vấn đề xoay quanh quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đối
với tài sản thê châp. Vì thê, thi hành án tín dụng ngân hàng
chính là q trình thực hiện bản án, quyết định và liên quan
đến đối tượng là các tài sản thế chấp cho ngân hàng trong
các hợp đồng tín dụng. Trên thực tế, đối tượng của thi hành
án tín dụng ngân hàng là các quan hệ tài sản chứ không tồn
tại các quan hệ nhân thân (buộc xin lỗi, buộc chấm dứt
hành vi vi phạm...) giống như các tranh chấp dân sự được
giải quyết trong các bản án, quyết định dân sự khác.
Thứ ba, thi hành án tín dụng ngân hàng vừa đề cao,
tôn trọng sự thoả thuận, quyền tự do định đoạt của đương
sự và cũng mang tính cưỡng chế cứng rắn bắt buộc của Nhà
nước:
Ngay khi bản án, quyết định được Tòa án tuyên, các
đương sự đã có thể tự giác thực hiện theo nội dung của bản
án, quyết định. Xuyên suốt quá trình thi hành án tín dụng
ngân hàng, các đương sự có thể tự do thỏa thuận với nhau
về các nội dung liên quan đến việc thi hành án. Trên thực
tế, pháp luật luôn mong muốn và đề cao, tôn trọng quyền tự
do định đoạt của các đương sự trên cơ sở tuân thủ pháp
luật, không trái đạo đức xã hội và theo nội dung của bản án,
quyết định được đưa ra tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, nếu
như các đương sự không tự nguyện thi hành án thì cơ quan
thi hành án dân sự buộc phải áp dụng các biện pháp cưỡng
chế để tổ chức thi hành án. Khi thực hiện các biện pháp
cưỡng chế, cơ quan thi hành án dân sự buộc phải sử dụng
nhiều biện pháp, cách thức mà có thể trái với mong muốn
của người phải thi hành án tín dụng ngân hàng. Nên thi
hành án tín dụng ngân hàng cịn mang tính cứng rắn của
quyền lực nhà nước.
Có thể nói, nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng
khi cam kết, thoả thuận đều là những nguyên tắc rất đặc
trưng của pháp luật dân sự. Vì thế, khi phát sinh tranh chấp
phải giải quyết tại Tòa án và ngay cả khi tổ thi hành án tín
dụng ngân hàng, các đương sự vẫn được pháp luật bảo đảm
quyền được thực hiện những nội dung hay các hoạt động
không trái với tinh thần của pháp luật. “Trong thoả thuận
thi hành án dân sự, các đương sự có quyền lựa chọn cả hình
thức và nội dung thoả thuận, trừ hình thức và nội dung mà
pháp luật quy định bắt buộc các bên phải tuân thủ khi xác
lập thoả thuận dân sự. về nội dung thoả thuận trong thi
hành án dân sự, việc thoả thuận nói trên xuất phát từ bản
chất của lợi ích của chính mình, phù hợp với lợi ích của