LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vân là công trình nghiên cứu của
riêng tỏi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bổ trong
hất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cá các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Hằng
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ KỶ LUẬT LAO
ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VẺ KỶ LUẬT LAO ĐÔNG.................. 6
1.1.
Một số vấn đề lý luận về kỷ luật lao động........................................ 6
1.1.1.
Khái niệm kỷ luật lao động................................................................. 6
1.1.2.
Ý nghĩa của kỷ luật lao động................................................................ 9
1.2.
Một số vấn đề lý luận pháp luật về kỷ luật lao động..................... 14
1.2.1.
Khái niệm pháp luật về kỷ luật lao động........................................... 14
1.2.2.
Nguyên tắc pháp luật về kỷ luật lao động.......................................... 19
1.2.3.
Nội dung pháp luật về kỷ luật lao động............................................. 21
1.3.
Vai trò của pháp luật về kỷ luật lao động....................................... 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 30
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG
VÀ THỤ C TIỄN THỤ C HIỆN TẠI TỈNH VĨNH PHỦC................ 31
2.1.
Thực trạng pháp luật về kỷ luật lao động...................................... 31
2.1.1.
Nội quy lao động............................................................................... 31
2.1.2.
Các hình thức xứ lý kỷ luật lao động................................................. 42
2.1.3.
Nguyên tắc, thời hiệu và thẩm quyền và thủ tục xử lý kỷ luật
lao động............................................................................................. 49
2.1.4.
Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về kỷ luật lao động............. 58
2.2.
Thực tiễn thực hiện pháp luật về ký luật lao động tại tỉnh
Vĩnh Phúc............................................................................................ 62
2.2.1.
Khái quát tình hình kinh tế xã hội và tình hình sử dụng lao động
tại tỉnh Vĩnh Phúc............................................................................... 62
2.2.2.
Tình hình thực hiện pháp luật về kỷ luật lao động tại tỉnh
Vĩnh Phúc.......................................................................................... 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 76
CHƯƠNG 3: KIÉN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÃ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT
LAO ĐỘNG TẠI TỈNH VĨNH PHÚC............................................ 77
3.1.
Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quă thực hiện
pháp luật về kỷ luật lao động........................................................... 77
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kỷ luật
lao động............................................................................................... 82
3.2.1. về các hình thức xử lý kỷ luật lao động............................................. 82
3.2.2.
về thù tục xử lý kỷ luật lao động....................................................... 84
3.2.3.
về thời hiệu xử lý kỷ luật lao động.................................................... 85
3.2.4.
về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về xử lý ký luật lao động...... 86
3.3.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về kỷ luật lao động tại tỉnh Vĩnh Phúc.................................... 87
3.3.1.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
về kỷ luật lao động............................................................................. 87
3.3.2.
Nâng cao vai trò của tổ chức đại diện người lao động...................... 89
3.3.3.
Tăng cường công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trong
lĩnh vực kỷ luật lao động.................................................................... 91
KÉT LUẬN...................................................................................................... 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................. 96
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHŨ VIẾT TẢT
KLLĐ:
Kỷ luật lao động
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Người sử dụng lao động
MỞ ĐÀU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo
ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Q trình này
địi hỏi phải có trật tự, nề nếp để hưởng hoạt động của tùng người vào việc
thực
• hiện
• kế hoạch
• chung để đạt được mục
< tiêu đã đặt
• ra. Yếu tố tạo
• nên trật
•
tự, nề nếp giữa một nhóm người hay một đơn vị trong q trình lao động
chính là kỷ luật lao động. Với ý nghĩa đó, kỷ luật lao động là một nhu cầu
khách quan của các đơn vị sử dụng lao động. Trong điều kiện sản xuất ngày
càng phát triển, cùng với đó là trình độ phân cơng, tổ chức lao động trong xã
hội ngày càng cao, thì vấn đề duy trì kỷ luật lao động càng trở nên quan trọng
hơn đòi hởi về việc thiết lập kỷ luật, trật tự để duy trì sự ổn định và phát triển
trong các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp có sử dụng lao động.
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo xây
dựng và thực hiện các chính sách, pháp luật về kỷ luật lao động, hệ thống
pháp luật ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình phát triền kinh tế xã
hội của đất nước và thông lệ quốc tế. Đặc biệt, Bộ luật lao động 2012 qua thời
gian đã phát huy được vai trò và tầm quan trọng trong việc điều chỉnh pháp
luật về kỷ luật lao động tuy nhiên cũng bộc lộ một số hạn chế đặt ra yêu cầu
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật, bởi vậy Bộ
luật lao động 2019 ra đời dựa trên cơ sở sửa đổi và bổ sung Bộ luật lao động
2012 để hoàn thiện hơn trong bối cảnh kinh tế xã hội và quan điểm về bảo vệ
người lao động và người sử dụng lao động hiện nay.
Nhằm làm rõ hơn vai trò cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về kỷ
luật lao động, tác giả đã chọn tỉnh Vĩnh Phúc - đây là 1 tỉnh nổi lên trong
những năm gần đây về tốc độ phát triển kinh tế với nhiều doanh nghiệp, các
khu công nghiệp lớn với hàng nghìn nhân cơng lao động, để nghiên cứu với
đê tài là: “Pháp luật vê kỷ luật lao động và thực tiên thực hiện tại tỉnh Vĩnh
Phúc” để thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế của mình.
Với đề tài này, tác giả mong muốn có một cái nhìn sâu sắc về thực
trạng pháp luật, những tồn tại trong quy định của pháp luật về kỷ luật lao
động nói chung cũng như những tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về luật
lao động tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất giải pháp để khắc phục những tồn tại,
hạn chế đó trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề pháp luật liên quan đến kỷ luật lao động nói chung và các hình
thức xử lý kỷ luật lao động nói riêng đã và đang nhận được sự quan tâm của
nhiều cá nhân, cơ quan và tố chức. Cho tới nay đã có nhiều cơng trình nghiên
cứu về vấn đề này, có thể kể tên một số cơng trình “Một số vẩn đề về kỷ luật
lao động sa thải trái pháp luật theo quy định của Bộ luật lao động’’ cua tác
giả Nguyễn Hùng Cường (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và
Pháp luật, số 3/2012); “Thực trạng pháp luật về quyền xử lý kỷ luật lao động
của người sử dụng lao động và một số kiến nghị ” của tác giả Đồ Thị Dung
(Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 2 + 3/2014); “Pháp luật về kỳ luật lao động
Việt Nam - Những Vẩn đề lý luận và thực tiền ”, Luận văn thạc sĩ của Đồ Thị
Dung; “Xử lý kỷ luật lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay”,
Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Hương; “Kỷ luật lao động theo pháp luật Việt
Nam hiện nay và hưởng hoàn thiện ”, Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thùy Lâm
(2007): “Pháp luật về kỳ luật lao động ở Việt Nam - thực trạng và phương
hướng hoàn thiện ”, Luận án tiến sĩ luật học của Đồ Thị Dung; “Pháp luật về
quản lý lao động của người sử dụng lao động”,... Tuy nhiên, chưa có một
nghiên cứu chuyên sâu nào về pháp luật về kỷ luật lao động và thực tiễn thực
hiện tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Trước yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý về kỷ luật lao động trong
2
pháp luật lao động Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ
thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiền sâu sắc. Những kiến
nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn
thiện các quy định pháp luật Việt Nam về kỷ luật lao động, nhằm mục đích
góp phần bảo đảm kỷ luật lao động được tuân thủ một cách triệt để. Tác giả
hy vọng rằng với sự đầu tư thích đáng, kết quà nghiên cứu sẽ là một tài liệu
tham khảo có giá trị.
3. Mục
đích và nhiệm
vụ• nghiên cứu
•
•
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về
kỷ luật lao động và pháp luật về lĩnh vực này và phân tích thực trạng pháp
luật
cũng^2 như thực
tiễn thực
hiện
tại
tình Vĩnh Phúc,2 luận
văn mạnh
dạn
đề
•
•
•
•
•
•
•
•
xuất một số kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Đe đạt được mục đích trên nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tập trung
các vấn đề sau:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về kỷ luật lao động và pháp luật về
kỷ luật lao động.
- Phân tích đánh giá thực trạng quy định pháp luật về kỷ luật lao động
và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về kỷ luật lao động tại tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận vãn là các quy định pháp luật hiện hành
về kỷ luật lao động: Bộ luật lao động 2019; Nghị định số 145/2020/NĐ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều cùa bộ luật lao động về điều
kiện lao động và quan hệ lao động; Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử
phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người Việt
3
Nam đi làm việc ở nước ngồi theo hợp đơng. Đông thời luận văn cũng
nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về lĩnh vực này tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến pháp luật về kỷ luật lao động: Nội quy lao động, hình thức xử lý kỷ
luật lao động, nguyên tắc, thời hiệu thẩm quyền, trình tự, thủ tục xừ lý kỷ luật
lao động cũng như việc xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp về
lĩnh vực này.
Khi đề cập về thực tiễn thực hiện pháp luật về kỷ luật lao động tại tỉnh
Vĩnh Phúc, luận văn chủ yếu đề cập tới việc thực hiện các quy định pháp luật
về kỷ luật lao động theo Bộ luật lao động 2012 và các văn bản hướng dẫn ban
hành do bộ luật lao động 2019 mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 nên chưa
có nhiều trường hợp thực tế để nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực
tiễn thực hiện pháp luật về kỷ luật lao động tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn nghiên cứu về thực tiễn
thực hiện pháp luật tại tỉnh Vĩnh Phúc trong khoảng thời gian từ nãm 2010
đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách pháp
luật của Nhà nước.
Để giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra, trong quá trình nghiên cứu, đề tài
sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Phương pháp lịch sữ khảo cứu các nguồn tư liệu, đặc biệt là các tư liệu
về pháp luật kỷ luật lao động; các báo cáo của Cục việc làm tỉnh Vĩnh Phúc.
Phương pháp phân tích các quy phạm pháp luật thực định có liên quan
đến đề tài của luân văn.
4
Phương pháp tổng hợp các quan điểm khác nhau về nhận thức khoa học
xung quanh các khái niệm, các quy phạm pháp luật cỏ liên quan đến pháp luật
kỷ luật lao động.
Phương pháp thống kê các số liệu thực tiễn trong q trình áp dụng các
quy phạm có liên quan đến đề tài của luận văn.
Phương pháp chuyên gia, để hoàn thành đề tài, tác giả thường xuyên
trao đổi, tham khảo ý kiến của giảng viên hướng dẫn, các nhà khoa học trong,
ngoài Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội để bố sung lý luận và thực tiễn,
hoàn thiện đề tài nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận pháp luật
về kỷ luật lao động.
- Làm rõ những mặt đạt được và những tồn tại hạn chế trong thực hiện
pháp luật về kỷ luật lao động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động tại tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của luận văn
Ngồi phần lời nói đàu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương ỉ. Một số vấn đề lý luận về kỷ luật lao động và pháp luật về kỷ
luật lao động.
Chưong 2. Thực trạng quy định pháp luật về kỷ luật lao động và thực
&
tiễn thực hiện tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật lao động tại tỉnh Vĩnh Phúc.
5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ PHÁP
LUẬT VÈ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG
1.1. Một
số vấn đề lý
về kỷV luật
lao động
•
luận
•
•
•
”
1.1.1. Khái niệm kỷ luật lao động
Con người khi tham gia vào quá trình lao động tập thề đế đạt được hiệu
quả cao trong cơng việc địi hỏi mồi cá nhân phải tn theo một trật tự nề nếp
nhất định nhằm thực hiện kế hoạch chung tạo ra năng suất và chất lượng cao
nhất. Việc phải tuân theo một trật tự nề nếp nhất định đó chính là sự biểu hiện
của “kỳ luật lao động’’. Có thể nói, kỷ luật lao động chính là yếu tố khách
quan, là phưong tiện để thống nhất hành động của con người trong cộng đồng
và càng không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp, cơ sở sàn xuất, nhà máy xí
nghiệp. Trước sự phát triền mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội nhất là trong giai
đoạn hiện nay, khi mà trình độ phân cơng, tố chức lao động ngày càng cao thì
địi hỏi mồi cá nhân khi tham gia quá trình lao động cần tuân thủ “kỷ luật lao
động ” một cách triệt để và nghiêm túc nhất.
Lênin từng nói: “Tó chức lao động xã hội của chủ nghĩa cộng sản mà
bước đầu là chủ nghĩa xã hội, thì dựa vào và sẽ ngày càng dựa vào một kỳ
luật tự giác và tự nguyện của chính ngay những người lao động” [18]. Câu
nói này của Lênin đã nhấn mạnh hơn hết vai trò hết sức quan trọng của kỷ
luật lao động và việc thực hiện kỷ luật lao động với tinh thần tự giác và kỷ
luật. Đe thực hiện tốt được điều này chúng ta cần hiểu rõ thế nào là kỷ luật lao
động, trước tiên kỷ luật là gì?
Theo từ điển tiếng Việt thì khái niệm kỷ luật là:
+ "Á/ỷ luật là tông thể những điều quy định có tính chất bắt buộc đối
với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để đảm bảo tính chặt chẽ
của tơ chức đó” [20]. Mỗi cá nhân khi tham gia vào mối quan hệ trong một tổ
6
chức nhât định cân tuân thủ các quy định chung có tính chât băt buộc nhăm
đảm bảo tính thống nhất và trật tự trong hoạt động của các tổ chức đó.
+ “Kỷ luật là hình thức phạt đối với người vi phạm kỳ luật’’. Khi cá
nhân trở thành thành viên trong một tổ chức thì buộc phải tuân theo các quy
định có tính chất bắt buộc của tổ chức đó. Khi hoạt động, hành vi của các
thành viên vi phạm quy định đã được đặt ra phải chịu những hình phạt nhất
định tùy theo mức độ vi phạm theo quy định của các tổ chức đó.
Trong xã hội nói chung, kỷ luật là những quy định về hành vi của con
người theo những chuẩn mực do pháp luật, đạo đức quy định tùy theo từng
thời kỳ lịch sử trên cơ sở lợi ích của tồn xã hội hay của một giai cấp nhất
định. Kỷ luật mang tính tiến bộ khi nó bảo đảm sự phát triển của cả cộng
đồng và cá nhân, cũng như bảo đảm quyền tự do của cá nhân trong phạm vi
hợp lý và thống nhất với lợi ích của cộng đồng. Do mang tính tất yếu, khách
quan nên trong mỗi gia đình, cơ quan, tổ chức, trường học, bệnh viện,... nơi
nào cũng có sự tồn tại của kỷ luật, tùy theo các mối quan hệ xã hội khác nhau
mà hình thành nên các dạng kỷ luật khác nhau. Trong trường học có kỷ luật
của trường học, qn đội có kỷ luật qn đội, cịn trong lao động có kỷ luật
lao động. Vậy kỷ luật lao động là gì?
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam:
Kỷ luật lao động được hiểu là chế độ làm việc đã được quy định
và được sự chấp hành nghiêm túc, đúng đắn của mỗi cấp, mỗi
nhóm người, mỗi người trong q trình lao động, tạo ra sự hài
hòa của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một
quá trình thống nhất [16],
Như vậy, theo nghĩa thơng thường và đơn giản nhất, kỷ luật lao động
là những quy tắc quy định hành vi cá nhân của người lao động mà đơn vị sử
dụng lao động xây dựng dựa trên cơ sở pháp luật hiện hành, chuẩn mực đạo
7
đức xã hội và yêu câu đặc thù của hoạt động sản xuât, kinh doanh nhăm tạo
ra một khuôn khổ, trật tự làm việc nhất định buộc mọi người phải tuân theo
trên tinh thần hợp tác và nếu có sự vi phạm thì sẽ phải gánh chịu hình thức
kỷ luật tương ứng.
Với tư cách là nội dung của quan hệ pháp luật lao động, kỷ luật lao
động là mối liên hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể,
trong đó quyền thiết lập và duy trì kỷ luật lao động thuộc về NSDLĐ, còn
nghĩa vụ thực hiện kỷ luật lao động thuộc về phía NLĐ. Trong q trình lao
động, NSDLĐ có quyền ban hành ra những nguyên tắc, hình thức xử lý đối
với những hành vi vi phạm kỷ luật lao động của NLĐ. Trên cơ sở đó, NLĐ có
trách nhiệm phải tuân thủ những quy định này. Trường hợp NLĐ không chấp
hành các quy định đó thì sẽ phải chịu hình thức xử lý kỷ luật tương ứng vói
hành vi vi phạm của mình.
Dưới góc độ pháp lý, với tư cách là một chế định của Bộ Luật lao động,
kỷ luật lao động là tổng thể những quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm,
nghĩa vụ của người lao động đối với cơ quan, đơn vị mà mình làm việc và các
biện pháp xử lý kỷ luật, nếu người lao động có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã
được đặt ra.
Điều 119 Bộ luật lao động 2019 [21] cũng đã đưa ra khái niệm kỷ luật
lao động. Theo đó, kỷ luật lao động được hiểu là nội dung những quy định thể
hiện trong nội quy lao động, đề cập đến việc tuân theo thời gian, trật tự tại nơi
làm việc cũng như các công nghệ và điều hành sản xuất kinh doanh. Trong
đó, nội quy lao động được hiểu là hệ thống những quy định liên quan đến nội
dung quan hệ lao động, trật tự lao động được thiết lập tại nơi làm việc được
xây dựng và ban hành phù hợp với quy định của pháp luật lao động và các
văn bản luật khác có liên quan. Nội quy lao động bao gồm các nội dung về
thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, thiết lập trật tự tại nơi làm việc, quy
8
định vê an toàn lao động, vệ sinh lao động, các hành vi được xác định là vi
phạm kỷ luật lao động và cách thức xừ lý hành vi này, và các quy định khác
nhằm bảo vệ tài sản, bí mật kinh doanh công nghệ và quyền sử dụng lao động
của người lao động.
Như vậy, từ q trình phân tích trên chúng ta có thể đưa ra kliái niệm
về kỷ luật lao động như sau: Kỷ luật lao động là những tiêu chuẩn quy định
hành vi cá nhân của người lao động dựa trên ý chí của người sử dụng lao
động và pháp luật hiện hành, người lao động có nghĩa vụ phải tuân thủ, nếu
có vi phạm xảy ra người lao động phải chịu trách nhiệm trước người sử dụng
lao động về hành vi vi phạm của mình.
1.1.2. Ỷ nghĩa của kỷ luật lao động
Kỷ luật lao động có ý nghĩa rất to lớn trong sản xuất, phát triến kinh tế.
Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng không thể thiếu được kỷ luật lao động. Tại
những quốc gia phát triển, người lao động có tính kỷ luật cao chính là chìa
khóa của thành cơng. Cịn ở Việt Nam, kỷ luật lao động cũng có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong công cuộc đổi mới phát triển kinh tế, đưa đất nước tiến
lên xã hội chủ nghĩa. Nhất là khi nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc
hậu, người lao động chủ yếu xuất thân từ nông thôn nên tác phong lao động
công nghiệp chưa cao, tùy tiện trong công việc, ... Thực hiện tốt kỷ luật lao
động sẽ mang lại cho nước ta những lợi ích cả ở tầm vĩ mơ trên các phương
diện kinh tế, chính trị, xã hội và ờ tầm vi mô là lợi ích đối với người sử dụng
lao động và người lao động. Cụ thể:
- Ý nghĩa của kỷ luật lao động đối với Nhà nước: Mục đích của kỷ luật
lao động là nhằm đăm bảo hành vi cùa người lao động được đúng đắn, phù
hợp với quy định của doanh nghiệp. Do vậy, việc xây dựng và duy trì kỷ luật
lao động không chỉ mang lại sự phát triển ổn định cho doanh nghiệp, mà quan
trọng hơn nó cịn mang lại sự phát triển ổn định cho đất nước trên nhiều
9
phương diện khác nhau. Trên phương diện kinh tê, kỷ luật lao động được
chấp hành tốt sẽ giúp thời gian lao động hữu ích tăng lên kéo theo đó là sự
phát triển của các doanh nghiệp. Bởi lẽ, nguồn lực quan trọng hàng đầu cho
sự phát triển kinh tế - người lao động được sử dụng, phân bổ một cách hợp lý,
khoa học phục vụ tốt hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể, người
lao động với trình độ, chun mơn và tính ký luật cao sẽ đảm bảo cho q
trình vận hành các máy móc, thiết bị của doanh nghiệp được liên tục, ổn đinh,
giảm nguy cơ xảy ra sự cố, tai nạn lao động, ... qua đó góp phần làm tăng
năng suất, chất lượng sản phẩm, tránh lãng phí nguyên, nhiên vật liệu và làm
tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đặc biệt, đối với những ngành, lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia, đến
cuộc sống của mọi người dân trong cả nước như: nhiệt điện, thủy điện, cầu,
đường, hàng khơng, hầm lị, ... vấn đề kỷ luật lao động càng có ý nghĩa quan
trọng. Sự chấp hành nghiêm kỷ luật lao động sẽ đãm bảo cho các ngành trọng
yếu này được phát triển ổn định, làm cơ sở cho sự phát triển chung của các
ngành khác trong xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước khơng ngừng tăng
trưởng. Ngồi ra, việc tn thủ kỷ luật lao động còn là một trong các yếu tổ
thu hút đầu tư của nước ngồi vào trong nước góp phần thúc đấy tăng trưởng
kinh tế. Bởi khi người lao động trong nước có tính kỷ luật cao sẽ phản ánh
phần nào tính hiệu quả trong cuộc việc, người lao động Việt Nam được đánh
giá là chăm chỉ, cần cù tuy nhiên không năng suất trong lao động sàn xuất;
Trái lại, với người lao động tại các nước như Thái Lan hay Ân Độ với trách
nhiệm cao trong kỷ luật lao động, hiệu quả làm việc tốt nên đã thu hút rất
nhiều cơng ty nước ngồi đến đế đầu tư và xây dựng nhà máy sàn xuất, do đó,
người lao động tại Thái Lan, Ân Độ có nhiều cơ hội việc làm, mơi trường làm
việc mở, từ đó góp phần tăng trưởng GDP cũa quốc gia và tăng trưởng nền
kinh tế tốt hơn. Bên cạnh đó, tận dụng được nguồn lực khoa học, kỹ thuật tiên
10
tiến của các nước trên thế giới vào trong sản xuất, làm xuất hiện nhiều ngành
nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Việc xuất hiện của các ngành nghề sử
dụng công nghệ cao làm cho cơ cấu nền kinh tế của nước ta có sự chuyển dịch
mạnh mẽ từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, đấy mạnh q
trình cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa, tạo dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật dần
đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp phát triển. Trên phương diện xã
hội, kỷ luật lao động gián tiếp góp phần quan trọng giúp cho đời sống của mọi
người dân nói chung và người lao động nói riêng được cải thiện cả về mặt vật
chất lẫn tinh thần. Bởi khi, các doanh nghiệp duy trì cho mình được một nề
nếp làm việc khoa học, hiệu quả thì theo lẽ tự nhiên các doanh nghiệp đó sẽ
phát triển ổn định, nền kinh tế của đất nước cũng theo đó mà tăng trưởng đi
lên, ngân sách nhà nước tăng và có nhiều điều kiện hơn để thực hiện các
chính sách phúc lợi xã hội như: xây dựng trường học, bệnh viện, cầu đường,
khu vui chơi giải trí, ... phục vụ dân sinh. Khơng những thể, việc thi hành tốt
kỷ luật lao động còn có vai trị khơng nhỏ trong việc duy trì hài hòa mối quan
hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, hạn chế xảy ra tình trạng
tranh chấp, kiện tụng, qua đó phàn nào ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã
hội của đất nước.
- Ý nghĩa của ký luật lao động đối với người sử dụng lao động: Kỷ luật
lao động là phương thức để người sử dụng lao động thiết lập kỷ cương, nề nếp
làm việc trong doanh nghiệp, duy trì mối quan hệ lao động ổn định, hài hòa,
tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Thông qua kỷ
luật lao động, hành vi của người lao động sẽ bị điều chỉnh bởi những quy tắc
nhất định, nội dung của các quy tắc này thường chứa đựng những quy định về
thời gian làm việc, nghỉ ngơi, chế độ an toàn, vệ sinh lao động... Do vậy, kỷ
luật lao động được đặt ra sẽ có vai trị hữu hiệu trong việc ngăn chặn hành vi
tùy tiện, vô tổ chức, không tôn trọng mệnh lệnh, điều hành của cấp trên trong
11
quá trình làm việc của người lao động, hướng người lao động vào khuôn khô
trật tự mà người sử dụng lao động mong muốn để có thể đạt được hiệu quả
công việc một cách tối ưu. Mồi một hành vi mà người lao động thực hiện đều
không được phép trái với quy định của kỷ luật lao động hay nói cách khác,
mỗi cá nhân người lao động sẽ phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc chế
độ kỷ luật lao động do người sử dụng lao động ban hành, bất kỳ hành vi vi
phạm nào cũng có thế bị xử phạt tùy thuộc mức độ nghiêm trọng và lồi đã
thực hiện. Bên cạnh đó, kỷ luật lao động cũng là cách thức quan trọng để
người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lý của mình trong việc tổ chức,
điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, người sử dụng lao động sẽ
có quyền tự chủ trong việc đề ra các mệnh lệnh, yêu cầu buộc người lao động
phải tuân theo nhằm đạt được những lợi ích mà họ mong muốn và tất nhiên,
các yêu cầu, mệnh lệnh này không được trái với quy định cúa pháp luật,
không được xâm phạm tới các quyền lợi cơ bản cùa con người. Mặc dù, các
quy định về kỷ luật lao động trong nội quy lao động không phải là các quy
phạm pháp luật nhưng chúng lại có giá trị pháp lý buộc người lao động phải
tuân theo. Do vậy, nếu như người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao
động, người sử dụng lao động sẽ có quyền xử lý kỷ luật đối với họ. Quyền xử
lý kỷ luật lao động là một trong các quyền quản lý quan trọng của người sử
dụng lao động được pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo duy trì trật tự, nề nếp
trong doanh nghiệp, hỗ trợ người sử dụng lao động điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh một cách hiệu quả.
- Ý nghĩa của kỷ luật lao động đối với người lao động: Chấp hành tốt
kỷ luật lao động không chỉ bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp mà cịn bảo vệ lợi
ích của chính bán thân người lao động. Thực tế đã chứng minh, khi người lao
động chấp hành tốt kỷ luật lao động, hiệu quả, năng suất lao động trong q
trình sản xuất sẽ tăng lên, mục tiêu cơng việc đặt ra sẽ được hoàn thành tốt, cơ
12
hội thăng tiên của người lao động cũng dân rộng mở hơn. Khi người lao động
đặt mình vào mơi trường làm việc có kỷ luật, người lao động sẽ kiểm sốt suy
nghĩ và hành động của mình, sẵn sàng từ chối những cám dỗ xung quanh hoặc
một số thú vui thường ngày để tập trung vào công việc. Mặt khác, đối vói
những cơng việc có mức độ nguy hiểm cao, chủ động tuân thù kỷ luật lao
động nhất là trong việc phải sử dụng các thiết bị bảo hộ như mũ, găng tay,
quàn áo,... sẽ giúp người lao động đảm bảo an tồn về sức khỏe và tính mạng
trong q trình làm việc. Ngồi ra, kỷ luật lao động và các hình thức kỷ luật
kèm theo là động lực thúc đấy người lao động hồn thiện chính bản thân
mình, củng cố thái độ, tinh thần tự giác làm việc. Không những thế, kỷ luật
lao động giúp người lao động trở thành những nhân sự, cơng nhân có tác
phong chun nghiệp, có trách nhiệm phấn đấu hồn thành cơng việc trong
mọi trường hợp, không biện minh cho những yếu kém của bản thân dẫn tới
kết quả lao động kém hiệu quả. Khi khơng hồn thành tốt nghĩa vụ lao động
cùa mình, người lao động sẽ bị áp dụng các chế tài nhất định được quy định
trong nội quy lao động. Do vậy, có thể nói kỷ luật lao động là một biện pháp
quan trọng để giáo dục và rèn luyện người lao động, giúp họ nâng cao tinh
thần, ý thức tự giác, trách nhiệm đối với công việc, dần thay đối những thói
hư tật xấu, sự vơ kỷ luật trong q trình lao động. Với những vai trị quan
trọng như trên, cần thiết đề cao hơn nữa việc tuân thủ kỷ luật lao động, đồng
thời, việc xử lý kỷ luật lao động cũng được tiến hành một cách hợp tình, hợp
lý trên cơ sở các nội dung quy chế kỷ luật cùa doanh nghiệp và pháp luật. Nếu
áp dụng và thi hành kỷ luật khơng tốt sẽ dễ dẫn đến tình trạng tiêu cực ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển của doanh nghiệp và lợi ích hợp pháp của người
lao động. Trái lại, thi hành kỷ luật lao động một cách đúng đẳn, kịp thời, phù
hợp sẽ mang lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp. Bởi người lao động
cảm thấy đang làm việc trong mơi trường bình đẳng, được bảo vệ bởi các quy
13
định rõ ràng, an tâm trong khi làm việc, tin tưởng vào người sử dụng lao động
công minh và lao động ngày càng tích cực hon.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay cả trong một gia đình hoặc một tổ
chức nhị cũng đều phải có những quy tắc hay ngun tắc nhất định để có thể
hịa họp và tồn tại ổn định, vậy thì chắc chắn một doanh nghiệp cũng khơng
thể hoạt động trơn tru nếu như khơng có kỷ luật.
1.2. Một số vấn đề lý luận pháp luật về kỷ luật lao động
1.2.1. Khái niệm pháp luật về kỷ luật lao động
Kỷ luật lao động luôn là nội dung quan trọng được pháp luật các nước
trên thế giới ghi nhận và điều chỉnh. Tuy nhiên, xuất phát từ chế độ sở hữu, cơ
chế quản lý kinh tế (bao gồm cả QLLĐ) và quan điểm về quyền và nghĩa vụ của
NSDLĐ và NLĐ ... nên pháp luật các nước quy định khác nhau về vấn đề này.
Ở hầu hết các nước trên thế giới, việc áp dụng kỷ luật lao động đều
được coi là quyền của người sử dụng lao động và việc tuân thủ kỷ luật là
nghĩa vụ của người lao động. Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau, tùy thuộc
vào điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán của từng nước mà pháp luật có thể
điều chỉnh ở những mức độ khác nhau. Dù quy định trong nhiều luật, bộ luật
hoặc chỉ quy định trong một luật, bộ luật, song có thể thấy rằng, ở các nước
theo Thuyết tổ chức (Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Hy Lạp...), thì trước đây (trước
khi có luật, bộ luật hiện hành), trên cơ sở nguyên tắc nhà nước không ban
hành quy định cho phép (các chủ thể làm gì) mà chỉ quy định cấm (nghĩa là
các chủ thể được hoàn tồn tự do hành động miễn là khơng vi phạm điều
cấm), theo đó, quyền quản lý lao động của NSDLĐ vẫn được coi là quyền
đương nhiên. Kỷ luật lao động từ trước đến nay được coi là quyền của người
chủ sử dụng lao động, do đó trong các Bộ luật lao động hầu như khơng có các
quy định về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, trừ pháp luật của một số
nước xã hội chủ nghĩa. Thay vì được quy định trong pháp luật, quyền kỷ luật
14
lao động được NSDLĐ tự xây dựng trong thỏa ước lao động tập thê, nội quy
lao động hoặc họp đồng lao động.
Ở các nước theo Thuyết hợp đồng (Áo, Bỉ, Đức, Thụy Điển, Anh...), do
nảy sinh trực tiếp từ luật dân sự nên quan hệ lao động được xác lập theo
nguyên tắc tự do hợp đồng. Theo đó, khi NLĐ ký kết hợp đồng lao động thì
họ tự đặt mình dưới sự điều khiển, quản lý cùa NSDLĐ. Người chủ sử dụng
lao động có quyền kỷ luật NLĐ theo ý muốn của họ mà không cần lý do. Đến
nay, nguyên tắc này bị mai một dần do nhiều nguyên nhân về điều kiện kinh
tế - xã hội thay đổi, do phán quyết của Tòa án và do các quy định của pháp
luật được bổ sung để bảo vệ NLĐ.
Như vậy, việc thiết lập kỷ luật lao động là quyền của NSDLĐ. Đây là
điều dễ lý giải bởi hoạt động lao động khơng phải là hoạt động cá nhân mang
tính đon lẻ, mà là hoạt động mang tính xã hội, NSDLĐ có quyền quản lý lao
động thì có quyền xử lý kỷ luật đối với NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật lao
động nghiêm trọng. Các quy định về kỷ luật lao động do NSDLĐ ban hành
tuy không phải là những quy phạm pháp luật, song chúng lại có giá trị pháp lý
buộc NLĐ phải thực hiện. Khi có tranh chấp phát sinh, những quy định này sẽ
là căn cứ quan trọng để giải quyết tranh chấp nếu những quy định đó phù hợp
với pháp luật. Tuy nhiên, nếu các quy định này không phù hợp với pháp luật
mà NSDLĐ vẫn áp dụng để kỷ luật NLĐ theo ý chí chủ quan của mình thì
việc kỷ luật sẽ trở thành kỷ luật trái pháp luật và gây ra những hậu quả pháp
lý nhất định. Do đó việc quy định và điều chỉnh pháp luật về kỷ luật kỷ luật là
hết sức cần thiết. Nó khơng chì hạn chế xu hướng lạm quyền của NSDLĐ
trong xử lý kỷ luật, mà còn bảo vệ được quyền lợi cho NLĐ, hạn chế được
tranh chấp trong quan hệ lao động, tạo điều kiện cho quan hệ lao động có thể
tiếp tục duy trì và phát triển.
15
Từ các phân tích ở trên, có thê định nghĩa:
Điều chỉnh pháp luật đối với hình thức kỷ luật lao động là Nhà nước
ban hành các quy phạm pháp luật nhằm quy định và điều chỉnh việc
áp dụng hình thức kỷ luật lao động do người sử dụng lao động thực
hiện đối với người lao động trong các quan hệ lao động mà họ đã
thỏa thuận thiết lập thông qua hợp đồng lao động [24, tr. 53].
Trong quá trình lao động, người sử dụng lao động có quyền ban hành
những nguyên tắc, hình thức xử lý kỷ luật đổi với những hành vi vi phạm kỷ
luật lao động cùa người lao động để đảm bảo trật lao động tại đơn vị mình.
Trên cơ sỡ đó, người lao động có trách nhiệm phải tuân thủ những quy định,
nguyên tắc đó của người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động khơng
chấp hành các quy định đó có thế chịu hình thức xử lý kỷ luật tướng ứng với
hành vi vi phạm của mình. Vậy xử lý kỷ luật lao động là gì?
Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội
có đưa ra khái niệm xử lý kỷ luật lao động như sau: “Xử lý kỷ luật lao động là
quá trình người sử dụng lao động xem xét và giải quyết về việc người lao
động có hành vi vi phạm kỷ luật hằng cách buộc họ phải chịu một trong các
hĩnh thức kỷ luật do nhà nước quy định ” [23, tr. 307], Việc buộc người lao
động phải chịu một trong các hình thức xử lý kỷ luật do nhà nước quy định
khi có hành vi vi phạm thể hiện đây là biện pháp mang tính cưỡng chế cao, là
yêu cầu tất yếu trong việc thiết lập kỷ luật khi người sừ dụng lao động thực
hiện hoạt động quản lý. Như vậy biện pháp xữ lý kỷ luật lao động còn được
gọi là áp dụng trách nhiệm kỷ luật lao động.
Liên quan đến vấn đề này, TS. Trần Thị Thúy Lâm cho ràng:
Trách nhiệm kỷ luật lao động là một loại trách nhiệm pháp lý do
người sử dụng lao động áp dụng đối với những người lao động có
hành vi vi phạm kỷ luật lao động bằng cách bắt họ phải chịu một
trong các hình thức kỷ luật lao động [17, tr.37].
16
Nhìn chung, mỗi quan điếm có một cách diễn đạt khác nhau nhưng có
thể thấy dù diễn đạt theo cách nào đi chăng nữa thì xử lý kỷ luật lao động hay
trách nhiệm xữ lý kỷ luật lao động có những đặc điểm chính sau đây:
- Chủ thê có thâm quyền xử lý kỷ luật lao động là người sử dụng lao động
Người sử dụng lao động có quyền xử lý kỳ luật lao động đối với người
lao động vi phạm kỷ luật. Đây là quyền xuất phát từ quyền quản lý lao động
chứ không phải là nội dung thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người
lao động, người lao động vào làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động, họ
bắt buộc phải chấp hành các quy định về kỷ luật lao động mà người sử dụng
lao động đã ban hành. Song, việc ban hành các quy định về kỷ luật lao động
cũng như việc áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật lao động của người sử
dụng lao động phải trong khuôn khố các quy định của pháp luật hay nói cách
khác quyền này có giới hạn. Nếu khơng có sự giới hạn về việc này có thể dẫn
đến sự lạm dụng quyền của người sử dụng lao động, họ có thể xử lý kỷ luật
người lao động hoặc thậm chí là sa thải người lao động một cách tùy tiện,
điều này sẽ tạo ra bất lợi cho người lao động.
Người sử dụng lao động ở đây có thể là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức
có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân có đủ điều kiện theo quy định. Người đại
diện cho pháp nhân hoặc cá nhân được trực tiếp hoặc ủy quyền cho ngưòi
khác xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động
theo quy định.
- CAíỉ thể phái chịu biện pháp xử lý kỷ luật là người lao động
Người bị xử lý kỷ luật lao động là người lao động tham gia quan hệ lao
động và có những hành vi vi phạm nghĩa vụ được quy định chủ yếu trong nội
quy lao động hoặc sự điều hành hợp pháp của người sừ dụng lao động. Theo
quy định của pháp luật thì người lao động trong các quan hệ lao động là các
công dân Việt Nam ít nhất từ đủ 15 tuổi có năng lực pháp luật lao động và
17
năng lực hành vi lao động; là người nước ngoài lao động ở Việt Nam từ đủ 18
tuối trở lên, có trình độ chun mơn và sức khỏe để làm những cơng việc theo
quy định, có giấy phép lao động do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Việt
Nam cấp. Đối với người lao động Việt Nam dưới 15 tuổi chỉ được thực hiện
những công việc mà pháp luật cho phép, ở những điều kiện làm việc bình
thường và phải có sự đồng ý cùa cha mẹ, người giám hộ, người đỡ đầu hợp
pháp. Như vậy, trách nhiệm kỷ luật hay biện pháp xử lý kỷ luật chi đặt ra với
người lao động khi họ tham gia vào một quan hệ nhất định. Còn nếu hành vi
vi phạm pháp luật của họ thực hiện bên ngồi khn khổ quan hệ lao động thì
khơng truy cứu trách nhiệm kỷ luật hay xử lý kỷ luật đối với họ.
- về cơ sở áp dụng kỷ luật
Cơ sở đế áp dụng kỷ luật lao động đối với người lao động là hành vi vi
phạm kỷ luật lao động. Nói cách khác, người sử dụng lao động chỉ có thể căn
cứ vào hành vi vi phạm kỷ luật của người lao động để xử lý kỷ luật lao động.
Hành vi vi phạm kỳ luật lao động cùa người lao động ở đây có thể là hành vi
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến nội quy lao động của đơn vị hoặc quyền điều
hành cùa người sử dụng lao động mà phái bị xử lý kỷ luật theoquy định
của pháp luật. Nói cụ thể hơn, hành vi phạm kỷ luật lao động là thực hiện
nhũng hành động bị nội quy lao động cấm hoặc không thực hiện hành động
mà nội quy lao động buộc phải thực hiện. Ví dụ như: Nội quy lao động quy
định người lao động phải tuân thù thời gian, giờ giấc làm việc tại cơng ty,
nhưng người đó khơng tuân thủ. Hoặc nội quy lao động quy định người lao
động khơng được tiết lộ những bí mật cơng nghệ của đơn vị nhưng người lao
động vẫn cố tình tiết lộ. Lưu ý là các nghĩa vụ của người lao động theo những
điều quy định trong nội quy lao động và nghĩa vụ của người lao động theo
pháp luật lao động nói chung là khơng hồn tồn trùng nhau. Nhìn chung, các
nghĩa vụ lao động rộng hơn những nghĩa vụ theo nội quy lao động. Nói cách
18
khác, các nghĩa vụ theo nội quy lao động là một phân chủ yêu, quan trọng
trong nghĩa vụ lao động nói chung. Chẳng hạn như, ngồi việc tn thủ các
nghĩa vụ trong nội quy lao động, người lao động còn phải tuân thủ các nghĩa
vụ đã cam kết trong hợp đồng lao động, hoặc đã được quy định trong thỏa
ước lao động tập thể ... Do vậy, không phải mọi vi phạm nghĩa vụ lao động
của người lao động đều bị người sử dụng lao động áp dụng các hìnhthức
kỷ luật lao động.
1.2.2. Nguyên tắc pháp luật về kỷ luật lao động
Xử lý kỷ luật là một biện pháp cưỡng chế cao do pháp luật quy định
nhằm thiết lập, duy trì kỷ luật lao động. Nó có tác dụng trừng phạt người vi
phạm kỷ luật lao động và phòng ngừa, giáo dục những người lao động trong
đơn vị thực hiện tốt kỷ luật lao động. Tuy nhiên, nhằm tránh sự làm quyền
của người sử dụng lao động, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích cua người
lao động, đảm bảo việc xử lý kỷ luật lao động công bằng, khách quan, chính
xác, đúng pháp luật, pháp luật lao động hiện hành quy định các nguyên tắc áp
dụng khi xử lý kỷ luật lao động. Nguyên tắc xử lý kỷ luật lao động là những
tư tường, định hướng có tính chất chỉ đạo đối với việc xử lý kỷ luật lao động
mà người sử dụng lao động phải tuân theo khi tiến hành xử lý kỷ luật lao
động. Các nguyên tắc khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động, bao gồm:
Thứ nhất, khơng được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động
đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động: Khi một người lao động đồng
thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ
luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
Thứ hai, không được xử lý kỹ luật lao động đổi với người lao động
đang trong thời gian sau: nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý
của người sử dụng lao động; đang bị tạm giữ, tạm giam; đang chờ kết quà của
cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm
19
như trộm căp, tham ô, đánh bạc, cô ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong
phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật cơng nghệ, xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại
nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi
ích của người sử dụng lao động.
Thứ ba, không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ
luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiên hành vi của mình
Người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức
hay khả năng điều khiển hành vi là người khơng thể nhận thức được việc
mình làm, khơng thể làm chủ được hành vi của mình nên nếu họ vi phạm kỷ
luật lao động trong trạng thái này thì sẽ khơng bị coi là có lỗi.
Ngồi ra, để bảo vệ người lao động trong mối tương quan với pháp
luật khác, pháp luật cịn quy định các nhóm hành vi cấm người sử dụng lao
động thực hiện khi xử lý kỷ luật lao động. Quy định này không chỉ cụ thể
hơn các hành vi không được phép làm của người sử dụng lao động khi tiến
hành xử lý kỷ luật lao động mà cịn bào đảm quyền đình công, quyền được
bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, thu nhập của người lao động khi tham gia
quan hệ lao động, như:
Người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động đối với
người lao động là cha đẻ, mẹ đẻ hoặc cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp đang nuôi
con nhở dưới 12 tháng tuổi. Khi hết thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng
tuồi, mà thời hiệu xử lý kỷ luật đã hết thì được kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật
lao động, nhưng tối đa không quá 60 ngày, kể từ ngày hết thời gian nuôi con
nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
Cấm xâm phạm thân thể, nhân phẩm của người lao động. Quan hệ pháp
luật lao động được hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa người
20