Tải bản đầy đủ (.pdf) (81 trang)

Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua án lệ từ thực tiễn tại toà án nhân dân tối cao việt nam (luận văn thạc sỹ luật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (20.26 MB, 81 trang )

ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐAO MY LINH

PHÁP LUẬT VÈ GIẢI QUYÉT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
THÔNG QUA ÁN LỆ TỪ THựC TIỄN TẠI

TỊA ÁN NHÂN DÂN TƠI CAO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tê
Mã sơ: 8380101.05

LUẬN VẲN THẠC sĩ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS vũ THU HẠNH

Hà Nội - 2022


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kêt quả

nếu trong Luận văn chưa được cơng bố trong bất kì cơng trình nào khác. Các số

liệu, ví dụ và trích dẫn nêu trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, trung thực và
có nguồn trích dẫn rõ ràng. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh

tốn tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội.


Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Đào Mỹ Linh

1


LỜI CÃM ƠN
Luận văn này là kết quả có được do những cố gắng của bản thân tôi dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS. Vũ Thu Hạnh. Tôi xin gửi lời cảm on sâu sắc đến cô,
người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tơi tận tình trong suốt thời gian thực hiện

luận văn.
Trong thời gian làm luận văn này tôi đã nhận được những tình cảm quan

tâm, yêu thương và sự động viên lớn lao từ gia đình, bạn bè, đó là điều quan
trọng nhất để tơi hồn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.
Do kiến thức và thời gian có hạn nên chắc chắn luận văn sẽ có nhiều thiếu

sót. Vậy kính mong q Thầy, Cơ cùng các bạn quan tâm đóng góp ý kiến để
ln văn đươc hồn thiên hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TÙ VIÉT TẮT................................................................... V

MỞĐẰU.............................................................................................................. 1

CHƯƠNG I. NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ ÁN LỆ VÀ VIỆC ÁP DỤNG
ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI............................ 7
1.1. Những vấn đề lý luận về án lệ và áp dụng án lệ................................................7

1.1.1. Khái niệm án lệ................................................................................................. 7
1.1.2. Đặc điểm của án lệ............................................................................................ 8
1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của án lệ ở Việt Nam................................ 12
1.1.4. Khái quát về áp dụng án lệ............................................................................. 15

1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp đất đai....................... 17

1.2.1. Khái quát về giải quyết tranh chấp đất đai....................................................17

1.2.2. Giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường Toà án................................22
1.3. Sự cần thiết áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án.... 25

TIỂU KÉT CHƯƠNG 1........................................................................................... 32

CHƯƠNG 2. THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VÈ ÁP DỤNG ÁN LỆ VÀ
THỤC TIỄN GIẢI QƯYÉT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI TÒA ÁN

NHÂN DÂN TỐI CAO VIỆT NAM................................................................. 33
2.1. Một số quy định của pháp luật về nguyên tắc xây dựng và áp dụng án lệ ...33
2.1.1. về giải thích từ ngữ........................................................................................ 34

2.1.2. về tiêu chí lựa chọn án lệ...............................................................................36

2.1.3. về cách thức xây dựng án lệ........................................................................... 37

2.1.4. về việc áp dụng án lệ..................................................................................... 39
2.1.5. về việc hủy bỏ, thay thế án lệ.......................................................................40

2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án Nhân dân Tối cao thông


2.3. Nhũng bất cập tồn tại trong việc xây dựng và áp dụng án lệ vào giải quyết
tranh chấp đất đai...................................................................................................... 51

2.3.1. Bất cập về quy định của pháp luật về xây dụng án lệ................................. 51
2.3.2. Bất cập về thục tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại Toà án thông qua án lệ.. 54

TIÊU KẾT CHƯƠNG 2...........................................................................................58

CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, ĐÈ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT
ĐAI THÔNG QUA ÁN LỆ................................................................................59
3.1. Giải pháp, đề xuất về cách thức xây dụng án lệ giải quyết tranh chấp đất đai ..59

3.2. Giải pháp, đề xuất về cách thức áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp đất đai...... 64
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3...........................................................................................71

KÉT LUẬN..........................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................... 74

iv



DANH MỤC CÁC TÙ VIẾT TẮT

BLDS

BƠ• lt
• Dân sư•

BLTTDS

Bộ luật Tố tụng Dân sự

TA

rr-i

TANDTC

Tòa án Nhân dân Tối cao

TCDS

Tranh chấp dân sự

TCĐĐ

Tranh chấp đất đai

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật


ƯBND

ủy ban Nhân dân

A

r

Toà án

V


MỞ ĐẦU
ran

__ I

_

__ 11

• Ạ1

_ _•?

_

->


•__ _____________________ _____

I. Tính cap thiet của đê tai nghiên cứu
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát

triển đất nước. Khơng ai có thể phủ nhận vai trị quan trọng của đất đai đối với
cuộc sống con người, nó có ý nghĩa hàng đầu trong đời sống kinh tế, chính trị, xã
hội và an ninh, quốc phịng của mỗi quốc gia.

Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội. Tranh
chấp đất đai phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống như:
Làm đình đốn sản xuất, tổn thương đến các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư,

ảnh hưởng đến phong tục đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam, gây ra sự mất ổn

định chính trị, trật tự an toàn xã hội.... Tranh chấp đất đat kéo dài nếu không
được giải quyết dứt điểm sẽ dẫn đến “điểm nóng”, bị kẻ xấu lợi dụng, làm giảm

niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Trong những năm qua, do nhiêu nguyên nhân khác nhau mà các tranh

chấp đất đai ở nước ta ngày càng gia tăng. Mỗi năm, tịa án nhân dân các cấp thụ
lý hàng nghìn vụ tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, nhiều hoạt động giải quyết tranh

chấp đất đai chưa thực sự đem lại hiệu quả như mong muốn. Lý giải vấn đề này

cần phải kể đến yếu tố quan trọng đó là pháp luật. Theo quy luật chung ở mọi
quốc gia trên thế giới, các đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành ln có vị trí


tối cao trong hệ thống pháp luật nhưng có đặc tính cố hữu là khơng thể dự đốn

hết những tình huống sẽ xảy ra trong tương lai. Bên cạnh đó, có thể thấy rằng
đời sống xã hội ln tồn tại ở trạng thái động, nó khơng ngừng trở minh, biến

động, phát triển, và các cá thể trong xã hội cũng không ngừng làm nảy sinh
những tranh chấp giữa đời sống thường ngày. Vì vậy, cần có một cơ chế sáng

tạo, linh hoạt trong vận dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề thực tiền mới.

Và án lệ chính là phương thức tốt nhất để khắc phục nhược điểm này. Với đặc
tính là một loại nguồn “mềm” và cơ động, án lệ đặc biệt thích hợp để giải quyết

1


các tranh châp, bởi nó được sinh ra trong quá trình giải quyêt tranh châp cụ thê

nên sẽ dễ dàng bắt kịp được với nhịp độ phát triển của tranh chấp hơn là pháp
luật thành văn.

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về

Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây viết tất là Nghị quyết số 49NQ/TW của Bộ Chính trị) nêu: “Tịa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết
kỉnh nghiệm xét xử, hướng dần áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và

xét xử giám đốc thẩm, tái thám”. Đen năm 2012, Quyết định số 74QĐ/TANDTC, ngày 31/10/2012 của Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt Đe án

“Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao ” (sau đây viết tắt là Quyết định số


74-QĐ/TANDTC) đã cụ thể hóa hơn lộ trình phát triển án lệ. Hiến pháp năm
2013 quy định: “Tòa ản nhản dãn tối cao thực hiện việc tông kết thực tiễn xét xử,

bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử” (Khoản 3, Điều 104). Luật
tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 nêu: “Hội đồng thấm phản Tòa án nhân dân

tối cao củ nhiệm vụ lựa chọn quyết định giảm đốc thám của Hội đồng Thâm

phản Tòa án nhân dân tối cao, bản án quyết định pháp luật cỏ hiệu lực pháp

luật, có tỉnh chuẩn mực của các Tòa án, tồng kết phát triển thành án lệ và cơng
bố án lệ đê các Tịa án nghiên cứu và áp dụng trong xét xử” (Điểm c, Khoản 2,

Điều 22). Tại Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng

Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (sau đây viết tắt là Nghị quyết số
03/2015/NQ-HĐTP), quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ đã được ban

hành. Đây là lần đầu tiên Việt Nam công nhận và xây dựng cho riêng mình một
quy trình tuyền chọn và áp dụng án lệ.

Việt Nam hiện nay đã chính thức thừa nhận nguồn án lệ. Vì vậy, nhu
cầu nghiên cứu tìm hiểu và áp dụng án lệ cho thực tiễn xét xừ là rất bức thiết.
Cần phải làm rõ các vấn đề như: “Thế nào là án lệ? Án lệ vận hành như thế
nào trong xã hội Việt Nam? Khái niệm, bản chất, cách thức áp dụng nó như

thế nào? Pháp luật về giải quyết tranh chấp sử dụng án lệ được quy định như

2



thế nào, có ý nghĩa gì trong việc giải quyết tranh chấp?... Đặc biệt là trong
vấn đề giải quyết các tranh chấp đất đai.

Xuất phát từ bối cảnh và nhu cầu cấp thiết đó, tác giả lựa chọn đề tài

“Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua án lệ từ thực tiễn tại

Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam" làm đề tài Luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua, chủ đề về áp dụng án lệ và áp dụng pháp luật vào giải
quyết tranh chấp đất đai đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu; có thể nêu ra một
số cơng trình sau đây:
- Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyền Thu Trang - Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2014: “Vai trò của án lệ và thực tiễn xét xử trong hệ thống

pháp luật Việt Nam", nghiên cứu về những khía cạnh vai trị của án lệ, thực tiễn
xét xừ ở Việt Nam và nước ngồi.
- Luận
• văn thạc
• sĩ luật
• học
• của Phùng Văn Việt - Học viện Khoa học
> xã

hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2017: “Áp dụng án lệ trong

giải quyết các tranh chấp dân sự ở Việt Nam hiện nay", phân tích về những vấn

đề lý luận cơ bản về án lệ, ý nghĩa của việc áp dụng án lệ; tìm hiểu thực tiễn việc

áp dụng án lệ trong giải quyết các tranh chấp dân sự và những kiến nghị cho việc

áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp dân sự.
- Bài viết “Án lệ trong hệ thống pháp luật một sổ nước trên thế giới” của

tác giả Nguyễn Linh Giang đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
12/2005.
- Bài viết “Nhận thức chung về án lệ, tầm quan trọng của án lệ trong công

tác xét xử, khái quát các trường phái án lệ trên thế giới" của các tác giả Nguyễn
Văn Cường, Nguyễn Ngọc Ánh đăng trên Tạp chí Tịa án nhân dân, số 4/2009.
- Đề tài nghiên cún khoa học cấp bộ của Tòa án nhân dân tối cao: “Triển

khai án lệ vào cơng tác xét xử của Tịa án Việt Nam ", năm 2012, do ơng Trương

Hịa Binh, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm Chủ nhiệm đề tài.

3


Những công trinh trên đã cung câp tương đôi đây đủ thông tin, kiên thức
về án lệ, cũng như thực tiễn áp dụng án lệ vào công tác xét xử tại Việt Nam. Tuy
nhiên, chưa có cơng trình nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về việc áp dụng

án lệ trong giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án.

3. Mục tiêu nghiên cứu

3.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của việc nghiên cứu đề tài này là đề xuất được một số


giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam về áp dụng án lệ trong
việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tịa án, góp phần thúc đẩy việc sử dụng án

lệ trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Việt Nam, phù hợp với xu hướng và yêu

cầu phát triển của thế giới và khu vực.

3.2. Mục tiêu cụ thể
9



Mục tiêu cụ thể của việc nghiên cứu đề tài này là:
Một là, làm rõ những vấn đề lý luận về việc áp dụng án lệ trong giải quyết
tranh chấp đất đai tại Tòa án (bao gồm những vấn đề về án lệ, những quy định về

việc ban hành và áp dụng án lệ...)
Hai là, tim hiểu và đánh giá thực trạng việc áp dụng án lệ trong giải quyết
tranh chấp đất đai tại Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam.

Ba là, đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về áp dụng án lệ

trong giải quyêt tranh châp đât đai, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật vê sử
dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- về phương pháp luận: Đe thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu nêu

trên, luận vănsử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của Triết học Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa trên các quan điểm, chủ trương, đường lối

của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dụng nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa và cải cách tư pháp ở Việt Nam.

4


- về các phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng xuyên suốt các

phương pháp nghiên cứu như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê... trong đó,
với từng nội dung, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng như sau:

4- Phương pháp phân tích, so sánh, binh luận, tổng hợp nhằm luận giải các
vấn đề lý luận được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề lý luận về án lệ và việc

áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Chương 1 của Luận vãn.
4- Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, thống kê, đối chiếu, đánh

giá, so sánh, phản biện để làm rõ và đánh giá các quy định của pháp luật và thực
tiễn áp dụng án lệ trong giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án tại Chương 2.

4- Phương pháp so sánh giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngồi
về lĩnh vực này, để tìm ra những mặt tích cực, thực tiễn tốt, kinh nghiệm cho
Việt Nam cũng như đánh giá hạn chế của quy định pháp luật Việt Nam.

4- Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh, suy luận logic để đưa ra các
giải pháp, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng án

lệ trong giải quyết tranh chấp đất đại ở Việt Nam tại Chương 3.


5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về án lệ và áp dụng án lệ

trong giải quyết TCĐĐ tại Toà án, bao gồm: Các quy định pháp luật về án lệ,
xây dựng và ban hành án lệ, áp dụng án lệ trong việc xét xử TCĐĐ tại Việt Nam;
Ưu điếm, nhược điểm và tính mới của việc sử dụng án lệ để giải quyết TCĐĐ tại
rp >
Tòa án
r

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét và nghiên cứu thực tiễn áp dụng

án lệ trong việc xét xử TCĐĐ của Toà án Nhân dân Tối cao Việt Nam trong thời
gian 03 năm gần đây. Nghiên cứu việc xây dựng và phát triển án lệ để giải quyết

TCĐĐ tại Tịa án Việt Nam

6. Tính mói và những đóng góp của đề tài
Trong thời gian qua ở Việt Nam, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về án

lệ, về giải quyết TCĐĐ tại Tòa án. Tuy nhiên, hầu hết đều là những cơng trình

5


nghiên cứu mang tính khái quát chung về án lệ cho mọi ngành luật.
Vì vậy, đối với luận văn này tác giả tập trung sâu hơn vào việc nghiên cứu
và đánh giá thực tiễn vấn đề áp dụng án lệ vào giải quyết TCĐĐ, cụ thể là thực

tiễn tại TANDTC Việt Nam để từ đó đưa ra được phương hướng phát triển và

triển khai sử dụng án lệ trong xét xử tranh chấp đất đai tại Toà án Việt Nam.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp, cơ
quan hành pháp và cơ quan xét xử trong việc xây dựng và áp dụng án lệ để giải

quyết TCĐĐ. Ngồi ra, luận văn cịn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt

động giảng dạy, nghiên cứu ở các cơ sở đào tạo tại Việt Nam.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận

văn có kết cấu 03 chương, gồm:

Chương ỉ: Những vấn đề lý luận về án lệ và việc áp dụng án lệ trong giải
quyết tranh chấp đất đai.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về áp dụng án lệ và thực tiễn giải quyết
tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam.

Chương 3: Một số giải pháp, đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai thông qua án lệ.

6


CHƯƠNG I. NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ ÁN LỆ VÀ




VIỆC ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI


1.1. Những vấn đề lý luận về án lệ và áp dụng án lệ

1.1.1. Khái niệm án lệ
Án lệ là một khái niệm cơ bản trong khoa học pháp lý ở Việt Nam cũng

như nhiều nước trên thế giới. Có thể đối với nhiều người dân “án lệ” là một thuật
ngữ pháp lý còn khá xa lạ, do việc áp dụng án lệ vào trong thực tiễn xét xử
không nhiều. Nhưng hiện nay án lệ là một trong những nguồn thuộc hệ thống
pháp luật Việt Nam.
Theo từ điển Black’s Law thỉ án lệ được hiểu như sau: “1. Án lệ là việc

làm luật của tịa án khi cơng nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trinh xét
xử; 2. Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở đề đưa ra phán quyết cho những

trường họp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này”.
Từ điển Luật học của Anh đưa ra một định nghĩa về án lệ, đó là “bản án
hoặc quyết định được nêu ra để chứng minh cho một quyết định trong một vụ

việc gần tương tự sau đó”.
Tại Mỹ, án lệ cũng được định nghĩa gần giống như với định nghĩa về án lệ

trong Từ điển Luật học của Anh, theo đó, án lệ là: “một quyết định xét xử mà ở
đó tạo ra một quy tắc với vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ án

sau này có cùng tình tiết hoặc vấn đề pháp lý” .
Bên cạnh khái niệm trên, một số từ điển của Việt Nam cũng đã đưa ra các

định nghĩa về án lệ. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì án lệ được hiểu là:


“Quyết định hoặc bản án của tòa cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tịa cấp dưới;

tịa phá án cũng phải tơn trọng quyết định trước đó của bản thân mình”; cịn Từ
điển Luật học lại định nghĩa: “Bản án đã tuyên hoặc một sự giải thích, áp dụng pháp

luật được coi như một tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó cỏ thể áp dụng

trong các trường hợp tương tự”.

7


Tại Việt Nam, trước khi Quyêt định 74/QĐ-TANDTC được ban hành, có

nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về án lệ. Theo PGS.TS Nguyễn

Thị Hồi, khái niệm án lệ được xây dựng từ định nghĩa của từ “precedent” theo
như truyền thống Thông luật. Từ điển Black’s Law còn lý giải cụ thể hơn nữa về
khái niệm “precedent” như sau: “Trong pháp luật, án lệ là một vụ việc đã được

xét xử hoặc quyết định của Tòa án được xem như sự cung cấp quy định hoặc
quyền lực cho quyết định của một vụ việc giống hoặc tương tự xảy ra về sau,

hoặc cho một vấn đề tương tự của pháp luật, hoặc khi nếu các sự kiện là khác

nhau thì nguyên tắc chi phối vụ việc đầu tiên có thể áp dụng được cho các sự
kiện khác nhau chút ít.

Một án lệ là một quyết định của Tịa án chứa đựng trong nó một ngun


tắc. Ngun lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của nó thường

được gọi là ngun tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường họp cụ thể.
Một quyết định cụ thế là bắt buộc đối với các bên, nhưng nó là bản tóm tắt của

nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường họp cụ thể mà chỉ có
nó có hiệu lực pháp luật”.
Tiếp đến, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP về áp dụng án lệ đã chính thức

ghi nhận: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có

hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán

TANDTC lựa chọn và được Chánh án TANDTC cơng bố là án lệ để các Tịa án
nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.
Như vậy, xét một cách khái quát, án lệ thực chất là những bản án, quyết

định của Tịa án, trong đó có chứa những lập luận, nhận định mang tính điền

hình, khn mẫu đế giải quyết một việc khách quan, công bằng. Chúng được các
cơ quan có thẩm quyền thừa nhận, phát triển thành khn mẫu chung để giải

quyết các vụ việc có tính chất tương tự.

1.1.2. Đặc điểm của án lệ
Hiện nay, hầu hết các nước có nền luật pháp tiên tiến đều có sự vận dụng
án lệ trong xét xử ở hệ thống Tòa án, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xét xử, với

8



ngun tăc Tịa án khơng được qun từ chơi thụ lý bât cứ yêu câu khởi kiện nào
của công dân và đồng thời cũng có nguyên nhân sâu xa từ sự hội nhập sâu rộng

vào nền kinh tế thế giới của các nước.
Án lệ tạo lập quy tắc pháp lý tin cậy cho việc quyết định các vụ việc
tương tự có thể xảy ra trong tương lai. Án lệ sẽ giải quyết những tình tiết thực

tế giống nhau, hoặc sự kiện khác nhau thì các nguyên tắc, các quy định khái

quát cùa pháp luật được áp dụng trong vụ án trở thành án lệ sẽ là vụ án đầu
tiên có thể được Tòa án trực tiếp giải quyết vụ án áp dụng cho nhiều sự kiện

khác nhau hoặc tương tự nhau.

Với những nước theo hệ thống pháp luật Civil Law, tiêu biểu một số nước
như Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản... Án lệ được xem như một cách giải thích pháp luật.
Nhũng bản án này không được xem là luật, không mang tính ràng buộc pháp lý

những tịa cấp dưới phải tham khảo, nếu khơng nguy cơ bị tịa cấp trên sửa án rất

cao.
Cơ sở hình thành án lệ chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp

luật, khi có những khiếm khuyết cùa hệ thống pháp luật, tòa án sẽ viện dẫn
những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột

phá và bản án này sẽ được tòa án tối cao công bố là án lệ để áp dụng chung cho
các trường hợp tương tụ’ do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy


phạm rõ ràng. Ở nước ngồi, khái niệm án lệ (Case Law) là một trong những

nguồn luật chính thức và quan trọng trong hệ thống pháp luật của quốc gia và
được áp dụng rộng rãi. Theo đó, những bản án, quyết định giải quyết vụ việc

trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa ra phán
quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó. [18]
Ớ nhiều nước trên thế giới, việc cơng bố bản án được thực hiện thường

xuyên, liên tục, rộng rãi bàng nhiều phương tiện thông tin đại chúng, kề cả trên hệ
thống Internet. [19] Đối với các nước theo hệ thống Common Law, những bàn án
mẫu được tuyển chọn, đăng tải trong các báo cáo tổng họp án lệ (Law Report) và

9


trở thành án lệ (Case Law) là nguôn của pháp luật. Riêng ở Mỹ, khi xét xử các hành

vi vi phạm pháp luật và các tranh chấp nảy sinh, các tòa án cần phải diễn giài luật
bằng các bản án trước đó của Tịa án cùng cấp hoặc Tịa án cấp cao hon. Đây được
gọi là nguyên tắc theo quyết định trước hay đơn giản gọi là án lệ. Nếu phải đối mặt

với các án lệ bất lợi, bị đơn sẽ tìm cách phân biệt sự khác nhau giữa vụ việc của
mình với những vụ việc trước đó. Sau đó Tịa án cấp cao hơn sẽ tìm cách giải quyết

mâu thuẫn này để bổ sung cho án lệ ngày một hoàn chỉnh hơn. Ở Pháp, trong

trường họp nếu pháp luật quy định không rõ ràng, không đầy đủ, thẩm phán vẫn
phải tuyến án nếu khơng muốn bị kiện vì hành vi phủ nhận cơng lý. Do vậy, chỉ có


cách ổn thỏa nhất, Thẩm phán sẽ dựa vào án lệ đã được thừa nhận để đưa ra phán
quyết. [201
Mặt khác, ở Cộng hòa Liên bang Đức, phương pháp xây dựng án lệ đã tạo
điều kiện cho Tòa án nước này thể hiện vai trị sáng tạo, nhất là khi giải thích

luật, Tòa án được căn cứ vào câu chữ, ngữ cảnh và mục đích của quy phạm, kể
cả căn cứ vào q trình soạn thảo quy phạm đó. Đặc biệt, Tịa án cịn có quyền
lựa chọn cách giải thích phù hợp nhất với Hiến pháp, án lệ được hỉnh thành từ

việc giải thích một quy phạm pháp luật cũng có giá trị, hiệu lực gần như một quy

phạm pháp luật. Rõ ràng án lệ có giá trị khơng những về thực tiền, mà cịn có giá
trị khơng thua gì một quy phạm pháp luật. Ớ Tây Ban Nha, chịu ảnh hưởng của

Luật La Mã, coi án lệ như một nguồn luật, có giá trị bổ sung trật tự pháp lý

thơng qua luận thuyết được TATC áp dụng trong quá trình giải thích và áp dụng
luật, tập quán, kể cả các nguyên tắc chung của luật pháp. [21]
Ở Anh Quốc, vai trò sáng tạo của án lệ rất quan trọng, được thể hiện theo

quy tắc của tiền lệ pháp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ XIX được hiểu như một
quy tắc đã được lập ra trong một phán quyết ban hành từ trước đó chỉ có hiệu lực

ràng buộc đối với các thẩm phán khi xét xử các vụ kiện tương tự. Việc xây dụng

án lệ theo quan điểm xét xử của các tịa án có thẩm quyền xem xét bản án cùa

tịa cấp dưới đã góp phần bổ sung cho sự thiếu sót của các quy định pháp luật

10



trong thực tiễn, nên việc vận dụng án lệ được thực hiện khá phố biến. Chính vì
vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng hệ thống luật pháp ở Anh là theo luật mềm,
không cứng nhắc dựa vào các văn bản pháp luật do Quốc hội (Nghị viện) ban

hành, mà có sự vận dụng linh hoạt đủng luật vừa phù họp với thực tiễn, phù họp
lẽ phải và công bằng xã hội. [21]

Từ thực tiễn án lệ của hệ thống pháp luật các nước trên thế giới nêu trên,
tác giả đưa ra một số đặc điểm cơ bản của án lệ như sau:
Thứ nhất. án lệ do Tòa án tạo ra trong qua trình xét xử nên nguồn luật án
lệ cịn được gọi là luật được hình thành từ vụ việc (case law) hay luật do thẩm

phán ban hành (judge make law)
77ní’ hai. án lệ được hình thành phải mang tính mới. Nghĩa là, đây phải là
các quy tắc chưa có trước đó. Một số người nghĩ rằng, vì án lệ được tạo ra bằng

con đường Tịa án thơng qua các vụ việc nên sẽ rất nhiều và mang tính hỗn độn.
Thật ra, khơng phải khi Tịa án xét xừ bất kỳ vụ việc nào cũng đều tạo ra án lệ.
Thông thường, khi có một việc tranh chấp tại Tịa thi các Thấm phán cũng như
các Luật sư sẽ quan tâm đến hai vấn đề: vấn đề sự kiện (question of fact) và vấn

đề pháp lý (question of law). Đối với các vụ việc đơn thuần chỉ liên quan đến
việc xác định tính chất pháp lý của sự kiện (question of fact) và đã có quy định

trong văn bản pháp luật hay tiền lệ trước đó để áp dụng, Tịa án sẽ không tạo ra
án lệ khi giải quyết các vụ việc này. Trong khi đó, cỏ rất ít các vụ việc liên quan

đến vấn đề pháp lý (question of law) cần giải quyết bằng pháp luật mà chưa có

quy tắc tiền lệ trong thực tế. Khi gặp trường họp này, Tòa án mới tạo ra án lệ để

giải quyết và áp dụng cho các vụ việc tương tự sau đó.

Thứ ha. kỹ thuật xây dựng và vận hành là dựa vào yếu tố tương tự. Xuất
phát từ tư tưởng công bằng của nhà triết học Aristote là “Các trường họp giống

nhau phải được xử lý như nhau” (Like cases must be decided alike), các luật gia
thông luật sử dụng triệt để cách thức này đế xây dựng và áp dụng án lệ. Khi tòa

án giải quyết vụ việc đàu tiên chỉ tạo ra hình mẫu hay phác thảo nên một quy tắc

11


chứ chưa phải là một quy tăc hoàn hảo. Một quy tăc hay nguyên tăc án lệ được
hình thành phải trải qua hàng loạt các vụ việc tương tự về sau. Các thẩm phán

sau này khi giải quyết một vụ việc cần phải xác định và đánh giá lý lẽ tương tự,
nếu vụ việc này tương tự thì sẽ áp dụng lý lẽ trong bản án trước để giải quyết vụ

việc hiện tại, nếu khơng tương tự thì khơng áp dụng.

1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của án lệ ở Việt Nam
Án lệ và học thuyết về án lệ đã xuất hiện trong văn hóa pháp lý của loài
người từ rất lâu. Khởi nguồn tù’ thời kỳ Luật La Mã, về sau án lệ và các học
thuyết của nó đã nhân rộng ở khắp các hệ thống luật và các quốc gia trên thế giới
từ những thế kỷ trước. Tuy nhiên ở Việt Nam, sự du nhập án lệ vào hệ thống

pháp luật quốc gia diễn ra muộn hơn rất nhiều so với thế giới.

Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, có thể coi án lệ đã xuất hiện và tồn

tại dưới dạng các phán quyết, chiếu, sắc dụ, lệnh của nhà vua, án lệ bắt nguồn từ
những bản án đã được phân xử và tâu lên vua, tuy nhiên vào thời điểm đó khơng
gọi bằng thuật ngữ “án lệ”. Án lệ chính thức được coi là nguồn luật của Việt
Nam vào thời kì Pháp thuộc (1858 - 1945). Vào giai đoạn này, án lệ đã được sưu

tập và cơng bố, điển hình là Tập án lệ Bắc kỳ (năm 1937) và Trung kì (năm
1941). Đến khi nhà nước phong kiến nừa thuộc địa ở Việt Nam sụp đổ, các tập
án lệ cũng mất giá trị pháp lý. Sự xuất hiện của án lệ trong hệ thống pháp luật

Việt Nam gắn liền với từng thời kỳ lịch sử và các sự kiện chính trị của dân tộc.
Năm 1858 là năm đánh dấu sự kiện thực dân Pháp bắt đầu đô hộ Việt
Nam, cho đến năm 1975 - năm hồn tồn giải phóng khỏi ách thống trị của
những nước xâm lược, đây là khoảng thời gian mà khoa học pháp lý Việt
Nam ghi nhận sự tồn tại và áp dụng của án lệ. Khái niệm “án lệ” đã được sử
dụng nhiều trong các văn bản pháp luật và trên các tập san Luật học lúc bấy

giờ, ví dụ như:
- Thông tư số 19-VHH ngày 30/6/1955 của Bộ Tư pháp về việc áp dụng
luật lệ, có nếu: “Nếu chỉ có luật hình sự cũ, chưa có sắc lệnh mới, mà xét thấy

12


cần trừng phạt, thì cũng khơng viện dẫn luật hình sự cũ, Tòa án sẽ căn cứ vào

đường lối truy tố xét xử, vào các yêu cầu chung và cụ thể đối với từng sự việc,
> _


<__ 1 0^5

vào án lệ .

- Tập san Luật học số 5 năm 1958 ra ngày 15/01/1958 tại mục Bình luận

án lệ đã có bài: “Hứa mua, hứa bán nhà đất ở Thành phố”. Trong mục này, tác

giả Nguyễn Xuân Dương đã nêu tình hình các vụ kiện, đưa ra hai vụ kiện tác giả

cho là điền hình về vấn đề này và chỉ ra đường lối xét xử của Tòa án nhân sơ

thẩm Hà Nội và Tòa án phúc thẩm Hà Nội về vụ ơng Hồng Văn Khắc hứa bán
cho ơng Nguyễn Đình Nhất nhà số 28 phố Triệu Việt Vương năm 1956. Sau đó
tác giả nhận xét rằng Tịa án nhân dân sơ thấm Hà Nội đã chiếu sắc lệnh ngày

10-10-1954 áp dụng Điều 882 Luật hộ Bắc kỳ cũ xử vụ kiện này là khơng đúng.
Tịa án nhân dân phúc thẩm Hà Nội đã bác bỏ quyết định của Tòa án nhân dân sơ

thẩm, xử bắt ông Khắc phải bán nhà cho ông Nhất là đúng lẽ nhưng đã xử bắt

bán với giá đã hứa trước, mặc dù giá nhà trong thành phố đã vọt lên cao và nhận
xét: “Theo ý kiến riêng của chúng tôi sau khi nghiên cứu để rút kinh nghiệm về

một số vụ án về việc hứa mua hứa bán, chúng tôi thấy rằng gặp những vụ tương
tự như vụ ơng Nhất kiện ơng Khắc, nên hịa giải để hai bên có sự tương nhượng

nhau, nếu hịa giải không thành mà bắt xử người hứa bán như đã hứa thì nên

đồng thời điều chỉnh lại giá cả”.

- Tại Chỉ thị số 772-TATC, ngày 10/7/1959 của TANDTC về vấn đề đình

chỉ áp dụng luật pháp cũ của đế quốc phong kiến đã nêu: “Để xét xử các vụ án
hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa
đã ban hành từ trước đến giờ, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, án
lệ của các Tịa án, của Tịa án tối cao”.

- Tập san Tư pháp số 3 năm 1964, trong mục “Thuật ngữ luật học” có giải

thích: “Án lệ là một danh từ cũ đã được dùng từ thời Pháp thuộc. Án lệ là nhừng
qui tắc do các Tòa án trong khi vận dụng pháp luật để xét xử các vụ án cụ thể, đã
hình thành dần dần bằng cách hiểu và có thái độ giải quyết giống nhau một số

điểm pháp lý, áp dụng luật một cách giống nhau trong nhiều vụ án”.

13


Từ việc sừ dụng khái niệm “án lệ” như đã nêu trên, có thê thây răng thời

kỳ này, án lệ đã tồn tại và được sử dụng trong các văn bản pháp lý chính thức,
cơng khai trên các tạp chí chun ngành. Án lệ thậm chí cịn được coi là một loại

nguồn luật để Tòa án lấy làm cơ sở cho hoạt động xét xử của minh.
Trong giai đoạn từ sau năm 1975 đến trước năm 2006, khái niệm án lệ

hầu như khơng được sử dụng chính thức trong các VBQPPL, sách, báo, pháp lý

mà chỉ được bàn luận mang tính chất nghiên cứu học thuật, vì lúc này khẳng
định, chỉ có lập pháp mới làm luật và VBQPPL được thừa nhận là nguồn chính


thức của pháp luật Việt Nam. Đây là một giai đoạn mà trong các VBQPPL, án lệ
khơng hề được nhắc đến, nỏ khơng cịn được thừa nhận là một loại nguồn luật
như thời kỳ trước nữa. Như vậy, trong thời kỳ này, án lệ dù không được chính

thức thừa nhận trong hệ thống pháp luật, nhung nó vẫn cịn tồn tại ở Việt Nam

với tư cách là những quan điểm, học thuyết về một loại nguồn của pháp luật trên
thế giới. Việc nghiên cứu về án lệ giai đoạn này chỉ mang tính chất nghiên cứu
học thuật, nghiên cúu chuyên sâu về hệ thống pháp luật của các quốc gia khác.
Chỉ đến năm 2000, TANDTC bắt đầu nghiên cún về án lệ và những khả năng áp

dụng của nó trên thực tiễn.
Năm 2005 là năm cột mốc đánh dấu bước ngoặt trong sự phát triển của án lệ

tại Việt Nam trong thời kỳ mới với Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, đã
định hướng các nhiệm vụ trọng tâm của TANDTC, trong đó có việc phát triền án lệ.

Như vậy, ở thời kỳ này, các nhà làm luật ở Việt Nam đã có cái nhìn khác về vai trò

và giá trị của án lệ đối với hệ thống pháp luật nói chung và đối với thực tiễn xét xử
ở Việt Nam nói riêng. Có thể nói rằng, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã tạo cơ sở pháp
lý cho việc xây dựng án lệ từng bước trở thành một loại nguồn được ghi nhận ở

Việt Nam.
Cùng với Nghị quyết số 49-NQ/TW, công tác phát triển án lệ cũng đã

được triển khai và được giao cho TANDTC thực hiện. Tiếp theo đỏ, Quyết định
số 74/QĐ-TANDTC về việc phê duyệt đề án phát triển án lệ đã hoạch định lộ


14


trình phát triên án lệ trong hệ thơng pháp luật Việt Nam. Luật tô chức TAND tôi

cao năm 2014, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 đã có những điều luật cụ thể
quy định nhiệm vụ, chức năng và thẩm quyền xây dựng án lệ cho Thẩm phán

TANDTC. Gần đây nhất, những quy định về án lệ tại Nghị quyết 03/2015/NQHĐTP về quy trình lựa chọn, cơng bố và áp dụng án lệ thỉ án lệ mới thực sự

được thay một lớp áo mới, quan trọng hơn và có tính áp dụng cao hơn. Nghị

quyết này đã đề ra lộ trình khá cụ thể cho hoạt động xây dựng án lệ, theo đó án
lệ khơng cịn được đề cập đến với nhũng quy định chung chung nữa mà đà cụ thể
hóa từng hoạt động xây dựng và áp dụng trong thực tiễn.

Như vậy, kể từ năm 2005 đến nay, án lệ đã từng bước được ghi nhận trong
hệ thống pháp luật Việt Nam. Từ chồ là một loại nguồn luật tham khảo chỉ được
luận bàn trong các nghiên cứu khoa học, án lệ đã được xác lập hiệu lực pháp lý,
được chú trọng xây dựng để trở thành một loại nguồn phục vụ công tác xét xừ.

1.1.4. Khái quát về áp dụng án lệ
Từ định nghĩa về án lệ đã phân tích, có thể nhận định rằng án lệ là cơ sở
pháp lý, nguồn luật hay bộ phận cấu thành pháp luật. Như vậy, có thể đưa ra

định nghĩa khái quát về “áp dụng án lệ” như sau: “Áp dụng án lệ là việc Tòa án
áp dụng những quy tắc pháp lý mới được chứa đụng trong các quyết định giải
quyết vụ án đã có hiệu lực, được TANDTC cơng nhận là án lệ để xét xử các vụ
án có tình huống pháp lý tương tự”.


Khi nghiên cứu về “áp dụng án lệ” dưới góc độ cụ thể, các học giả trên thế
giới đã có những nhận định, phân tích theo các phương diện khác nhau về bản

chất của khái niệm này.

- Các học giả từ Vương quốc Anh cho rằng trên cơ sở nguyên tắc “stare

decisis”, mặc dù nguyên lý của việc áp dụng án lệ là các tòa cấp dưới phải áp

dụng quy tắc pháp lý trong quyết định của Tòa án cấp trên và các Tòa cùng cấp,
trong phạm vi nhất định, phải áp dụng quy tắc pháp lý trong quyết định của Tòa
cùng cấp. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng mọi nội dung trong quyết định

15


đều trở thành cơ sở để áp dụng án lệ. Quan điểm truyền thống từ Anh phân biệt

rõ hai thuật ngữ “ratio decidendi” trong quyết định (phần phát sinh hiệu lực áp

dụng) và “obiter dicta” (phần không phát sinh hiệu lực áp dụng) và căn cứ vào

sự khác biệt này để áp dụng án lệ. Thuật ngữ ratio decidendi có thể được dịch là
cơ sở của quyết định hoặc quy tắc pháp lý đưa ra quyết định, đây cũng chính là
cơ sở để áp dụng án lệ. về cách thức xác định ratio decidendi, học giả Goodhart,

trong tác phẩm The Ratio Decidendi of a Case (1930) 40 Yale LJ 161, đưa ra
bình luận rằng: “ratio decidendi có thể được tìm thấy tù’ việc đánh giá các tình
tiết sự kiện đó”, về thuật ngừ Obiter dicta, thuật ngữ này bao gồm các phần cúa


quyết định không được coi là ratio decidendi, hay nói cách khác, là nhừng phần
khơng buộc phải được áp dụng trong việc áp dụng án lệ. Mặc dù vậy, obiter dicta

không hẳn là vô giá trị. Thực tế, obiter dicta có thể giúp làm rõ thêm nội dung
của ratio decidendi hoặc trở thành ratio decidendi trong một ngữ cảnh khác.

- Theo các học giả Hoa Kỳ, khi một quyết định đã được ban hành trong

một vụ án, các Thẩm phán sau này giải quyết vụ án có tình tiết hoàn toàn tương

đồng hoặc tương tự với vụ án trước đây phải áp dụng nguyên tắc res judicata đề
bảo vệ hiệu lực của quyết định ban đầu. Res judicata được hiểu là một nguyên

tắc pháp luật theo đó một quyết định được ban hành bởi Tịa án có thẩm quyền
một cách trọn vẹn và cơng bàng sẽ mang tính chung thẩm và ràng buộc các bên

trong tranh chấp, việc các bên khởi xướng vụ án này một lần nữa sẽ không làm
thay đổi kết quả giải quyết của vụ án ban đầu.
- Tại các quốc gia khác thuộc hệ thống Civil Law, Tòa án sẽ chỉ xem xét

áp dụng án lệ nếu như nhận thấy có sự thống nhất hoặc tương đồng trong kết quả
giải quyết cũng như nội dung của một chuỗi các vụ án có tính chất tương tự.
Trong phạm vi ngun tắc, khơng có trường hợp nào mà một quyết định đơn lẻ
giải quyết một vụ án trước đó có thể ràng buộc Tịa án giải quyết một vụ án

tương tự sau này. Chỉ khi tính tương đồng trong quyết định của một chuỗi các vụ
án được hình thành, Tịa án sẽ coi quy tắc pháp lý được đúc kết từ các quyết định

16



này trở thành một nguôn luật vững chăc và ôn định, đông thời xem xét đê áp
dụng án lệ trong giải quyết vụ án. Tính tương đồng càng cao, tính vững chắc và

ổn định của quy tắc pháp lý càng được củng cố[ 1 ]. Tại Pháp, các quy tắc pháp lý
đúc kết từ một chuỗi các quyết định giải quyết vụ án sẽ trở thành một phương
hướng giải quyết hoặc “quan điểm pháp lý tiếp diễn” và từ đó trở thành nguồn

luật. Trong thực tiễn giải quyết vụ án, khơng tồn tại việc trích dẫn hoặc đề cập

tới một án lệ riêng lẻ cụ thể, nhưng luôn tồn tại việc vận dụng một chuỗi các
quyết định để làm cơ sở vững chắc cho việc đưa ra quyết định giải quyết vụ

án cũng như rút ra quy tắc pháp lý. Tại Đức, pháp luật xây dựng nên một

chuẩn mực rằng một tập hợp các quyết định về một vấn đề nhất định sẽ tạo ra
một dạng quy phạm pháp luật. Một tập hợp các án lệ chiếm ưu thế tồn tại

trong một thời gian nhất định được coi là “phán quyết trường tồn”.
- Tại Việt Nam, dưới góc độ lý luận, cơ sở hình thành và áp dụng án lệ

chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật. Khi có những khiếm

khuyết của hệ thống pháp luật, Tịa án cần viện dẫn nhũng căn cứ, chuẩn mực
được thể hiện trong các bản án, quyết định đã tồn tại để làm cơ sở giải quyết vụ
án Tòa đang thụ lý. Thông thường việc áp dụng án lệ chỉ xuất hiện khi có một sự
kiện pháp lý mới nảy sinh mà chưa có những quy phạm pháp luật thực định điều

chỉnh cụ thể hoặc do xung đột pháp luật mà chưa có các dẫn chiếu pháp luật rõ
ràng. Bên cạnh đó, để làm rõ khái niệm án lệ, cần căn cứ theo các quy trình xây


dựng án lệ nhằm xác định các tiêu chí cụ thể của án lệ.

1.2. Một số vấn đề lý luận CO’ bản về giải quyết tranh chấp đất đai.

1.2.1. Khái quát về giải quyết tranh chấp đất đai
Trong bất kỳ xã hội nào, đất đai luôn có vai trị và vị trí quan trọng đối với

con người, góp phần quyết định sự phát triển phồn vinh của mỗi quốc gia. Cùng
với sự phát triển của sản xuất và đời sống, nhu cầu sừ dụng đất của con người

ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Xuất phát từ lợi ích của các giai tầng trong
xã hội và dựa trên địi hỏi của cơng cuộc xây dựng và phát triển đất nước, Nhà

17


nước sử dụng pháp luật đê điêu chỉnh các quan hệ đât đai nhăm tạo lập một môi

trường pháp lý lành mạnh cho hoạt động khai thác và sử dụng đất hợp lý và có
hiệu quả. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết dứt điềm và có
hiệu quả những TCĐĐ nảy sinh.
Theo giải thích của Từ điển Tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được hiểu

là việc “Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào” .
Theo từ điển giải thích từ ngữ luật học, khái niệm tranh chấp trong các

lĩnh vực dân sự, kinh doanh, họp đồng được khái quát với các nội dung sau:

Tranh chấp dân sự có thể hiểu là những mâu thuẫn, bất hòa về quyền và nghĩa vụ

hợp pháp giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Tranh chấp
kinh doanh là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột giữa những chủ thể kinh
doanh với nhau trong các hoạt động kinh doanh. Trong lĩnh vực đất đai, khi các

chủ thề tham gia các quan hệ pháp luật đất đai, không phải lúc nào cũng nhất trí
với nhau về tất cả các vấn đề trong quan hệ pháp luật, vì thế sẽ xuất hiện nhừng

ý kiến khác nhau, những mâu thuẫn, những bất đồng. Theo đó, hiện tượng này
phát sinh manh nha từ những bất đồng, mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất
với nhau hoặc giữa họ với tổ chức, cá nhân khác về quyền và nghĩa vụ hay lợi

ích trong quá trình quản lý, sử dụng đất.

Là một dạng đặc biệt và phổ biến của tranh chấp dân sự, TCĐĐ vừa chứa
đựng những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, đồng thời lại vừa có
những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao

động, tranh chấp kinh doanh, thương mại khác... mà những đặc điểm này sẽ

giúp các nhà làm luật, nhà nghiên cứu và những người quan tâm có thể dễ dàng
hơn trong tiếp cận và tìm hiểu về TCĐĐ có thể chỉ ra những điểm khác biệt chủ

yếu sau đây:
Một là, về chủ thể của TCĐĐ. Do tính đặc thù của chế độ sở hũư đất đai ở

nước ta: Đất đai thuộc sở hữu toán dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, Nhà







X

nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức họ gia đình, cá nhân ( gọi chung là người

18


sử dụng đât) sử dụng ôn định, lâu dài hoặc công nhận quyên sử dụng đât ôn định,
lâu dài của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất. Như vậy, TCĐĐ chỉ
xuất hiện giữa các chủ thể có quyền quản lý và quyền sừ dụng đất chứ không
phải là các chủ thể của của quyền sở hữu đất đai. chủ thể của TCĐĐ là người sử

dụng đất (các tố chức, hộ gia đình, cá nhân) tham gia vào tranh chấp đó với tư
cách là những người được trao quyền quản lý hoặc trao quyền sử dụng đất.
Hai là, nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp. Hoạt động

quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong

phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu
sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất
không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất. Đất đai đã

trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động
theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng nó khơng
đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời

của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sừ dụng đất). Tất nhiên, khi nội
dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn,


bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và
trầm trọng hơn.
Ba là, tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có

thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết
trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh

hưởng trực tiếp đến lợi ích khơng những của bản thân các bên tranh chấp mà cịn
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội.
Bốn là, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử

dụng đất. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên
tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: "Giải quyết tranh chấp đất đai

là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó

19


×