Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

Ly hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh đắk lắk (luận văn thạc sỹ luật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (23.75 MB, 94 trang )

ĐẠI HỌC QUÕC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT
_ ❖❖❖__

LẠI THỊ MINH HIỀN

LY HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI
VÀ THỤC TIÊN XÉT xử

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành:

Luật Dân sự và Tô tụng Dân sự

Mã Số:

838 0101.04

LUAN VAN THAC SI LUAT HOC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Tiến Vinh

HÀ NỘI - 2022


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi.

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong bất kỳ cơng


trình nào khác. Các sổ liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo

tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn học
và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa

Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đê tơi có
thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lại Thị Minh Hiên

1


DANH MỤC CÁC TÙ VIÉT TẤT

Tù’ viết tắt

Diên giải

BLDS

Bơ• lt
• Dân sư•

BLTTDS


Bộ luật Tố tụng Dân sự

HĐTTTP

Hiệp định tương trợ tư pháp

HN&GĐ

Hơn nhân và gia đình

LHYTNN

Ly hơn có yếu tố nước ngồi

TAND

Tịa án nhân dân

TANDTC

Tịa án nhân dân tối cao

TTTP

Tương trợ tư pháp

UTTP

ủy thác tư pháp


VKSNDTC

Viên
• kiểm sát nhân dân tối cao

2


MỤC LỤC
MỞ ĐÀU.............................................................................................................................................................. 4
CHƯƠNG 1. CO SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VÈ LY HƠN CĨ U TĨ NƯỚC NGỒI.......... 10

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIÊM CỦA LY HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI.............................................. 10
1.2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC Đ1ÉM VỀ LY HƠN................................................................................................ 10

1.2.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIÉM VÈ LY HƠN CĨ Ư TĨ NƯỚC NGỒI.............................................. 12
/N

___

A

_

Z

Ạ ____

X


~

-

— ___ ______________________ z

X

____

X

jr

V

1.2. NỌ1 DUNG CUA PHÁP LUẠT ĐIÊU CHINH QUAN HỆ LY HỒN cơ YẼU Tơ NUOC NGOẢI.... 16
1.2.1. NGUỒN LUẬT ĐIỀU CHÍNH................................................................................................................ 16
1.2.2. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHÍNH.................................................................................................................... 18
1.2.3. NGUYÊN TẨC ĐIÊU CHINH................................................................................................................ 26

1.2.4. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH............................................................................................................. 27
1.3. NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ LY HƠN

CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI.............................................................................................................................30
CHƯƠNG 2: THựC
TRẠNG
PHÁP LUẬT



• VỀ LY HƠN CĨ U TĨ NƯỎC NGỒI VÀ THỤC


TIẺN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẲK LẤK................................................................... 33

2.1. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LY HƠN CĨ U TĨ NƯỚC NGOÀI................................................... 33

2.2.1. Sự PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT ĐIÊU CHÌNH QUAN HỆ LY HƠN CĨ YẾU TỊ NƯỚC
NGỒI QUA CÁC GIAI ĐOẠN Ở VIỆT NAM.............................................................................................. 33

2.2.2. PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÈ LY HƠN CĨ YẾU TỐ NƯỚC NGỒI........................ 43
2.2. THỰC TIẺN XÉT xử TẠI TỊA ÁN NHÂN DÂN TÌNH ĐẤK LẨK VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC,

BẤT CẬP KHI XÉT XỬ vụ ÁN LY HƠN CĨ YẾU TƠ NƯỚC NGOÀI.................................................... 65
2.2.1. MỘT SỒ MỘT SỒ vụ ÁN cụ THẾ.......................................................................................................65
2.2.2. NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẮT CẬP KHI XÉT XỬ vụ ÁN LY HƠN CĨ U TỐ NƯỚC NGỒI 68
CHƯƠNG 3: HỒN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LY HƠN CĨ U TĨ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT

NAM................................................................................................................................................................... 79

3.1. NHỮNG YÊU CÀU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LY HƠN CĨ YẾU TĨ NƯỚC NGỒI.......... 79
3.2. NHŨNG Kết

quả đạt được và

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÊ LY HƠN CĨ

YẾU TỊ NƯỚC NGỒI................................................................................................................................... 82


3.2.1. NHỮNG KÊT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH ĐỐI VỚI VỤ ÁN LY HƠN CĨ YẾU TĨ NƯỚC NGỒI................................................................ 82

3.2.2. GIẢI PHÁP HỒN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LY HƠN CĨ YẾU TĨ Nước NGỒI.................... 85
KÉT LUẬN....................................................................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................... 90

3


MỞ ĐẰU

1. Lý do lựa chọn đê tài

Mục đích của việc kết hơn là để xây dựng gia đình trên cơ sở sự tự
nguyện của vợ chồng nhằm mưu cầu hạnh phúc. Khi cuộc sống hôn nhân

không thể thỏa mãn và mang lại hệ q khơng mong muốn thì vấn đề ly hôn

là điều cần thiết, giúp cho chủ thể của quan hệ hơn nhân thốt khởi sự ràng
buộc về mặt pháp lý, bởi ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trên cơ sở
pháp luật bàng bản án hoặc quyết định của Toà án.

Ớ Việt Nam trong những năm gần đây cùng với việc mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội với các
quốc gia khác trên thế giới ngày càng mở rộng, kéo theo đó là các vấn đề xã

hội phát sinh, trong đó có quan hệ hơn nhân có yếu tố nước ngồi nói chung
cũng như ly hơn có yếu tố nước ngồi nói riêng ngày một gia tâng. Nhận thức


được vai trò đặc biệt quan trọng của quan hệ hơn nhân gia đình có yếu tố
nước ngoài nên lần đầu tiên Luật HN&GĐ năm 1986 đã có những quy định
điều chỉnh quan hệ này; đây là sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật Việt Nam

trong quan hệ hơn nhân gia đình có yếu tố nước ngồi. Cùng với Luật
HN&GĐ năm 1986 thì các văn bản pháp luật tiếp theo lần lượt ra đời và điều
chỉnh quan hệ này. Đó là kết quả của q trình pháp điển hố những quy định

của pháp luật về giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi của Việt Nam. Tuy

nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, quan
hệ hợp tác giao lưu quốc tế cũng ngày một phát triển hơn, tính chất các vụ án

ly hơn có yếu tố nước ngồi ngày càng phức tạp hơn thì pháp luật điều chỉnh
các quan hệ hơn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài hiện hành vẫn chưa dự

liệu hết những trường họp, tình huống xảy ra trên thực tế. Khi áp dụng vào

thực tế cơng tác xét xử cịn nhiều quan điểm trái ngược nhau nên đã xảy ra

tình trạng không nhất quán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết.

4


Bên cạnh đó cũng có nhiêu vân đê trong quan hệ này mà pháp luật chưa

điều chỉnh kịp thời dẫn đến trong cơng tác xét xử của ngành Tịa án trong thời
gian qua cịn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Theo pháp luật Việt Nam, Toà


án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc ly hơn. Tuy nhiên, đối
với trường hợp giải quyết ly hơn có yếu tổ nước ngồi pháp luật điều chỉnh

quan hệ này khơng chỉ đơn thuần là các văn bản luật trong nước mà bên cạnh
đó nó cịn được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp quốc tế có liên quan như:

Điều ước quốc tế, trong đó đặc biệt là các Hiệp định tương trợ tư pháp.

Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn xét xử các vụ án ly hơn có yếu tố
nước ngồi tại Tịa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua cho thấy,
hàng năm Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý và giải quyết hàng trăm vụ
việc ly hơn có yếu tố nước ngồi. Nhiều vụ án phải xét xử nhiều lần mà tính
thuyết phục chưa cao, có những bản án, quyết định của Tồ án vần bị coi là

chưa “thấu tình, đạt lý”, có nhiều vụ án còn để kéo dài. Sờ dĩ còn tồn tại
những bất cập trên là do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân khách quan, có

nguyên nhân chủ quan.
Từ những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài: "Ly hơn có yếu tổ nước
ngồi và thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân tỉnh Đẳk Lẳk" để làm đề tài

luận văn thạc sĩ Luật học, nhằm góp phần phát hiện những hạn chế của pháp

luật về ly hôn có yếu tố nước ngồi ở Việt Nam, cũng như những khó khăn,

vướng mắc trong q trình thực thi ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất, kiến nghị một
số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về các vụ án có yếu tố

nước ngồi và hệ thống pháp luật dân sự nói chung, nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.


2. Tình hình nghiên cứu

Qua khảo sát những cơng trình nghiên cứu trong nước liên quan đến
vấn đề nghiên cứu, tác giã nhận thấy đây là vấn đề chưa được quan tâm nhiều

5


ở Việt Nam, đặc biệt là các nghiên cứu chuyên sâu là tương đơi hiêm. Cụ thê,

có một số cơng trình nghiên cứu sau đây:
Tác giả Nguyễn Ngọc Điện có lẽ là một trong những tác giả sớm có
nghiên cứu về vấn đề này qua ấn phẩm “Bình luận khoa học Luật hơn nhân và

gia đình Việt Nam” (2002) [16].

Gần đây, có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề ly hơn có yếu tố nước
ngồi thơng qua thực tiễn giải quyết vụ việc ly hôn tại Hà Nội, là địa phương

có quan hệ hơn nhân có yếu tố nước ngoài khá phổ biến, cụ thể như: tác giả
Đỗ Thị Vân Anh nghiên cứu về “Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngồi qua

thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội” (2014) [1] và tác giả Lê Na
“Giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi qua thực tiễn xét xử tại TAND thành

phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ luật học (2014) [20].

Một số tác giả khác có những cơng trình nghiên cứu liên quan đến
những khía cạnh chun sâu của mối quan hệ hơn nhân có yếu tố nước ngồi


như: Nguyễn Hồng Bắc và Nơng Quốc Bình nghiên cứu về “Quan hệ hơn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngồi ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

quốc tế (Sách tham khảo)” (2006) [2]; tác giả Nguyễn Thị Chi biên soạn cuốn
sách: “Bình luận Luật Hơn nhân và gia đình (Biên soạn theo các tài liệu mới
nhất)” [9], trong đó có Chương 8 về quan hệ hơn nhân và gia đình có yếu tố

nước ngồi, là một tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc, không chỉ về
mặt khoa học pháp lý mà cịn có giá trị thực tiễn; tác giả Nguyễn Thị Khánh

Ngọc nghiên cứu về “Giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ kết hơn có

yếu tổ nước ngoài tại Việt Nam” (2021) [21].
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề pháp lý về quan hệ
hơn nhân có yếu tố nước ngồi. Cạnh đó, là các vấn đề thực tiễn trong các vụ

án được giải quyết bởi tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

6


3.2. Phạm vi nghiên cứu của đê tài

Ly hơn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề rộng, do vậy trong luận văn

này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề như lý luận về giải quyết ly

hơn có yếu tố nước ngồi qua thực tiễn xét xử các vụ án ly hơn có yếu tố nước

ngồi tại Tịa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, bên cạnh đó tác giả đưa ra một số

kiến nghị về sửa đổi một số quy định của pháp luật trong giải quyết ly hơn có
yếu tố nước ngồi. Tuy nhiên, để luận văn có độ sâu, rộng cần thiết, trong một

chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập đến một số quy định trong tư pháp
quốc tế về lĩnh vực hơn nhân gia đình có yếu tố nước ngồi nói chung; các

văn bàn pháp luật liên quan để so sánh và đưa ra những kết luận, kiến nghị có

tính tham khảo nhất định.
Đối với các vấn đề khác như thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt

Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngồi, việc ly hơn có yếu tố

nước ngồi, cơng tác thi hành án dân sự đối với các bản án ly hơn có yếu tố
nước ngồi tác giả khơng đề cập nghiên cứu trong luận văn này.
4. Mục
đích và nhiệm
vụ• nghiên
cứu


CT
4.1. Mục đích nghiên cứu

Đe tài nhằm mục đích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của
pháp luật về ly hơn có yếu tố nước ngồi thơng qua thực tiễn xét xử tại tồn

án. Từ đó, góp phần hồn thiện pháp luật về quan hệ hơn nhân có yếu tố nước
ngồi ở Việt Nam.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài giải quyết những mục tiêu
nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Khái quát, xây dựng cơ sở lý luận cho pháp luật về quan hệ hơn nhân
có yếu tố nước ngồi;

- Khái quát lịch sử hình thành và thực trạng pháp luật của Việt Nam về
quan hệ hơn nhân có yểu tố nước ngoài;

7


- Từ thực tiễn xét xử các vụ việc ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Tịa án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong việc giải quyết

ly hơn có yếu tố nước ngồi cho những người làm công tác xét xử;

- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết ly hơn
có yếu tố nước ngồi ở nước ta hiện nay.

5. Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mac -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch


sử, đồng thời theo sát đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam. Đặc
biệt là về quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ đổi mới, mở cửa
và hội nhập quốc tế.

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:
Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật'. Được sử dụng phổ biến

trong việc làm rõ các quy định của pháp luật về ly hơn có yếu tố nước ngoài.
Phương pháp đảnh giả, phương pháp so sánh: Được sử dụng đế đưa ra

ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay khơng, đồng
thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật

của các nước khác...
Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển
khai các kiến nghị hồn thiện, mang tính khái qt.

Ngồi ra luận văn còn áp dụng các phương pháp lịch sử và phương
pháp logic.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ket quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý luận cho việc

sửa đối, bổ sung các quy định của pháp luật về quan hệ hơn nhân gia đình có

yếu tố nước ngồi. Đồng thời luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ công
tác nghiên cứu, giăng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên và sinh viên

chuyên ngành Luật và không chuyên Luật cũng như việc giảng dạy, học tập

8



mơn Nhà nước pháp luật. Bên cạnh đó luận văn đề ra các giải pháp cụ thế
hoàn thiện pháp luật về hơn nhân gia đình có yếu tố nước ngồi sẽ có ý nghĩa
thiết thực góp phần giúp cho những người làm công tác xét xử trong giải

quyết các vụ việc ly hơn có yếu tổ nước ngồi.
7. Cơ cấu của luận văn

Ngồi lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:

Chương 1. Cơ sờ lý luận và pháp lật về ly hơn có yếu tố nước ngồi;
Chương 2. Thực trạng pháp luật về ly hơn có yếu tố nước ngồi và thực

tiễn xét xử tại Tịa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật về ly hơn có yếu tố nước ngồi tại Việt

Nam.

9


CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
VÈ LY HƠN CĨ U TỐ NƯỚC NGỒI

1.1. Khái niệm, đặc điêm của ly hơn có u tơ nước ngồi
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm về ly hôn

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, ly hôn là một mặt của quan

hệ hôn nhân, nó là mặt trái, mặt bất bình thường nhưng là mặt không thể thiếu

được của quan hệ hôn nhân và gia đình. Thực hiện quyền tự do hơn nhân của
cá nhân bao gồm quyền tự do kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và
quyền tự do ly hôn nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, khi đời
sống tình cảm, yêu thương giữa vợ chồng đã hết, mâu thuẫn gia đình sâu sắc,

mục đích của hôn nhân nhằm tạo lập cho xã hội những gia đình - tế bào xã hội

tốt đẹp đã khơng thể đạt được. Ly hơn nhằm giải phóng cho vợ, chồng, các

con và thành viên khác trong gia đình khởi những xung đột, mâu thuẫn, bế tắc

trong đời sống gia đình bới vì: “Thực ra tự do ly hơn tuyệt khơng có nghĩa là

làm “tan rã ” những mối hơn hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cổ những mối
hơn hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững
chẳc trong một xã hội văn minh’’'’.
Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân, do vậy, ngồi vợ chồng thì

khơng ai khác có quyền u cầu ly hơn. Nếu như kết hơn là cơ sở để hình

thành một quan hệ vợ chồng dựa trên sự tự nguyện của các bên chủ thể, thì ly
hơn là sự tự nguyện của ít nhất một bên chủ thể làm cơ sở để chấm dứt quan
hệ vợ chồng. Sự tự nguyện yêu cầu chấm dứt hôn nhân của một bên hoặc cả

hai bên sẽ làm cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước xem xét
cho phép ly hơn. Nói cách khác cơ sở pháp lý đế tiến hành ly hôn là ý chí tự

nguyện của một hoặc cả hai bên vợ, chồng.


10


Trong một xã hội có giai câp thì ly hơn cũng thê hiện tính giai câp sâu
sắc, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội trong lịch sử phát triển của
xã hội và ý chí của Nhà nước. Nhà nước bằng pháp luật tôn trọng quyền tự do

ly hơn chính đáng của vợ chồng, nhưng cũng bàng pháp luật kiểm sốt quyền

tự do ly hơn. Điển hình như, pháp luật cùa nhà nước phong kiến, tư sàn
thường quy định hoặc cấm vợ chồng ly hôn, hoặc đặt ra nhũng điều kiện hạn

chế quyền ly hôn của vợ chồng. Hệ thống Luật HN&GĐ của nước ta từ năm

1945, đặc biệt là từ Luật HN&GĐ năm 1959, 1986 và Luật HN&GĐ năm
2000 vừa bão đảm quyền tự do ly hơn chính đáng của vợ chồng, vừa quy định

căn cứ giải quyết cho ly hôn dựa vào bản chất của quan hệ hơn nhân đã hồn
tồn tan vỡ, khơng dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng.

Pháp luật Việt Nam hiện hành quan niệm ly hôn là giải pháp giải quyết
sự khủng khoảng trong mối quan hệ vợ chồng thì về mặt pháp lý, quan hệ vợ
chồng được phát sinh kể từ khi vợ, chồng được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hơn và chỉ chấm dứt khi có bản án,

quyết định có hiệu lực pháp luật của Tịa án cơng nhận về việc ly hôn. Khoản
1 Điều 39 của BLDS năm 2015 quy định “Cứ nhân có quyền kết hơn, ly hơn,

quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được

nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong
quan hệ hôn nhãn, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia
đình".

Tuy nhiên, khái niệm ly hơn chỉ được quy định rõ tại Luật HN&GĐ.
Cụ thể, theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ hiện hành năm 2014

thì "Ly hơn là việc chẩm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật của Tòa án". Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra

phán quyết chấm dứt quan hệ hơn nhân của vợ chồng. Phán quyết ly hơn của
Tịa án được thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định. Neu hai bên

vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội

11


dung quan hệ vợ chơng khi ly hơn thì Tịa án cơng nhận ra phán qut dưới
hình thức Quyết định. Neu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tịa án ra

phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.

“Vụ án” và “việc dân sự” trong tranh chấp hôn nhân và gia đình: Cách
gọi “vụ việc” trong quá trình tố tụng là từ ghép của “vụ án” và “việc”.

BLTTDS năm 2015 khơng có khái niệm chính thức về hai vấn đề này nhưng
đã có quy định: các tranh chấp tại các Điều 26, 28, 30, 32 và các yêu cầu quy

định tại các Điều 27, 29, 31, 33 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tịa án. Như


vậy, có thế kết luận được đặc tính của “vụ án” là có xảy ra tranh chấp cịn
“việc” khơng có tranh chấp, chỉ là các u cầu để Tịa án cơng nhận như “u
cầu cơng nhận thuận tình ly hơn, thỏa thuận ni con, chia tài sản”, “u cầu
hủy việc kết hơn trái pháp luật”...

Tóm lại, có thể hiểu một cách tổng quát nhất: “Ịy hôn là chẩm dứt
quan hệ hôn nhân theo bản án, quyết định có hiệu lực của tịa án. Quan hệ

hơn nhân chấm dứt kê từ ngày bản án, quyết định ly hơn của Tịa án có hiệu
lực pháp luật”.
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm về ly hơn có yếu tố nước ngồi

1.2.2.1. Khái niệm lỵ hơn có yếu tố nước ngồi
Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có một định nghĩa cụ thể như thế

nào là quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi. Do đó, cần hiểu một cách tổng
quát, ly hôn là một phần trong quan hệ hôn nhân và quan hệ hôn nhân cũng là

một loại quan hệ dân sự. Theo đó, tại khoản 2 Điều 663 BLDS, quan hệ dân
sự có yếu tố nước ngồi là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường họp sau
đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc
xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đỏ xảy ra tại nước ngoài;
Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối

tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

12



Với tinh thân đó, Khoản 25 Điêu 3 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy
định rõ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngồi như sau:

"Quan hệ hơn nhân và gia đình có yếu tố nước ngồi là quan hệ hơn nhãn và
gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngồi; quan hệ hơn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là
cơng dãn Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đôi, chẩm dứt quan hệ đó

theo pháp luật nước ngồi, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan

đến quan hệ đó ở nước ngồi'".

Ngồi ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 100 Luật HN&GĐ năm 2000

thì: "Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đổi với các quan hệ
hơn nhân và gia đình giữa cơng dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai
bên định cư ở nước ngồi".
Có thể thấy rằng, quan hệ ly hơn được xem là có yếu tố nước ngồi khi

có một trong những dấu hiệu sau:

- Có ít nhất một bên chủ thế là người nước ngoài (bao gồm người có
quốc tịch nước ngồi và người khơng quốc tịch), người Việt Nam định cư ờ

nước ngoài. Ở đây, dấu hiệu về quốc tịch; nơi cư trú của đương sự là cơ sở để
xem xét yếu tố nước ngoài.

- Hai bên đương sự đều là công dân Việt Nam, nhưng căn cứ xác lập,

thay đổi,chấm dứt theo pháp luật nước ngoài. Trong quan hệ ly hơn có yếu tố

nước ngồi, thì chi có sự kiện pháp lý xác lập, chấm dứt theo pháp luật nước
ngồi được xem là có yếu tố nước ngoài. Căn cứ xác lập theo pháp luật nước

ngoài là trường họp hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau theo pháp luật
nước ngồi, sau đó lại về Việt Nam xin ly hôn; căn cứ chấm dứt theo pháp
luật nước ngồi là trường hợp hai cơng dân Việt Nam kết hơn theo pháp luật

Việt Nam, sau đó lại tiến hành ly hơn ở nước ngồi và theo pháp luật nước

ngồi. Ví dụ: Hai cơng dân Việt Nam kết hôn với nhau theo pháp luật Việt
Nam, sinh sống tại Việt Nam, sau đó họ chuyển sang Mỹ sinh sống, giữa họ

13


nảy sinh mâu thuẫn, họ nộp đơn sinh ly hôn tại Tòa án cỏ thẩm quyền ờ Mỹ,
đây là trường họp ly hơn có yếu tố nước ngồi do căn cứ chấm dứt quan hệ

theo pháp luật nước ngoài.

- Tài sản liên quan đến quan hệ đang ờ nước ngoài. Trong trường hợp
này vợ, chồng đều là công dân Việt Nam nhưng tài sản liên quan đến quan hệ

lại nằm ở một nước khác. Ví dụ: Hai cơng dân Việt Nam xin ly hôn với nhau,
trong thời kỳ hôn nhân họ có mua được ngơi nhà tại Mỹ, đây là tài sản chung

của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, về nguyên tắc sau khi ly hôn tài sản này
phải được phân chia cho hai vợ chồng. Vì tài sản liên quan đến quan hệ đang

tồn tại ở nước ngoài, do đó nó có yếu tố nước ngồi.

BLTTDS năm 2015 không quy định chủ thể trong vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngồi là “người Việt Nam định cư nước ngoài" (Điều 464) nhưng

tại Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 lại quy định chù thể này. Lý giải cho vấn
đề này ta có thể hiểu, Điều 464 BLTTDS năm 2015 là văn bản luật hình thức

áp dụng chung có các quan hệ có yếu tố nước ngồi. Khi có sự kiện pháp lý
xảy ra trên thực tế thì cần áp dụng luật chuyên ngành, trên sơ sở luật chung để

giải quyết một vấn đề cụ thể. Mặt khác, chủ thể theo quy định tại Điều 464

BLTTDS 2015 đã bao hàm cả “người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Như

vậy, có thể thấy rằng, liên quan đến vấn đề “có yếu tổ nước ngồi" trong các
quy định nêu trên của các văn bản pháp luật Việt Nam đã có sự thong nhất với

nhau.

Tóm lại, “Ly hơn có yếu tố nước ngồi là quan hệ cỏ ít nhất một hên
đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngồi; hoặc

là cơng dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, chẩm dứt theo pháp luật
nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ ly hơn đang ở nước ngồi".
1.2.2.2. Đặc diêm của ly hơn có yếu tổ nước ngồi
Thứ nhất, là loại quan hệ pháp luật dân sự đặc biệt

14



- Đôi tượng điêu chỉnh tương tự như pháp luật vê dân sự bao gôm các
quan hệ về nhân thân và các quan hệ về tài sản giữa các thành viên trong gia

đình. Khi quan hệ hơn nhân và gia đình được xác lập thì các quan hệ về nhân
thân (danh dự, nhân phẩm, uy tín...) và quan hệ tài sản (tài sản chung, tài sản
riêng...) cùa các chủ thế cũng được xác lập và chịu sự điều chình của pháp

luật.

- Phương pháp điều chỉnh, quan hệ hôn nhân cũng dựa trên các phương
pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, khác với quan hệ dân sự,

quan hệ hơn nhân và gia đình có tính chất đặc biệt được thể hiện ở quan hệ
tình căm giữa các chủ thể tham gia quan hệ. Các quan hệ này hình thành từ sự
kiện kết hôn, từ quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng.

- Đây là những sự kiện, những trạng thái có tính chất đặc biệt khơng
giống như các họp đồng, nghĩa vụ dân sự. Chính yếu tố tình cảm giữa các chủ

thể là thành viên trong gia đình quyết định việc xác lập, tồn tại hay chấm dứt
quan hệ hơn nhân và gia đình.

- Trong q trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, các chủ thể
trong quan hệ hơn nhân và gia đình khơng chỉ vì lợi ích của bản thân mà còn

thế hiện trách nhiệm và vì lợi ích của những người khác trong các quan hệ
phái sinh từ quan hệ hôn nhân như quan hệ huyết thống (cha mẹ với con cái)
hoặc quan hệ thân thuộc (cha, mẹ, anh, em, họ hàng của các bên vợ và
chồng).

Thứ hai, được điều chỉnh hởi nhiều hệ thẳng pháp luật

Chính vì chửa đựng yếu tố nước ngồi nên các quan hệ hơn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài thường được điều chỉnh bởi hai hay nhiều hệ thống

pháp luật. Điều đó đã dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật và đặt ra yêu cầu
phải xem xét, lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng đối với những quan hệ
này.

15


1.2. Nội dung của pháp luật điêu chỉnh quan hệ ly hơn có u tơ

nước ngồi
1.2.1. Nguồn luật điều chỉnh

Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngoài gồm

hai loại là nguồn pháp luật quốc gia và nguồn pháp luật quốc tế. Trong đỏ,
nguồn pháp luật quốc gia giữ vai trò chủ yếu.
(i) Nguồn pháp luật quốc gia

Nguồn pháp luật quốc gia bao gồm tất cả các quy định của pháp luật
quốc gia liên quan đến vấn đề điều chinh pháp lý quan hệ hôn nhân và gia

đình có yếu tố nước ngồi nói chung và quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi

nói riêng. Nguồn pháp luật quốc gia ở mồi nước có thể là nguồn thành văn


nếu thuộc hệ thống Civil Law cũng có thể là nguồn khơng thành văn nếu
thuộc hệ thống Common Law hoặc có thể gồm cả nguồn thành văn và khơng

thành văn.
Các quy định nói trên ở Việt Nam được quy định chủ yếu trong các văn
bản pháp luật sau đây:
Hiến pháp: Quyền của công dân trong lĩnh vực hơn nhân và gia đình

nói chung và hơn nhân gia đình có yếu tố nước ngồi nói riêng bao gồm cả

lĩnh vực ly hơn có yếu tố nước ngồi là một trong những quyền cơ bản được
Hiến pháp khẳng định. Đó là nhân quyền - quyền tối cao của công dân được

Nhà nước và pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Do vậy,trong các bảnHiến pháp của
Việt Nam: Hiến pháp năm 1946; Hiến pháp năm 1960; Hiến pháp năm 1980;

Hiến pháp năm 1992, đặc biệt là bản Hiến pháp năm 2013 đều quy định rất rõ
quyền này.

Đây là những quy định có tính ngun tắc và trên tinh thần của các quy
định này, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã ban hành các bộ Luật,

đạo luật và một hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật nhằm điều

16


chỉnh lĩnh vực hơn nhân và gia đình nói chung và hơn nhân gia đình có u tơ

nước ngồi nói riêng, bao gồm cả lĩnh vực ly hơn có yếu tố nước ngoài,

Bộ Luật Dân sự năm 2015 và các vãn bản hướng dẫn thi hành: Đều có
những quy định liên quan đến vấn đề hơn nhân gia đình nói chung và vấn đề

ly hôn và ly hôn cỏ yếu tố nước ngồi nói riêng.
Luật Hơn nhân và Gia đình: Đây là đạo luật chuyên ngành điều chỉnh
quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ ly hơn và ly hơn có yếu tố

nước ngồi. Trước khi Luật Hơn nhân và Gia đình năm 2014 chúng đã từng
có các đạo luật hơn nhân và gia đình sau đây: Luật Hơn nhân và Gia đình năm

1959, Pháp lệnh về hơn nhân và gia đình giữa cơng dân Việt Nam với người
nước ngồi năm 1993, Luật Hơn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hơn nhân
và Gia đình năm 2000. Đi kèm theo từng đạo luật là hệ thống các văn bản
hướng dẫn thi hành cụ thể.
(ii) Nguồn pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ ly hơn có yếu tố

nước ngoài

Điều ước quốc tế: về mặt lý luận, nguồn quốc tế điều chỉnh quan hệ

hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ ly hơn và ly hơn có yếu tố nước
ngồi nói riêng là các Điều ước quốc tế toàn cầu, Điều ước quốc tế khu vực

và Điều ước quốc tế song phương. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay mới

chỉ có các Điều ước quốc tế khu vực và song phương giữa các quốc gia có
quy định về vấn đề ly hơn có yếu tố nước ngồi. Song các Điều ước quốc tế

loại này khơng điều chỉnh cụ thể mà chỉ quy định nguyên tắc chọn pháp luật
để áp dụng khi giải quyết vấn đề ly hơn có yếu tố nước ngồi. Ví dụ như


Cơng ước La Haye về tư pháp quốc tế năm 1902, công ước Bustamante năm
1928 và nhiều Điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp.
Tập quản quốc tế: về mặt lý luận, tập quán quốc tế cũng là nguồn pháp

luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ ly hơn và

ly hơn có yếu tố nước ngồi. Tuy nhiên cho đến nay chưa có cơng trình nào

17


hệ thơng hóa hay tơng hợp được các tập quản quôc tê cụ thê đã và đang được

áp dụng khi giải quyết vấn đề này trên thực tế. Nó chủ yếu được vận dụng với

tính chất tập quán quốc gia trong khuôn khổ loại nguồn quốc gia và do từng
quốc gia tự xác định.
1.2.2. Đoi tượng điều chỉnh

Cũng như các quan hệ khác mà ngành luật Tư pháp quốc tế điều chỉnh,
thì đối tượng điều chỉnh của quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi là những

quan hệ phát sinh trong q trình ly hơn, có yếu tố nước ngoài.
về yếu tố chủ thể

Trong một quan hệ pháp luật, chủ thể đóng một vai trị quan trọng bởi

vì: nó sẽ xác định xem ai có quyền tham gia vào quan hệ đó. So với chủ thể
của quan hệ ly hơn trong nước, thì chủ thể của quan hệ ly hơn có yếu tố nước


ngồi khơng chỉ là cơng dân Việt Nam, mà có thêm chủ thề là người Việt
Nam định cư ở nước ngồi và người nước ngồi. Chính điều này, đã tạo nên

nét riêng và phản ánh sự phức tạp của cho quan hệ ly hơn có yếu tố nước

ngồi, khi trong cùng một quan hệ lại có sự tham gia của nhiều dạng chủ thể
khác nhau.

Công dân Việt Nam là một trong những chủ thể cơ bản của quan hệ ly
hơn có yếu tố nước ngồi. Theo khoản 1 Điều 17 Hiến pháp 2013 thì: “Cổng

dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt
Nam". Với quy định này, để xác định chủ thề đó có phải là cơng dân Việt
Nam hay không, người ta căn cứ vào quốc tịch mà người đó được hưởng. Căn
cứ xác định người có quốc tịch Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 13 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (được
sừa đổi, bổ sung năm 2014), người có quốc tịch Việt Nam bao gồm:

- Người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực
và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này.

18


- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mât quôc tịch Việt
Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực
thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.


- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam

mà khơng có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều

11 của Luật này thì đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngồi để
được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam.




X

*

*

X*



Căn cứ xác định người có quốc tịch Việt Nam được quy định tại Điều
15 Luật quốc tịch Việt Nam như sau: "Người được xác định là có quốc tịch

Việt Nam, nếu có một trong những căn cứ sau đây: Do sinh ra theo quy định
tại các điều 16, 17 và 18 của Luật này; Được nhập quốc tịch Việt Nam; Đtrợc

trớ lại quốc tịch Việt Nam; Theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; Các căn cứ quy định tại các điều 19, 28

và 30 của Luật này.”


Công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ ly hơn với người nước
ngồi phải có quyền năng chủ thể, tức là phải có năng lực pháp luật và năng
lực hành vi. Công dân Việt Nam khi tham gia quan hệ sẽ chịu sự điều chỉnh

của pháp luật Việt Nam, mà cụ thể là quy định trong Bộ luật dân sự 2005 về

năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Nhìn chung, những quy định về năng
lực của chủ thể đổi với công dân Việt Nam khi tham gia quan hệ ly hơn có
yếu tố nước ngồi tương tự như đối với quan hệ ly hơn trong nước.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm là cơng dân Việt Nam
và người có gốc Việt Nam nên việc xác định nãng lực của chủ thể có điểm

khác biệt so với chủ thể là cơng dân Việt Nam. Trường hợp là cơng dân Việt
Nam thì năng lực chủ thể sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam; cịn

đối với trường hợp là người có gốc Việt Nam thì năng lực chủ thể trước tiên

là phải tuân theo pháp luật mà người đó mang quốc tịch [30], một sổ trường

hợp thì năng lực chủ thể còn được xác định theo pháp luật Việt Nam. Như

19


vậy, đối với người có gốc Việt Nam khi tham gia quan hệ ly hơn có yếu tố

nước ngồi, họ có thể chịu sự điều chỉnh song song của pháp luật của nước
mà mình có quốc tịch và pháp luật Việt Nam về năng lực chủ thể khi tham gia


quan hệ.
Chủ thể cuối cùng tham gia vào quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi là

người nước ngồi.
Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 khơng có định nghĩa cụ thể như thế

nào là người nước ngồi, nhưng có đề cập đến quốc tịch nước ngoài “Quốc

tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt
Nam". Bên cạnh đó, Luật quốc tịch năm 2008 (sửa đổi năm 2014) cũng nói
đến người nước ngồi cư trú ở Việt Nam: “Người nước ngoài cư trú ở Việt

Nam là cơng dãn nước ngồi và người khơng quốc tịch thường trú hoặc tạm

trủ ở Việt Nam".

Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính Phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều cùa Luật hôn nhân và gia đình về quan

hệ hơn nhân có yếu tố nước ngồi có giải thích về “người nước ngồi ” như

sau: “Người nước ngồi là người khơng có quốc tịch Việt Nam, bao gồm cơng

dãn nước ngồi và người khơng quốc tịch".
Nói chung, chủ thể là người nước ngồi sẽ bao gồm hai dạng: là cơng
dân nước ngồi; hoặc là người khơng quốc tịch. Do đó, khi tham gia vào quan

hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi thì việc xác định năng lực của chủ thể cũng sẽ
khác nhau.

Đối với cơng dân nước ngồi, tương tự như trường họp người Việt

Nam định cư ở nước ngoài khi tham gia vào quan hệ ly hôn việc xác định
năng lực chủ thề trước tiên sẽ chịu sự điều chỉnh cùa pháp luật của nước mà

người đó mang quốc tịch, sau đó họ có thể tiếp tục chịu sự điều chỉnh của
pháp luật Việt Nam.

20


Đôi với người không quôc tịch khi họ tham gia vào quan hệ ly hơn thì
năng lực chủ thể của họ sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nơi người đó cư
trú, nếu người đó khơng có nơi cư trú thì áp dụng pháp luật Việt Nam24. Như

vậy, nếu người không quốc tịch cư trú ờ một nước khác khơng phải là Việt

Nam, thì năng lực chủ thế của họ sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước
đương sự đang cư trú và có thể chịu sự điều chinh thêm của pháp luật Việt

Nam; nếu nước đương sự cư trú là Việt Nam thì pháp luật điều chỉnh chỉ là
pháp luật Việt Nam.

Tóm lại, chủ thể tham gia vào quan hệ ly hơn có yểu tố nước ngồi đa
dạng và việc xác định năng lực của chủ thể khi tham gia vào quan hệ phức tạp

hơn so với quan hệ ly hôn trong nước. Cùng nằm trong một loại chủ thể
(người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài) nhưng năng lực

của chủ thể lại chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau,

chính điều này đã tạo nên nét riêng của chủ thể trong quan hệ ly hơn có yếu tố

nước ngồi mà quan hệ ly hơn trong nước khơng có được.
Khách thế của quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi

Cũng như quan hệ ly hơn trong nước khách the của quan hệ ly hơn có
yếu tố nước ngồi cũng bao gồm quyền nhân thân và tài sản.

Khách thể là quyền nhân thân là sự mong muốn của các bên về việc
chấm dứt quan hệ hôn nhân đang tồn tại, trả hai người về tình trạng độc thân.

Điều này tương tự như quan hệ ly hôn trong nước, nhưng thay vì đối với quan
hệ hơn nhân trong nước pháp luật điều chỉnh chỉ là pháp luật Việt Nam còn

quan hệ ly hơn có yếu tố nước ngồi thì có thể là pháp luật Việt Nam, pháp

luật nơi thường trú chung của vợ chồng vào thời điểm xin ly hơn. Nói chung,
pháp luật điều chỉnh đa dạng hơn so với quan hệ trong nước.
Đối với khách thể là tài sản, do chủ thể đa dạng nên việc tạo lập tài sản
trong thời kỳ hơn nhân giữa hai người có thể ở một quốc gia, hai quốc gia

hoặc nhiều quốc gia khác nhau. Theo thông lệ chung, việc định danh tài sản

21


sẽ theo quy tăc luật nơi có tài sản. Chính vì thê, cùng một loại tài sản nhưng
tùy theo pháp luật của mồi quốc gia nó có thể là động sản hoặc bất động sản,
điều này làm cho việc phân chia khối tài sản chung của vợ chồng sau khi ly
hôn trờ nên phức tạp hơn nhung lại là một nét đặc trưng của quan hệ ly hơn


có yếu tố nước ngồi.

ờ nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hơn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngồi được tơn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định

của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên. Trong quan hệ hôn nhân và gia đinh với cơng dân
Việt Nam, người nước ngồi tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ như cơng

dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Nhà

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp
của cơng dân Việt Nam ở nước ngồi trong quan hệ hơn nhân và gia đình phù
hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán
quốc tế.

Cụ thể, việc áp dụng pháp luật đối với quan hệ hơn nhân và gia đình có
yếu tố nước ngồi được thực hiện theo các nguyên tắc sau [15]:

(i) Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng
hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia
đình có yểu tố nước ngồi. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của
Luật hơn nhân gia đình thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

(ii) Trong trường hợp có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước
ngồi thì pháp luật nước ngồi được áp dụng, nếu việc áp dụng đó khơng trái

với các ngun tắc cơ bản của chế độ hơn nhân gia đình, bao gồm:


- Hơn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình
đẳng;

22


- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa
người theo tôn giáo với người khơng theo tơn giáo, giữa người có tín ngưỡng

với người khơng có tín ngưỡng, giữa cơng dân Việt Nam với người nước
ngồi được tơn trọng và được pháp luật bảo vệ;

- Xây dựng gia đỉnh ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình
có nghĩa vụ tơn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; khơng phân biệt đối

xử giữa các con;

- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hồ trợ trẻ em,
người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hơn nhân và gia đình;
giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện

kế hoạch hóa gia đình;

- Ke thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam về hơn nhân và gia đình.

(iii) Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật

Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hơn nhân và gia đình Việt Nam.

(iv) Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngồi thì

pháp luật nước ngồi được áp dụng.
Xác định cha, mẹ, con có yếu to nước ngồi

Cơ quan đăng ký hộ tịch Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc xác
định cha, mẹ, con mà khơng có tranh chấp giữa cơng dân Việt Nam với người

nước ngồi, giữa cơng dân Việt Nam với nhau mà ít nhất một bên định cư ở
nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau mà ít nhất một bên thường trú tại
Việt Nam theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Tòa án có thấm quyền của Việt Nam giải quyết việc xác định cha, mẹ,
con cỏ yếu tố nước ngoài đối với trường hợp:

- Trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con;

23


- Người được nhận là cha, mẹ của một người có thê u câu Tịa án xác
định người đó khơng phải là con mình;

- Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa
vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, ni

dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải
giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ;


- Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên
mang thai hộ có quyền u cầu Tịa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con;

- Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường
hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về ni
dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định

của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật cỏ liên quan; nếu gây

thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường họp bên nhờ
mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối
với di sản của bên nhờ mang thai hộ;

- Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thi bên nhờ
mang thai hộ có quyền u cầu Tịa án buộc bên mang thai hộ giao con;

- Tịa án là cơ quan có thấm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.

Trong trường họp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang
thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền
nhận ni đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc
giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật
nàyỤ và Bộ• luật
> dân sự.


Nghĩa vụ cấp dưỡng có yếu tổ nước ngoài


- Nghĩa vụ cấp dưỡng tuân theo pháp luật của nước nơi người yêu cầu
cấp dưỡng cư trú. Trường hợp người u cầu cấp dưỡng khơng có nơi cư trú

24


×