ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÕ TRẰN KHÁNH
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
(trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh Phú Thọ)
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ LAN CHI
HÀ NỘI - 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng
tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận vãn đảm
bảo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các
mơn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đê tơi
có thê bảo vê Ln văn.
Tôi xỉn chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Trần Khánh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐÀU..................................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ KIẾM SÁT VIỆC TUÂN
THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA vụ ÁN
HÌNH Sự....................................................................................................... 8
1.1.
Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự.......................................................................................... 8
1.1.1.
Giai đoạn điều tra và sự cần thiết của kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.............................................................. 8
1.1.2.
Khái niệm, đặc điểm kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự...................................................................................... 12
1.1.3.
Ý nghĩa của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra............ 16
1.1.4.
Mối liên hệ giữa kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.............................................. 19
1.2.
Nội dung, đối tượng kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn
điều tra vụ• án hình sự
•
♦ ...................................................................... 21
1.2.1.
Nội dung kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ
án hình............................................................................................................ 21
1.2.2.
Đối tượng kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự....................................................................................................... 24
1.3.
Tiêu chí đánh giá hiệu quả của kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự..................................................... 30
1.3.1.
Phát hiện kịp thời, chính xác vi phạm pháp luật trong giai đoạn điều tra......... 30
1.3.2.
Kiên quyết đưa ra vi phạm, yêu cầu xử lý vi phạm, bảo đảm mối quan
hệ chế ước - phối hợp giữa Viện kiểm sát với Co quan điều tra và co
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra................... 32
1.3.3.
Đưa ra phương thức hợp lý đê khăc phục, phòng ngừa vi phạm pháp
luật trong giai đoạn điều tra phù hợp, hiệu quả............................................ 34
TIÉU KẾT CHƯƠNG 1............................................................................................... 36
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH cũA PHÁP LUẬT VÊ KIÊM SÁT VIỆC
TUẢN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÊU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỤ’ VÀ THỤC TIÊN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH PHỦ THỌ......................................................................................... 37
2.1.
2.1.1.
Các quy định của pháp luật về kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự..................................................... 37
Các quy định của pháp luật Việt Nam trước năm 2003 về kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.................. 37
2.1.2.
Các quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 2003 đến nay về kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự............. 40
2.2.
Thực tiên áp dụng các quy định của pháp luật vê kiêm sát việc
tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trên địa
2.2.1.
bàn tỉnh Phú Thọ (giai đoạn 2015 - 2019)................................
Tình hình tội phạm và kết quả điều tra vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú
57
Thọ (giai đoạn 2015-2019)............................................................................... 57
2.2.2.
Thực tiễn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (giai đoạn 2015-2019)........................... 62
2.2.3.
Những tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong giai đoạn điều tra........................................................................... 70
2.2.4.
Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong giai đoạn điều tra...........................................................73
TIÉƯ KÉT CHƯƠNG 2............................................................................................... 78
Chương 3: GIÃI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ K1ÉM SÁT VIỆC
TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÈƯ TRA
vụ ÁN HÌNH Sự........................................................................................79
3.1.
Một số giải pháp hồn thiện quy định của pháp luật............................. 79
3.1.1.
Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự........................................ 79
N
3.1.2.
r
Hồn thiện các quy định vê chức năng, nhiệm vụ, cơ chê giám sát
nhàm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Viện kiếm sát
trong điều tra vụ án hình sự........................................................................... 85
3.2.
3.2.1.
Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng...................... 86
Nhận thức và thực hiện đúng mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác, giữa kiểm sát điều tra
với các lĩnh vực công tác khác của Viện kiếm sát........................................ 86
r
9
ỉ
3.2.2.
Tăng cưịng cơng tác tập hn, tơng kêt kinh nghiệm thực hiện pháp luật........... 91
3.2.3.
Nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ chun mơn của đội
ngũ Kiểm sát viên........................................................................................... 92
3.2.4.
Nâng cao cơ sở vật chât, điêu kiện làm việc cho cán bộ kiêm sát............... 95
KẾT LUẬN..............................................................................................................97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 99
DANH MỤC TỪ VIẾT TẤT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BLHS
Bơ• lt
• Hình sư♦
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
BPNC
Biện pháp ngăn chặn
CQĐT
Cơ quan Điều tra
KSĐT
Kiểm sát điều tra
TAND
Tòa án nhân dân
THQCT
Thực hành quyền cơng tố
TNHS
Trách nhiêm
• hình sư•
VKS
Viên
• kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân,
Viện kiểm sát quân sự
DANH MỤC CÁC BẢNG
Sơ kiêu
•
Tên bảng
Bảng 2.1
Số liệu khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong giai đoạn 2015 -2019
Bảng 2.2
Số liệu THQCT, KSĐT trong áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp tạm giữ trong giai đoạn từ 2015 - 2019
Bảng 2.3
Trang
60
66
Số liệu KSĐT trong áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm
giữ trong giai đoạn từ 2015 - 2019
66
Bảng 2.4
Thống kê các vụ án được đinh chỉ từ 2015 - 2019
70
Bảng 2.5
Số liệu trả hồ sơ điều tra bổ sung
71
MỎ ĐÀU
1. Tính câp thiêt của đê tài
Trong tố tụng hình sự nước ta, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có vai trị rất
quan trọng đối với cả tiến trình giải quyết vụ án hình sự. Kết quả của giai đoạn điều
tra vụ án hình sự góp phần làm rõ tội phạm và người phạm tội, chứng minh các tình
tiết khách quan của vụ án và là cơ sở, nền tảng để các chức năng tố tụng hình sự
khác trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo được tiến hành. Giai đoạn điều tra vụ án
hình sự với hoạt động tố tụng chủ đạo là hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra
(CQĐT), được đánh giá là giai đoạn tố tụng tiềm ẩn nguy cơ sai sót, vi phạm pháp
luật nghiêm trọng trong việc xác định sự thật của vụ án, theo đó có những vi phạm
các quy định về tiến hành các biện pháp điều tra, về khám nghiệm hiện trường, thu
thập, bảo quản xử lý vật chứng, hỏi cung, lấy lời khai... dẫn đến thu thập những
thông tin, tài liệu, chứng cứ không đúng pháp luật, không đảm bảo giá trị chứng
minh của chứng cứ dẫn đến làm sai lệch hồ sơ vụ án, làm oan người vơ tội. Bên
cạnh đó cịn có thể có những sai phạm trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế dẫn đến việc oan, sai trong truy cứu trách nhiệm hình sự, xâm
phạm quyền con người, quyền công dân. Những hạn chế, bất cập trong hoạt động
điều tra của CQĐT dẫn đến tình trạng khởi tố, điều tra oan, sai, bỏ lọt tội phạm hoặc
bức cung, nhục hình, xâm phạm quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân; làm giảm lòng tin của nhân dân vào hoạt động tư pháp,
vào tính nghiêm minh và cơng bằng của pháp luật. Đe bảo đảm mọi hoạt động điều
tra được thực hiện theo đúng qui định của pháp luật, một cơ chế giám sát đặc biệt
được hình hình thành: đó là Nhà nước giao cho Viện kiếm sát (VKS) thực hiện chức
năng kiểm sát tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt
động điều tra vụ án hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ
pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp
phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất. Đe thực hiện
1
nhiệm vụ trên, Hiên pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 quy định VKSND
thực hiện hai chức năng: Thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động
tư pháp nhằm góp phần bảo đảm và duy trì trật tự xã hội, bảo vệ pháp luật, bảo vệ
chế độ. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cơng tác THCQT, kiểm sát việc tuân
theo pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của VKSND nhằm đảm bảo
công tác điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đù và theo
đúng quy định pháp luật; bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều
tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan
người vơ tội.
Trong những năm qua, tình hình tội phạm diễn biến tương đối phức tạp, nhiều
vụ án có tính chất nghiêm trọng, phương thức thủ đoạn tinh vi. Thực tiễn tình hình tội
phạm đặt ra áp lực cao hơn về số lượng, chất lượng, thời hạn, tiến độ cùa hoạt động
điều tra. Điều này cũng góp phần gia tăng nguy cơ vi phạm pháp luật trong giai đoạn
điều tra nếu khơng có cơ chế kiềm sát điều tra của VKS cũng như các hoạt động kiểm
tra, giám sát khác để bảo đảm tính hơp pháp của hoạt động điều tra. Thực hiện tốt
công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra có vai trị quan
trọng trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch theo tinh thần
của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2010 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 và Văn kiện đại hội tồn quốc lần thứ XI của Đảng, đó là:
“Tăng cường trách nhiệm của Viện kiêm sát trong hoạt động điều tra; xây dựng cơ
chế công tố gắn với hoạt động điều tra
Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp, cơng tác kiểm sát điều tra vẫn
cịn có những tồn tại, thiếu sót nhất định. Ở một số nơi, Kiểm sát viên được phân
công thực hiện nhiệm vụ KSĐT chưa đầu tư nghiên cứu, chưa nắm vững các quy
định của pháp luật, còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh trong thao tác
nghiệp vụ, không kiểm sát chặt chẽ việc khởi tố bị can và các hoạt động điều tra
khác, không nám chắc được tiến độ điều tra cũng như không kiếm sát chặt chẽ việc
tuân theo pháp luật của CQĐT nói chung, Điều tra viên nói riêng; gây những khó
khăn nhất định cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sau.
2
Những vân đê nêu trên, cho thây cân phải nghiên cứu một cách toàn diện vê
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra để góp phần tìm ra những
giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất luợng công tác kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong giai đoạn điểu tra. Xuất phát từ những lí do trên, tác giả lựa chọn nghiên
cứu đề tài: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn tại tinh Phú Thọ) ” làm
luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng cơ bản của VKSND.
Chính vì vậy, các hoạt động này là đối tượng của rất nhiều cơng trình nghiên cứu
khoa học. Trong đó có một sổ cơng trình nghiên cứu liên quan đến nâng cao chất
lượng kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ở
nhiều cấp độ khác nhau, từ các bài viết khoa học, khóa luận tốt nghiệp đại học, luận
văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các tài liệu chun khảo chun sâu. Tác giả xin trình
bày tóm tắt một số cơng trình tiêu biểu như:
* Nhóm sách chun khảo, luận văn, luận án
- Sách chuyên khảo:
+ TS. Lê Hữu Thể (2008), THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai
đoạn điều tra: Đe cập tương đối toàn diện, đầy đủ các quan điểm và lý luận chung
về chức năng, nhiệm vụ của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, trong đó đi
sâu nghiên cứu các quan điểm về quyền công tố, thực hành quyền công tố, hoạt
động tư pháp và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự;
những quy định của pháp luật về Kiềm sát viên và một số giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động THQCT và kiếm việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra; đồng thời, khái quát về cơ quan công tố của một số nước trên thế giới
nhằm rút ra kinh nghiệm ứng dụng vào Việt Nam.
+ Nguyễn Hải Phong (chủ biên) (2014), Một sổ vấn đề về tăng cường trách
nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu
cầu của cải cách tư pháp, cuốn sách đã phân tích, đánh giá các quy định pháp luật
3
hiện hành, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động công tố của các cấp kiểm sát,
kiến nghị các giải pháp thiết thực, có tính khả thi khi thực hiện trách nhiệm công tố
trong hoạt động điều tra của VKS.
- Đề tài khoa học cấp bộ: Nguyễn Hồng Quân (2012), Chức năng, nhiệm vụ của
VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hĩnh sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Luận án Tiến sĩ: Nguyễn Quang Thành (2015), Hoạt động THQCT và kiêm
sát điều tra của VKSND trong điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà
Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân.
- Luận văn Thạc sỹ:
+ Vũ Viết Tuấn (2006), Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong kiếm
sát điều tra các vụ án hình sự của VKSND tỉnh Bắc Ninh hiện nay, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
+ Phạm Đức Minh, Chức năng của VKS THQCT và kiếm sát điều tra trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
* Nhóm các bài viêt, tạp chí chuyên ngành luật học:
- Nguyễn Duy Giảng, Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng
THQCT và kiếm sát hoạt động tu pháp của VKS theo yêu cầu cái cách tư pháp, Tạp
chí Kiểm sát số 14, 16/2008.
- Đinh Xuân Thảo (2009), Những vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của VKS trong kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 16/2009.
- Tống Kim Hương, về kiêm sát điều tra vụ án hình sự và mối quan hệ giữa
kiểm sát điều tra và THQCT trong tố tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 06/2013.
- Nguyễn Tiến Sơn, THQCT, kiêm sát điều tra và mối quan hệ giữa VKS với
CQĐT trong điều kiện cải cách tư pháp, Tạp chí Khoa học kiểm sát số 01/2014.
- Trần Thanh Thủy, Đề ra yêu cầu điều tra và kiêm sát hoạt động điều tra,
Tạp chí Kiểm sát số 16, tháng 8/2016.
- Hoàng Xuân Đàn (2016), Mối quan hệ giữa THQCT và kiêm sát hoạt động
tư pháp trong giai đoạn điêu tra các vụ án hình sự theo BLTTHS năm 2015, Tạp chí
Khoa học Kiểm sát số 02/2016.
4
- Trân Đinh Hải, Cơ sở lý luận của hoạt động kiêm sát điêu tra vụ án hình
sự, Tạp chí Kiểm sát số 13, tháng 7/2019.
Qua tìm hiểu, các cơng trình nghiên cứu về hoạt động THQCT, kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra trên địa bàn tỉnh Phú Thọ mới chỉ tập
trung vào hoạt động THQCT như: Vũ Công Thuận (2009), Nâng cao chất lượng đội
ngũ Kiêm sát viên THQCT ở ngành kiêm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ nhằm đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Lê Xuân Lộc (2012), Năng lực THQCT của
Kiêm sát viên VKSND cấp huyện ở tỉnh Phú Thọ trong xét xử các vụ án hình sự,
Luận văn Thạc sỹ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015
có hiệu lực từ 01/01/2018, nhiều vấn đề mới được đặt ra trong điều tra và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra chưa được cập nhật nghiên
cứu, làm sáng tỏ bởi khoa học luật tố tụng hình sự. Đen nay, chưa có cơng trình
nghiên cứu chun sâu về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động điều tra tại tỉnh Phú Thọ. Do vậy, đề tài: “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên
cơ sở thực tiễn tại tỉnh Phủ Thọ)” là một nghiên cứu chuyên sâu mang tính định
hướng đầu tiên về lĩnh vực này.
3. Mục
đích và nhiệm
vụ• nghiên
cứu
•
•
”
- Mục đích nghiên cứu: Góp phần bố sung, hồn thiện cơ sở lý luận về kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hỉnh sự. Trên cơ sờ đó, đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát của VKSND trong
điều tra các vụ• án hình sự• trên địa
• bàn tỉnh Phú Thọ.
•
- Nhiệm vụ: Đe đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về điều tra vụ án hình sự, kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra và mối quan hệ giữa THQCT và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
5
+ Phân tích các quy định cụ thê vê kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong
giai đoạn điều tra trong BLTTHS hiện hành của Việt Nam, từ đó rút ra những nhận
xét, đánh giá.
+ Khảo sát, đánh giá tình hình điều tra vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
từ nàm 2015 - 2019; Đánh giá thực tiễn việc thực hiện công tác kiểm sát hoạt động
điều tra của VKSND tỉnh Phú Thọ, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế
và những nguyên nhân cơ bản trong hạn chế của khâu công tác này.
+ Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về kiếm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra trong BLTTHS Việt Nam hiện
hành, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này trong thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vấn đề lý luận và quy định của
pháp luật về hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sờ nghiên cứu quy
định BLTTHS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra và đánh
giá thực tiễn công tác này tại địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ nãm 2014 đến
năm 2019.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các phương pháp luận duy vật biện
chứng duy vật của chù nghĩa Mác - Lê nin. Trên cơ sở đó, Đồng thời, luận văn sử dụng
các phương pháp thống kê hình sự, phân tích, tổng họp, so sánh đối chiếu dựa trên
những tài liệu tổng kết, số liệu thống kê của CQĐT Công an tỉnh Phú Thọ và VKSND
tỉnh Phú Thọ nhằm đánh giá thực trạng, hiệu quả của công tác kiếm sát điều tra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận khoa
học pháp lý về tố tụng hình sự, nhừng kiến nghị luận văn là nguồn tài liệu đế hoàn
thành những quy định pháp luật về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động
điều tra, gắn hoạt động điều tra với hoạt động công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp.
6
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bơ ích không những cho việc nghiên cứu
khoa học pháp lý, khoa học kiểm sát về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự. Những đề xuất trong luận văn sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động cùa VKSND và CQĐT trong đấu tranh, phịng ngừa tội phạm
hình sự và bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người trong những năm tới.
7. Kêt câu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
A
X
4 «
<
dung luận văn được kêt câu thành 3 chưong:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Chương 2: Các quy định của pháp luật vê kiêm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điêu tra vụ án hình sự và thực tiên áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ (giai đoạn 2015 -2019).
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
7
Chương 1
MỘT
SĨ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ KIẾM SÁT VIỆC
TN THEO
•
•
•
PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÈU TRA vụ ÁN HÌNH sụ
1.1. Khái niệm kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điêu tra
vụ án hình sự
r
2
1.1.1. Giai đoạn điêu tra và sự cân thiêt của kiêm sát việc tuân theo pháp
luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Giai đoạn điều tra là một giai đoạn quan trọng trong tố tụng hỉnh sự trong đó
cơ quan có thâm quyên áp dụng mọi biện pháp đê xác định tội phạm và người thực
hiện hành vi thực hiện đề giải quyết vụ án. Kết quả điều tra là cơ sở để VKS quyết
định truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự
•
e/
•
•
•
•
•
•
được hiêu là giai đoạn tơ tụng hình sự mà CQĐT và các cơ quan khác có thâm quyên
tiến hành một số hoạt động điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhàm thu thập và cùng cố các chứng cứ:
Nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy
đù tội phạm, cũng như người có lồi trong việc thực hiện tội phạm đế truy
cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại
về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ
điều tra vụ án hình sự hoặc chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho
•
•
J
•
•
•
•
VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can [3].
Như vậy, điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng của quá trình tố
tụng hình sự, nhằm thực hiện phần lớn các nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự, đó
là: Phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội, không để lọt tội phạm, khơng làm oan người vơ tội.
Có thể đưa ra khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự như sau: Điều tra
vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thâm quyền điều tra
áp dụng mọi biện pháp do luật định đế xác định tội phạm, người thực hiện hành vi
phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án [25].
8
Từ khái niệm vê giai đoạn điêu tra vụ án hình sự nêu trên, có thê rút ra các
đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình
sự, bắt đầu từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề
nghị truy tố hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án.
Thứ hai, bản chất hoạt động điều tra là việc các cơ quan có thẩm quyền áp
dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người
phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án bao gồm cả tình tiết buộc tội và
tình tiết gờ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phục vụ việc
truy tố và giải quyết vụ án hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội đế
kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm. Nếu chủ
động, tích cực, chính xác ngay từ đầu sẽ góp phần bảo đảm cho hoạt động cơng tố,
xét xử có căn cứ và ngược lại nếu hoạt động điều tra không làm tốt rất dễ dẫn đến
bỏ lọt tội phạm hoặc dẫn đến sai lầm cho các q trình tố tụng sau.
Thứ ba, chủ thế có quyền và nghĩa vụ thực hiện các hoạt động tố tụng trong
giai đoạn điều tra là CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt
động điều tra để nhằm thu thập các nguồn chứng cứ, từ đó rút ra chứng cứ làm rõ
đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự. Các tài liệu, đồ vật khác do người tham
gia tố tụng cung cấp cũng có thể là nguồn chứng cứ nếu các thông tin rút ra từ
nguồn này thoa mãn các thuộc tính cùa chứng cứ. Tuy nhiên, trách nhiệm chứng
minh, thẩm quyền điều tra chỉ thuộc về CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến
hành một số hoạt động điều tra.
Thứ tư, biện pháp mà các chú thế áp dụng trong giai đoạn điều tra là mọi
biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định, việc áp dụng các biện pháp đó tùy
thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án. Cụ thể các biện pháp đó là: 1, các biện
pháp đế thu thập chứng cứ như: Khám nghiệm hiện trường, khám xét, trưng cầu
giám định, định giá tài sản, đối chất, nhận dạng, hỏi cung bị can, lấy lời khai người
làm chứng, lấy lời khai người bị hại; 2, các biện pháp cường chế như các biện pháp
9
ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp cưỡng chế khác như áp giải, dẫn
giải được áp dụng để ngăn chặn tội phạm, người phạm tội gây khó khăn cho hoạt
động điều tra, thu thập chứng cứ... Các biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy
định của Luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, chủ thể điều tra có thể thực
hiện các biện pháp nghiệp vụ trinh sát bí mật đế thu thập chứng cứ, phát hiện, ngăn
ngừa và xác định tội phạm, tuy nhiên, tài liệu trinh sát phải được chuyển hóa thành
chứng cứ tố tụng.
Việc xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình
tiết khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án địi hỏi trong giai đoạn điều tra,
CQĐT phải thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định có hay khơng có việc phạm tội,
đối chiếu với Bộ luật Hình sự (BLHS) xem hành vi phạm tội thuộc vào điều khoản
nào, phải xác định tất cả tội phạm đế không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người
phạm
vụ xác định người thực
X • tội.
• Điều tra vụ• án hình sự• có nhiệm
•••
• hiện
• hành vi
phạm tội; người đó đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay chưa, có năng lực trách
nhiệm hình sự hay khơng; lỗi của họ trong việc thực hiện tội phạm; có vai trị gì
trong vụ án đồng phạm.
Đe có thể giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự
có nhiệm vụ chứng minh, làm rõ những vấn đề liên quan đến việc xử lý người phạm
tội như xác định động cơ, mục đích phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, các đặc điểm nhân thân của bị can; tính chất và mức độ
thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ
trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, áp dụng án treo, áp
dụng các biện pháp tư pháp và các hình thức xử lý khác đối với người phạm tội.
Ngồi ra, các cơ quan có thấm quyền điều tra còn phải xác định nguyên
nhân, điều kiện phạm tội, trên cơ sở đó yêu cầu các cơ quan, tồ chức hữu quan áp
dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Trong giai đoạn điều tra, xác định
nguyên nhân và điều kiện phạm tội là một nhiệm vụ quan trọng. Nguyên nhân và
điều kiện phạm tội là những nhân tố làm phát sinh hoặc thúc đẩy người phạm tội
thực hiện tội phạm. Việc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định làm
10
rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội trong mỗi vụ án cụ thể có ý nghĩa quan trọng
để ban hành các văn bản yêu cầu, kiến nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng
các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa tội phạm xảy ra.
Để ra quyết định truy tố và xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
VKS và Tòa án phải dựa vào hồ sơ vụ án. Việc lập và củng cố hồ sơ điều tra là
nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn điều tra. CQĐT phải lập hồ sơ ngay sau khi có
quyết định khởi tố vụ án, khi có đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì
cần lập kết luận điều tra, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những lí do và
căn cứ đề nghị truy tố. Căn cứ bản kết luận điều tra, VKS ra bản cáo trạng truy tố,
trong trường hợp không có căn cứ để đề nghị truy tố thì ra các quyết định khác theo
quy định pháp luật.
Trong tố tụng hình sự nước ta, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có vai trị rất
quan trọng đối với cả tiến trình giải quyết vụ án hình sự. Kết quả của giai đoạn điều
tra vụ án hình sự đóng vai trò quyết định đối với chất lượng, hiệu quả của hoạt động
buộc tội và là cơ sở, nền tảng để các chức năng tố tụng hình sự khác trong các giai
đoạn tố tụng tiếp theo được tiến hành. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự với hoạt
•
•
JL
•
•
•
<
•
động tố tụng chủ đạo là hoạt động của CQĐT, được đánh giá là giai đoạn tố tụng
tiềm ẩn nhiều nhất nguy cơ sai sót, vi phạm pháp luật, kể cả những sai sót, vi phạm
pháp luật nghiêm trọng dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự oan, sai.
Đe kịp thời ngăn chặn người phạm tội tiếp tục gây án hoặc gây cản trở cho
việc thu thập chứng cứ vụ án, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thường phải áp
dụng các biện pháp cường chế như bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét chỗ ở, khám
xét nơi làm việc, khám xét thân thể; tiến hành các hoạt động điều tra khác liên quan
đến quyền cơ bản của công dân như triệu tập để lấy lời khai những người có liên
quan, hỏi cung bị can. Do đó, hoạt động điều tra thường tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm
quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền con người đối với người bị tình nghi thực
hiện hành vi phạm tội.
Truy tố, xét xử là giai đoạn mà cơ quan tiến hành tố tụng đã có hồ sơ vụ án
hình sự xác định tội phạm và người phạm tội nên việc bỏ lọt tội phạm là rất khó;
11
còn giai đoạn điêu tra, CQĐT vừa phải thu thập chứng cứ, tài liệu, vừa lập hô sơ vụ
án, nếu khơng nhận thức đầy đú về đặc điếm này, thì khả năng bở lọt tội phạm là rất
cao và việc khắc phục sẽ rất khó khăn. Đây cũng là giai đoạn mà yếu tố tranh tụng
chưa thực sự hiện hữu, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền con người, vì thế,
rất cần có hoạt động kiểm sát việc tn theo pháp luật trong giai đoạn điều tra của
VKS và các hình thức giám sát khác. Kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra sẽ góp phần phát hiện kịp thời để loại trừ vi phạm pháp luật của các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; trên cơ
sở đó nhằm đảm bảo tính pháp chế của hoạt động tư pháp, đảm bảo cho hoạt động
tư pháp được thực thi một cách thống nhất, đúng pháp luật.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn
điều tra vụ• án hình sự
•
•
Kiếm sát việc tn theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự cịn
được gọi là hoạt động kiểm sát điều tra của VKSND hay thực tiễn kiểm sát gọi tắt là
kiểm sát điều tra (KSĐT). Đây là một trong những bộ phận cấu thành, là nhiệm vụ
cụ thể thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. KSĐT với tính chất là một
nhiệm vụ thực hiện chức năng kiếm sát hoạt động tư pháp của VKS thì nó có bản
chất pháp lý là kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật nhằm bảo đảm tính hợp
pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi Cơ quan điều tra và các cơ
quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trinh giải quyết
vụ án hình sự (sau đây gọi chung là Cơ quan điều tra - CQĐT) bảo đảm việc điều
tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm đồng thời cũng
không làm oan người vô tội. Vì vậy, hoạt động điều tra của CQĐT phải chịu sự chế
ước và kiếm sát chặt chẽ của cơ quan VKS. Điều này được thế hiện thông qua việc
luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho VKS. Tuy nhiên, đối tượng của kiềm sát
việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra hiện nay chưa thật sự được xác
định rõ nếu so sánh, đánh giá giữa quy định của hiến pháp với luật tố tụng hình sự
và Luật Tổ chức VKSND. Theo quy định tại Điều 07 Hiến pháp năm 2013 thì
VKSND có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp [17].
12
Kiêm sát hoạt động tư pháp với tính chât là một chức năng cùa VKSND với cách
hiểu thứ nhất là kiểm sát hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá trình giải
quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động... là kiểm sát hoạt động áp
dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết các tranh chấp, vi
phạm pháp luật và tội phạm. Vậy nhưng, cách hiểu này không phù hợp với luật Tố
chức VKSND. Cụ thể, theo quy định tại Luật Tổ chức VKSND năm 2014 thì:
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động cùa Viện kiểm sát nhân dân để
kiểm sát tính họp pháp của các hành vi, quyết định cùa cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp
nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và
trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ
án hành chính, vụ việc dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động; trong việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy
định của pháp luật [21, Điều 4, Khoản 1].
Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp đà được hiểu là kiểm sát hành vi, quyết
định của cơ quan, tố chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp và không chỉ là hoạt
động tư pháp của cơ quan tư pháp, không chỉ là hoạt động áp dụng pháp luật mà còn
là các dạng hoạt động thực hiện pháp luật khác như tuân thú pháp luật, thi hành
pháp luật, sử dụng pháp luật. Luật Tố tụng hình sự lại giới hạn kiếm sát hoạt động
tư pháp thành kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự (chỉ là hoạt
động tuân thủ pháp luật ở mức độ tự giác thấp) nhưng lại mở rộng chủ thể của hoạt
động tuân theo pháp luật cho tất cả các chủ thề của tố tụng hình sự (cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng).
Chúng tôi cho rằng, nếu căn cứ vào quy định của hiến pháp, đối tượng và
phạm vi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra và kiếm sát hoạt
động tư pháp trong giai đoạn điều tra vừa được mở rộng, vừa bị thu hẹp. Kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra đã mở rộng đối tượng kiểm sát, bao
hàm kiểm sát hoạt động của các chủ thể tố tụng hình sự phát sinh trong giai đoạn điều
13
tra, các chủ thê này có thê là nhà nước hoặc phi nhà nước, cơ quan, người có thâm
quyền tiến hành tố tụng hoặc chỉ là người tham gia tố tụng, có thề là hoạt động áp
dụng pháp luật với các quyết định, hành vi tố tụng hoặc chỉ là hoạt động tham gia tố
tụng, tuân thủ pháp luật thuần tuý. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn
điều tra bị thu hẹp nếu coi việc tuân theo pháp luật chỉ là một dạng thực hiện pháp
luật ở mức độ thấp (so với dạng thực hiện pháp luật ở mức độ thấp cao - áp dụng
pháp luật - hoạt động tư pháp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
Như vậy, có thế đưa ra khái niệm Kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong
giai đoạn điều tra là hoạt động của Viện kiêm sát nhân dân kiêm sát việc thực hiện
pháp luật của các chủ thê tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, nhằm đảm bảo cho quả trình điều tra vụ án
được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Từ định nghĩa trên, có thể thấy kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn
điều tra có một
số đặc
điểm sau đây:
•
•
•
Thứ nhất, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự là một nội dung của kiểm sát việc tuân theo pháp luật, là một phương thức
giám sát đặc biệt với vai trò của cơ quan nhà nước chuyên trách thực hiện việc giám
sát là VKS, có quyền, nghĩa vụ, phương tiện và các điều kiện bảo đảm do Nhà nước
trang bị để phát hiện các vi phạm trong giai đoạn điều tra. So với các phương thức
khác đế bảo đảm tính hợp pháp của giai đoạn điều tra, phương thức kiểm sát của
VKS mang tính chuyên trách, thường xuyên, liên tục, là quyền và cũng là nghĩa vụ
luật định. VKS là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong việc phát hiện các vi phạm
pháp luật trong tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn điều tra nói riêng.
Kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có
nhiệm vụ bảo đảm tính hợp pháp của giai đoạn điều tra, góp phần bảo đảm pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm cho các mục tiêu, nhiệm vụ
của tố tụng hình sự thể hiện qua các quy định cụ thể của pháp luật tố tụng hình sự
được tuân thủ trong thực tiễn. Bảo đảm tính hợp pháp của các quyết định, hành vi của
các cơ quan, tồ chức cá nhân trong giai đoạn điều tra góp phần xác định sự thật của
14
vụ án một cách khách quan, toàn diện và đây đủ, góp phân phát hiện, xử lí nhanh
chóng, kịp thời, công minh các vụ việc phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ hai, chủ thể thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự là VKSND, chỉ do VKSND chịu trách nhiệm và trực tiếp thực
hiện. Đây là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhàm đảm bảo pháp luật
được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong suốt quá trinh điều tra.
Thứ ba, đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự là hành vi và quyết định tố tụng của các chủ thể tiến
hành hay tham gia vào quá trinh điều tra. Trong giai đoạn điều tra, hoạt động của
CQĐT cũng như hoạt động của các cơ quan được pháp luật giao tiến hành một số
hoạt động điều tra là những hoạt động tố tụng chủ yếu nên đối tượng của kiểm sát
điều tra là hành vi và quyết định của CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một
số hoạt động điều tra. Khi tiến hành, VKSND căn cứ vào pháp luật để theo dõi, xem
xét, bảo đảm tính hợp pháp của đối tượng bị kiếm sát và của ngay chính các hoạt
động của VKSND trong giai đoạn điều tra, trên cơ sở đó phát hiện vi phạm, yêu cầu
xử lý vi phạm nhằm đảm bảo quá trình điều tra vụ án theo đúng trình tự, thủ tục
pháp luật quy định.
Thứ íw;phạm vi của hoạt động kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra là thời điểm bắt đầu và kết thúc của giai đoạn điều tra. Như vậy, phạm
vi hoạt động KSĐT được bắt đầu khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc
khi đạt được mục đích, yêu cầu để truy tố hoặc khơng truy tố người phạm tội ra trước
tịa án hoặc khi vụ án được đình chỉ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự.
Thứ năm, Trong giai đoạn điều tra, khi thực hiện kiểm sát việc tuân theo
pháp luật, VKSND thực hiện hai nhóm quyền năng lớn sau đây: Một là, các quyền
nhằm phát hiện vi phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động
điều tra nhằm đảm bảo cho VKSND xác định được vi phạm, nguyên nhân và điều
kiện dẫn đến vi phạm. Hai là, các quyền yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạm của các
chủ thể tiến hành hoạt động điều tra, trên cơ sở phát hiện vi phạm sẽ đưa ra các biện
pháp để khắc phục vi phạm nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm
chỉnh, thống nhất.
15
1.13. Y nghĩa của kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điêu tra
Thứ nhất, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra có vai trị
quan trọng trong q trình điều tra vụ án, góp phần đảm bảo hiệu quả chứng minh,
góp phần thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố. Điều tra là hoạt động
của các cơ quan có thấm quyền điều tra thực hiện hoạt động điều tra, áp dụng mọi
biện pháp luật định đế xác định sự thật của vụ án. Với ý nghĩa như vậy, hoạt động
điều tra đòi hỏi phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật
trong đó có các quy định của BLTTHS nói riêng và quy định pháp luật nói
chung. Theo đó, sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, CQĐT và các cơ quan
khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra như: hỏi cung, lấy lời khai,
khám nghiệm hiện trường, khám xét, .... để thu thập chứng cứ, làm rõ vụ án, làm rõ
hành vi phạm tội cũng như các tình tiết có liên quan đến vụ án.
Tuy nhiên, việc điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự một con người cần
phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác. Cho nên, cần phải có sự chế ước đối với
các hoạt động này nhằm đảm bảo tất cả mọi hành vi phạm tội đã phát hiện phải
được khởi tố, xử lý kịp thời và nghiêm minh nhưng cũng cần phải có căn cứ và đúng
pháp luật. Vì vậy, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra đòi hỏi
VKSND kiểm tra, giám sát mọi hoạt động điều tra, qua đó góp phần đảm bảo qua
trình thu thập chứng cứ theo đúng quy định pháp luật; đảm bảo cho các tài liệu,
chứng cứ liên quan đến việc chứng minh hành vi phạm tội và nhân thân của người
phạm tội phải được thu thập đầy đủ, toàn diện, khách quan và hợp pháp. VKS có
nhiệm vụ quyền hạn kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của các chủ thể tiến
hành tố tụng, đồng thời có quyền can thiệp trực tiếp vào quá trình điều tra, đề ra yêu
cầu điều tra để CQĐT tiến hành điều tra theo đúng trình tự thủ tục, quy định của pháp
luật nhằm đánh giá vụ án được khách quan, tồn diện, đầy đủ và chính xác.
Khi THQCT trong giai đoạn điều tra, để đảm bảo việc khởi tố vụ án, khởi tố
bị can, việc áp dụng, thay đối, hủy bỏ các biện pháp ngàn chặn, biện pháp cường
chế là chính xác, đúng quy định pháp luật thì VKS cần phải kiểm sát chặt chè các
hoạt động tố tụng, tính có căn cứ, tính họp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng.
16
Như vậy, có thê thây răng, THQCT và kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong giai
đoạn điều tra có quan hệ mật thiết với nhau, đan xen, hỗ trợ và tác động qua lại, bồ
sung tích cực cho nhau. Mục đích của THQCT là nhằm chứng minh tội phạm, xác
định người phạm tội, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, xử lí
nghiêm minh. Mục đích của KSĐT là phát hiện vi phạm trong hoạt động điều tra,
kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm nhằm đảm bảo cho các hoạt động điều tra
chính xác, khách quan, tuân thủ các quy định của pháp luật. KSĐT có hiệu quả sè là
hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động THỌCT được thực hiện tốt hơn và nhằm thực
•
7
•
•
•
•
4^2
•
•
•
•
hiện mục tiêu chung là truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ, đúng pháp luật,
khơng làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
Thứ hai, kiểm sát việc tuân theo pháp luật đảm bảo quyền con người, quyền
công dân và hiệu quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong quá trình điều tra vụ
án hình sự.
Trong giai đoạn điều tra, nhóm “người yếu thế” chính là nhóm người tham
gia tố tụng, do đó, vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền cơng dân cho nhóm người
này quan trọng hơn cả. Nhóm quyền của người tham gia tố tụng bao gồm: quyền
của người bị buộc tội và quyền cúa người tham gia tố tụng khác. Người bị buộc tội
thường bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc các biện pháp cưỡng chế như: bắt,
tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, kê biên tài sản... nhằm mục đích ngăn
chặn việc bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, gây khó khàn cho hoạt động điều tra, truy
tố,... Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này rất dễ bị lạm dụng, gây ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, thậm chí ảnh hưởng trực tiếp
đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của công dân. Bởi lẽ, khi áp dụng biện pháp tạm
giữ, tạm giam, công dân bị cách li với cuộc sống bên ngồi, có thế bị áp dụng một
số “biện pháp điều tra khơng chính thống” như tra tấn, đánh đập, bức cung, dùng
nhục hình,... trong quá trình buộc tội, hỏi cung, lấy lời khai. Do vậy, rất cần thiết
phải có cơ chế kiểm sốt quyền lực nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân,
phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm quyền con người, quyền công dân.Pháp
luật quy định quyền năng cho VKS trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật
17
trong giai đoạn điêu tra không chỉ nhăm bảo vệ công lý nâng cao chât lượng hoạt
động điều tra vụ án hình sự, hạn chế nhừng trường hợp đình chỉ điều tra vụ án hình
sự do bị can khơng phạm tội mà còn nhằm ngăn chặn kịp thời những vi phạm quyền
con người, quyền cơng dân.
Thứ óứ,kiếm sát việc tn theo pháp luật trong giai đoạn điều tra góp phần
bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho hoạt động tố tụng. Quá trình KSĐT,
VKSND căn cứ vào các quy định pháp luật để tiến hành kiểm tra tính hợp pháp,
tính có căn cứ của các quyết định, hành vi tố tụng cùa CQĐT như quyết định khởi
tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, lệnh giữ người
trong trường họp khẩn cấp, lệnh tạm giam, gia hạn tạm giữ,... Trên cơ sở đó, VKS
phê chuẩn hoặc hủy bở thay đổi hoặc bổ sung các quyết định tố tụng. Từ đó, VKS
tiến hành khắc phục trực tiếp những thiếu sót, yêu cầu khắc phục những vi phạm
của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiên hành một sô hoạt động điêu tra. Đê
kiềm sát tính họp pháp đối với các hành vi, quyết định của CQĐT, VKS phải sử dụng
những quyền năng mà pháp luật cho phép như quyền yêu cầu CQĐT chuyển hồ sơ, tài
liệu chứng cứ đế thực hiện việc kiểm sát, quyền yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm
trong hoạt động điều tra một vụ án cụ thể, quyền kiến nghị CQĐT có biện pháp khắc
phục, phịng ngừa đối với các vi phạm có tính lặp lại đối với một hoặc một số loại án
hay thường diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định.
Thứ tư, kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra góp phần
bảo đảm sự trong sạch, vơ tư, khách quan của người tiến hành tố tụng, tham gia tố
tụng. Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng giúp rõ các vấn đề của
vụ việc hình sự, có trách nhiệm thực thi công lý, nếu họ không vô tư trong việc tiến
hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng thì việc giải quyết vụ việc hình sự sẽ bị thiên
lệch. Khi tham gia các hoạt động tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng cần phải tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, tiến hành cơng việc của mình
với thái độ khách quan, vơ tư, khơng được đế những quan hệ, những tình cảm cá
nhân chi phơi vào cơng việc, khơng được có thái độ thiên vị hay định kiên đơi với
bất kì người nào. Do vậy, với hoạt động KSĐT sẽ là điều kiện cần thiết để đảm bảo
18