ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẢT
TRƯƠNG THANH BÌNH
KIÊM SÁT VIỆC GIÁI QUYÊT Tõ GIÁC, TIN BÁO VÊ TỘI PHẠM
TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự VIỆT NAM (TRÊN cơ SỞ
THỰC TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH)
Chun ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số:
8380101.03
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
Ngưòi hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đỗ Thị Phượng
HÀ NỘI - 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tỏi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận vãn đảm bảo tinh chính xác,
tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đê tơi có thê
háo vệ Luận vãn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
TRƯƠNG THANH BÌNH
1
MỤC LỤC
LỜỈ CAM ĐOAN.............................................................................................. i
MỰC LỤC.........................................................................................................ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT........................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU.............................................................................. V
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SÔ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
____
____
X___________
___ _______ K_______ ________ .
___ X_________ X
__
z ____
_____
~
____ 9 ___
________
X____
____
X______ s
____
LUẬT TỒ TỤNG HÌNH sự VÊ KIÊM SÁT VIỆC GIAI QUT TƠ GIÁC,
TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM............................................................................... 8
1.1. Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm............................................................................................................. 8
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm............................................................................................. 8
1.1.2. Cơ sở của quy định kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm....................................................................................................... 18
1.1.3. Ý nghĩa của kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm22
r
\
r
9
r
1.2. Quy định của pháp luật tơ tụng hình sựvê kiêm sát việc giải qut tơ
giác, tin báo về tội phạm............................................................................. 24
1.2.1. Quy định về chủ thể, đối tượngcủa kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm.................................................................................. 25
9
\
A
1.2.2. Quy định vê trình tự, thủ tục, thời hạn kiêm sát việc giải quyêt tin
báo, tố giác về tội phạm.......................................................................... 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1............................................................................ 43
CHƯƠNG 2: THựC TIỀN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH sự VỀ KIÊM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN
BÁO VỀ TỘI PHẠM TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP............................................................................................................... 44
11
2.1. Thực tiên áp dụng các quy định của pháp luật tơ tụng hình sự Việt
Nam về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại tỉnh Ninh
Bình........................................................................................................... 44
2.1.1. Những kết quả đạt được...............................................................44
2.1.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân......................................... 49
2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm sát việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm............................................................................. 60
2.2.1. Một số giải pháp hồn thiện pháp luật tố tụng hình sự................. 60
2.2.2. Một số giải pháp khác................................................................... 67
KÉT LUẬN CHƯƠNG 2............................................................................ 73
KẾT LUẬN..................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 76
111
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bơ• lt
• hình sư•
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
TTHS
: Tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
ĐTV
: Điều tra viên
KSV
: Kiểm sát viên
VKS
: Viên
• kiểm sát
VKSND
: Viên
• kiểm sát nhân dân
IV
DANH MỤC BÁNG BIÊU
Bảng 2.1. Số liệu tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố VKS thụ lý
kiểm sát từ 2016 đến 2021.............................................................................. 45
V
MỞ ĐẦU
1. Tính câp thiêt của đê tài
Cơng tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố là có ý nghĩa vơ cùng đặc biệt và là nhiệm vụ hết sức quan trọng của
các cơ quan tiến hành tố tụng, là nguồn căn cứ để kịp thời phát hiện hành vi
phạm tội xảy ra. Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra,
xác minh và xác định có hay khơng có dấu hiệu tội phạm đế quyết định khởi
tố hoặc khơng khởi tố vụ án hình sự. Đồng thời, thông qua hoạt động này giúp
cho CQĐT, VKS và các cơ quan hữu quan quản lý được tình hình tội phạm
xảy ra trên thực tế từ đó xây dựng các biện pháp phịng ngừa ngăn chặn.
VKSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoạt
động kiềm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
là giai đoạn mở đầu kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND và
là khâu quan trọng hàng đầu, là tiền đề mở đầu cho các hoạt động tố tụng giải
quyết, kết thúc một vụ án hình sự, bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người
phạm tội đều được phát hiện, xử lý kịp thời, đúng pháp luật.
Thực tiễn cơng tác đấu tranh phịng chống tội phạm trong những năm
vừa qua cho thấy, hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố quyết định đến chất lượng thực hành quyền công
tổ, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử. Đồng thời, bảo đảm mọi hành vi phạm
tội đều phải được phát hiện, xử lý theo quy định của pháp luật, xác định các
căn cứ để xử lý tội phạm cũng như việc khởi tố đúng người, đúng tội tránh
làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm, nhằm bảo đảm cho công tác tiếp
nhận, xử lý các thông tin liên quan đến tội phạm, các hành vi vi phạm, các
hoạt động điêu tra, xác minh được khách quan đê làm căn cứ cho việc khởi tơ
vụ án hình sự hoặc khơng khởi tố vụ án hình sự của CQĐT được đầy đủ, đúng
quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trước sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt là
trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, thì cơng
tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình vẫn có những hạn chế từ các quy định pháp luật và
trong thực tiễn áp dụng, dẫn tới hiệu quả giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm chưa cao, nhiều vụ việc có dấu hiệu hình sự khơng được xử lý đúng quy
trình, đặc biệt là vẫn cịn một số tố giác, tin báo về tội phạm chưa được
CQĐT kiểm tra, xác minh kịp thời do đó cịn bỏ lọt tội phạm hoặc phát hiện
được tội phạm nhưng đối tượng phạm tội đã bở trốn. Các cơ quan bảo vệ pháp
luật chưa quản lý được đầy đủ và chính xác tình hình tội phạm do đó cịn tiềm
ẩn nguy cơ đe doạ đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội, ảnh
hưởng đến lịng tin của nhân dân vào các cơ quan tư pháp.
Mặc dù đây không phài là một đề tài mới. Tuy nhiên, theo tìm hiếu của
tác giả thì hiện nay chưa có cơng trình nghiên cứu với đề tài này trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình. Bên cạnh đó, tình hình thực tế kiểm sát giải quyết tố giác, tin
báo tội phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng, và cả nước nói chung vẫn
tồn tại nhiều bất cập, và liên tục phát sinh những vấn đề, vướng mắc mới do
sự vận động, thay đổi của xã hội. Do đó, tác giả nhận thấy, việc chọn đề tài
nghiên cứu là “Kiếm sát việc giải quyết tổ giác, tin báo về tội phạm trong
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh ninh
bình)” là đáp ứng yêu cầu cấp thiết khách quan trong giai đoạn hiện nay.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Như đã nói ở trên, “kiêm sát việc giải quyết tố giác, tin háo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố" không phái là đề tài mới. Trong những năm qua, đã có
nhiều bài viết, sách chun khảo, cơng trình nghiên cứu về vấn đề này.
Trên các báo, tạp chí, viết về đề tài này đã có rất nhiều bài viết của nhiều
tác giả tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Một số bài viết đáng chú ý
có thể nêu lên như: Nguyễn Hải Phong (chủ biên, năm 2014), Một sổ vấn đề
về tăng cường trách nhiệm thực hành quyền công tố, gắn công tố với hoạt
động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, NXB Chính trị Quốc gia; Phạm
Quốc Huy (2009), Bàn về khái niệm “Tố giác về tội phạm ", “Tin bảo về tội
phạm" và “Kiến nghị khởi tố" trong BLTTHS, Tạp chí kiểm sát (số 17); Lê
Ra (2012), Cần thống nhất nhận thức về các khái niệm tin báo, tố giác về tội
phạm và kiến nghị khởi tố vù các nguồn thông tin về tội phạm, Tạp chí kiểm
sát (số 20); Nơng Xn Trường (2014), Vai trò trách nhiệm của VKS trong
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, thực trạng và một sổ giải pháp, Trang
thông tin điện tử VKSND tối cao, Hà Nội; Trần Thu Hạnh, Ngô Long Khánh
(2017), Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết tổ giác, tin
báo tội phạm và kiến nghị khởi tổ theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và
một số kiến nghị hồn thiện, Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội,
tập 33, số 3.
Trên phạm trù giảng dạy tại các cơ sở đào tạo Luật, đây cũng là một vấn
đề luôn được chú ý, xuất hiện trong nhiều giáo trình như: Đại học Luật Hà
Nội, Giáo trĩnh Luật tố tụng hình sự Việt Nam', Đại học Luật thành phố Hồ
Chí Minh, Giáo trình Luật tố tụng hình sự; Nguyễn Ngọc Chí (2018), Giáo
trình những ngun tắc cơ bản của tổ tụng hình sự, Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội.
3
Trên phương diện luận văn, luận án tiên sĩ đã có một sơ cơng trình
nghiên cứu tiêu biểu như sau
Trần Thị Hậu (2018), Chức năng của Viện Kiếm sát trong việc giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi to, luận văn thạc sĩ luật học, Đại
học Luật Hà Nội. Trong luận văn này, tác giả Trần Thị Hậu đã trình bày một
số vấn đề lí luận về chức năng của VKS trong việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn
thực hiện chức năng của VKS trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm thực
thi pháp luật về vấn đề này.
Trần Văn Hồng (202ỉ),Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện Kiêm sát nhân dân trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội; và Thiều Thị
Thùy Dương (2021), Kiếm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm
và thực
tiễn tại
tinh Điện
Biên,ỉuận
văn thạc
sĩ luật
học,
học
Luật
•
•
•
•
z
•
•
•
•
Z Đại
•
•
•
1
Hà Nội. Trong hai luận văn nêu trên, Bên cạnh việc nêu ra và phân tích một
sổ vấn đề lý luận cơ bản thì trong luận văn tác giả cịn phân tích đặc điểm tình
hình có liên quan và thực trạng việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS trên địa bàn tỉnh địa phương; từ đó
đưa ra dự báo một số yếu tố tác động và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thực hiện công tác này trên địa bàn.
Ngô Long Khánh (2018), Vai trò của Viện kiêm sát nhân dân với việc
tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi to, luận văn
thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nôi. Trong luận văn này,
tác giá đãnêu, phân tích và đánh giá để làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò
VKS trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi
tố. Từ đó, tác giả tự rút ra những giá trị về hoạt động lập pháp tố tụng hình sự.
4
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một sơ kiên nghị hoàn thiện quy định của Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015 về vai trị của Viện kiểm sát nhân dân với việc
tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố và đưa ra giải
pháp bảo đảm áp dụng các quy định này.
Như vậy, vấn đề về tiếp nhận giải quyết và kiểm sát việc tiếp nhận giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã được các nhà nghiên
cứu lý luận và những người làm hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật nghiên
cứu. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả, liên quan trực tiếp đến công tác
kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố từ
thực tiễn tỉnh Ninh Bình thì chưa có một cơng trình nào nghiên cứu một cách
có hệ thống, tồn diện và cụ thể. Do vậy, đề tài này không trùng với bất cứ đề
tài hoặc cơng trình nào đã được cơng bổ.
3. Mục
cún
• đích và nhiệm
• vụ• nghiên
ơ
3.1 Mục đích nghiên cún
Đề tài nghiên cứu phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn liên quan đến công tác kiểm sát việc giãi quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất những giải pháp tiếp tục nâng cao chất
lượng và hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
làm tiền đề quan trọng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và các quy định theo pháp luật
TTHS Việt Nam về công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố.
Phân tích, đánh giá thực trạng cơng tác kiếm sát giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (từ năm
2016 đến năm 2021); Qua đó đánh giá những kết quả đạt được cũng như
5
những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và tìm ra những
nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.
Đưa ra các giải pháp nhằm hiệu quá kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố từ thực tiễn tĩnh Ninh Bình.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật
TTHS Việt Nam cũng như thực tiễn hoạt động của công tác kiểm sát việc giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
về nội dung: Đe tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi kiếm sát việc giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kể từ khi CQĐT tiếp
nhận vào sổ thụ lý và kết thúc khi CQĐT ra quyết định khởi tố hoặc không
khởi tố vụ án hình sự.
về thời gian: từ năm 2016 đến năm 2021.
về khơng gian: trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cún
Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phép duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê nin, quan điểm của Đảng và
Nhà nước về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS.
Các phương pháp cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng
các phương pháp phổ biến hiện nay như: phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp so sánh, đổi chiểu, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy
nạp, phương pháp thống kê. Phương pháp tọa đàm trao đồi trực tiếp với một
số ĐTV, K.SV có kinh nghiệm trong đấu tranh, phịng chống tội phạm.
6
6. Y nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiên ciia luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn so sánh, đánh giá những bước phát triển của pháp luật Việt
Nam quy định về kiểm sát việc giài quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố và góp phần bổ sung những vấn đề về lý luận về hoạt động kiểm
sát này.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ket quả nghiên cứu của đề tài giúp cho cán bộ, kiểm sát vừa làm công
tác thực tiễn từ những kiến thức lý luận và kinh nghiệm trong khi thực hiện
chức năng kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Mặt khác, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham
khảo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu về công tác
thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố tại các cơ sở đào tạo của ngành.
7. Bố cục
của luận
văn
•
•
Bố cục luận văn được chia làm 02 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
- Chương 2: thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại địa bàn tỉnh ninh
bình và các giải pháp
7
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT TĨ TỤNG HÌNH sự VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TỐ
GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM
-Ể
/T Ô- X
— Ị
__ Ạ__ -> Ạ 1 —< 1--Ơ___________ Ạ
>_• Ạ_____ _ z X — • ** _
__ • 2 •
_________ ổÁ lỗ
___ • z —
X*___ 1- — -_____ Ạ X £ •
1.1. Một sơ vân đê lý luận vê kiêm sát việc giải quyêt tô giác, tin báo vê tội
phạm
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm
> Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm
Tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố là nguồn thông tin quan
trọng, là cơ sở ban đầu để cơ quan tiến hành tố tụng xác minh các căn cứ để
khởi tố vụ án hình sự và tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo. Theo Từ
điển Tiếng Việt: “tin là điều được truyền đi, báo cho biết về sự việc, tình hình
xảy ra’’ [34, tr 993], Cũng theo nghĩa phổ thơng thì tố cáo và tố giác cũng có
nghĩa là bảo cho cơ quan có thẩm quyền biết về người hoặc hành động phạm
pháp. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, tố cáo và tố giác về tội phạm không
đồng nhất. Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo 2018 đã định nghĩa như sau: “Tổ cáo
là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này bảo cho cơ quan, tơ chức,
cá nhân có thấm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan,
tô chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cùa cơ quan, tổ chức, cá nhân’’[ỉ9,
khoản 1 Điều 2],
Như vậy, chủ thể của hành vi tố cáo là công dân và đối tượng của tố cáo
là bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào. Trong khi đó, tố giác về tội phạm có
thể hiểu theo nghĩa chung nhất là báo cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi
có dấu hiệu tội phạm. Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật có tính nguy
hiểm cho xã hội thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong
8
BLHS. Do vậy, có thê thây khái niệm tơ cáo bao hàm các khái niệm tô giác vê
tội phạm Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: “Tố cáo là quyền
của cơng dân, cịn tổ giác về tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công
dân ”[2, tr 9].Như vậy, việc tố cáo hành vi phạm pháp luật hay không là sự lựa
chọn của công dân. Trong khi đó, tố giác về tội phạm cịn là nghĩa vụ của
cơng dân Pháp luật hình sự cũng đã tội phạm hóa hành vi khơng tố giác tội
phạm. Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh
sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật tố giác về tội
phạm thì phát sinh ngay sau khi cơng dân biết về tội phạm.
Hiện nay, khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đã được đưa ra trong
BLTTHS. Theo khoản 1 Điều 144 BLTTHS năm 2015: “tổ giác về tội phạm
là việc cá nhân phát hiện và tổ cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan
có thâm quyền”[\9, khoản 1 Điều 1441; khoản 2 Điều 144 BLTTHS năm
2015: "Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ
quan, tỏ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thăm quyền hoặc thơng tin
về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng,'\\9, khoản 2 Điều 144].
Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm trong BLTTHS năm 2015 có nhiều
điểm tương đồng và khác biệt với khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm đã
được đưa ra trong một số cơng trình khoa học hiện nay.
Trong bài viết của mình tại Tạp chí Viện kiểm sát,tác giả Lê Ra đưa ra
định nghĩa cho tố giác, tin báo về tội phạm như sau: “Tin báo về tội phạm là
việc các cơ quan, tô chức báo tin hoặc đăng tin có nội dung phản ánh về tội
phạm xảy ra cho cơ quan thảm quyền giải quyết theo quy định của BLTTHS.
Tố giác về tội phạm được hiêu là việc cá nhân phát hiện, tố cáo người phạm
tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thâm quyền giải quyết
theo quy định của BLTTHS’’\9, tr 37]
9
Tác giả Hồng Huy Hiệp trên sơ 07, Tạp chí Viện Kiêm Sát 2015 thì
định nghĩa như sau: “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu
hiệu về tội phạm do cả nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cẩp cho cơ
quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết Tin báo về tội phạm là
những thơng tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên phương tiện thông tin
đại chúng hoặc do cơ quan, tô chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách
nhiệm tiếp nhận, giải quyiết”[7, tr 18]
Theo Từ điển Pháp luật Việt Nam thì: “tin báo về tội phạm là thơng tin
về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tô chức, cá nhân thơng báo với
cơ quan có thẩm quyền hoặc thơng thơng tin về tội phạm trên phương tiện
thông tin đại chủng”; “tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố
cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thâm quyền ”[13, tr201 ]
về cơ bản, các khái niệm đều thống nhất chủ thể của tố giác về tội phạm
là cá nhân và đối tượng của tố giác về tội phạm là hành vi có dấu hiệu tội
phạm. Các khái niệm cũng đều thống nhất tin báo, tố giác về tội phạm là
thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm.Trong luận văn thạc sĩ của mình,
tác giả Ngơ Long Khánh định nghĩa: “Tin báo, tố giác về tôi phạm là những
thông tin về tội phạm được quy định trong BLHS do công dân, cơ quan, tổ
chức cung Cấp bằng các hình thức thong tin khác nhau, do các phương tiện
thông tin đại chúng nêu lên hoặc do người phạm tội tự thủ đê cho cơ quan có
trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo qui định của BLTTHS”[ỈŨ, tr 13]
Trong luận văn của mình, tác giả Nguyễn Quang Hịa cho rằng: “cần
hiếu bản chất của tin báo do công dân hoặc cá nhân cung cấp là tố giác tội
phạm ” [14, tr 13].Ổ khía cạnh nhất định, tác giá đồng tình với quan điểm này.
Ví dụ, khi cá nhân báo tin về một vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong đó chỉ ra
hành vi có dấu hiệu tội phạm, như hành vi cướp, cố ý gây thương tích và
người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì đây chính là tố giác về tội
10
phạm. Nêu một cá nhân có chức vụ, như Chủ tịch HĐND huyện, Phó Chủ
tịch UBND tỉnh nhân danh cơ quan, tổ chức để tố cáo một hành vi có dấu
hiệu tội phạm thì đây chính là tin báo về tội phạm do cơ quan, tồ chức cung
cấp. Tuy nhiên, nếu người có chức vụ đó nhân danh cá nhân mình để tố cáo
hành vi có dấu hiệu tội phạm thì được coi là tố giác về tội phạm hay tin báo
về tội phạm? Theo quan điểm của tác giả, đây chính là trường hợp tố giác về
tội phạm vi thỏa mãn dấu hiệu chủ thể là cá nhân, không quan trọng cá nhân
đó thực
• hiện
• hành vi tố cáo về hành vi có dấu hiệu
• tội
• phạm
1 • với tư cách là
một cơng dân bình thường hay với tư cách là một người đang nắm giữ chức
vụ.
Tuy nhiên, trên thực tiễn cũng xảy ra trường họp, cá nhân phát hiện ra
một vụ việc có dấu hiệu tội phạm nhưng khơng xác định được người nào có
hành vi có dấu hiệu tội phạm mà chỉ có thể báo tin với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền về vụ việc này. Ví dụ một cá nhân phát hiện ra một xác chết đang
bị phân hủy trong một vườn cây bỏ hoang và báo cho công an xã. Vậy trường
hợp này cần coi là tin báo hay tố giác về tội phạm? Tác giả luận văn cho rằng
để được coi là tố giác về tội phạm, cá nhân báo tin cần phải chỉ ra hành vi có
dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm này. Do
vậy, nếu cá nhân chỉ báo tin về một vụ việc có dấu hiệu tội phạm, như vụ xác
chết trong vườn cây bỏ hoang vừa nêu trên, thì cần được coi là tin báo về tội
phạm.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về tin báo, tố giác về
tội phạm như sau:
Tin báo về tội phạm là những thơng tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm
do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
bằng bất kỳ hình thức hoặc phương thức truyền tin nào. Tin báo về tội phạm
có thể được truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng.
11
Tô giác vê tội phạm là những thông tin vê hành vi có dâu hiệu tội phạm
được quy định trong Bộ huật hình sự do cá nhân cung cấp cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
> Khái niệm giải quyết tổ giác, tin báo về tội phạm
Mặc dù có những đặc điểm khác nhau nhưng tin báo, tố giác về tội phạm
đều có chung một bản chất là nguồn thơng tin về tội phạm, và chính vì cùng
chung đối tượng phản ánh là về vấn đề tội phạm nên yêu cầu phải được tiếp
nhận, giải quyết theo một trình tự luật định... Trên thực tế, chất lượng thông
tin được cung cấp thông qua hoạt động cung cấp tin báo, tố giác về tội phạm,
kiến nghị khởi tố thường không đồng đều. Trong nhiều trường hợp, vì lý do
khác nhau, những thơng tin được chuyển tải đến cơ quan có thẩm quyền
khơng được chính xác và đầy đù. Đồng thời, trong nhiều trường hợp, các
thông tin do người tố giác hoặc báo tin cung cấp có thể chưa đủ cơ sở đế xác
định đầy đủ các dấu hiệu của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, đây là những
nguồn thông tin ban đàu giúp cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng tiến hành các thủ tục nhằm xác minh sự thật khách quan để xác định căn
cứ khởi tố hay khơng khởi tổ vụ án hình sự. Do đó, tin báo, tố giác về tội
phạm và kiến nghị khởi tố cần phái được tiếp nhận, ghi nhận và xử lý theo
những trình tự, thủ tục và biện pháp hiệu quả. Nếu cơ quan có thẩm quyền
thực hiện những biện pháp thích hợp khi tiếp nhận được tin báo, tố giác về tội
phạm, kiến nghị khởi tố, nhanh chóng tiếp cận hiện trường, tiến hành các hoạt
động điều tra tại hiện trường, lấy lời khai người bị hại, khám xét, truy tìm sẽ
giúp ngăn chặn kịp thời hậu quả của tội phạm, ngăn chặn hoặc hạn chế cơ hội
người phạm tội xóa dấu vết. Bên cạnh đó, CQĐT cũng cần nhanh chóng thực
hiện những biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ nguồn thông tin, bảo vệ người
cung cấp thông tin... Vì vậy, những hoạt động nghiệp vụ của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền khi tiếp nhận tin báo, tổ giác về tội phạm và kiến nghị
12
khởi tô là rât cân thiêt. Đây là những bước tiên đê đê tiên hành các thù tục tơ
tụng hình sự tiếp theo như khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tạm giam,
truy tố, xét xử,...
Như vậy, việc tiếp nhận, giài quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến
nghị khởi tố là những hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo
đảm chất lượng nguồn đầu vào của tố tụng hình sự, hạn chế khả năng bổ lọt
tội phạm cũng như hạn chế khả năng gây ra những thiệt hại nghiêm trọng hơn
do tội phạm gây ra.
Theo tìm hiểu của tác giả, chưa có một khái niệm chính thức nào cho
việc giãi quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong các văn bản quy phạm pháp
luật tại Việt Nam. Thông qua những nhận định trên, tác giả đưa ra khái niệm
như sau: “Giải quyết tin háo, to giác về tội phạm là những hoạt động của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền theo trĩnh tự pháp luật tố tụng hình sự quy
định nhằm ghi nhận, xác mình các nguồn tin về tội phạm để có các biện pháp
ngăn ngừa kịp thời cũng như thu thập những thông tin cần thiết để ra các
quyết định tố tụng tương ứng và phục vụ các hoạt động điều tra tiếp theo
> Khái niệm và đặc điểm của kiếm sát việc giải quyết to giác, tin báo về
tội phạm
• Khái niệm
Trong khoa học luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa
thống nhất về khái niệm: "kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm" bởi lẽ, chúng ta mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở cấp độ kiểm sát các
hoạt động tư pháp nói chung hoặc cụ thể là kiểm sát một giai đoạn nào đó
trong q trình TTHS như khái niệm kiểm sát khởi tố, kiểm sát điều tra...
"Kiểm sát" theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt: "Là kiểm tra việc
chấp hành pháp luật cùa nhà nước ”[34, tr 198],Theo đó, nội dung của khái
niệm "kiểm sát" là hoạt động kiểm tra với đối tượng kiểm tra là việc chấp
13
hành pháp luật. Như vậy định nghĩa này vân chưa chỉ ra được chủ thê của
hoạt động kiểm sát. Theo pháp luật thực định, chỉ có một loại chủ thể có chức
năng kiểm sát việc giải quyết, tin báo tố giác tội phạm, đó là VKS. Khoản 4
Điều 103 BLTTHS 2003 quy định: "Viện kiêm sát có trách nhiệm kiêm sát
việc giải quyết của Cơ quan điều tra đổi với tin báo, tổ giác về tội phạm và
kiến nghị khởi /ố ”[21, khoản 4 Điều 103], Như vậy theo BLTTHS2003, kiểm
sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm đổi với VKS là một chức năng,
một nghĩa vụ luật định của VKS.
Luật tổ chức VKSND 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn cùa VKSND
khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố bao gồm: Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người
trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế
quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố; Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng
khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tổ giác,
tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Khi cần thiết đề ra yêu cầu kiểm tra,
xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố thực hiện; Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp
luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKSND đã yêu cầu
nhưng không được khắc phục; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để thực
hành quyền công tổ theo quy định của BLTTHS nhằm chống bỏ lọt tội phạm,
chống làm oan người vô tội.
Tham gia vào “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước”
nóichung, hay kiểm tra việc chấp hành pháp luật cùa CQĐT trong việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm nói riêng khơng chỉ có VKS mà cịn có các
chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân
14
cử, cá nhân cơng dân và tồn thê xã hội nói chung. Quyên "kiêm tra việc châp
hành pháp luật của Nhà nước" của CQĐT trong hoạt động giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm của các chủ thể khác xuất phát tù’ nguyên tắc cơ bản của
Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và quyền cơng dân. Điều
28 Hiến pháp nước Cộng hịa XHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định: "Cơng
dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội...". Điều 13 Luật tố chức
Cơ quan điều tra hình sự quy định: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội,
Đoàn đại biêu Quốc hội, đại biêu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội
đồng nhân dân, Ưỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
của Mặt trận giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra... ”.Tuy nhiên
đối với các chù thể này việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan tiến
hành tố tụng không phải là chức năng hoạt động giống như VKS mà nó chỉ là
quyền, nghĩa vụ phái sinh từ những chức năng, hoạt động khác hay các quyền,
các hoạt động mang tính tự nguyện, về bản chất, các hoạt động của những
chủ thể này như: theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tổ tụng báo cáo tình hình
hoạt động, yêu cầu trả lời lý do ra quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi
phạm... cũng hướng tới việc phát hiện kịp thời để loại trừ việc vi phạm pháp
luật của cơ quan hoặc cá nhân trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm tuy nhiên nó chì là hoạt động giám sát việc tn theo pháp luật. Sự khác
nhau cơ bản giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các
chủ thể khác chính là hình thức thực hiện mà cụ thể là phương thức và các
quyền năng mà pháp luật TTHS cho phép khi thực hiện.
Như vậy có thế hiểu kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
tội phạm là hoạt động của VKSND thông qua việc sử dụng các quyền năng
pháp lý được quy định thực hiện chức năng kiểm sát một cách liên tục, cụ thể
và trực tiếp việc tuân theo pháp luật trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố
15
giác, tin báo tội phạm cùa CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiên hành một
số hoạt động điều tra.
Song song với chức năng kiểm sát, VKSND còn được giao chức năng
thực hành quyền cơng tố trong q trình kiểm sát. Bới lẽ, nếu đơn thuần chỉ
giao cho VKS chức năng kiểm sát thì trách nhiệm của VKS chỉ dừng lại ờ các
hoạt động kiểm tra, giám sát đế phát hiện vi phạm, tội phạm của cơ quan, cá
nhân mà khơng có thẩm quyền xử lý. Do vậy dẫn đến khả năng pháp luật
khơng đảm bảo tính nghiêm minh, kịp thời xử lý các hành vi vi phạm và
phạm tội. Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng
hình sự• để thực
hiện
việc
buộc
tội
của Nhà nước đối với người phạm
tội,
•
•
•
•
•
1
•
• y được
•
thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Từ các phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm kiếm sát việc
giảiquyết tin báo, tố giác về tội phạm như sau: "Kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm là nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc
kiêm tra, giám sát Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một so hoạt động điều tra nhằm đảm bảo quá trình này được thực hiện theo
đủng quy định của pháp luật tổ tụng hình sự".
• Đặc điểm của kiêm sát việc giải quyết tổ giác, tin báo về tội phạm
Thứ nhất, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là hoạt
động mang tính quyền lực nhà nước.
Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp 2013 thì VKSND là cơ quan duy
nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp. Như vậy, Quốc hội với tư cách là cơ quan có quyền lực cao nhất của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong văn bản pháp luật có giá trị
cao nhất đã giao cho VKS quyền kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó bao
gồm kiếm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Điều này được
16
khăng định một lân nữa, và làm rõ hơn thông qua Luật tô chức VKSND,
BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Thơng qua việc kiểm sát, VKSND đảm bão việc tiếp nhận và giãi quyết
tố giác, tin báo về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền được tiến hành
theo đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên liên
quan, đảm bảo sự nghiêm minh, cơng chính của pháp luật. VKS có quyền áp
dụng những biện pháp được quy định trong BLHS và BLTTHS khi phát hiện
những sai phạm.
Thứ hai, đối tượng kiểm sát trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm:
Hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền, cụ thể là CQĐT, các cơ quan
khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong q trình
tiếp nhận, giải quyết tơi giác, tin báo về tội phạm là đối tượng của công tác
kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Thông qua
hoạt động kiểm sát, VKS đảm bảo hoạt động này được thực hiện đúng theo
trình tự, thủ tục được quy định bởi BLTTHS, đảm bảo kết quả giải quyết
chính xác, khơng bỏ lọt tội phạm, không làm bị oan người vô tội.
Thứ ba, phạm vi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm
VKSND bắt đàu kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm từ khi Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kết thúc khi các
Cơ quan đó ra quyết định giài quyết Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc
quyết định khơng khởi tố vụ án hình sự và thơng báo kết quả giải quyết theo
quy định của pháp luật.
VKSND có quyền kiểm sát toàn bộ những hoạt động mà các Cơ quan
điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
17
thực hiện trong q trình giải qut tơ giác, tin báo vê tội phạm bao gôm tiêp
nhận, xác minh, thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.
77iứ tư, nội dung kiếm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm:
VKSND tiến hành kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm được thực hiện đầy
đủ, đúng, kịp thời theo đúng trình tự về thù tục và thời gian được quy định
trong pháp luật tố tụng hình sự. Thơng qua đó, VKSND đảm bảo những quyết
định, thông báo kết quả của những Cơ quan đó là chính xác, khơng bở lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội, tạo cơ sở pháp lý cho những giai đoạn sau
của tố tụng hình sự (nếu có)
Thứ năm, phương thức kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm:
Khác với kiểm sát việc điều tra vụ án hình sự, kiểm sát xét xử vụ án hình
sự... VKSND trong giai đoạn này không trực tiếp tham gia vào việc tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm: không tham gia hởi người tố
giác, khơng tham gia vào q trình xác minh... mà chủ yếu thông qua hồ sơ
do Cơ quan Điều tra, cơ quan có thẩm quyền điều tra cung cấp. Chỉ khi phát
hiện có những sai sót nghiêm trọng về mặt tố tụng, hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội
phạm đã được VKS yêu cầu bàng văn bản nhưng khơng được khắc phục thì
VKS mới có quyền trực tiếp giải quyết tổ giác, tin báo về tội phạm
1.1.2. Cư sở của quy định kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm
Thứ nhất, thực hành kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo là một phần
của quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS.
Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 quy định: “Viện kiềm sát nhân dân
18
thực hành quyên công tô, kiêm sát hoạt động tư pháp ”. Thực tê là chức năng
kiểm sát trước đây được giao cho rất nhiều cơ quan khác nhau. Tuy nhiên kể
từ khi Hiến pháp 2013 được ban hành, VKSND là cơ quan duy nhất, đại diện
Nhà nước có chức năng, có quyền, và có nghĩa vụ tiến hành các hoạt động
kiểm sát trong tố tụng hình sự. Điều này là phù hợp với khoa học hình sự, và
tình hình thực tế tại Việt Nam
Thứ hai, căn cứ vào chức năng cơ bản của tố tụng hình sự
Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức VKSND 2014 quy định: “Viện kiếm sát
nhãn dãn là cơ quan thực hành quyền công tố, kiếm sát hoạt động tư pháp
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Việc kiểm sát hoạt động tư
pháp được hiểu là việc VKS phát hiện những sai sót của người tiến hành tố
tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để kịp thời áp dụng
những biện pháp xử lý, đảm bảo pháp luật được thi hành. Việc kiểm sát hoạt
động tư pháp được bắt đầu ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
bởi lẽ đây là căn cứ, cơ sở cho việc không khởi tố VAHS, hay KTVAHS làm
điều kiện tiền đề để tiến hành các giai đoạn tố tụng sau.
Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là phần của kiểm sát
hoạt động tư pháp. Do đó, việc quy định pháp luật giao cho VKSND trách nhiệm
kiểm sát hoạt động tư pháp là phù họp với trách nhiệm, nhiệm vụ của VKS
Thứ ba, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự
Một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là “ngun tắc
thực hành quyền cơng tố và kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự”[4, tr 52],Điều 20 BLTTSHS năm 2015 quy định: “Viện kiêm sát
thực hành quyền công to và kiêm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hĩnh sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm
mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp
luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đủng tội, đúng pháp luật, không
19