LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan Luận văn là cơng trình nghiên cứu của riêng
học viên. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Học viên đã hoàn thành tất cả các mơn
học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định của Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy học viên viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để học
viên có thê bảo vê Luân văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Ngưòi cam đoan
Nguyễn Tuấn Anh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SÔ VÁN ĐÈ LÍ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ CỦA
VIỆN KIẺM SÁT NHÂN DÂN THEO THỦ TỤC PHÚC
THẨM TRONG TĨ TỤNG HÌNH sụ................................................. 7
1.1.
Khái niệm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ
tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự...................................................... 7
1.2.
Đặc điểm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ
tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự.................................................... 15
1.2.1.
Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý đặc biệt và chỉ có
Viện kiểm sát mới có quyền thực hiện................................................ 15
1.2.2.
Kháng nghị phúc thẩm là căn cứ pháp lý để Tòa án xét xử phúc
thẩm và xác định giới hạn xét xử phúc thẩm của Tòa án.................... 16
1.2.3.
Hệ quả của kháng nghị phúc thấm là những phần của bản án,
quyết định bị kháng nghị thì chưa có hiệu lực thi hành...................... 17
1.3.
Ý nghĩa của việc quy
định
và
thực
hiện
kháng
nghị
của
Viện
> V •
•
•
•
•
kiểm sát nhân dân theo thu tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự... 17
1.3.1.
Ýnghĩapháplí.................................................................................... 17
1.3.2.
Ý nghĩa chính trị - xã hội..................................................................... 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................. 21
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH sự
VIỆT NAM VỀ KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIÊM SÁT
NHÂN DÂN THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM.................................22
2.1.
Quy định của pháp luật tơ tụng hình sự Việt Nam vê kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trước
khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luậtError! Bookmai
2.2.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về
kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩmError! Bookmí
2.2.1.
Đối tượng của kháng nghị................................................................... 22
2.2.2.
Chủ thể kháng nghị............................................................................. 23
2.2.3.
Căn cứ kháng nghị................................................................................ 25
2.2.4.
Thời hạn kháng nghị.............................................................................38
2.2.5.
Quyết định kháng nghị....................................................................... 40
2.2.6.
Hậu quả của kháng nghị...................................................................... 43
2.2.7.
Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị....................................................... 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 46
CHƯƠNG 3: THỤC TIỄN KHÁNG NGHỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI THEO THỦ TỤC PHÚC
THẨM TRONG TĨ TỤNG HÌNH sự VÀ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ.........................................................................................47
3.1.
Thực tiễn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
Hà Nội theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự................... 47
3.1.1.
Những kết quả đạt được..................................................................... 47
3.1.2.
Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân............................................ 52
3.2.
Giải pháp nâng cao hiệu quả kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự............... 59
3.2.1.
Giải pháp hồn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về
kháng nghị phúc thẩm..........................................................................59
3.2.2.
Giải pháp khác...................................................................................... 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.................................................................................. 67
KẾT LUẬN................................................................................................................ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 69
DANH MỤC CÁC CHŨ VIẾT TẤT
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
TAND
Tịa án nhân dân
VAHS
Vu• án hình sư•
VC1
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội
VKS
Viên
• kiểm sát
VKSND
Viên
• kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
So niêu
•
Tên bảng
Bảng 3.1
B ảng số liệu cơng tác kháng nghị và giải quyết án có kháng
nghị phúc thẩm hình sự của VC 1 từ năm 2016 - 2020
Bảng 3.2
Trang
48
Bảng số liệu công tác kháng nghị và giải quyết án có
kháng nghị phúc thẩm hình sự do VC1 ban hành kháng
nghị từ năm 2016 - 2020
Bảng 3.3
49
Bảng số liệu công tác kháng nghị và giải quyết án có
kháng nghị phúc thẩm hình sự do VKSND cấp tỉnh ban
hành kháng nghị từ năm 2016 - 2020
Bảng 3.4
Bảng số liệu thụ lý và giải quyết án theo thủ tục phúc
thẩm của TAND cấp cao tại Hà Nội
Bảng 3.5
50
53
Băng số liệu việc thực hiện gửi bản án, quyết định sơ
thẩm của VKS cấp tỉnh đến VC1
58
MỞ ĐẦU
1. Tính câp thiêt và lý do chọn đê tài
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp “cớ nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ che độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tơ chức, cá nhân, góp phần bảo
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 được thể hiện tại Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BCHTW Đảng xác định mục tiêu ‘‘Xây
dựng nền tư pháp trong sạch, vũng mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tô quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến
hành hiệu quả và hiệu lực cao”. Với vị trí của mình trong hoạt động tư pháp,
đặc biệt là trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có vai trị quan
trọng trong việc đẩy mạnh thực hiện cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
Viện kiểm sát bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố,
điều tra, xử lý kịp thời; việc truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội; không làm oan
người vô tội. Trong số những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố
tụng hình sự, kháng nghị phúc thấm là quyền năng pháp lý quan trọng mà luật
chỉ giao cho Viện kiểm sát thực hiện, đây không những là quyền mà còn là
trách nhiệm, là hoạt động nhằm thực hiện chức năng của ngành
Thực hiện Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về ‘‘Tăng cường công tác kháng
nghị phúc thâm án hình sự”', Chỉ thị số 08/CT-VKSTC ngày 06/4/2016 của
Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân tôi cao vê “Tiêp tục tăng cường cơng tác
kháng nghị án hình sự" nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng
nghị ở các cấp, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cùa công tác
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Trong những
năm qua, hoạt động kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm
hình sự của Tịa án nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định, chất lượng
kháng nghị dần được nâng lên. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt
được, công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân vần còn
những tồn tại, hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, từ chú quan
đến khách quan. Điều này khiến cho chất lượng công tác kháng nghị phúc
thẩm bị ảnh hưởng, chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người
tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân, chưa thể hiện hết chức năng,
nhiệm vụ của Viện kiểm sát.
Chính vì vậy, học viên lựa chọn đề tài “Kháng nghị của Viện kiêm sát
nhân dân theo thủ tục phúc thăm trong tổ tụng hình sự (trên cơ sở thực tiễn
tại Viện kiêm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội) ” làm luận văn thạc sĩ nhằm
mục đích thơng qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, tìm
ra nguyên nhân những tồn tại, hạn chế, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị
nhằm nâng cao chất lượng công tác kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong
thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình
sự, có thể kể đến như sau:
- Hồ Ngọc Thảo (2013), “Một số giải pháp thực hiện có hiệu q cơng
tác kháng nghị phúc thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát (21)
2
- Lê Thành Dương (2014), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
kháng nghị phúc thẩm hình sự”, Tạp chí Kiêm sát (12)
- Nguyễn Huy Tiến (2014), “Quyền kháng nghị bản án, quyết định của
Tịa án”, Tạp chí Kiểm sát (12)
- Nguyễn Thị Lan (2017), “Giải pháp nâng cao chất lượng cơng tác
kháng nghị phúc thấm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải
Phòng”, Tạp chí kiểm sát (03)
- Nguyễn Văn Lam (2020), “Bàn về giới hạn của việc bổ sung kháng
cáo, kháng nghị phúc thấm bản án hình sự”, Tạp chí Tịa án nhân dân (18)
- Trần Thị Minh Ngọc (2011), Công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự
của Viện kiêm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
Luận văn thạc sĩ, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội
- Nguyễn Thị Thu Hà (2016), Kháng nghị phúc thẩm vụ án hình sự
theo luật
tố tụng
Việt
Nam (trên
cơ sở sổ liệu
thực
tiễn địa
bàn tỉnh
•
•
o hình sự
•
•
\
•
•
•
Hà Giang), Luận văn thạc sĩ, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội
- Mai Thanh Hiếu (2015), Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị theo thủ
tục phúc thâm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội
- Nguyễn Anh Đức (2018), Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc
thâm trong Bộ luật To tụng hình sự 2015, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội
- Nguyễn Đức Hưng (2019), Kháng nghị bản án hình sự SO' thâm
theo thủ tục phúc thâm và thực tiễn tại Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ, Đại
học Luật Hà Nội.
Trong các cơng trình nghiên cứu trên đây, trên cơ sở phân tích lý luận
và thực tiễn có liên quan, các tác giả đã phân tích đánh giá quy định của pháp
luật tố tụng hình sự và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm. Tuy nhiên, trong
3
khoa học luật tơ tụng hình sự Việt Nam chưa có nhiêu cơng trình nghiên cứu
về kháng nghị phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sư. Do vậy,
đề tài luận văn này sẽ kế thừa một phần cơ sở lý luận của các nghiên cứu trên;
phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về kháng nghị
phúc thẩm, đồng thời phản ánh thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm
trong phạm vi Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhằm cung cấp các
căn cứ khoa học và thực tiễn để góp phần hồn thiện pháp luật, nâng cao hiệu
quả cơng tác kháng nghị phúc thẩm.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cún
Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những quy định của pháp luật về kháng nghị phúc
thẩm; phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn
công tác kháng nghị phúc thẩm trên cơ sở đó tìm ra những hạn chế, vướng
mắc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu cùa luận văn là:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật tố
tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm
- Nghiên cứu thực tiên kháng nghị phúc thâm của Viện kiêm sát nhân
dân cấp cao tại Hà Nội
- Đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác kháng nghị
9
phúc thâm.
__
r
.
. ~
-
4. Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, pháp luật
và thực tiễn liên quan đến kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự.
4
Phạm vi nghiên cún
Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về kháng nghị phúc thẩm.
Vê phương diện lí luận, phạm vi nghiên cứu của luận văn là những
vấn đề lí luận trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam về kháng
9
nghị phúc thâm.
Vê phương diện pháp luật, phạm vi nghiên cứu của luận án là những
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kháng nghị phúc thẩm.
Vê phương diện thực tiên, phạm vi nghiên cứu của luận án là thực tiên
công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà
Nội từ năm 2016 đến hết tháng 6 năm 2021.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cún
Luận văn nghiên cứu dựa trên nên tảng cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác
- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về Nhà
nước và Pháp luật.
Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, thơng kê, so
sánh, tổng hợp để trình bày cụ thể, rõ ràng được những nội dung của đề tài.
6. Y nghĩa của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ một sơ vân đê lí luận vê kháng nghị phúc thâm,
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về kháng nghị
phúc thẩm, cũng như thực tiễn công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, học viên đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu quả kháng nghị phúc thẩm. Ket quả nghiên cứu của luận
văn có thê sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, xây
dựng và thi hành pháp luật về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tổ
tụng hình sự.
5
r
r
7. Ket câu của luận văn
>
- x
f
Ngoài phân mở đâu, kêt luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gơm có 3 chương:
Chương ỉ'. Một số vấn đề lí luận về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân
dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự.
Chương 2‘. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm.
Chương 3: Thực tiễn kháng nghị cùa Viện kiếm sát nhân dân cấp cao
9
r
tại Hà Nội theo thú tục phúc thâm trong tơ tụng hình sự và giải pháp nâng cao
hiệu quả.
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÈ KHÁNG NGHỊ CỦA
VIỆN KIẾM SÁT NHÂN DÂN THEO THỦ TỤC PHÚC THẤM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH sụ
1.1. Khái niệm kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo thủ tục
phức thẩm trong tố tụng hình sự
Viện kiểm sát (VKS) là một hệ thống cơ quan độc lập, là cơ quan duy
nhất có quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, do đó,
hoạt động giám sát của VKS mang tính độc lập, khách quan và có hiệu quả
cao. Hoạt động này của VKS diễn ra trong tất cả các giai đoạn tố tụng trong
đó có giai đoạn xét xử của Tòa án, đây là điều kiện quan trọng để VKS giám
sát hoạt động tố tụng của Tòa án, kịp thời phát hiện ra vi phạm. Theo đó, thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử VAHS là việc VKS sử dụng tổng
hợp các quyền hạn được quy định trong BLTTHS đề truy cứu trách nhiệm
hình sự, buộc tội, đề nghị áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Cùng với
chức năng thực hành quyền công tố, VKS cịn có chức năng kiểm sát việc
tn theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng nhằm đảm
bảo việc xét xử đúng pháp luật.
Kháng nghị theo thủ tục phúc thấm là một loại kháng nghị trong tố tụng
hình sự. Quyền kháng nghị này đã được quy định trong các văn bản pháp luật
của nước ta qua từng giai đoạn. Theo đó, khi cơng tố cịn là một bộ phận của
Toà án tại Điều 34 sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946 của Chủ tịch nước đã quy
định về quyền kháng nghị “Toà đại hĩnh xử sơ thấm, Ông Biện lý, bị can và
nguyên đơn có quyền chống án lên Toà Thượng thâm
Tiếp đến, tại điểm c Điều 1 mục II Thông tư số 141-HCTP ngày
5/12/1957 của Bộ Tư pháp quy định: “Ơng cơng tố uỷ viên, dưới sự lãnh đạo
của Bộ Tư pháp có nhiệm vụ kháng nghị đoi với bản án hoặc nghị quyết của
7
tồ án khơng đúng pháp luật”.
Đen khi Luật tổ chức VK.SND ra đời, chức năng kháng nghị phúc thẩm
đã chính thức được ghi nhận tại Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 1960:
“Viện kiêm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương
có quyền: kháng nghị những hán án hoặc quyết định sơ thâm của Toà án
nhân dân cùng cấp và dưới một cap ”.
Trong giai đoạn tiếp theo, chức năng kháng nghị phúc thẩm của VKS
được quy định lại tại Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 1981 cũng có những
sửa đổi, bố sung: “Khi thực hiện công tác kiêm sát xét xử, các Viện kiếm sát
nhân dân có quyền: ... Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tồ án nhân dân cùng cấp
và dưới một cap, khi thay có vi phạm pháp luật”. Việc kháng nghị phúc thẩm
hình sự ở giai đoạn này được thực hiện theo “Bản hướng dẫn về trình tự tố
tụng phúc thâm về hình sự kèm theo Thông tư sổ 19-TATC ngày 2 tháng 10
năm 1974 của Toà án nhân dân Toi cao”.
Năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta ra đời có ý nghĩa rất quan
trọng. BLTTHS quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án hình sự đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cơng dân, phục vụ tích cực
cơng cuộc đổi mới, đấu tranh phòng chống tội phạm. Tại BLTTHS này,
kháng nghị phúc thẩm hình sự đã được quy định thành những điều luật cụ thể
tại Phần thứ tư, chương XXII tại các Điều 206, Điều 207, Điều 208, Điều 210,
Điều 211, Điều 212, Điều 213.
Sau khi đã được quy định trong BLTTHS năm 1988, tại Luật tổ chức
VK.SND năm 1992, chức năng kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKS được
sửa đổi, bo sung theo hướng gắn với pháp luật tổ tụng hình sự:
8
Khi thực hiện công tác kiêm sát xét xử vụ án hình sự, Viện kiêm
sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây... 3Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các
bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự.
Đến Luật tổ chức VKSND năm 2002, chức năng kháng nghị của VKS
đã tiếp tục được sửa đổi, bổ sung thêm việc VKS có quyền kháng nghị khi thực
hành quyền cơng tố của mình chứ khơng chỉ gói gọn khi thực hiện việc kiểm
sát xét xử. Cụ thể, tại Điều 19 của Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định:
Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự,
Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án
nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị với Tòa án nhân
dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong việc xét xử; kiến
nghị với cơ quan, tố chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp
phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật; nếu có dấu hiệu tội
phạm thì khởi tố về hình sự.
Để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác
như BLHS năm 1999, Luật tổ chức VKSND năm 2002, Luật tổ chức TAND
năm 2002 cũng như đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, BLTTHS năm 2003 ra
đời đã thay thế cho BLTTHS năm 1988 đã kế thừa và giữ lại những điều luật
còn phù hợp, loại bở, sửa đổi những quy định khơng cịn phù hợp, bổ sung và
xây dựng nhũng quy định mới. Trong đó, nhũng quy định về kháng nghị phúc
thẩm tiếp tục có những sửa đổi, bổ sung và được quy định tại các Điều 232,
Điều 233, Điều 234, Điều 236, Điều 237, Điều 238 và Điều 239 cũng tại Phần
thứ tư, chương XXII.
Hiện nay, những quy định về kháng nghị phúc thẩm được quy định tại
9
BLTTHS năm 2015 và Luật tô chức VKSND năm 2014. Thông qua sự thay
đối trong những quy định của Luật tố chức VK.SND và đặc biệt là của
BLTTHS, chức năng kháng nghị phúc thẩm hình sự được sửa đổi, bồ sung,
hoàn thiện phù hợp với mồi giai đoạn cụ thể, góp phần quan trọng trong việc
thực hiện các chức năng của ngành kiềm sát.
BLTTHS cũng như các vãn băn pháp luật có liên quan chưa có một
khái niệm cụ thể thế nào là kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Mặc dù vậy,
đã có một số tác giả đưa ra khái niệm về kháng nghị theo thủ thục phúc thẩm.
Thuật ngữ “Kháng nghị ” được hiểu “là sự bày tở ý kiến phản đối bằng
vãn bản chính thức’’ [67, tr. 492]; Kháng nghị trong tố tụng hình sự là “việc
Viện kiêm sát yêu cầu Tòa án xét lại bản án, quyết định sơ thâm chưa có hiệu
lực pháp luật theo thú tục phúc thâm, xét lại bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thâm hoặc tái thâm ’’ [57]. Trong tố
tụng hình sự nước ta, chủ thể có quyền kháng nghị với mọi thủ tục là VKS.
VKS kháng nghị đối với bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thấm
quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm
quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân.
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật
Hà Nội, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là việc “người có thâm quyền yêu
cầu Tòa án xét lại bản án, quyết định sơ thâm chưa có hiệu lực pháp luật theo
thủ tục phúc thâm ” [55, tr. 183]. Trong Từ điển luật học của Viện khoa học
pháp lý, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là:
Hành vi tố tụng của người có thẩm quyền thể hiện việc phản đối
toàn bộ hoặc một phần nội dụng bàn án hoặc toàn bộ bán án, quyết
định của Tịa án với mục đích bảo đảm cho tồn bộ việc xét xử
được chính xác, cơng bằng đồng thời sửa chừa những sai lầm trong
10
bản án, quyêt định của Tòa án [57, tr. 227]
Tác giả Đinh Văn Quế tiếp cận kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là
một văn bản pháp lý của VKS đã đưa ra khái niệm:
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một văn bản do Viện kiểm sát
ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Tòa án
cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét
thấy không đúng pháp luật [25, tr. 277],
Khái niệm này đã thề hiện chủ thể kháng nghị và tịa án có thẩm quyền
xét xử lại vụ án khi có kháng nghị phúc thẩm. Tuy nhiên, khái niệm này chưa
chỉ ra được đối tượng của kháng nghị phúc thẩm là bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực và căn cứ để thực hiện kháng nghị là bản ám, quyết
định đó phải có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Tiếp cận kháng nghị phúc thẩm dưới góc độ là một trong những quyền
năng tố tụng của VKS và tác giả Lê Thành Dương đã đưa ra khái niệm:
Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý được Nhà nước
giao cho Viện kiểm sát nhân dân để kháng nghị những bản án,
quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tịa án cùng
cấp và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo
thủ tục phúc thẩm nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật,
nghiêm minh và kịp thời [10, tr. 32],
Quan điểm này đã thể hiện đầy đủ các đặc điểm của kháng nghị phúc
thẩm, tuy vậy, sẽ phù hợp hơn khi tác giả chỉ ra chủ thể có quyền kháng nghị
ở đây là VKS cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm và VKS cấp trên trực
tiếp. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng cụm từ “đê kháng nghị’’ là chưa hợp lý bởi
lẽ đây đang là nội dung cần được trình bày, giải thích cụ thể để làm sáng tỏ
khái niệm kháng nghị phúc thẩm là gì.
11
Cũng tiêp cận kháng nghị phúc thâm dưới góc độ là một trong những
quyền năng tố tụng của VKS, Giáo trình đào tạo nghiệp vụ kiểm sát của
Trường Đại học kiểm sát Hà Nội cho rằng:
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một trong những hoạt động
thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai
đoạn xét xử vụ án hình sự, được thực hiện đối với bản án, quyết
định sơ thẩm chưa có hiệu lực nhưng có sự sai lầm trong việc đánh
giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật [54, tr. 70],
Khái niệm này mới chỉ xem xét kháng nghị là hoạt động thực hành
quyền công tố của VKS là không đầy đủ bởi kháng nghị theo thủ tục phúc
thấm còn là quyền năng của VKS trong việc thực hiện chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp.
Khái niệm được đưa ra bởi các tác giả khi nghiên cứu về kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm VAHS đã thể hiện được những nội dung, đặc điềm cơ
bản của kháng nghị, tuy nhiên vẫn có những những điếm thiếu sót, chưa họp
lý. Để có được khái niệm về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoàn chỉnh
cần nghiên cứu, làm rõ về quyền kháng nghị phúc thẩm, bản chất của kháng
nghị phúc thấm và các quy định của pháp luật tố tụng hình sự thể hiện ở các
nội dung sau:
Thứ nhất, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm được ban hành bởi chủ
thể mang quyền lực Nhà nước, có chức năng bảo vệ pháp luật là VKS. Đây là
quyền năng tố tụng Nhà nước trao cho VKS khi phát hiện bản án, quyết định
sơ thẩm của Tịa án có những vi phạm, sai lầm nghiêm trọng. Theo quy định
của pháp luật, hoạt động kiểm sát xét xử được tiến hành đồng thời với q
trình xét xử, khơng cản trở hoạt động xét xử của Tịa án và khơng ảnh hưởng
đến tính độc lập trong hoạt động xét xử. VKS thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử nhằm đăm bảo cho
12
việc xét xừ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời,
không làm oan người vô tội, không để lọt người phạm tội. Đe thực hiện được
chức năng, nhiệm vụ nêu trên, VKS có các quyền hạn như: kiểm sát về thẩm
quyền xét xử, thành phần Hội đồng xét xử; thủ tục tiến hành phiên tòa; phát
biểu quan điểm, ý kiến về việc áp dụng pháp luật; kiểm sát các bản án, quyết
định của Tòa án và thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo
quy định của pháp luật khi phát hiện có vi phạm. Kháng nghị của VKS vừa
thể hiện quyền năng thuộc nội dung thực hành quyền công tố, vừa thể hiện
quyền năng thuộc nội dung kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Những kháng
nghị về nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật trong
đánh giá chửng cứ, kết luận tội phạm, định tội danh hoặc áp dụng không đúng
quy định BLHS, Bộ luật dân sự ... là những kháng nghị thuộc nội dung thực
hành quyền cơng tố. Cịn những kháng nghị do có vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng trong quá trình xét xử là kháng nghị thuộc nội dung kiểm sát việc
tuân theo pháp luật. Thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm có ý nghĩa quan
trọng đối với việc thực hiện tốt chức năng, quyền hạn của VKS trong giai
đoạn xét xử.
Thứ hai, Kháng nghị theo thủ tục phúc thấm được ban hành dựa trên
những quy định của pháp luật. Khi thực hiện quyền kháng nghị, VKS phải
đàm bảo quyết định kháng nghị có đầy đủ căn cứ và phải tuân thủ các quy
định về hình thức, thủ tục và trong thời hạn mà BLTTHS quy định thì mới
được coi là hợp pháp. Kháng nghị phải chỉ rõ những vi phạm nghiêm trọng
trong bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm nhàm sửa
chữa, khắc phục những vi phạm đó, nhờ đó đảm bảo tính đúng đắn của hoạt
động xét xử. Với việc thực hiện quyền này VKS thể hiện vị trí, vai trị của
mình trong hoạt động xét xử góp phần đảm bảo cho mọi hoạt động của các cơ
13
quan, người có thâm qun tiên hành tơ tụng và người tham gia tô tụng được
thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là điều kiện pháp lý làm
phát sinh trình tự xét xử mới - xét xử phúc thẩm và VKS là cơ quan duy nhất
có quyền thực hiện việc kháng nghị này, đây vừa là quyền, vừa là trách nhiệm
của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND). Nếu như với các quyền yêu cầu,
quyền kiến nghị của VKS mang tính “khuyến nghị” thì quyền kháng nghị
phúc thấm lại có tác động trực tiếp đối với các phán quyết của Tịa án bởi khi
có kháng nghị phúc thẩm hợp pháp của VKS thì Tịa án phải mờ phiên tòa
phúc thẩm để xét xử lại vụ án hoặc xét lại bản án, quyết định sơ thẩm. Đây là
cơ sở để xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của các hành vi tố tụng
và các phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm. Với việc thực hiện quyền kháng
nghị phúc thẩm của mình, VKS chỉ ra những vi phạm trong bản án, quyết
đinh, qua đó giúp bảo vệ quan điểm truy tố, đồng thời bảo đảm cho hoạt động
xét xử của Tòa án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với những vi
phạm pháp luật của Tịa án chưa đến mức phải kháng nghị thì VKS thực hiện
quyền kiến nghị với Tịa án có biện pháp khắc phục vi phạm.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm như sau: “Kháng nghị của Viện kiềm sát nhân dân theo thủ tục
phúc thâm trong tổ tụng hình sự là hoạt động của Viện kiếm sát nhân dân khi
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, chống lại bản án hoặc quyết định
sơ thâm chưa cỏ hiệu lực pháp luật trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội
phạm, người phạm tội hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố
tụng, yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thâm xét xử lại vụ
án hoặc xét lại quyết định sơ thâm đó theo thủ tục phúc thầm nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích họp pháp của cơ quan, tơ chức, cá nhân
14
1.2. Đặc diêm kháng nghị của Viện kiêm sát nhân dân theo thủ tục
phúc thẩm trong to tụng hình sự
1.2.1. Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý đặc biệt và chỉ
có Viện kiểm sát mới có quyền thực hiện
Tồ án nhân dân là cơ quan xét xử có tính độc lập, nhưng hoạt động xét
xử của Tồ án chi có thể đạt hiệu quả cao và khơng có những sai phạm
nghiêm trọng khi có sự giám sát của chủ thể khác trong đó có VKS. “Viện
Kiêm sát nhân dân là một thiết chế rất đặc hiệt trong hộ máy nhà nước xã hội
chủ nghĩa. Viện Kiêm sát nhân dân thực hành quyền cơng tố, kiểm sốt hoạt
động tư pháp theo hiến định ” [12, tr. 92], VKS là cơ quan duy nhất trong hệ
thống các cơ quan tư pháp được Hiến pháp và pháp luật quy định có thẩm
quyền tham gia vào tất cả các lĩnh vực tố tụng tư pháp và tham gia vào tất cả
các giai đoạn tố tụng. Đây là điều kiện quan trọng bảo đảm cho VKS có khả
năng giám sát tồn bộ q trình tố tụng, giám sát tồn bộ q trình thực hiện
quyền tư pháp, là cơ sở quan trọng để phát hiện vi phạm trong hoạt động tư
pháp nói chung và trong hoạt động xét xử của Tịa án nói riêng.
Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các VAHS, VKSND
có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Kháng
nghị phúc thẩm là một hoạt động quan trọng của VKSND và chỉ VKS mới có
quyền kháng nghị phúc thẩm. Đây là quyền năng pháp lý đặc biệt bởi lẽ VKS
là cơ quan duy nhất được thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu
Toà án cấp trên xét xử lại vụ án ở cấp phúc thẩm. VKS kháng nghị phúc thẩm
nhằm bảo đảm Toà án ra một bản án chính xác, nghiêm minh, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật và cũng để bảo đảm cho quyết định truy tố của mình.
Việc thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm đã thể hiện rõ chức năng của
VKS, thể hiện vị trí, vai trị quan trọng của VKS trong tố tụng hình sự
15
1.2.2. Kháng nghị phúc thâm là căn cứ pháp lý đê Tòa án xét xử
phúc thẩm và xác định giới hạn xét xử phúc thẩm của Tòa án
Nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (hai cấp
xét xử) là một trong những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự nhằm bảo
đảm cho quá trình tìm ra sự thật khách quan cùa vụ án. Xét xử sơ thẩm là cấp
xét xử thứ nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án phát sinh trên cơ sở cáo
trạng hoặc quyết định truy tố của VKS. Tại phiên tịa hình sự sơ thẩm, trên cơ
sở phân tích, đánh giá tồn diện, khách quan tồn bộ vụ án, HĐXX phải đưa
ra được bản án, quyết định sơ thẩm đối với bị cáo. Xét xử phúc thẩm là cấp
xét xử thử hai, tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án đều phải qua hai cấp xét
xừ mà chỉ tiến hành xét xử phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị đối với
bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Như vậy, kháng
nghị phúc thẩm là một trong những căn cứ pháp lý để Tòa án xét xử phúc
thẩm vụ án. VKS chỉ thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm khi phát hiện
bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật,
khi đó Tịa án cấp trên phải mở phiên tòa xét xử phúc thẩm nhằm khắc phục
những vi phạm, đảm bảo tính có căn cử, đúng pháp luật trong bản án, quyết
định của Tòa án.
Việc thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS không chỉ là
căn cứ pháp lý quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm hình sự mà cịn
“xức định phạm vi hoạt động cũng như quyền hạn của các chủ thê; phạm vi
xét xử phúc thâm và quyền hạn của Toà án cấp phúc thâm ở giai đoạn tố
tụng này" [22, tr. 36], là cơ sở để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện
nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (hai cấp xét xử),
giúp giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
16
1.2.3. Hệ quả của kháng nghị phúc thâm là những phân của bản án,
quyết đinh bị kháng nghị thì chưa có hiệu lực thi hành
VKS có thể kháng nghị một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực. Hệ quả của việc kháng nghị là bản án, quyết định sơ
thẩm hoặc những phần của bản án, quyết định có kháng nghị thì chưa được
đưa ra thi hành. Trên cơ sở kháng nghị của VKS, “Tơồ án cấp phúc thấm
kiêm tra tính họp pháp, tính phù họp pháp luật tố tụng cũng như pháp luật về
nội dung của Toà án cấp sơ thâm khi xét xử vụ án; đồng thời kiêm tra tính có
căn cứ, sự phù hợp của các kết luận của Toà án cấp sơ thâm với các tình tiết
khách quan của vụ án được chứng minh” [11, tr. 22-28] nhằm kịp thời phát
hiện và khắc phục những vi phạm.
Mục đích của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là nhằm khắc phục
những sai lầm, vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án, đảm bảo cho
việc giải quyết vụ án được đúng đắn, khách quan, toàn diện, đúng pháp luật,
xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không đế lọt tội phạm và người
phạm tội, không làm oan người vô tội. Do đó, việc chưa đưa ra thi hành bản
án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định bị kháng nghị nhằm tránh những
hậu quả khó khắc phục trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa hoặc hủy
bản án, quyết định sơ thẩm.
1.3. Ý nghĩa của việc quy định và thực hiện kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự
1.3.1. Ỷ nghĩa pháp lí
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm làm phát sinh và giới hạn việc thực
hiện thẩm quyền của Tồ án cấp phúc thẩm là bảo đảm pháp lí cần thiết cho
việc thực hiện đúng thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm - cấp xét xừ thứ
hai đồng thời là cấp xét xử cuối cùng. Kháng nghị phúc thẩm nhằm kiểm tra,
phát hiện và khắc phục vi phạm của bản án sơ thẩm khi xét xử phúc thẩm,
17
tránh được những sai sót, nâng cao trách nhiệm của Toà án câp sơ thâm trong
việc giải quyết vụ án, bảo đảm mọi vi phạm trong hoạt động xét xử đều bị
phát hiện kịp thời và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy
định của pháp luật.
Thơng qua việc Tồ án cấp phúc thấm sửa hoặc huỷ bản án, quyết định
sơ thẩm chính là hình thức hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với Tịa án cấp
sơ thẩm, bảo đảm tính việc thực hiện pháp luật một cách thống nhất góp phần
nâng cao chất lượng xét xử và phịng ngừa vi phạm của Tồ án các cấp. Bên
cạnh đó, kháng nghị theo thú tục phúc thẩm giúp chỉ ra nhũng khó khăn,
vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật trong việc giải
quyết vụ án, từ đó tìm ra giải pháp thích hợp để sửa chữa, khắc phục về lập
pháp cũng như về việc hướng dần áp dụng pháp luật, về tổ chức và hoạt động
của các cơ quan tố tụng đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm cịn có ý nghĩa pháp lý quan trọng
khác là cơ sở để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện nguyên tắc cơ bản
trong tố tụng hình sự đó là “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo
đảm”. Theo đó, bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị
và được xét xử ở cấp phúc thấm, giúp kịp thời sửa chữa những vi phạm pháp
luật của cấp sơ thẩm, nhằm đảm bảo tính đúng đắn, khách quan của hoạt động
xét xử. Việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này thể hiện thái độ thận trọng của
Nhà nước trong việc đưa ra phán quyết đối với bị cáo.
1.3.2. Ỷ nghĩa chính trị - xã hội
"Tịa án phái là nơi thê hiện đầy đủ nền công lý, thê hiện chất lượng và
uy tín của tồn bộ hệ thong tư pháp nước ta” [46, tr. 367], do đó, trong q
trình xét xử, VKS thực hiện chức năng, quyền hạn của mình đế bảo đảm cho
hoạt động xét xử của Toà án được thực hiện khách quan, toàn diện, xét xử
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng
18
ngừa tội phạm, tạo niêm tin của nhân dân vào cơng lý, góp phân bảo vệ qun
và lợi ích của Nhà nước và công dân, bào đảm pháp chế xã hội chú nghĩa, góp
phần xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm giúp kịp
thời phát hiện những dấu hiệu vi phạm trong bản án của Tịa án bảo đảm mọi
cơng dân đều bình đẳng trước pháp luật, báo đảm cơng bằng xã hội, nâng
cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm, củng cố
lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Toà án, nâng cao uy tín của
các cơ quan tiến hành tố tụng, thực hiện xây dựng một xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
“Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân ” là một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS, đây cũng là
mục tiêu nhất quán, xuyên suốt trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta. Xét xử là hoạt động trung tâm có ý nghĩa quan trọng nhất của hoạt
động tố tụng hình sự, thơng qua hoạt động xét xử tại phiên tòa Hội đồng xét
xử xem xét, đánh giá cơng khai, tồn diện các tài liệu chứng cứ của VAHS
trên cơ sở đó ra bản án, quyết định xác định có hành vi phạm tội, hình phạt
đối với người phạm tội và giải quyết các vấn đề liên quan trong VAHS.
Những quyết định này của Tòa án tác động trực tiếp đến quyền con người,
quyền công dân của bị cáo cũng như của những người tham gia tố tụng khác
và mang ý nghĩa chính trị, xã hội rất sâu sắc. Thông qua hoạt động thực hành
quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa và kiểm sát bản án, quyết định
hình sự sơ thẩm của Tịa án, VKS thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm khi phát hiện có vi phạm trong q trình xét xử VAHS làm ảnh
hưởng đến quyền con người, quyền công dân của những người tham gia tố
tụng. Kháng nghị của VKS “là lá chắn quan trọng của tố tụng hình sự, là cơ
chế để đảm bảo quyền con người không bị tước đoạt một cách tùy tiện và
19