Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

Hoãn chấp hành hình phạt tù trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh ninh bình) (luận văn thạc sỹ luật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (21.37 MB, 88 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh toán
tất că các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa luật xem xét để tơi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

ĐINH TRAN THANH XƯAN

1


MỤC LỤC

MỜ ĐẦU.................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỖN CHẤP HÀNH HÌNH

PHẠT TÙ TRONG LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM..........................................10
1.1. Khái niệm và bản chất của hoãn chấp hành hình phạt tù........................... 10

1.1.1. Khái niệm hỗn chấp hành hình phạt tù....................................................10
1.1.2. Bản chất của hỗn chấp hành hình phạt tù............................................... 14
1.2. Căn cứ hỗn chấp hành hình phạt tù.......................................................... 15


1.3. Mục đích và ý nghĩa của việc hỗn chấp hành hình phạt tù...................... 16

1.3.1. Mục đích của việc hỗn chấp hành hình phạt tù.....................................16
1.3.2. Ý nghĩa của việc hỗn chấp hành hình phạt tù........................................ 17
1.4. Mối quan hệ giữa hỗn chấp hành hình phạt tù với một số chế định có

liên quan................................................................................................................. 18

1.4.1. Với thi hành án hình phạt tù......................................................................18
1.4.2. Với chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù................................ 21
1.4.3. Với chế định miễn chấp hành hình phạt tù.............................................. 24
1.5. Khái quát sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về chế định hỗn

chấp hành hình phạt tù......................................................................................... 26
1.5.1. Giai đoạn trước năm 1945......................................................................... 26
1.5.2. Giai đoạn từ sau năm 1945 đến năm 1985.............................................. 27

1.5.3. Giai đoạn từ 1985 đến trước khi BLHS 2015 có hiệu lực pháp luật.......... 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..................................................................................... 31
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOÀN
CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ VÀ THựC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA

BÀN TỈNH NINH BÌNH..................................................................................... 33
2.1. Quy định của pháp luật hiện hành về hỗn chấp hành hình phạt tù........ 33

••
11


2.1.1. Các điều kiện và thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù........................ 33

2.1.2. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền áp dụng hỗn chấp hành hình phạt tù .. 44

2.1.3. Nghĩa vụ của người đượchỗn chấp hành hình phạt tù......................... 46

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoãn chấp hành hình phạt tù trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình....................................................................................................... 47

2.2.1. Tình hình xét xử vụ án hình sự của TAND hai cấp tỉnh Ninh Bình...........47
2.2.2. Tình hình áp dụng quy định hỗn chấp hành hình phạt tù của Tịa án
nhân dân hai cấp tỉnh Ninh Bình......................................................................... 49

2.2.3. Những kết quả đạt được trong q trình áp dụng hỗn chấp hành hình

phạt tù trên địa bàn tỉnh Ninh Bình..................................................................... 53
2.2.4. Những vướng mắc, bất cập trong q trình áp dụng hỗn chấp hành

hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.............................................................56
2.2.5. Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập......................................... 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..................................................................................... 63
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA

CHẾ ĐỊNH HỖN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
NINH BÌNH.......................................................................................................... 64
3.1. Những yếu tố tác động đến việc nâng hiệu quả của áp dụng chế định hỗn

chấp hành hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Ninh Bình......................................... 64
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Ninh Bình........................ 64

3.1.2. Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới......... 65
3.2. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật vê hỗn châp hành hình phạt tù.... 67

3.3. Nâng cao hiệu quả phối họp giữa Tòa án và các cơ quan, tồ chức, cá nhân

có liên quan........................................................................................................... 72
3.4. Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ chun mơn đạo đức

nghề nghiệp với đội ngũ cán bộ làm công tác hỗn chấp hành hình phạt tù.. 74

•••
Ill


3.5. Đây mạnh công tác tuyên truyên, phô biên, giáo dục pháp luật; tăng cường

tổ chức tập huấn nghiệp vụ và tổng kết rút kinh nghiệm..................................... 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3..................................................................................... 76
KẾT LUẬN CHUNG............................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:...........................................................79

iv


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TÁT

r

BLTTHS

: Bộ luật tô tụng hình sự


BLHS

: Bơ• lt
• hình sư•

HĐTP

: Hội đồng thẩm phán

QĐTHA

: Quyết định thi hành án

THAHS

: Thi hành án hình sư•

TAND

: Tòa án nhân dân

V


DANH MỤC CAC BANG

Bảng 2.1: Thống kê số lượng các vụ án, bị cáo đã thụ lý và giải quyết cùa
TAND hai cấp tỉnh Ninh Bình............................................................................ 47
Bàng 2.2: Thống kê số lượng các bị cáo bị xử phạt tù của TAND hai cấp tỉnh
Ninh Bình...............................................................................................................48


Bảng 2.3: Thống kê số lượng người đã có Quyết định hỗn chấp hành hình

phạt tù của TAND hai cấp tỉnh Ninh Bình......................................................... 50

Bảng 2.4: Thống kê số lượng người được hỗn chấp hành hình phạt tù theo
căn cứ hoãn tại TAND hai cấp tỉnh Ninh Bình.................................................. 51
Bảng 2.5: Thống kê số lượng người được hỗn chấp hành hình phạt tù theo

các tội danh tại TAND hai cấp tỉnh Ninh Bình.................................................. 52

vi


MỎ ĐẦU
r~rir__ 1


. Tính

7
_ Ạ

J 1*

f

__ _

-»Ạ


y
4 y •

• Ạ.

F

cap thiêt cua đê tài nghiên cứu

Thi hành án hình sự là hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền
theo quy định pháp luật buộc người thực hiện hành vi phạm tội bị Tòa án kết
tội bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải thi hành bản án, quyết

định đó. Theo quy định pháp luật, khi các bản án, quyết định của Tịa án có
hiệu lực pháp luật sẽ được đưa ra thi hành một cách nghiêm túc, đảm bảo theo

đúng quy định pháp luật, có hiệu quả, thể hiện sự công bằng trong xã hội,
đâm bảo bất kì ai phạm tội cũng đều bị xử phạt một cách nghiêm minh. Tuy
nhiên, với chính sách nhân đạo của Đăng và Nhà nước ta, tạo cho pháp luật
không chỉ có tính răn đe giáo dục phịng ngừa mà cịn mang tính nhân đạo,
hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của con người, bảo vệ những
quyền của con người trong thi hành án hình sự thì người bị kết án trong một
số trường hợp đặc biệt họ vẫn có thể tạm thời chưa phải chấp hành hình phạt
trong bản án hoặc đang chấp hành hình phạt của bản án nhưng được tạm thời

dừng chấp hành bản án. Những trường hợp này được gọi là hoãn thi hành án.

Đối với người bị kết án phạt tù mà đủ điều kiện luật định cũng có thể được


tạm hỗn chấp hành hình phạt tù. Trải qua các lần pháp điển hóa của Bộ luật

hình sự đến nay chế định về hỗn chấp hành hình phạt tù dần được hồn thiện
về điều kiện/căn cứ, thủ tục, trình tự áp dụng.
Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì “Tịa án

nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thực hiện quyền tư pháp.

Tịa án nhân dân có nhiệm vụ báo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích họp pháp của tô chức, cả nhân.

1


Băng hoạt động của mình, Tịa án góp phân giáo dục công dãn trung
thành với Tô quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy

tắc của cuộc song xã hội, ỷ thức đấu tranh phòng chổng tội phạm, các vi
phạm pháp luật khác. ” [17]. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, pháp luật

hiện hành quy định Tịa án có thẩm quyền ra quyết định THAHS, quyết định

hỗn chấp hành hình phạt tù, quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù,

quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, giảm thời hạn cải tạo khơng
giam giữ, tha tù trước thời hạn có điều kiện...
Từ năm 2016 đến hết năm 2020 TAND hai cấp tình Ninh Bình đã ban


hành các quyết định thi hành án phạt tù với người bị kết án cùng với đó cũng
nhận được nhiều đon đề nghị hỗn chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, q trình
xem xét hỗn chấp hành hình phạt tù tại TAND hai cấp tỉnh Ninh Bình cho thấy

nhiều vướng mắc trong áp dụng pháp luật trên cả phưong diện lý luận và thực

tiễn. Ví dụ như chưa có quy phạm nào quy định về trường hợp nếu xảy ra rủi ro
trong quá trình phụ nữ mang thai đồng thời đang trong giai đoạn hoãn chấp hành

hình phạt tù, hiểu như thế nào là “sức khỏe hồi phục”, cơ quan nào kết luận và

đánh giá,..Ngoài ra, trên phương diện thực tiễn, các cán bộ cơ sở đôi khi tham

mưu cho Chánh án trong việc xem xét hỗn chấp hành hình phạt tù khơng dựa
trên cơ sở các quy định khác nhau của pháp luật dẫn đến việc các quyết định ban

hành không đảm bảo được quyền và lợi ích họp pháp của người bị kết án.

Với những vấn đề đã nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Hỗn chấp hành

hình rphạt
cơ sở thực
• tù trong
O Luật
• hình sự
• Việt
• Nam (trên
'
• tiễn địa
• bàn tỉnh


Ninh Bình)” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay có một sổ cơng trình khoa học, sách báo pháp lý chuyên
ngành trong nước nghiên cứu ở mức độ và bình diện khác nhau về hỗn chấp
hành hình phạt tù. Cụ thể như:

2


Vê tài liệu là giáo trình, sách chun khảo có: 1) Những vân đê cơ bản

trong khoa học luật hình sự (Phần chung) của tác giả Lê Văn Cảm (2005),

Sách chuyên khảo Sau đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; 2) Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997; 3)

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Tập thể tác giả do TSKH. Lê
Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 và 2003 (tái bản lần thứ
nhất); 4) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Tập thể tác giả do
PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Đại học Huế, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2000;

5) Bình luận khoa học bộ luật hình sự 1999- Phần chung của ThS. Đinh Văn

Quế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; 6) Sách chuyên khảo Pháp luật Thi
hành án hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn, chủ biên GS.TS
Võ Khánh Vinh và PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng, Nxb Tư pháp, 2006; 7)

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Tập thể tác giả do GS.TS Nguyễn

Ngọc Hịa chủ biên, Nxb Cơng an nhân dân, Hà Nội, 2020; 8) Lê Văn Cảm
(2019), Những vấn đề cơ bản trong Khoa học luật hình sự (Phần chung) Giáo

trình Sau đại học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; 9) Giáo trình Luật
thi hành án hình sự, do GS.TS Võ Khánh Linh chủ biên, Nxb Khoa học xã

hội, 2013; v.v...
về luận văn, luận án: Việc nghiên cứu về vấn đề hỗn chấp hành hình

phạt tù trong thời gian qua đã có nhiều cơng trình nghiên cứu có liên quan đến
vấn đề này phải kể đến như: Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học quốc

gia Hà Nội (2014): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoãn thi hành án
trong Luật thi hành án hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Sơn; Luận

văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học quốc gia Hà Nội(2014): Hỗn chấp hành
hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong Luật hình sự Việt

Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Phú Thọ) của tác giả Hà
Thanh Loan; Luận văn thạc sĩ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

3


(2016): Hỗn thi hành án hình sự theo Pháp luật Việt Nam cùa tác giả Nguyên

Thu Hiền; Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
(2019): Hoãn chấp hành án phạt tù theo Luật thi hành án hình sự Việt Nam
của tác giả Võ Minh Thắng; Luận văn tiến sĩ: Thi hành án phạt tù ở Việt Nam


trước yêu cầu cải cách tư pháp của tác giả Nguyễn Văn Nam (2016)...

Ngồi ra cịn phải kế đến các bài báo đăng trên các báo, tạp chí chuyên
ngành Luật như: “Việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với người được

hỗn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo Luật thi hành án hình sự”, của

tác giả Đỗ Văn Chỉnh và Phạm Thị Thanh Mai đăng trên tạp chí Tịa án nhân
dân, số 07/2011; “Thực trạng và giải pháp cơng tác kiểm sát việc hỗn, miền,

tạm đình chỉ, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù” của tác giả Vũ Văn Minh
đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 18/2014; “Một số khó khăn trong cơng tác

quản lý người được tại ngoại, hỗn, tạm đình chỉ thi hành án trên địa bàn tỉnh
Nghệ An” của tác giả Nguyễn Đức Hải đăng trên Tạp chí cơng an nhân dân,
số 01/2017; “Vướng mắc trong hoãn chấp hành án phạt tù” của tác giả Hồ

Nguyễn Quân, Tòa án quân sự khu vực 1, Quân khu 4 trên Tạp chí Kiểm sát

tháng 3/2018; “Những bất cập khi hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người

bị kết án” của tác giả Trần Thị Thu Thủy, Tòa án quân sự Quân khu 5 trên
Tạp chí Tịa án tháng 11/2020; “Bàn về điều kiện hoãn thi hành án phạt tù cửa
phụ nữ có thai hoặc ni con dưới 36 tháng tuồi” của tác giả Nguyễn Hồng

Thắm, TAND tỉnh Khánh Hòa trên Tạp chí Tịa án tháng 10/2020,...
Những cơng trình nghiên cứu trên đều là những cơng trình nghiên cứu

tồn diện về lĩnh vực thi hành án hình sự, trong đó có vấn đề hỗn chấp hành


hình phạt tù. Tuy nhiên, hiện nay chưa có cơng trình nào nghiên cứu về chế
định hỗn chấp hành hình phạt tù từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình. Trên cơ sở kế
thừa các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã được công bố, tác giả

đưa ra đề tài nghiên cứu chuyên sâu hơn về hỗn chấp hành hình phạt tù từ

4


thực tiễn tỉnh Ninh Bình để làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp
luật và hiệu quả áp dụng pháp luật về hỗn chấp hành hình phạt tù trên địa

bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng và ở Việt Nam nói chung trước yêu cầu đổi mới
hội nhập quốc tế như hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nghiên cứu một cách có hệ thống

nhất về hỗn chấp hành hình phạt tù trong Luật hình sự Việt Nam. Xây dựng
và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện biện pháp hỗn chấp

hành hình phạt tù và thực hiện tốt ngun tắc nhân đạo của Luật hình sự Việt

Nam, chính sách khoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội. Đưa ra

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hỗn chấp hành hình phạt tù trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Từ mục tiêu tống quát nêu trên, tác giả luận văn đặt ra cho mình những
mục tiêu cụ thể để nghiên cứu chủ yếu sau:

Bằng cách tiếp cận tổng thể từ cái chung đến cái cụ thể, đi từ lý luận

đến đánh giá thực tiễn áp dụng,tác giả làm rõ về khái niệm, bản chất pháp lý,
đặc điểm cơ bản, căn cử áp dụng của hoãn chấp hành hình phạt tù.

- Quy định của pháp luật hiện hành về hỗn chấp hành hình phạt tù.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng hỗn chấp hành hình phạt tù trên địa bàn

tỉnh Ninh Bình.
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơng tác hỗn chấp hành

hình phạt tù.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt bao gồm hình phạt

chính và hình phạt bổ sung. Theo quy định tại Điều 32 BLHS năm 2015 sửa đổi
bổ sung năm 2017 hình phạt chính gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam

giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Đối với các hình phạt chính

5


nêu trên do đặc thù nên có những hình phạt hoạt động THAHS khơng đặt ra,
hoặc có hình phạt hoạt động thi hành án vẫn diễn ra nhưng khơng có việc hỗn
thi hành án hình sự,.. .Trong các hình phạt chính đã nêu chỉ có hình phạt tù có

thời hạn và tù chung thân có hoạt động hỗn chấp hành hình phạt tù nếu đủ điều

kiện theo quy định pháp luật. Với đặc thù riêng mà hình phạt tù chung thân ít

được áp dụng, theo đó mặc dù trên thực tế tuy có hành lang pháp lý cho việc

hỗn thi hành án với những trường hợp người bị kết án bị phạt tù chung thân

nhưng việc cho người bị kết án tù chung thân hỗn chấp hành hình phạt là rất ít
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn từ

thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình nên tác già tập trung chủ yếu việc nghiên cứu
của mình vào hỗn chấp hành hình phạt tù có thời hạn trên địa bàn tỉnh Ninh

Bình trong thời gian từ năm 2016 đến hết năm 2020, trên cơ sở những quy định
của Luật hình sự và các quy định pháp luật khác về hoãn chấp hành hình phạt tù.
Từ đó tác giả đưa ra những đánh giá và kiến nghị đề xuất giải pháp nâng cao

hiệu quả áp dụng về cơng tác hỗn chấp hành hình phạt tù trong thời gian tới.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên các nguyên lý lý luận của chủ nghĩa

Mác- Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ truong, chính sách của

Đảng cộng sản Việt Nam về Cải cách tư pháp và Hoàn thiện hệ thống pháp

luật của Nhà nước pháp quyền XHCN, các văn bản pháp luật của Nhà nước.
- Cơ sở phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở của
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-

Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
- Phương pháp nghiên cứu có tính bao trùm luận văn là phương pháp

duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư


pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về đấu tranh phòng

6


chơng tội phạm, vê tính nhân đạo của pháp luật cũng như những thành tựu
khoa học pháp lý như: Lý luận nhà nước và pháp luật, luật hình sự, luật tố

tụng hình sự, những luận điểm khoa học trong các cơng trình nghiên cứu,

sách chun khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học.
Bên cạnh đó luận văn sử dụng các phương pháp truyền thống như
phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp
so sánh phương pháp thống kê các số liệu và các vụ việc điển hình...nhằm

khái quát hóa, đánh giá và nhận định về các vấn đề pháp luật liên quan đến
hỗn chấp hành hình phạt tù. Mỗi phương pháp tiếp cận đều được sử dụng

một cách họp lý để làm rõ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng được
nghiên cứu trong luận văn này.
6. Những đóng góp mói của luận văn

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hỗn chấp hành hình phạt tù một

cách có hệ thống, đưa ra được khái niệm của mình về hỗn chấp hành hình
phạt tù, đến đặc điểm, căn cứ, mục đích, ý nghĩa của hỗn chấp hành hình
phạt tù một cách khoa học.
- Luận văn nghiên cứu thực trạng cơng tác hỗn chấp hành hình phạt tù
một cách có hệ thống, đi từ lịch sử hình thành đến hiện tại, có sự so sánh giữa


các bộ luật hình sự qua các lần pháp điển hóa. Từ đó có cách hiểu sâu hơn về
biện pháp hỗn chấp hành hình phạt tù, góp phần khơng nhỏ vào việc xây
dựng và hoàn thiện chế định pháp luật. Đồng thời cũng định hướng cho việc

áp dụng pháp luật một cách chính xác về biện pháp hỗn chấp hành hình phạt
tù nói chung và trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng, đem lại hiệu quả trong
cơng cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.

- Luận văn nghiên cứu những kết quả đạt được và những vướng mắc,

bất cập còn gặp phải khi áp dụng quy định hỗn chấp hành hình phạt tù trên
đia bàn tỉnh Ninh Bình.

7


- Ngoài ra, luận văn cũng đưa ra được những giải pháp nhăm hồn

thiện quy định pháp luật về hỗn chấp hành hình phạt tù; giải pháp khắc phục

nhũng vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng chế định này trên thực tể

địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng và Việt Nam nói chung trong thời gian tới.

7. Ý nghĩa
khoa
học

thực

tiễn
của
luận
văn
~



Luận văn là một cơng trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa về mặt lý luận,
vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc nghiên cứu và thực thi chế định
hỗn chấp hành hình phạt tù.

* về mặt lý luận:
Luận văn đã làm rõ các vấn đề chung về hỗn chấp hành hình phạt tù,
phân tích khái qt về lịch sử hình thành và phát triển của chế định này trong

luật hình sự nước ta, làm sáng tỏ các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015

sửa đối bổ sung năm 2017 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về

hỗn chấp hành hình phạt tù. Qua đó chỉ ra những tru điểm và những tồn tại,

hạn chế trong những quy định của pháp luật về hỗn chấp hành hình phạt tù.
Luận văn cũng có đề cập đến vấn đề quyền con người trong hoãn chấp hành

hình phạt tù. Từ đó đánh giá chế định hỗn chấp hành hình phạt tù với chuẩn

mực quốc tế về quyền con người. Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần
hồn thiện hon về chế định hỗn chấp hành hình phạt tù trong Luật hình sự
Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi nó trên thực tế.


* về mặt thực tiễn:
Từ thực tiễn áp dụng chế định hỗn chấp hành hình phạt tù trên địa

bàn tỉnh Ninh Bình, luận văn đã rút ra một số kết luận mang tính khoa học,
tăng cường sự nhận thức đúng đắn của nhân dân, cán bộ, công chức trong

việc thực thi các biện pháp hỗn chấp hành hình phạt tù, hiểu rõ về bản
chất, yêu cầu, ý nghĩa của việc quy định và thi hành chế định hỗn chấp
hành hình phạt tù.

8


Đông thời luận văn cũng đê xuât ra các giãi pháp nhăm hoàn thiện các
quy định về thi hành chế định hỗn chấp hành hình phạt tù, góp phần nâng

cao hiệu quả công tác pho biến, tuyên truyền, giáo dục và áp dụng pháp luật
về chế định này.
8. Kết cấu cua luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung
của luận văn gồm 3 chương lớn, cụ thể:

Chương 1: Một so vấn đề chung về hỗn chấp hành hình phạt tù trong Luật
hình sự Việt Nam.
Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành về hỗn chấp hành hình phạt tù và

thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.


Chưong 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
hỗn chấp hành hình phạt tù trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

9


CHƯƠNG 1: MỘT SĨ VÁN ĐÈ CHUNG VÈ HỖN CHẤP HÀNH
HÌNH PHẠT TÙ TRONG LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM








Chương 1 bao gồm các nội dung như sau: (1) Khái niệm và bản chất
của hỗn chấp hành hình phạt tù; (2) Căn cứ hỗn chấp hành hình phạt tù; (3)

Mục đích và ý nghĩa của việc hỗn chấp hành hình phạt tù; (4) Mối quan hệ
giữa hỗn chấp hành hình phạt tù với một số chế định có liên quan;(5) Khái

quát sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về chế định hỗn chấp hành
hình phạt tù.

1.1. Khái niệm và bản chất của hỗn chấp hành hình phạt tù

1.1.1. Khải niệm hỗn chẩp hành hình phạt tù
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định trong
Luật hình sự, do Tịa án áp dụng đối với người phạm tội hoặc pháp nhân


thương mại phạm tội theo trình tự, thủ tục nhất định, để tước bỏ hoặc hạn chế
một số quyền hay lợi ích của người bị kết án. Mục đích của hình phạt khơng

chỉ nhằm trừng trị những người có hành vi vi phạm pháp luật mà cịn nhằm
mục đích cải tạo họ trờ thành người có ích cho gia đình và xã hội, giáo dục họ

ý thức tuân thủ theo quy định pháp luật, phòng ngừa họ phạm tội mới và

phòng ngừa người khác phạm tội, góp phần khơng nhỏ vào cơng tác phịng

ngừa và đấu tranh phịng chống tội phạm. Hình phạt mang tính cưỡng chế nhà
nước vì vậy nó được Tịa án áp dụng thông qua hoạt động xét xử, dựa trên cơ

sở hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tịa, xác định các tình tiết của vụ

án, dựa trên nhận thức về các quy định pháp luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ
lựa chọn hình phạt đối với người bị kết án phạm tội mà kết quả cuối cùng
được Hội đồng xét xử thể hiện trong bản án kết tội.
về nguyên tắc, khi bản án, quyết định của Tịa án có hiệu lực pháp luật

phải được các cơ quan Nhà nước, tố chức, các đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân tôn trọng, người bị kết án phải chấp hành nghiêm chỉnh đúng

10


các quy định của pháp luật vê hình phạt. Các nhà làm luật đã săp xêp hệ thơng
hình phạt từ nhẹ đến nặng tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi


phạm tội. Trong hệ thống hình phạt thì hình phạt tù là loại hình phạt được áp
dụng phổ biến trong thực tế Việt Nam hiện nay.

Theo Luật hình sự Việt Nam thì hình phạt tù gồm hình phạt tù có thời
hạn và hình phạt tù khơng có thời hạn (hình phạt tù chung thân). Tuy nhiên,
như đã nêu ở phần phạm vi nghiên cứu do đặc thù của hình phạt tù chung thân
ít được áp dụng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nên trong nghiên cứu của luận

văn tác già chủ yếu nghiên cứu và làm rõ các vấn đề liên quan đến hỗn chấp

hành hình phạt tù có thời hạn. Tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa
đổi bổ sung năm 2017 có quy định về khái niệm của hình phạt tù có thời hạn

cụ thể như sau: ‘7. Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành
hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.

Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng
và mức tối đa là 20 năm.
Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình

phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.... ”[13]
Trong bản án của Tịa án có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án biết

mình bị xử phạt ở hình thức nào, mức phạt như thế nào và đây cũng là căn cứ

đề ra quyết định thi hành án nói chung và quyết định thi hành án phạt tù có

thời hạn nói riêng. Sau đó, người bị kết án thực hiện các nghĩa vụ thuộc về nội
dung của hình phạt được áp dụng đối với họ theo bản án hoặc quyết định của


Tịa án đã có hiệu lực pháp luật (đây được gọi là chấp hành hình phạt). Hay

như theo khoản 4 Điều 3 Luật thi hành án hình sự năm 2019 có quy định “í/zỉ
hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thâm quyền theo quy định của Luật
này buộc người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân phải chịu sự quản
lý giam giữ, giáo dục cải tạo. Người chấp hành án là người bị kết án, phải

11


chịu hình phạt theo bản án, qut định của Tịa án có hiệu lực pháp luật và đã

cỏ quyết định thi hành. ” [19]

Tuy nhiên, vì những lý do nhất định thuộc về nhân thân, người thân
người bị kết án hoặc do nhu cầu công vụ nên người bị kết án phạt tù chưa thể

đi chấp hành hình phạt tù ngay được và người bị kết án có thể được hỗn chấp
hành hình phạt tù nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt tù đó.
Nghiên cứu các quy phạm pháp luật hình sự ở nước ta về chế định hỗn

chấp hành hình phạt tù cho thấy, nhà làm luật chỉ đưa ra điều kiện/ căn cứ để được
hoãn chấp hành hình phạt tù mà khơng định nghĩa cụ thể về chế định này. Vì vậy,

khái niệm hỗn chấp hành hình phạt tù hiện nay được đưa ra dưới góc độ nghiên

cứu khoa học luật hình sự và thi hành án hình sự. Ớ các mức độ khác nhau, trong
khoa học Luật hình sự Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra cách hiểu khác
nhau về khái niệm hỗn chấp hành hình phạt tù.


Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm: "Hoãn chap hành hĩnh phạt
tù là việc tạm dừng lại trong một thời hạn nhất định việc chap hành hình
phạt tù của người bị kết án nếu người này chưa chấp hành hình phạt tù đó"
[2, tr. 794],

GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa đưa ra khái niệm khá đơn giản và ngắn gọn:
"Hoãn chấp hành hĩnh phạt tù là việc chuyển thi hành hình phạt tù sang thời

điểm muộn hon" [6, tr. 389].

Tác giả Hà Thanh Loan trong Luận văn thạc sỳ của mình cũng đề cập
tới khái niệm này như sau: “Hỗn chap hành hình phạt tù là việc tạm dừng
lại trong một thời hạn nhất định việc chấp hành hình phạt tù của người bị

kết án nếu người này chưa chấp hành hình phạt tù đó ”.[8]
về vấn đề đưa ra khái niệm về hỗn chấp hành hình phạt tù, trong giới

nghiên cứu khoa học luật hình sự nói chung đã tồn tại nhiều quan điếm khác

12


nhau. Các quan điêm đêu tập trung vào vân đê thời điêm châp hành hình phạt
tù được chuyển từ thời điểm này sang thời điểm khác.

Theo tác giả, chế định hỗn chấp hành hình phạt tù nằm trong hệ thống
các chế định về chấp hành hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam. Như vậy,
để đưa ra định nghĩa về hỗn chấp hành hình phạt tù một cách đầy đủ nhất

trước hết cần phân tích và làm rõ các khái niệm có liên quan như: “hỗn ”,


‘‘chấp hành ”, ‘‘hình phạt”, ‘‘hình phạt tù” từ góc độ Luật hình sự. Trên cơ sở
đó, đưa ra định nghĩa hỗn chấp hành hình phạt tù cần thế hiện được cả bản
chất pháp lý, điều kiện, nội dung cũng như giới hạn của hỗn chấp hành hình

phạt tù.
Khái niệm ‘‘hỗn ” theo Từ điển Tiếng Việt có nghĩa là “chuyên thời

điểm định làm việc gì đó sang thời điểm khác muộn hon ” [9, tr.55O]. Dưới
góc độ luật hình sự thì “hỗn ” là tạm dừng, chưa phải chấp hành một quyết

định nào đó của cơ quan có thẩm quyền mà lẽ ra mình phải bị chấp hành.
Khái niệm “Chấp hành ” theo Từ điển Tiếng Việt dùng để chỉ việc “thi
hành, thực hiện những điều quy định trong chính sách pháp luật, kế hoạch, mệnh

lệnh, phán quyết” [9, tr. 187] hay có cách hiểu tương tự như “Chap hành là làm
theo đủng những điều được đề ra trong văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cá

biệt hay trong mệnh lệnh của cap trên ”[38], Chấp hành pháp luật là một hình
thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ do pháp luật
quy định cho mình bằng hành động tích cực. Dưới góc độ luật hình sự thì chấp
hành là việc thi hành những quyết định có hiệu lực của cơ quan có thấm quyền.

Theo đó, những cá nhân bị coi là có tội khi đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp

luật. Trong bản án có hiệu lực đó, người bị kết án phải có nghía vụ chấp hành

tồn bộ quyết định của bản án đã tuyên đổi với mình.

Từ việc nghiên cứu các khái niệm và tiếp thu các quan điểm nêu trên,

tác giả đưa ra quan điểm của mình về khái niệm hỗn chấp hành hình phạt tù

13


như sau: “Hỗn châp hành hình phạt tù là việc Tịa án tạm dừng việc châp
hành hình phạt tù trong một thời hạn nhất định nếu người bị kết án chưa

chấp hành hình phạt tù đó và có đủ những điều kiện nhất định theo quy định
của Bộ luật hình sự”






1.1.2. Bản chất của hỗn chấp hành hình phạt tù
về bản chất pháp lý, hỗn chấp hành hình phạt tù là một chế định phản

ánh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta đối với người bị kết án

phạt tù khi có những đủ điều kiện luật định, cho phép họ chuyển việc chấp
hành án sang một thời điểm khác muộn hơn và đặc biệt, chế định này chỉ
dành cho một số đối tượng nhất định.
Đối tượng đó chỉ bao gồm: người bị bệnh nặng, phụ nữ có thai hoặc
đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người lao động duy nhất mà nếu bắt

người này chấp hành hình phạt thì gia đinh họ sẽ gặp khó khăn đặc biệt, đối
với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng và do nhu cầu công vụ.
Từ khái niệm đã được tác giả đưa ra ờ mục 1.1, có thể thấy một số đặc

trưng cơ bản của hoãn chấp hành hình phạt tù bao gồm:

Thứ nhất, Hỗn chấp hành hình phạt tù là việc Tịa án tạm dừng việc

chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định (hay nói cách khác hỗn
chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án cho phép người bị kết án phạt tù chuyển
việc chấp hành án phạt tù sang thời điểm muộn hơn).

77; ý- hai, điều kiện để áp dụng chế định hỗn chấp hành hình phạt tù

phải thỏa mãn các điều kiện nhất định mà nếu người bị kết án đi chấp hành án

sẽ gây bất lợi cho họ hoặc cơ quan, tổ chức, người thân của người bị kết án và

thỏa mãn một trong bốn trường hợp: người bị kết án là phụ nữ có thai, phụ nữ
đang ni con dưới 36 tháng tuổi, hoặc là người lao động duy nhất trong gia
đình, nếu đi chấp hành án thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt nếu khơng

phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm khác là tội phạm rất

14


nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng; hoặc là do nhu câu công vụ của

người bị kết án nếu bị kết án về tội ít nghiêm trọng.
Thứ ba, về chủ thể hỗn chấp hành hình phạt tù có 3 loại là chủ thể đề
nghị hỗn chấp hành hình phạt tù, chủ thể quyết định hỗn chấp hành hình

phạt tù, chủ thể thi hành quyết định hỗn chấp hành hình phạt tù. Trong luật


hình sự Việt Nam đối tượng bị kết án có thể là cá nhân hoặc pháp nhân
thương mại phạm tội. Tuy nhiên, đối tượng bị xử phạt bàng hình phạt tù chỉ

có thể là cá nhân và đảm bảo đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Từ đó ta cũng
thấy được điểm đặc biệt của việc hoãn chấp hành hình phạt tù với hỗn thi
hành án trong dân sự.

Thứ tư, hỗn chấp hành hình phạt tù là một chế định phản ánh chính

sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta đối với người bị kết án, cho phép

người bị kết án tiếp tục sống và làm việc ngoài xã hội, chưa buộc người này
phải vào cơ sở giam giữ để chấp hành hình phạt tù.
Như vậy, thực chất của hỗn chấp hành hình phạt tù là việc nhà nước

không buộc một người bị kết án phạt tù phải thi hành ngay (vi lý do nếu thực
hiện họ sẽ gặp khó khăn) mà được chuyển sang thời điểm muộn hơn (khi

những khó khăn luật định đã qua).

1.2. Căn cứ hỗn chấp hành hình phạt tù

Để được hỗn chấp hành hình phạt tù, pháp luật hình sự hiện hành có

quy định cụ thể như sau:

- Bị bệnh nặng;
- Phụ nữ có thai hoặc đang ni con dưới 36 tháng tuồi;
- Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình


phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, trừ trường hợp người đó bị kết
án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm khác là tội phạm
rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

15


- Bị kêt án vê tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu câu cơng vụ.

Các căn cứ này đều có đặc điểm chung là khi người bị kết án chưa có
điều kiện chấp hành hình phạt tù thì Nhà nước (thơng qua Tịa án) cho phép

người bị kết án được hỗn, lùi thời gian chấp hành hình phạt đến một thời
điểm nhất định.

Ngoài ra, tại Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội
đồng thẩm phán TAND tổi cao quy định chặt chẽ hơn điều kiện hỗn chấp
hành hình phạt tù cụ thể: Người bị xử phạt tù nếu có nơi làm việc ổn định

hoặc có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, đồng thời sau khi bị xử phạt tù không có
hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, khơng có căn cứ cho rằng họ bỏ

trốn và thuộc một trong các trường hợp trên thì được hỗn chấp hành hình
phạt tù. Ngồi những căn cứ trên thì sẽ có những trường hợp khác Tịa án có

thể cho hỗn chấp hành hình phạt tù nhưng phải xem xét hết sức chặt chẽ [25]
Qua các thời kỳ khác nhau, điều kiện/ căn cứ có thể được quy định
khác nhau. Điều này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, chính sách pháp


luật của Nhà nước từng thời điểm khác nhau. Để thấy rõ hơn được sự thay đổi
của các điều kiện/căn cứ hỗn chấp hành hình phạt tù qua từng thời kỳ tác giả

đã tập trung nghiên cứu tại mục 1.6 của chương này.

1.3. Mục đích và ý nghĩa của việc hỗn chấp hành hình phạt tù

1.3.1. Mục đích của việc hỗn chẩp hành hình phạt tù
Chế định hỗn chấp hành hình phạt tù góp phần hồn thiện hệ thống
pháp luật hình sự Việt Nam. Bởi lẽ, trong các chế định về thi hành án đòi hỏi

các nhà làm luật phải dự liệu các quy phạm điều chỉnh, giải quyết những tình
huống cụ thể có thể xảy ra sau khi bản án, quyết định của Tịa án có hiệu lực
pháp luật, khi quyết định thi hành án được ban hành. Ví dụ như trường hợp

người bị kết án bị bệnh nặng, người bị kết án mang thai, người bị kết án đang
nuôi con dưới 36 tháng tuối, người bị kết án là người lao động duy nhất trong

16


gia đình, nêu đi châp hành án thì gia đình sẽ gặp khó khăn ... Trong những

trường hợp này, nếu bắt người bị kết án phải đi chấp hành án phạt tù thì sẽ ảnh

hưởng đến tính mạng, xâm phạm đến quyền con người cùa người bị kết án, ảnh
hưởng đến cuộc sống của người thân người bị kết án, gây bức xúc trong dư luận
quần chúng nhân dân. Theo đó, hiệu quả của việc áp dụng hình phạt tù sẽ khơng
được như mong muốn. Bởi vậy chế định hỗn chấp hành hình phạt tù ra đời sẽ


góp phần khơng nhỏ trong việc giải quyết những vấn đề đặt ra và ngăn ngừa
những vấn đề phát sinh không mong muốn. Hỗn chấp hành hình phạt tù ngồi
việc mang tính chất hỗ trợ và đan xen cùng với hình phạt trong việc xừ lý tội
phạm và người phạm tội được triệt đề, đảm bảo nguyên tắc pháp chế, công bàng

và nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước, hai chế định này cịn bảo
đảm ngun tắc phân hóa tối đa trách nhiệm hình sự và hình phạt của người bị

kết án khi đáp úng các điều kiện do luật định, cũng như phản ánh thái độ tích cực
và kết quả cải tạo, giáo dục tốt của những đối tượng này.

1.3.2. Ỷ nghĩa của việc hỗn chấp hành hình phạt tù
- Ỷ nghĩa chỉnh trị- xã hội'. Hoãn chấp hành hình phạt tù là một chế
định phản ánh chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta đối với

người bị kết án khi có những điều kiện nhất định, cho phép họ chuyển việc chấp
hành án sang một thời điểm khác muộn hon và đặc biệt, chế định này chì dành

cho một
nhất định
đâm bảo được
• số đối tượng

• và phải
1
• một
• số điều kiện.
• Ví dụ• như
trường hợp phụ nữ có thai hoặc đang ni con dưới 36 tháng tuổi (không phân
biệt là con đẻ hay con nuôi), nếu họ bị xử phạt tù lần đầu mới được tạm hỗn chấp


hành hình phạt, việc này giúp người bị kết án có điều kiện chăm sóc cho bản thân
và cho con khi con đang còn nhỏ, rất cần người mẹ chăm sóc. Hỗn chấp hành

hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng giúp họ được ở ngoài xã hội, có điều kiện
tốt nhất để chăm sóc sức khỏe của bản thân, tiếp nhận việc điều trị của bệnh viện

để sớm khỏi bệnh. Điều này thể hiện sự phù họp của pháp luật Việt Nam với

17


những Điêu ước quôc tê mà Việt Nam đã ký kêt phê chuân như Công ước của
Liên họp quốc về quyền trẻ em năm 1989, Công ước quốc tế về quyền phụ nừ

năm 1979, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và cũng phù họp với

đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước ta.

- Ỷ nghĩa pháp lý'. Hỗn chấp hành hình phạt tù là hành lang pháp lý
quan trọng để các chủ thể đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù căn cứ vào đó

để đề nghị hỗn chấp hành hình phạt tù tránh xâm phạm đến quyền và lợi ích
của người bị kết án. Đồng thời cũng là căn cứ để cơ quan quyết định hỗn

chấp hành hình phạt tù và cơ quan tổ chức thực hiện quyết định hỗn chấp
hành hình phạt tù đảm bảo thực hiện đúng quy định pháp luật, kịp thời xử lý

những vi phạm pháp luật trong thời gian hoãn chấp hành hình phạt tù như bỏ
trốn, chết, tự nguyện đi chấp hành hình phạt tù khi chưa hết thời gian hỗn.


Ngồi ra, chế định hỗn thi hành án cịn có ý nghĩa quan trọng khác đó là đảm
bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ

và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội
và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm

chỉnh, triệt để và chính xác. Một nền pháp chế thống nhất, vừng chắc là cơ sở
cần thiết cho hệ thống pháp luật điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội,

phát huy được hiệu lực của mình. Mặt khác, chỉ khi có một hệ thống pháp luật
hồn chỉnh , đồng bộ, phù hợp và được sửa đổi, điều chỉnh, bồ sung kịp thời
khi cần thiết thì nền pháp chế mới được củng cố và tăng cường.
1.4. Mối quan hệ giữa hỗn chấp hành hình phạt tù vói một số chế định

có liên quan

ỉ.4.1. Vói thỉ hành án hình phạt tù
* Giống nhau’. Đây đều là các hoạt động nằm trong chuồi các hoạt
động của thi hành án hình sự, được thực hiện sau khi bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật và khi có quyết định thi hành án.

18


* Khác nhau:
Vê cơ sở pháp lí, tại khoản 4 Điêu 3 Luật thi hành án hình sự năm 2019

giải thích: “Thi hành án phạt tù là việc CO' quan, người có thảm quyền theo
quy định của Luật này buộc người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân

phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục cái tạo ”[19]. Trên thế giới việc điều
chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực thi hành án hình sự các nước có những

cách thức khác nhau. Tuy nhiên , về bản chất, thi hành án phạt tù có thời hạn
là việc cơ quan, người có thấm quyền theo quy định của pháp luật buộc người

bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật phải chịu sự quản lý giam giữ,
giáo dục, cải tạo trong trại giam, trại tạm giam trong thời gian nhất định để họ

trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.
Hỗn chấp hành hình phạt tù là việc Tịa án cho phép người bị kết án
chuyển việc thi hành án phạt tù sang thời điểm muộn hơn. Nói một cách khác,

người phạm tội đã có một bản án cho riêng mình và cần phải chấp hành nó

nhưng người bị kết án lại được phép tiếp tục sống và làm việc ngoài xã hội,

chưa buộc người này phải vào cơ sở giam giữ để chấp hành hình phạt tù nếu
thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định.
Từ hai khái niệm trên có thể thấy sự khác nhau giữa thi hành án hình

phạt tù và hỗn chấp hành hình phạt tù là về thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Đối với thi hành án hình phạt tù thì ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật

và có QĐTHA hình phạt tù thì người bị kết án phải sống và làm việc trong

trại giam, trại tạm giam một thời gian nhất định đã được ghi trong bản án của
Tịa án,X họ• bị• tước tự• do cư trú và đi lại.
Việc thi hành bản án phạt tù có thời
••

1



hạn có ý nghĩa làm cho bàn án của Tòa án đã được thi hành trên thực tế, đảm
bảo cho các giai đoạn tố tụng trước có ý nghĩa. Bên cạnh đó, việc thi hành bản

án phạt tù có thời hạn khơng chỉ có ý nghĩa phòng ngừa riêng đối với người

phạm tội mà cịn giáo dục người khác có ý thức tơn trọng pháp luật, thực hiện

19


×