Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tòa án nhân dân (luận văn thạc sỹ luật)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (22.68 MB, 91 trang )

ĐẠI HỌC QUÕC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT
_ ❖❖❖__

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

ĐƯƠNG SỤ LÀ CÁ NHÂN TRONG vụ ÁN

TRANH CHÁP HỢP
ĐỊNG
TÍN
DỤNG


TẠI TỊA ÁN NHÂN DÂN
Chun ngành:

Luật Dân sự và Tơ tụng Dân sự (định hướng ứng dụng)

Mã Số:

838 0101.04

LU AN VAN THAC SI LU AT HOC

NGƯỜI HƯỚNG DẢN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Triều Dương

HÀ NỘI - 2022



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận vãn là công trình nghiên cứu của riêng tơi.

Các kết quả nêu trong Luận văn chua được công hổ trong hất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đám hảo tính

chinh xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tẩt cả các mơn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật -

Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội xem xét đê tơi có thể bảo vệ Luận vãn.

Tơi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thanh Hương


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TÁT

Từ viết tắt

Diên giai

BLTTDS

Bộ luật Tố tụng dân sự


BLDS

Bơ• lt
• dân sư•

BLLĐ

Bộ luật lao động

TTDS

Tố tụng dân sự

HĐTD

Hợp đồng tín dụng

TCTD

Tổ chức tín dụng

TANDTC

Tịa án nhân dân tối cao

TAND

Tòa án nhân dân


KDTM

Kinh doanh thương mại

UBND

ủy ban nhân dân

PLTTDS

Pháp luật tố tụng dân sự

NVTT

Nghĩa vụ tố tụng


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ ĐƯƠNG sụ LÀ CÁ
NHÂN TRONG vụ• ÁN TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG TÍN DỤNG
TẠI




TỒ ÁN............................................................................................................ 8
1.1. Quan niệm về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín

dụng.................................................................................................................... 8

1.2. Đặc điểm của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp họp đồng tín
dụng....................................................................................................................17

1.3. Vai trò của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng
tại tồ án............................................................................................................ 20

Kết luận Chuong 1.......................................................................................... 23
CHƯƠNG 2. THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỤC TIỀN TẠI TỒ

ÁN NHÂN DÂN VỀ ĐƯƠNG sụ• LÀ CÁ NHÂN TRONG vụ• ÁN

TRANH CHẤP HỢP ĐỊNG TÍN DỤNG................................................... 24
2.1. Thực trạng pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp

đồng tín dụng tại tịa án.....................................................................................24

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh

chấp hợp đồng tín dụng tại toà án.................................................................... 34
2.3. Những hạn chế, bất cập còn tồn tại cùa pháp luật về đương sự là cá nhân

trong vụ án tranh chấp họp đồng tín dụng tại toà án........................................ 58

2.4. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong pháp luật về đương sự là
cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tồ án......................... 63

Kết luận Chương 2......................................................................................... 66
CHƯƠNG 3. HỒN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THựC HIỆN


PHÁP LUẬT VÈ ĐƯƠNG sự LÀ CÁ NHÂN TRONG vụ ÁN TRANH
CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TỒ ÁN.......................................... 67


3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật vê đương sự là cá nhân trong vụ án

tranh chấp họp đồng tín dụng tại tồ án........................................................... 67
3.2. Giải pháp góp phần hồn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tồ án 71

Kết luận Chương 3.......................................................................................... 79
KẾT LUẬN...................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................... 82


MỞ ĐÀU

1. Tính câp thiêt của đê tài
Trong thực tế các doanh nghiệp, cá nhân muốn phát triển kinh tế cần

phải huy động nguồn vốn, một trong những cách huy động nguồn vốn đó là

hình thúc vay vốn tại các các tồ chức tín dụng, mà cụ thể là các ngân hàng.

Các ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của
nền kinh tế hàng hóa để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh

toán..., phục vụ cho việc phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ

chức kinh tế, cá nhân. Trong hoạt động ngân hàng thì “Hoạt động cho vay" là

hoạt động cốt lõi mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng

là hoạt động tiềm ấn những rủi ro vô cùng lớn. Những rủi ro tín dụng đó là
khi khách hàng khơng hồn trả gốc và lãi đúng hạn, từ đó ngân hàng khởi

kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc người vay phải thanh toán lại số tiền
đã vay, hoặc yêu cầu bán phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ gốc và lãi, từ
đó làm phát sinh những tranh chấp trong hợp đồng tín dụng.

Tại Việt Nam, pháp luật về xác định đương sự là cá nhân và tranh chấp

hợp đồng tín dụng là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp thuộc phạm vi

điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Hiện nay hợp đồng tín dụng được

quy định ở rất nhiều các văn bản khác nhau như: Bộ luật dân sự, Luật ngân
hàng, Luật các tổ chức tín dụng, quy chế cho vay của tổ chức tín dụng và các

văn bản hướng dẫn khác, ... Những văn bản này đã tạo ra được bộ khung về

pháp lý cho hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, góp phần thúc đẩy
nền kinh tế ổn định và tăng trưởng. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng ở thực

tiễn, pháp luật về hợp đồng tín dụng cũng như các văn bản liên quan đã bộc lộ

nhiều điểm thiếu sót, tạo nhiều khó khăn về phương hướng giải quyết các
tranh chấp về tín dụng.


1


Trong quá trình thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp

hợp đồng tín dụng tại Tịa án vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần được khắc

phục. Thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
tại Tịa án đã chi ra những điểm thiếu sót của việc áp dụng pháp luật trong

việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án. Hệ quả là gây mất
niềm tin giữa các chủ thể của hợp đồng tín dụng, gián tiếp cản trở sự thông

suốt của hoạt động ngân hàng, cản trở hoạt động cấp tín dụng khiến nền kinh
tế hoạt động kém năng động.

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Đương sự là cá nhân trong
vụ án tranh chấp họp đồng tin dụng tại Toà án nhân dân”, nhằm đánh giá

thực trạng áp dụng và các vấn đề phát sinh từ việc áp dụng các quy phạm

pháp luật đó, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hồn thiện các quy định của
pháp luật về xác định đương sự trong vụ án tranh chấp họp đồng tín dụng và

giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án.
2. Tình hình nghiên cứu
Tại Việt Nam đã có một số cơng trình nghiên cứu rất cụ thể về hoạt

động của ngân hàng, đồng thời cũng có các cơng trình nghiên cứu liên quan
đến tranh chấp hợp đồng dân sự tại Tịa án nói chung và tranh chấp hợp đồng


tín dụng tại Tịa án nói riêng, về nội dung hoạt động của Ngân hàng có thể kể
đến một số cuốn sách như:

Cuốn sách “Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sán của các tổ

chức tín dụng” do tác giả Lê Thị Thu Thủy làm chủ biên [26]. Nội dung cuốn
sách đã đề cập những vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm tiền vay và các biện
pháp bảo đăm tiền vay bằng tài sân, hoặc bằng tài sản cầm cố của khách hàng

vay. Bảo đăm tiền vay bằng tài săn thế chấp của khách hàng vay hay bằng tài
sản của bên thứ ba, đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo

đảm tiền vay. Đồng thời cuốn sách cũng đã đề ra phương hướng và giải pháp

2


hoàn thiện pháp luật vê bảo đàm tiên vay băng tài sàn của các tơ chức tín

dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Một số cơng trình nghiên cứu về xác định đương sự và giài quyết tranh
chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án như: Luận văn luật học “Thực tiễn giải

quyết tranh chấp hợp đồng tín đụng tại Tòa án nhân dãn thành phố Hà Nội”
cùa tác giả Hồ Thị Khuyên [18]; Luận văn “Giải quyết tranh chấp họp đồng

tỉn dụng qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhản dân tỉnh Phú Thọ” của tác giả

Trần Tuấn Anh [2]; Luận văn “Hòa giải trong vụ án kinh doanh thương mại

từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhãn dân thành phố Đà Nang” của tác giả

Đặng Ngọc Hưng [14], Luận văn: G7ảz’ quyết tranh chấp họp đồng tín dụng

theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhãn dãn

Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Trần Võ Hữu Chánh (2019) [3].
Các cơng trình trên phần nào có đóng góp quan trọng vào việc hồn thiện

pháp luật liên quan đến nội dung hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng, ở các
góc độ tranh chấp thương mại.

Một số cơng trình khác đã phân tích và đánh giá về việc giải quyết
tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án qua các thời điểm nhất định, cụ thể:

“Giải quyết tranh chấp họp đồng tỉn dụng ngân hàng: Thực tiễn xét xử tại tòa
án nhân dân TP. Hà Nội” của tác giả Đồ Thị Hồng Hạnh [10], Thực tiễn áp

dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kề của tòa án nhản dãn ở

tỉnh Phú Thọ của tác giả Lý Thị Thanh Huyền (2012) [13], Thủ tục giải quyết
tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thục tiễn xét xử tại Tòa phủc thâm Tòa án
nhân dãn tối cao tại Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng (2013) [12],

Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con
đường Tịa án ở Việt Nam của tác giả Trần Thị Thùy Trang (2014) [28]. Các

nghiên cứu trên đã chỉ ra các rủi ro thường gặp khi thực hiện hợp đồng tín
dụng và đề ra các phương thức giải quyết cũng như thực trạng giải quyết tranh


chấp họp đồng tín dụng hiện nay tại các Tòa án.
3


Vê quyên và nghĩa vụ cùa các đương sự có một sơ nghiên cứu điên hình

như: Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự - Những bất cập
cần khắc phục của tác giả Võ Văn Tuấn Khanh [15], Nghĩa vụ của đương sự

trong tổ tụng dân sự Việt Nam cúa tác giả Phạm Thị Hoàng Phúc (2013) [19].
Các nghiên cứu này đã khái quát thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền và

nghĩa vụ của các đương sự nói chung trong q trình tố tụng dân sự, từ đó đưa
ra các kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập. Tuy nhiên, những cơng trình
này được nghiên cứu trước thời điểm Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được

ban hành.
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu của các tác giả đã góp phần tạo
cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh

chấp phát sinh từ hợp đồng nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng. Tuy
nhiên, các đề tài và các bài viết không đề cập một cách cụ thế về việc áp dụng
pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án hiện
nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: những lý luận cơ bản của pháp luật
Việt Nam về hợp đồng tín dụng, xác định đương sự và tranh chấp hợp đồng


tín dụng, đồng thời tổng hợp thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng tại Tịa án và chỉ ra những điểm thiếu sót trong q trình giải quyết, từ
đó đề xuất ý kiến về hướng hồn thiện trong việc giải quyết tranh chấp hợp

đồng tín dụng tại Tòa án.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu giới hạn về nội dung nghiên cửu, nghiên cứu các
quy định của pháp luật liên quan đến xác định đương sự là cá nhân và giải

quyết hợp đồng tín dụng như: Bộ Luật dân sự, Luật ngân hàng, Luật các tồ
chức tín dụng, quy chế cho vay cùa các tổ chức tín dụng, các văn bản dưới

4


luật hướng dẫn thi hành các luật, các đề tài cơng trình nghiên cứu của các tác
giả đi trước đồng thời có sự so sánh, đánh giá với các quy định của pháp luật
có liên quan.
4. Mục
vụ• nghiên cứu
• đích và nhiệm


4.1. Mục đích nghiên cún
Mục đích của đề tài là góp phần hồn thiện các quy định của pháp luật về

xác định đương sự trong vụ án tranh chấp họp đồng tín dụng và giải quyết tranh
chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án.

4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đe hồn thành mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên

cứu sau đây:

- Phân tích những vấn đề lý luận để làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa
của hợp đồng tín dụng, xác định đương sự và giải quyết tranh chấp họp đồng

tín dụng tại Tịa án;

- Phân tích các vấn đề cơ bản của pháp luật Việt Nam về xác định
đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án. Đồng thời

đánh giá các quy định dưới góc độ luật thực định và thực tiễn áp dụng các quy

định về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng tại tịa

an;

- Đưa ra giải pháp hồn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng tại Tòa án.
5. Phương pháp nghiên cứu

Đe đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp phân tích để nêu rõ khái niệm, đặc điểm của hợp đồng
tín dụng, đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án.

- Phương pháp so sánh các quy định pháp luật, phương pháp phân tích,

tổng hợp, quy nạp được sử dụng để nêu rõ nội dung pháp luật về đương sự và

5


giải qut tranh châp họp đơng tín dụng tại Tịa án câp sơ thâm và câp phúc

thẩm; thực trạng pháp luật về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp

đồng tín dụng; các kiến nghị hồn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp
hợp đồng tín dụng.

- Sử dụng kết quả thống kê từ Tòa án nhân dân tình Đắk Lắk để nêu
thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng tại

Tịa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ỷ nghĩa lý luận: Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tở

phương diện lý luận trong khoa học pháp lý cũa vấn đề xác định đương sự và

giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng tại Tịa án. Trong quá trình nghiên
cứu về mặt lý luận, đề tài đã khái qt được mơ hình pháp luật về xác định

đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân,

giúp cho việc đánh giá thực trạng pháp luật có cơ sở lý thuyết và sâu sắc hơn.
Ỷ nghĩa thực tiền của luận vãn: những vấn đề, kiến nghị trong luận văn


có thể được tham khảo, sử dụng để sửa đổi một số quy định trong Bộ luật tố

tụng dân sự về xác định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
tại Tịa án, điều đó góp phần hồn thiện quy định của pháp luật, đưa pháp luật

có giá trị áp dụng cao trong thực tế.

Luận văn cũng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cái nhìn cụ thể
hơn và kịp thời hơn, chuyên sâu hơn về xác định đương sự và giải quyết tranh

chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án, qua đỏ nâng cao hiệu quả của việc xác
định đương sự và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tịa án.
7. Cơ câu của luận văn

Ngồi những phần như: Phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu
tham khảo, luận văn được kết cấu với 3 chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về đương sự là cá nhân trong vụ án

tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tịa án;
6


Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn tại tòa án nhân dân về
đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp họp đồng tín dụng;

Chương 3. Hồn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tịa án.

7



CHƯƠNG 1. MỘT SỚ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN

VỀ ĐƯƠNG Sự LÀ CÁ NHÂN TRONG vụ ÁN
TRANH CHẤP HỢP ĐỊNG TÍN DỤNG TẠI TOÀ ÁN

1.1. Quan niệm về đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp hợp

đồng tín dụng

1.1.1. Giải quyết tranh chấp họp đồng tín dụng tại tồ án và các yếu
tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tồ án

(ì) Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tồ án

Thơng thường thì hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng
tín dụng thơng qua Tịa án được tiến hành mà việc áp dụng cơ chế thương

lượng và hòa giải khơng cịn có hiệu quả và các bên bên tranh chấp cũng
không tự thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài thương mại.

Việc tự giải quyết tranh chấp của các bên thường gặp nhiều khó khăn do
nhiều nguyên nhân khác nhau và vì vậy sự cần thiết phải có sự can thiệp của
cơ quan nhà nước có thấm quyền mà phố biến ở đây là Tòa án. Mặt khác, khi

giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, quyết định trọng tài khơng có tính cưỡng
chế cao như quyết định của Tòa án, việc thi hành quyết định trọng tài không
phải lúc nào cũng trôi chày, thuận lợi như thi hành bản án của Tòa mà phụ
thuộc chủ yếu vào thiện chí và hợp tác giải quyết của các bên. Do đó, việc


giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng thơng qua Tịa án là hình thức cuối

cùng mà các bên lựa chọn đế giải quyết khi tranh chấp khơng cịn lựa chọn

nào khác.
Trong q trình giải quyết các tranh chấp, Tịa án phải tn theo một

trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những

ngun tắc cơ bản, trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định; Trình
tự, thủ tục khởi kiện; Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại Tòa án, thi hành
bản án, quyết định cùa Tòa án; Quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành

8


tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan, đây chính là thủ tục tố tụng tại Tịa án. Hay nói cách khác, tố

tụng Tịa án chính là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết các

tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tịa án.
Ớ hầu hết các nước trên thế giới, thủ tục tố tụng Tòa án áp dụng cho

các tranh chấp trong kinh doanh nói chung và giải quyết tranh chấp HĐTD
nói riêng được dựa trên nền tảng thủ tục tố tụng dân sự cùng với một số quy
định đặc thù cho phù hợp với hoạt động kinh doanh, chắng hạn như về hội

đồng xét xử, về thời gian của các trình tự tố tụng. Do vậy, ở các quốc gia này


người ta không hình thành luật tố tụng riêng cho các tranh chấp hợp HĐTD
mà chỉ có luật về tố tụng dân sự. Cụ thể như ở Cộng hòa Liên bang Đức, Luật
tố tụng đối với các vụ án dân sự và thương mại được quy định thống nhất

trong Bộ luật Tố tụng dân sự; ở Pháp, Anh và Mỹ các tranh chấp trong lĩnh
vực HĐTD thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đều được áp dụng theo

thủ tục tố tụng dân sự.
Từ đó có thề nhận thấy, “Giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án được
hiêu là việc giãi quyết những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền và
nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay là tơ chức tín dụng và bên
vay thơng qua hoạt động của cơ quan tài phản nhà nước, nhân danh quyền

lực của nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể

cả sức mạnh cưỡng che
(ii) Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tin

dụng tại toà án

Thứ nhất, sự hoàn thiện của các quy định pháp luật trong quá trình
giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng

Một trong những yêu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, chính là sự hồn thiện của hệ thống pháp luật. Khi áp

dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về
9



hợp đơng tín dụng nói riêng tại Tồ án thì Thâm phán, Hội đông xét xử phải
áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và hệ thống các văn bản

pháp luật về nội dung cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm

đưa ra bản án chính xác, đúng pháp luật, có hiệu quả và hiệu lực cao. Chính vì

vậy, nếu hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật
trong giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng khơng hồn thiện, thì chất

lượng áp dụng pháp luật sẽ khơng cao, thậm chí khơng thực hiện được.
Vì vậy, để hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về
hợp đồng tín dụng tại Tồ án đạt hiệu quả cao, địi hỏi phải có sự đảm bảo về
pháp lý, bao gồm sự hoàn thiện cùa hệ thống pháp luật thực định; Sự hoàn

thiện của cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật.
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định được thể hiện ở những

tiêu chuấn như tính tồn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính hiệu lực, hiệu
quả và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật. Sự hoàn thiện của cơ

chế thực hiện và áp dụng pháp luật biếu hiện thông qua các vấn đề cơ bản như
các văn bản pháp luật có liên quan tới chức năng nhiệm vụ của Toà án nhân
dân, các văn bản pháp luật về tố tụng dân sự, việc ban hành các văn bản chi

tiết hướng dẫn thi hành pháp luật; Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật trong xã hội; Công tác tổ chức và chất lượng hoạt động của cơ quan
áp dụng pháp luật; Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức trực

tiếp tham gia áp dụng pháp luật; Chất lượng của các văn bản áp dụng pháp

luật... Ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý cùa cán bộ, công chức và các tầng

lớp nhân dân phụ thuộc không nhỏ vào công tác phổ biến, tuyên truyền và
giáo dục pháp luật cũng như chất lượng của pháp luật; Chất lượng của hoạt

động thực hiện, áp dụng pháp luật. Điều này cho thấy có sự hồn thiện của hệ
thống pháp luật thì hoạt động áp dụng pháp luật mới đạt chất lượng cao.

Thứ hai, yếu tố thực hiện pháp luật trong quả trình giải quyết các tranh
chấp về hợp đồng tín dụng

10


Vê phía bên cho vay:

Bên cho vay khơng thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ
giải ngân cho khách hàng như đã cam kết. Các tổ chức tín dụng khơng chấp
hành nghiêm chỉnh chế độ tín dụng và điều kiện cho vay. Nhiều tổ chức cho
vay không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc 6cs, điều mà định

chế tài chính quốc tế ln cảnh báo là: 6cs tính cách người vay (character),
năng lực trả nợ (capacity), tiền mặt (cash), tài sản the chap (collateral), các

điều kiện mơi trường (conditions), sự kiểm sốt (control), mà vẫn dựa vào
cảm tính của nhân viên ngân hàng. Điều này tạo điều kiện cho tồ chức “tín
dụng đen” ngày càng được tổ chức ở phạm vi rộng rãi hơn, quy mô hơn và

nhiều người đã trở thành nạn nhân của các tổ chức này. Trên thực tế, bên cho
vay khi tiến hành thẩm định cũng không thể kiểm tra được bên vay có thơng


qua một tổ chức tín dụng đen nào khơng. Chính sách và quy trình cho vay

chưa thực sự chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú
trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng đế tính tốn điều kiện

và khả năng trả nợ của khách hàng khi đáo hạn. Ớ Việt Nam, các ngân hàng
thường dựa chủ yếu vào giá trị tài sản bảo đảm đế quyết định cho vay nên

nhiều khi bỏ qua nhiều khách hàng tiềm năng.
về phia bên vay (khách hàng):

Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đù những
nghĩa vụ cùa mình. Điều này có thể do nhiều yếu tố khách quan và yếu tố chủ

quan.
Yeu tố chủ quan: Là yếu tố xuất phát từ mỗi khách hàng, đó có thể xuất
phát từ vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của tố chức, cá nhân không
đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành cịn hạn chế, thiếu thơng tin thị trường

và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới q trình săn xuất,

cơng nghệ chưa được cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh
cao, hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả kinh doanh thua lồ lâm vào tình trạng

11


phá sản. Ngồi ra nhiêu trường hợp tơ chức, cá nhân cơ tình đưa ra những
thơng tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn. Những tổ chức, cá nhân thiếu hiểu


biết về pháp luật. Hiện nay, trình độ hiểu biết của khách hàng về những kiến
thức pháp luật liên quan cịn rất hạn chế. Đã có nhiều trường hợp khách hàng
ký hợp đồng trái pháp luật, tự họ đặt bản thân họ vào tình trạng bất lợi và phải

gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề. Trong thời gian tới, Nhà nước cần có nhiều

kênh thơng tin tạo cơ hội cho những tổ chức, cá nhân nói riêng tiếp cận và
nắm vững được quy định của pháp luật, nhằm hạn chế những rủi ro đối với

các bên.
Yeu to khách quan: Là những yếu tổ tác động ngồi ý chí của khách
hàng như do thiên tai, hoả hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh

tế, điều chỉnh quy hoạch, do biến động thị trường trong và ngoài nước, quan
hệ cung cầu hàng hoá thay đổi...làm cho hoạt động của bên vay không tiến
hành được như kế hoạch đã định.
Yếu tổ gây ra do quy định của pháp luật: Nhiều quy định còn được

hiểu chưa thống nhất, dẫn đến mỗi bên hiểu theo những cách khác nhau nhằm

bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình, từ đó nảy sinh những bất đồng mâu
thuẫn và đi đến tranh chấp. Hiện nay, pháp luật quy định các bên cho vay nếu

muốn từ chối khách hàng nào thì bắt buộc phải đưa ra các căn cứ hay những

lý do chính đáng. Nhưng chưa có văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này. Vì
thế, phía người cho vay quan niệm rằng cho vay là quyền được tự do kinh
doanh của họ vì vậy lý do có chính đáng hay khơng do họ quyết định. Cịn


người đi vay thì khơng đồng ý với cách hiểu đó và trong những trường hợp bị
từ chối họ sẵn sàng khiếu nại tới các cơ quan có liên quan để yêu cầu giải
quyết. Cả hai cách hiểu đó đều khơng thồ đáng. Để khắc phục tình trạng này,
nhất thiết phải có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để các bên trong hợp đồng cũng

như các nhà áp dụng pháp luật được thống nhất.

12


Thứ ba, năng lực, trình độ và kỹ năng xét xử của Thâm phán trong quá
trình giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng
Năng lực của Thẩm phán là khả năng mà Thẩm phán cần phải có để

thực hiện hiệu quả cơng tác tư pháp, trong đó, bao gồm năng lực hiểu biết

(kiến thức) và năng lực thực hành (kỹ năng). Những yêu cầu đối với Thẩm

phán về mặt kiến thức là rất cao. [31] Bao gồm kiến thức chuyên ngành pháp
lý và kiến thức xã hội. Trong đó, kiến thức pháp lý tồn diện và chun sâu là
điều cần thiết. Lý do nó được nêu ra bởi vì kiến thức chun mơn đã được
xem như là yếu tố căn bản nhất. Bằng kiến thức đó, Thẩm phán có thể giải
thích các sự kiện pháp lý, những mâu thuẫn, tranh chấp và các yếu tổ khách

quan, chủ quan để áp dụng pháp luật một cách chính xác. Bên cạnh đó, Thẩm
phán cịn phải trang bị và trau dồi kỹ năng. Trong đó, kỳ năng xét xử là kỹ
năng cốt lõi của Thấm phán, bao gồm kỳ năng nghiên cứu hồ sơ, đánh giá

chứng cứ, kỳ năng điều hành phiên tòa. Những kỳ năng này tuy đã được trang
bị cơ bản từ khóa đào tạo nghiệp vụ xét xừ, nhưng các Thẩm phán cần tiếp tục


tích lũy và mài dũa nhiều hơn. Trong những kỹ năng trên, kỳ năng diễn đạt,
(bằng lời nói và viết) là rất quan trọng, bởi nó gắn với hầu hết các hoạt động

nghiệp vụ của Thấm phán. Giao tiếp tinh tế là quan trọng với cả đương sự và

đồng nghiệp trong quá trình làm việc và cuộc sống. Thẩm phán phải diễn đạt
một cách rõ ràng, chính xác và đúng ngữ pháp, dù bằng lời nói hay bằng văn

bản. Kỹ năng giao tiếp tốt cũng bao gồm khả năng lắng nghe, hiểu. Điều này
giúp chia sẻ các phương pháp hay nhất và thông tin tư pháp hữu ích từ đồng

nghiệp. Cần tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về vấn đề
pháp luật và vấn đề trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ hợp đồng tín

dụng.

Thứ tư, ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong q trình giải quyết các
tranh chấp về hợp đồng tín dụng

13


Người khởi kiện, người tham gia tô tụng thực hiện thủ tục gửi, nhận
đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và việc Tịa án cấp, tống đạt thơng báo văn
bản tố tụng bằng phương tiện điện tử theo quy định của BLTTDS, thủ tục này

gọi là Giao dịch điện tử trong tố tụng dân sự [33], Dữ liệu điện tử được tạo ra,

gửi đi, nhận và lưu trữ bàng phương tiện điện từ từ đơn khởi kiện, tài liệu,

chúng cứ, văn bản tố tụng đã được ban hành theo quy định của pháp luật được

gọi là Thông điệp dữ liệu điện tử trong tố tụng dân sự. Xây dựng cổng thơng
tin điện từ Tịa án cơng bố bản án, quyết định Tịa án. Người đọc cũng có thế

tương tác bàng cách trực tiếp cho ý kiến về bản án, quyết định được cơng bố,

trong đó cỏ mục “ý kiến phản hồi đổi với bản án, quyết định”. Việc công khai
bản án góp phần nâng cao trách nhiệm, kỹ năng viết bản án, kỳ năng công

nghệ thông tin cùa Thẩm phán.
1.1.2. Đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chẩp hợp đồng tin
dụng
Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự thông thường là các chù thế

độc lập trong một hoặc nhiều quan hệ đang được xem xét, giải quyết trong vụ
việc hoặc quan hệ phát sinh từ việc xem xét, giải quyết vụ việc đó. Do đó,

muốn xác định được đầy đủ đương sự trong vụ việc nói chung và vụ án tranh

chấp hợp đồng tín dụng nói riêng thì cần phải xác định được nhũng mối quan
hệ được giải quyết trong vụ án đó và những mối quan hệ có liên quan đến

việc giải quyết vụ án. Một vụ án mà có nhiều mối quan hệ đan xen của nhiều

chủ thể thì vụ án đó có thể có nhiều đương sự tham gia và ngược lại trong vụ

án đỏ chỉ phải giải quyết một mối quan hệ giữa hai chủ thể thì chỉ hai bên chủ

thể đó được xác định là đương sự.


Ngoài ra, đương sự trong tố tụng dân sự phải là những chủ thế có
quyền, lợi ích liên quan trực tiếp với việc xem xét, giải quyết vụ án tranh chấp
hợp đồng tín dụng đó. Vi vậy, để xác định được đầy đủ những ai là đương sự,

trước hết cần xác đinh rõ bản chất của vu án thì mới có thế xác đinh đươc ai là

14


chủ thê có qun, lợi ích liên quan trực tiêp với việc giải quyêt vụ án đó. Tùy
thuộc vào từng vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng mà thành phần các chủ thể

được xác định là đương sự sẽ khác nhau, có những vụ án mà việc giải quyết
vụ án này cỏ liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhiều chủ thể, tuy nhiên có
vụ án thì việc giải quyết chỉ liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hai bên chủ

thể. Thơng thường đương sự có quyền, lợi ích được giải quyết ngay trong vụ
án đó. Tuy nhiên, đương sự cũng còn bao gồm cả những người mà quyền và

lợi ích khơng được giải quyết ngay trong vụ án nhưng kết quả giải quyết vụ
án này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của họ. Vì vậy, họ cũng phải
được tham gia vào việc giài quyết vụ việc.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS)
2015 quy định: “Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tô chức, cá nhân
bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Như


vậy các đương sự trong vụ án dân sự nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng

tín dụng nói riêng khá phong phú đa dạng bao gồm: Nguyên đơn, bị đơn,

người cỏ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập.

So với các pháp lệnh tố tụng trước đây thì khái niệm “đương sự” trong
BLTTDS 2015 mở rộng hơn. Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

năm 1989 quy định: “Các đương sự là công dãn, pháp nhãn tham gia tố tụng

với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan

Với quy định này trước đây, các tố chức khơng có tư cách pháp nhân

như tố hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp danh... không
phải là đương sự. Rõ ràng quy định như trên không bao quát được tất cả các

chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự. Theo

đó, với quy định của BLTTDS hiện hành thì đương sự là cá nhân trong vụ án
dân sự nói chung và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng bao gồm

15


nguyên đơn, bị đơn, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là cơng dân Việt


Nam, người có quốc tịch nước ngồi và người khơng có quốc tịch.
BLTTDS 2015 quy định đã quy định rất cụ thể đương sự là người từ đủ
18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng
lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự . Đương sự là

người chưa đủ sáu tuồi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì khơng có

năng lực hành vi tố tụng, họ khơng thể tự mình tham gia tố tụng dân sự, việc
bảo vệ quyền và lợi ích của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp
pháp của họ thực hiện.
Đối với đương sự là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do đại diện hợp
pháp của họ thực hiện.
Đối với đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham

gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng
của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan

hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Quy định này xuất phát từ quy định
trong Bộ luật lao động và Bộ luật dân sự, vì theo BLLĐ người đủ 15 tuổi có
quyền ký kết họp đồng lao động. Cịn BLDS quy định trường hợp người từ đủ

15 tuồi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện
nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không địi

hỏi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Ngoài ra BLTTDS
quy định nếu “pháp luật có quy định khác" thì căn cứ vào các quy định đó để
xác định năng lực hành vi tố tụng của đương sự.


Từ những nội dung đã nêu trên, có thế định nghĩa về đương sự là cá
nhân trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng như sau: “Đương sự là cá

nhãn trong vụ án tranh chấp họp đồng tín dụng là những cả nhân tham gia tố
tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi các bên xảy ra mâu

16


thuẫn, tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay là tơ chức tín dụng và
bên vay theo quy định của pháp luật ”.

1.2. Đặc điếm của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp họp

đồng tín dụng
1.2.1. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại tồ
án

Tồ án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân
danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt,
chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tồ án về vụ tranh chấp nếu khơng có

sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bàng sức mạnh cưỡng chế
nhà nước [4], do đó, việc giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tịa án sẽ có những
đặc điểm như sau:

Thứ nhất, các phiên tòa xét xử về tranh chấp HĐTD thường được tổ
chức công khai, bản án được cơng bố rộng rãi. Do đó, các đương sự thường

tìm đến sự trợ giúp của Tồ án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu

quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế
thương lượng hoặc hoà giải và cũng không muốn vụ tranh chấp giữa họ được
giải quyết bằng con đường trọng tài. Tòa án là cơ quan trong bộ máy nhà

nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết giải quyết tranh
chấp, buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng cưỡng chế nhà nước.

Thứ hai, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án,
các bên trong tranh chấp HĐTD phải nắm rõ được bản chất, vì việc giải quyết
tranh chấp của Toà án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình
thức của pháp luật tố tụng và đặc điểm này đơi khi có thề gây trở ngại cho các
bên tranh chấp vì tính chất của hoạt hoạt đồng tín dụng địi hỏi mọi thủ tục

phải rất linh hoạt và nhanh gọn. Bên cạnh đó, việc giải quyết tại Tịa án sẽ
thơng qua nhiều cấp xét xử, vì vậy, việc tuân thủ các quy định nghiêm ngặt

17


nêu trên sẽ giúp bảo đảm cho quyêt định cùa Tịa án được chính xác, cơng

bằng, khách quan.
T/íi? ba, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con
đường Tịa án dựa trên ngun tắc tơn trọng quyền quyết định và tự định đoạt

cùa các đương sự, nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của
các đương sự, nguyên tắc các đương sự cỏ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và

chứng minh; Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, bảo đảm
quyền bảo vệ của đương sự, nguyên tắc hòa giải, nguyên tắc xét xử vụ án dân


sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia, nguyên tắc Tòa án xét xử kịp thời,
công bằng, công khai và nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử.

Thứ tư, các phán quyết của Tòa án về vụ án tranh chấp hợp đồng tín

dụng được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước thông
qua cơ quan thi hành án. Mục đích hàng đầu của hoạt động này là nhằm bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Chính vì vậy, sự bảo đâm thi hành
phán quyết của Tòa án bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước được coi là một
ưu điểm, tạo ra sự khác biệt trong cơ chế thi hành phán quyết của các loại cơ

quan tài phán. Sở dĩ phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế bởi Tịa án
nhân dân là cơ quan nằm trong hệ thống tư pháp, nhân danh Nhà nước để giải
quyết các tranh chấp nói chung và tranh chấp họp đồng tín dụng nói riêng,
thơng qua đó bảo vệ quyền lợi, tài sản của các bên trong quá trình giải quyết

tranh chấp theo quy định của pháp luật. Khi đương sự không tự giác thi hành

bản án, quyết định của Tịa án, cơ quan thi hành án có quyền tố chức cưỡng
chế buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quyết định của Tịa

án. Với đặc điểm này, hiệu lực thi hành phán quyết của Tịa án sẽ hiệu quả và

mang tính cưỡng chế cao nhất.

18



1.2.2. Đặc điêm của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh châp hợp

đồng tín dụng

Đương sự là cá nhân trong TTDS là người tham gia TTDS, do đó, họ
có đầy đủ các đặc điểm của người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, do đương sự

là những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
chính mình, khơng giống với mục đích của hai nhóm cịn lại là để bảo về

quyền, lợi ích hợp pháp cho người khác hoặc để hỗ trợ cho hoạt động tố tụng
nên đương sự có những đặc điếm khác biệt dưới đây.

Thứ nhất, đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật về hợp đồng tín
dụng mà trong quan hệ đó, họ có quyền, lợi ích bị tranh chấp, bị xâm phạm

hoặc cần được xác định trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng. Trước khi
trở thành đương sự trong TTDS, các chủ thể này đã tham gia vào một quan hệ

pháp luật cụ thể đó là quan hệ về hợp đồng tín dụng và khi có tranh chấp hay

yêu cầu phát sinh, họ mới khởi kiện hoặc nộp đơn u cầu Tịa án giải quyết.

Vì vậy, quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thực chất
là giải quyết các quan hệ pháp luật nội dung phát sinh giữa các chủ thể.
Thứ hai, đương sự là chủ thể tham gia vào q trình giải quyết vụ án

tranh chấp hợp đồng tín dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Họ
có thể mong muốn tham gia hoặc buộc phải tham gia vào hoạt động tố tụng,


nhưng họ tham gia trước hết là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Những lợi ích mà họ hướng tới có thể là lợi ích cá nhân, lợi ích cúa pháp nhân
hoặc
• lợi
• ích của các chủ thế đặc
• biệt
• khác.

Thứ ba, các đương sự bình đẳng với nhau trong tố tụng, có thể tham gia

tố tụng độc lập hoặc thơng qua người đại diện trong TTDS. Họ bình đẳng với

nhau về các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Mặc dù các đương sự với tư cách tố
tụng khác nhau có một sổ quyền và nghĩa vụ khác nhau nhung với những
quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ đó, họ có điều kiện thuận lợi

19


như nhau khi tham gia tô tụng đê bảo vệ các qun và lợi ích hợp pháp của
mình.
Thứ tư, đương sự có quyền tự định đoạt trong TTDS. Điều đó nghĩa là
việc các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ là cơ sở làm phát
sinh, thay đổi hay chấm dứt quá trình giải quyết các vụ việc dân sự nói chung

và vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng. Chỉ đương sự mới có quyền

tự định đoạt này, trong khi các chủ thể khác có nghĩa vụ phải tơn trọng và bảo
đảm.


1.3. Vai trị của đương sự là cá nhân trong vụ án tranh chấp họp

đồng tín dụng tại tồ án
Sự phát triển kinh tế ở các cường quốc tiên tiến trên thế giới đã chỉ ra

rằng, sự ổn định và phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng là một trong

những điều kiện cơ bản của sự phát triến đó. Đế bảo đảm thiết lập hệ thống

TCTD an toàn và hiệu quả, phát huy tích cực đối với nền kinh tế và các mối
quan hệ trong đời sống xã hội đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều

biện pháp, trong đó có pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh

vực tin dụng. Ngược lại, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình thi các TCTD

cũng ln phải tn thủ các chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ
phát triển của Nhà nước, tuân thú các quy định của pháp luật để giảm thiểu rủi
ro trong các hoạt động tín dụng nói chung và giảm thiếu các tranh chấp phát

sinh từ HĐTD nói riêng.

Cùng với sự phát triển và ổn định chính sách tiền tệ tại các TCTD thì
các tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng đang gia tăng đột biến, đặc biệt là
trong giai đoạn nền kinh tế nước nhà trên đà suy thối. Các tranh chấp phát

sinh từ HĐTD nếu khơng được giải quyết triệt đế, kịp thời sẽ dẫn tới nguy cơ
mất vốn của các TCTD, nợ xấu trong hệ thống TCTD tăng cao, ảnh hưỏng


không nhỏ tới thị trường tài chính tiền tệ. Tùy thuộc vào tính chất của các

tranh chấp, mức độ tranh chấp phát sinh từ HĐTD mà các bên chủ thể có thể
20


×