ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
vũ HƯƠNG GIANG
BẢO VỆ QUYỀN CỦA DOANH NGHIỆP
'A
í
TRONG THỰC HIỆN NGHĨA vụ Nộp THUẾ
•
•
•
•
GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành'. Luật Kinh tê
Mã số'. 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học'. TS. Nguyễn Thanh Phú
Hà Nội - 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi.
Các sổ liệu và kết quả nêu trong luận văn này chưa được công bổ trong bất kỳ
cơng trình nào khác.
Người cam đoan
Vũ Hương Giang
LỜI CẢM ON
Trong quá trình nghiên cứu đề tài "Bảo vệ quyền của doanh nghiệp
trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam ”, tôi đã nhận
được nhiêu sự giúp đỡ tận tình của đon vị và các nhà khoa học. Tôi xin chân
thành cảm ơn đến tập thể các thầy, cô cán bộ, giảng viên Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội. Tôi xin cảm ơn TS. Nguyễn Thanh Phú về sự hướng dẫn
tận tình của thầy.
Tơi chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tận tình giúp
đỡ trong suốt q trình hồn thành luận văn.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày .... tháng .... năm 2022
Tác giả luận văn
Vũ Hương Giang
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................... 2
MỤC LỤC............................................................................................................ 3
LỜI MỎ ĐẦU...................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: QUYỀN CỦA
DOANHNGHIỆP TRONG PHÁP LUẬT
THUÉ GIÁ TRỊ GIA TĂNGỞ VIỆT NAM.................................................. 11
1.1. Quyền của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuế giá trị
gia tăng............................................................................................................11
1.1.1. Vị trí pháp lý của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuế...... 12
1.1.2. Phân loại quyên của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuê .. 14
1.2. Bảo vệ quyền của doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
tại Việt Nam.................................................................................................... 17
1.2.1. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của doanh nghiệp trong nộp thuế. 17
1.2.2. Những quyên cơ bản của doanh nghiệp khi nộp thuê giá trị gia tăng 22
1.3. Nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp....................... 24
N
r
1.3.1. Nội dung vê trách nhiệm của doanh nghiệp trong Luật quản lý thuê. 24
1.3.2. Nội dung thực hiện nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng tại doanh nghiệp.. 27
1.3.2.1. Đăng ký thuế và cấp mã số thuế................................................... 27
1.3.2.2. Thủ tục kê khai, nộp, quyết toán thuế...........................................28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................. 31
CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VÈ BẢO VỆ QUYỀN CỦA
DOANH NGHIỆP TRONG THựC HIỆN NGHĨA vụ Nộp THUẾ GIÁ
TRỊ GIA TẢNG Ở VIỆT NAM......................................................................32
2.1. Quyền tiếp cận thơng tin của ngưịi nộp thuế................................... 32
2.2. Quyền được hưởng ưu đãi về thuế giá trị gia tăng của doanh
nghiệp............................................................................................................. 35
2.2.1. Quyền của doanh nghiệp trong thực hiện kê khai hàng hóa, dịch vụ
chịu thuế giá trị gia tăng............................................................................. 35
3
2.2.2. Quyên được hưởng ưu đãi thuê đôi với hàng hóa, dịch vụ xuât khâu 36
2.2.3. Quyền được hưởng ưu đãi thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. 38
2.2.4. Quyền được hưởng ưu đãi thuế đối vói hàng hóa, dịch vụ trong
nước
2.3. Quyền đưực khấu trừ thuế giá trị gia tăng.........................................45
2.3.1. Điều kiện được khấu trừ thuế giá trị gia tăng............................ 45
2.3.2. Mức thuế suất trong thuế giá trị gia tăng.................................... 47
2.3.3. Tài sản được khấu trừ thuế giá trị gia tăng.......................................50
2.3.4. Hóa đơn, chứng từ trong khấu trừ giá trị gia tăng........................... 52
2.3.5. Thời hạn khấu trừ thuế giá trị gia tăng............................................. 57
2.4. Quyền đưực hoàn thuế giá trị gia tăng............................................... 59
2.4.1. Đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng........................................59
2.4.2. Thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng..................................................... 63
2.4.3. Thời hạn hoàn thuế giá trị gia tăng................................................... 66
2.5. Quyền của doanh nghiệp trong kiểm tra, thanh tra thuế giá trị gia
tăng.................................................................................................................... 69
2.6. Quyền khiếu nại, khỏi kiện của doanh nghiệp.................................. 75
2.6.1. Quyền khiếu nại của doanh nghiệp về quyết định hành chính trong
lĩnh vực thuế giá trị gia tăng........................................................................76
2.6.2. Quyền khởi kiện của doanh nghiệp về quyết định hành chính trong
lĩnh vực thuế giá trị gia tăng........................................................................ 80
X
X
r
X
2.7. Quyên yêu câu bôi thường thiệt hại do cơ quan quản lý thuê, công
chức quàn lý thuế gây ra trong quá trình thu nộp thuế giá trị gia tăng.... 83
TIẺU KẾT CHƯƠNG 2.................................................................................. 86
CHƯƠNG 3: MỘT SÓ KIÉN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
NHẰM BẢO VỆ QUYÈN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG THỤC
HIỆN NGHĨA VỤ Nộp THUÉ GIÁ TRỊ GIA TẢNG Ở VIỆT NAM.... 87
3.1. Hoàn thiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng phải đảm bảo tính
hiệu quả và khả thi.........................................................................................87
4
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật vê thuê giá trị gia tăng phải bảo đảm tính
thống nhất phù hợp...................................................................................... 87
3.2. Hồn thiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng phải bảo vệ quyền của
ngưòi nộp thuế...............................................................................................88
3.3. Cần ghi nhận thành ngun tắc bẳo vệ quyền và lợi ích của ngưịi
nộp thuế.......................................................................................................... 88
3.4. Cụ thế hóa nguyên tắc pháp định trong quản lý thuế.....................89
3.5. Xây dụng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật về thuế............. 90
3.6. Cụ thê hóa quy định của pháp luật vê quyên của người nộp thuê. 91
3.2.5. Quy định nghĩa vụ của công chức thuế trong Luật quản lý thuế.... 92
3.7. Hoàn thiện một số quy định cụ thế của Luật Quản lý thuế............ 93
3.7.1. Quyền tiếp cận thông tin.................................................................. 93
3.7.2. Hệ thống thông tin về người nộp thuế và bảo mật thông tin của
người nộp thuế............................................................................................ 94
3.7.3. về thủ tục khấu trừ thuế, hoàn thuế.................................................. 96
3.7.4. về kiểm tra, thanh tra thuế................................................................97
3.7.5. Xử lý vi phạm pháp luật thuế............................................................ 98
TIẾU KẾT CHƯƠNG 3............................................................................... 99
KÉT LUẬN...................................................................................................... 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 103
5
LỜI MỞ ĐÀU
1. Tính căp thiêt của đê tài
Phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mồi quốc gia. Chủ thể độc
quyền ban hành pháp luật là Nhà nước. Vì vậy mà pháp luật của Nhà nước
phải khách quan để bão đảm quyền và nghĩa vụ của công dân. Ớ nước ta,
Quốc hội là cơ quan dân cử cao nhất, có khả năng trong việc thể chế hóa ý
nguyện của nhân dân một cách toàn diện và trung thực; điển hình là trong
việc xây dựng mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước đối với công dân. Hiến
pháp năm 1992 đã khẳng định một tư tưởng chỉ đạo hay nguyên tắc nền
tảng cho việc xác lập địa vị pháp lý của công dân: Quyền và nghĩa vụ của
công dân do Hiến pháp và luật quy định. Đây chính là quy định mới mang
tính nền tảng đối với hoạt động lập pháp của Nhà nước ta nói chung, Quốc
hội nói riêng. Điều này, thể hiện thái độ trân trọng của Nhà nước đối với
việc thể chế hóa địa vị pháp lý của công dân, nhằm hạn chế tối đa sự tùy
tiện từ phía Nhà nước.
Và Thuế đã được ra đời để cùng tồn tại và phát triển với đất nước, để
có thể thúc đầy đất nước ngày một vươn xa, đây cũng là một vấn đề rất quan
trọng đối với tất cả quốc gia trên thế giới. Để thúc đẩy quá trình phát triển
kinh tế của đất nước, Việt Nam chúng ta cần phải có mơi trường đầu tư thuận
lợi và cơ chế chính sách sao cho phù hợp, rõ ràng và ổn định. Thuế là khoản
thu chủ yếu và có tính lâu dài, mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý cao, là
nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước với mục đích để huy động một
phần của cải vật chất trong xã hội vào Ngân sách Nhà nước. Nộp thuế là
quyền lợi đồng thời cũng nghĩa vụ của mọi công dân cũng như tố chức cá
nhân doanh nghiệp kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam. Đây vừa là nghĩa vụ
và trách nhiệm đối với doanh nghiệp.
6
Đơi với Luật Th giá trị gia tăng thì khâu trừ, hoàn thuê là một chê
định hết sức tiến bộ. Nhà nước đã có những chủ truơng, chính sách khuyến
khích để có thể bảo đảm tính cơng bằng, bình đẳng cho người nộp thuế; thúc
đấy hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh
tế đất nước nói chung. Tuy nhiên, pháp luật về khấu trừ, hồn thuế giá trị gia
tăng vẫn cịn nhiều bất cập, vướng mắc, khó thực hiện, cụ thể: Nhiều trường
họp người nộp thuế bị chậm hồn thuế, khơng được thực hiện khấu trừ, hoàn
thuế giá trị gia tăng, khiếu nại không được giải quyết thỏa đáng... gây ảnh
hưởng đến lợi ích kinh tế, sản xuất kinh doanh cho người nộp thuế cho nên
doanh nghiệp tìm cách trì hỗn nộp thuế, gian lận thuế hoặc dùng nhiều biện
pháp để trốn thuế. Cịn Tổng Cục Thuế và Bộ Tài Chính thường xun phải rà
sốt chính sách, pháp luật để đề xuất các giải pháp để chổng lại tình trạng thất
thu thuế. Vậy làm thế nào để người nộp thuế tự giác tuân thủ pháp luật thuế,
nộp đúng nộp đủ vào ngân sách Nhà nước?
Nhận thấy được thực tiễn như vậy, do đó cần phải có những nghiên
cứu, hồn thiện pháp luật về thuế giá trị gia tăng nhằm hạn chế những bất cập
phát sinh để bảo vệ quyền của doanh nghiệp trong khâu khấu trừ, hồn thuế
giá trị gia tăng. Từ đó, tạo được lòng tin cho các chủ thể nộp thuế trong việc
thực hiện nghĩa vụ của mình. Chính những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài
"Bảo vệ quyền của doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giá trị gia
tăng ở Việt Nam" để nghiên cứu thực hiện luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cún
Hiện nay, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học cơng bố trong
lĩnh vực thuế nói chung và lĩnh vực thuế giá trị gia tăng nói riêng được các
nhà nghiên cứu luật nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật thuế ở nước ta.
Các cơng trình nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu, đánh giá dựa trên
góc độ quản lý Nhà nước nhằm hoàn thiện các quy định về pháp luật thuế ở
7
nước ta và tăng cường hiệu quả chức năng quản lý của cơ quan th. Phân lớn
các cơng trình đều tiếp cận các quy định pháp luật về thuế dưới góc độ quản
lý thuế nhằm nêu lên những phương hướng, giải pháp để Nhà nước có thể thu
đúng và thu đủ thuế, nhằm giải quyết vấn nạn trốn thuế, trì hoãn nộp thuế
hoặc gian lận trong nộp thuế. Tuy nhiên, ít có cơng trình nào tiếp cận các quy
định về thuế dưới góc độ người nộp thuế và bảo vệ quyền lợi của người nộp
thuế, cụ thể là các doanh nghiệp.
Chính vì vậy, luận văn "Bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam" là một đề tài độc lập
khơng có sự lặp lại. Ngồi việc làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về bào vệ
quyền của người nộp thuế giá trị gia tăng là doanh nghiệp, nêu lên thực trạng
bảo vệ quyền của doanh nghiệp trong thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng ở
Việt Nam, và luận văn đi sâu vào nghiên cứu để đưa ra kiến nghị các giải
pháp khắc phục cho vấn đề "bảo vệ quyền của doanh nghiệp".
3. Mục
đích và nhiệm
vụ• nghiên
cún
•
•
d
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm đưa ra những luận
cứ khoa học góp phần kiến nghị hồn thiện pháp luật thuế để bảo đảm cơng
bằng và hiệu quả.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thuế giá trị gia tăng và vấn đề
bão vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong việc thực hiện pháp luật thuế giá trị
gia tăng.
- Thực tiễn áp dụng các quy định của luật, từ đó tìm ra những vấn đề
tồn tại của pháp luật thuế trong việc bảo vệ quyền của doanh nghiệp.
- Kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia
tăng nhằm bảo vệ hiệu quả quyền của doanh nghiệp trong việc thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cún
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật thuế giá trị gia tăng ở
Việt Nam hiện nay và những bất cập, vướng mắc của pháp luật thuế giá trị gia
tăng trong việc bảo vệ quyền của doanh nghiệp khi thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế giá trị gia tăng để lấy đó làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc kiền
nghị hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng trong thời gian tới.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là Luật thuế giá trị gia tăng năm
2008, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2013, Luật Quản
lý thuế năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế năm 2019.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đe tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phối họp các phương
pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, tổng họp, so sánh, ...
Phương pháp phân tích để làm rõ những vấn đề liên quan đến thuế giá
trị gia tăng, pháp luật thuế giá trị gia tăng.
Phương pháp so sánh được sử dụng đế đánh giá về thực trạng pháp luật
thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng ở
Việt Nam qua các giai đoạn và vấn đề bảo vệ quyền của doanh nghiệp trong
việc thực hiện thuế giá trị gia tăng.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để rút ra những kết luận đưa ra
được các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hiện
nay nhàm bảo vệ hơn nữa quyền của doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa
vụ nộp ư thuế giá trị gia tăng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế giá trị gia tăng và pháp luật bảo
vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong việc thực hiện pháp luật thuế giá trị gia
tăng ở Việt Nam.
9
- Thực trạng thi hành pháp luật giá trị gia tăng ở Việt Nam từ đó tìm ra
những vấn đề tồn tại của pháp luật thuế giá trị gia tăng trong việc bảo vệ
quyền của doanh nghiệp.
hành ở Việt Nam.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài danh mục từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu
r
r
tham khảo, Luân văn được kêt câu thành ba chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền của doanh nghiệp
trong pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật của Việt Nam về quyền của doanh
nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng.
r
r
X
X
- Chương 3: Một sô kiên nghị hoàn thiện pháp luật nhăm bảo vệ quyên
của doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuê giá trị gia tăng ở Việt
Nam.
10
CHƯƠNG 1: QUYỀN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG PHÁP
LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM.
1.1. Quyền của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuế giá trị gia tăng
Theo Điều 2, Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 do Quốc hội
nước ta ban hành ngày 03/06/2008 và cũng là văn bản luật hiện nay đang áp
dụng, thuế giá trị gia tăng được định nghĩa như sau: “Thuế giá trị gia tăng là
thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hố, dịch vụ phát sinh trong q trình
từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
Khi phát sinh các nhu cầu chi tiêu, Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị
để tham gia vào việc phân phối một phần sản phẩm xã hội bằng cách đặt ra
chế độ thuế khóa buộc các thành viên trong xã hội phải đóng góp - phương
thức động viên tài chính đầu tiên trong lịch sử. Mục đích của thuế giá trị gia
tăng là khuyến khích chun mơn hố, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư
mua sắm máy móc thiết bị và tăng năng suất lao động nhằm mục đích tăng
chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra thành phẩm cao cho
doanh nghiệp, tăng tỷ lệ huy động vốn cho ngân sách Nhà nước. Thuế sinh ra
từ nhà nước, tồn tại dựa vào quyền lực nhà nước. Nhà nước sử dụng các cơng
cụ quản lý đế đảm bảo các doanh nghiệp nói riêng và người nộp thuế nói
chung tuân thủ nghiêm túc nghĩa vụ thuế.
Quan hệ xã hội xuất hiện chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau,
song quyết định nhất vẫn là yếu tố Nhà nước để phục vụ lợi ích của mình và
tạo ra trật tự chung cho xã hội, Nhà nước dùng quy phạm pháp luật như một
quy tắc xử sự chung nhằm tập trung nguồn thu từ thuế vào ngân sách Nhà
nước. Quan hệ thu, nộp thuế thực hiện dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật
đã trở thành quan hệ pháp luật thuế.
Trong quan hệ pháp luật về thuế, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ với nhà nước theo pháp luật quy định, còn các cơ quan quản lý thuế
11
được Nhà nước giao trách nhiệm tô chức, điêu hành, giám sát và bảo đảm
việc thực hiện pháp luật thuế và thu tiền thuế cho ngân sách Nhà nước. Nhà
nước trao quyền hạn, trách nhiệm quản lý thuế cho Bộ tài chính mà trực tiếp
là hệ thống cơ quan quản lý thuế gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan chịu
trách nhiệm chính trong thực thi nhiệm vụ quản lý thuế. Cơ quan quản lý thuế
có cơ chế quăn lý đối với tất cả doanh nghiệp buộc phải tuân theo nhằm bảo
vệ quyền lợi nhà nước, đồng thời tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của các doanh nghiệp.
1.1.1. Vị trí pháp lý của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuế
Cùng với Nhà nước, doanh nghiệp là một chủ thể tham gia và đóng vai
trị chủ đạo trong quan hệ pháp luật thuế. Đây là chủ thể có mối quan hệ chặt
chẽ, mật thiết và trực tiếp sáng tạo, quản lý các lợi ích vật chất được hình
thành trong xã hội. Cũng như các chủ thể tham gia vào quan hệ. pháp luật
khác, để trở thành người nộp thuế trong quan hệ pháp luật thuế đòi hởi các tổ
chức, cá nhân phải hội tụ đủ năng lực chủ thể, năng lực hành vi. Với tư cách
là một chủ thể trong quan hệ pháp luật thuế, doanh nghiệp có đầy đủ quyền và
nghĩa vụ khi tham gia quan hệ pháp luật thuế, các quyền và nghĩa vụ này cũng
chính là một phần nội dung của quan hệ pháp luật thuế.
Có hai cách đánh giá khác nhau về vị trí pháp lý của doanh nghiệp phụ
thuộc vào viêẹ xác đinh bàn chất pháp lý của quan hệ pháp luật thuế.
Thứ nhất, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính được
thiết lập giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức khác
trong xã hội được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật thuế và được
điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh quyền uy. Quan hệ pháp luật thuế
dưới góc độ vật chất được thiết lập để tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà
nước. Tiền đề pháp luật thuế thiết lập quan hệ là do sự hình thành chính thể
nhà nước để quản lý điều hành các hoạt động trong xã hội. Bộ phận chức
12
năng ây cân có ngn vật chât hoạt động, nên thuê hình thành. Do vậy, trong
quan hệ pháp luật thuế, các doanh nghiệp tham gia với tư cách là người nộp
thuế buộc phải chuyển giao một phần lợi ích của mình cho ngân sách Nhà
nước. Với quan điểm này, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ bất bình đằng,
trong đó một bên là cơ quan nhà nước - với tư cách là bên có quyền lực Nhà
nước. Theo Điều 47, Hiến pháp 2013 nước Cộng hoà xã hội chú nghĩa Việt
Nam ghi nhận "Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định". Vì thế, khi
thiết lập quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tư cách là người nộp
thuế trước khi Luật Quản lý thuế ra đời, thường chỉ được nhìn nhận dưới góc
độ phải thực hiện nghĩa vụ mà có rất ít quyền. Cịn doanh nghiệp với tư cách
là bên có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định. Việc nhận thức không đầy đủ có
thể gây thiệt hại cho Nhà nước lần doanh nghiệp và xã hội nói chung vì những
hao phí khơng mang lại giá trị.
Thứ hai, theo quan điểm của Mác, quyền cùa con người là sự thống nhất
giữa quyền và nghĩa vụ. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, doanh nghiệp
với tư cách là người nộp thuế cũng phải có một số quyền nhất định. Do đó,
trong bối cảnh xã hội hiện đại, cần đồi mới quan niệm về thuế và quan hệ pháp
luật thuế, theo hướng cho rằng quan hệ pháp luật thuế khơng hồn tồn là quan
hệ hành chính mà thực chất nó có tính chất của một quan hệ trao đối sòng
phẳng giữa hai bên (Nhà nước và doanh nghiệp là người nộp thuế). Điều này
đồng nghĩa với việc thay đổi vai trò của Nhà nước trong quan hệ pháp luật
thuế, theo hướng chuyển từ mơ hình “cơ quan cai trị” sang mơ hình “cơ quan
phục vụ”. Với quan niệm này, chúng ta đề cao vị thế của người nộp thuế trong
quan hệ pháp luật thuế và đảm bảo cho người nộp thuế có khả năng bảo vệ
trước các nguy cơ bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cơ quan quản lý thuế
hoặc công chức quàn lý thuế gây ra. Khi đó, nhà nước và người nộp thuế sẽ ở
vào vị trí bình đẳng hơn, nghĩa là Nhà nước có ít quyền hơn và người nộp thuế
13
có nhiêu qun hơn so với cách hiêu trun thơng vê quan hệ pháp luật thuê.
Có thế thấy rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc nhìn nhận quan hệ pháp luật
thuế như thế nào và xác định bản chất của nó ra sao là vấn đề có tính then chốt,
ảnh hưởng quyết định đến việc xác định vị trí pháp lý của người nộp thuế cũng
như việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho người nộp thuế trong
quan hệ pháp luật thuế. Neu xác định không đúng thì sẽ dẫn đến hệ quả làm
“méo mó” bản chất đích thật của quan hệ pháp luật thuế và làm cho chính sách
thuế của Nhà nước trớ thành gánh nặng đối với người dân.
1.1.2. Phân loại quyền của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuế
Quyền cùa doanh nghiệp với tư cách là người nộp thuế được quy định
tại Điều 16 Luật quản lý thuế 2019 có hiệu lực ngày 1/7/2020 thì có thể phân
biệt quyền của doanh nghiệp thành hai nhóm là quyền trực tiếp và gián tiếp.
Thứ nhất là, quyền gián tiếp - được hưởng các tiện ích do Nhà nước
cung cấp.
Bộ máy Nhà nước ta hoạt động để duy trì một xã hội có tổ chức. Mọi
chủ thể trong xã hội được bảo đảm duy trì đời sống vật chất và tinh thần theo
những đòi hỏi khách quan nhưng vẫn không làm phá vỡ sự tồn tại của các chủ
thể khác. Nhà nước sẽ đóng vai trị là người tổ chức điều hành xã hội và cung
ứng các tiện ích cơng cộng cũng như ban hành các thể chế pháp lý, tạo ra
hành lang pháp lý duy trì sự bình đẳng của các chủ thể cùng sống trong Nhà
nước mình. Các chủ thể trong xã hội sẽ được hưởng những lợi ích đó do Nhà
nước cung ứng, cho nên chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ đó là thanh toán cho
Nhà nước một khoản giá trị nhất định.
Doanh nghiệp với tư cách người nộp thuế là chủ thế tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh hoặc tiến hành các hoạt động khác nhằm mục đích
tìm kiếm ra giá trị mới như việc thụ hưởng lợi ích vật chất từ quá trình sáng
tạo và lao động hay do nắm giữ những quyền về tài sản nhất định hoặc từ hoạt
14
động xuất nhập khẩu. Doanh nghiệp tác động vào đổi tượng chịu thuế của một
sắc thuế và phải chịu sự điều chỉnh của sắc thuế đó cũng như doanh nghiệp
phải thực hiện nghĩa vụ cụ thể trong tổng thể nghĩa vụ thuế như là việc đăng
ký, kê khai, nộp và quyết tốn thuế. Do đó, doanh nghiệp có quyền được
hưởng tất cả tiện ích và phúc lợi cơng cộng do Nhà nước cung cấp cho họ.
Những lợi ích tinh thần hay vật chất mà Nhà nước cung cấp đó là những giá
trị đặc biệt mà không chú the nào trong xã hội có khả năng thực hiện được
như là: xây dựng các cơng trình cơng cộng, cung ứng phúc lợi xã hội, ban
hành pháp luật, thành lập các cơ quan quản lý, cơ quan tư pháp, bộ máy quản
lý trấn áp... Như vậy có thể gọi đây là quyền gián tiếp vì nó khơng trực tiếp
phát sinh từ bên trong cùa quan hệ pháp luật thuế cơ bản.
Quyền gián tiếp thể hiện sự quay trở lại của thuế đối với đời sống xã
hội. Các giá trị được phân bổ trở lại cho các chủ thể, không chỉ dành riêng
cho doanh nghiệp, mà được phân bổ chung trong cộng đồng phù hợp với chức
năng nhiệm vụ của Nhà nước và thực tiễn kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Vì vậy mà thuế được xem là khoản thu không mang tính đối giá và hồn trả
trực tiếp. Doanh nghiệp chỉ phải nộp khi quan hệ xã hội mà doanh nghiệp đó
tham gia chịu sự điều chỉnh của sắc thuế và quan hệ ấy mang lại giá trị kinh
tế. Mặt khác, việc doanh nghiệp được thụ hưởng các lợi ích đến từ Nhà nước
cung cấp mang tính trừu tượng vì khơng thể xác định cụ thể được doanh
nghiệp đó được hưởng bao nhiêu và hưởng được như thế nào, trong khi đó
một doanh nghiệp khác cho dù họ khơng nộp thuế cho Nhà nước nhưng doanh
nghiệp đó lại vẫn có thể thụ hưởng tương tự. Tóm lại, Nhà nước vẫn vẫn cần
thực hiện việc cung ứng các lợi ích cơng cộng như là một nhiệm vụ. Việc duy
trì và tạo lập những giá trị cơng cộng này cịn khắng định về sự tất yếu cần
thiết phải có của Nhà nước trong một xã hội có giai cấp. Nhóm quyền này
được xem là mặc định cho dù khơng có bất cứ một văn bản pháp quy cụ thể
15
nào đê cập đên điêu đó kê cả trong Hiên pháp Việt Nam, hoặc chỉ được đê
cập một cách gián tiếp. Nhóm quyền này tuy chỉ là gián tiếp nhưng lại là
quyền tuyệt đối, mặc định hình thành và được cơng nhận trong xã hội có Nhà
nước. Nhận thức về nhóm quyền này của doanh nghiệp có ý nghĩa trong việc
phát huy hiệu quả công cụ thuế. Dù không được xác định cụ thể, nhưng việc
ghi nhận các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước cũng như việc điều hành
ngân sách Nhà nước hàng năm là cách thể hiện việc đảm bảo quyền gián tiếp
cùa doanh nghiệp.
Thứ hai là, quyền trực tiếp - phát sinh khi tham gia vào quan hệ pháp
luật thuế.
Quyền trực tiếp là quyền mà doanh nghiệp có được trong q trình thực
hiện nghĩa vụ thuế. Đó là việc được thừa nhận và bảo đảm thực hiện theo
những quy định của pháp luật. Tuy vậy, doanh nghiệp khơng thể xem việc
hưởng quyền của mình trong trường hợp này là điều đương nhiên và ngang
bằng về mặt lợi ích. Mà đây là những quyền mà Nhà nước cho doanh nghiệp
hưởng trên cơ sở điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế cũng như đảm bảo hiệu
quả của quá trình tiến hành thu thuế và đảm bảo vai trò của thuế như là một
công cụ điều tiết nền kinh tế, tạo ra sự công bằng trong xã hội. Nhà nước cho
phép các doanh nghiệp được bảo vệ những quyền lợi chính đáng của chính
mình trong những trường hợp như: nộp thừa số thuế so với yêu cầu của Nhà
nước, doanh nghiệp rơi vào hồn cảnh bản thân khơng thể tạo ra những lợi ích
vật chất tương ứng đế nộp thuế, doanh nghiệp bị cơ quan quản lý Nhà nước
áp dụng pháp luật thuế không đúng gây ra thiệt hại...
Doanh nghiệp muốn thụ hưởng những quyền này thì phải chấp hành
nghĩa vụ thuế theo luật Quản lý thuế ban hành trong Luật số 38/2019/QH14
và có biện pháp và phương hướng để giải quyết tiến hành các thủ tục cần thiết
để đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định xử lý. Trong
16
một sô trường hợp như việc cơ quan chức năng phát hiện có dâu hiệu vi phạm
phát luật thuế từ phía doanh nghiệp. Mặc dù doanh nghiệp đó đã đáp ứng đầy
đủ các điều kiện luật pháp quy định để được hưởng quyền, nhưng điều đó
khơng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được mặc định sẽ được hưởng
những quyền lợi đó. Điều này phụ thuộc vào sự đánh giá và chấp nhận từ phía
cơ quan quản lý Nhà nước. Pháp luật thuế vì thế cần ghi nhận cũng như đặt ra
giới hạn với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo thực thi quyền
về việc nộp thuế của doanh nghiệp.
1.2. Bảo vệ quyền của doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
tại Việt Nam
1.2.1. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của doanh nghiệp trong nộp thuế
Quyền cùa doanh nghiệp trong nộp thuế tại Việt Nam ít được quy định
trong các văn bản pháp luật riêng. Đến khi Luật Quăn lý thuế ra đời, quyền
của người nộp thuế mới được quy định chung tại Điều 6 luật 78/2006/QH11
của Quốc hội và luật Quản lý thuế. Nhưng đó mới chỉ là những quy định
mang tính chất chung nhất cho quá trình tham gia vào quan hệ pháp luật của
doanh nghiệp với vai trò là người nộp thuế. Nhận thấy tầm quan trọng trong
việc bảo vệ quyền của người nộp thuế, ngày 13/06/2019 quốc hội đã thông
qua và ban hành Luật số 38/2019/QH14 Luật Quản lý thuế, sừa đổi và bổ
sung thêm về quyền và trách nhiệm của người nộp thuế tại Điều 6 Luật số
38/2019/QH14.
Mặc dù vậy, một khi đã được ghi nhận thì quyền của doanh nghiệp
trong việc nộp thuế tại Việt Nam phải được thực thi thực tế chứ khơng chỉ là
những quy định mang tính hình thức. Chính vì vậy, vấn đề bảo vệ quyền của
doanh nghiệp được đặt ra đế bảo vệ doanh nghiệp khi bị xâm phạm bởi cơ
quan quàn lý thuế. Việc ghi nhận quyền cùa doanh nghiệp đồng thời có những
biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền của doanh nghiệp sẽ là cơ sở để khuyến
17
khích doanh nghiệp châp hành tơt việc thực hiện nộp thuê và thực hiện đây đủ
các nghĩa vụ của mình trong việc nộp thuế. Bên cạnh đó bảo vệ quyền của
doanh nghiệp cũng là cơ sở để doanh nghiệp giải quyết các tranh chấp về
quyền của doanh nghiệp khi có phát sinh tranh chấp đối với cơ quan quản lý
thuế trong quan hệ pháp luật thuế.
Mỗi doanh nghiệp khi đã đi vào hoạt động thì mang rất nhiều trách
nhiệm đối với cơ quan nhà nước và trách nhiệm về thuế là loại hình có tính
bắt buộc cao nhất. Nhà nước có quyền áp đặt các quy định của mình trong
việc xác định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Chính vì vậy, trong cơng tác
kế tốn thuế của doanh nghiệp có thể xảy ra nhiều rủi ro và quyền của doanh
nghiệp có thể bị xâm phạm khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giá
trị gia tăng của mình. Rủi ro về thuế chính là khả năng doanh nghiệp phải nộp
thuế nhiều hơn so với số thuế mà doanh nghiệp tự xác định.
Rủi ro về thuế được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 204/2015/TTBTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế như sau:
““Rủi ro về thuế” là nguy cơ không tuân thủ chính sách pháp luật thuế,
phí, lệ phí và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước của người nộp
thuế dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước trong quản lý thu thuế”. [15]
Cũng theo căn cứ Khoản 15 Điều 3 Luật Quản lý thuế 2019 có hiệu lực
ngày 01/7/2020 quy định:
“Quản lý rủi ro trong quản lý thuế là việc áp dụng có hệ thống quy định
của pháp luật, các quy trình nghiệp vụ để xác định, đánh giá và phân loại các
rủi ro có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả, hiệu lực quản lý thuế làm cơ sở
để cơ quan quản lý thuế phân bổ nguồn lực hợp lý và áp dụng các biện pháp
quản lý hiệu quả”.
Có nhiều lý do chủ quan và khách quan dẫn đến việc doanh nghiệp có
những sai sót cũng như gập phải rủi ro khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ
18
nộp thuê giá trị gia tăng. Một phân là do chính sách th thay đơi q nhanh
và thay đổi nhiều đã dần đến các hệ lụy cho doanh nghiệp, nhiều doanh
nghiệp bị mắc lồi khi được thanh tra, kiểm tra thuế. Hoặc như chính sách thu
ngân sách Nhà nước cịn nhiều bất cập, việc tăng thuế suất được coi trọng hơn
là việc mở rộng cơ sờ thuế, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Vậy nên, Doanh nghiệp cần có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực
thuế là hai yếu tố rất quan trọng để tránh dẫn đến việc doanh nghiệp phải đối
mặt với rủi ro về thuế VAT.
Các loại rủi ro trong cơng tác kế tốn thuế của doanh nghiệp có thể
gặp phải:
1. Bị tính thuế cao hơn: Thơng thường liên quan đến việc doanh nghiệp
không đáp ứng được các điều kiện và yêu cầu của thuế. Trường hợp này có
thể do doanh nghiệp khơng đáp ứng được u cầu của thuế (thụ động) hoặc
doanh nghiệp buộc phải chấp nhận do thực tế kinh doanh (chủ động).
2. Bị phạt: Trường hợp này là do doanh nghiệp hiểu sai hoặc làm sai
các quy định.
3. Bị ấn định thuế: đây được hiểu là việc doanh nghiệp phải nộp thuế
theo một con số nhất định thay vì được chủ động khai và nộp thuế theo quy
định và có 17 trường hợp mà doanh nghiệp bị ấn định thuế theo Luật Quản lý
thuế 2019:
* BỊ ấn định thuế khi vi phạm pháp luật về thuế
(1) Không đăng ký thuế, không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ
thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế khơng đầy đủ, trung thực,
chính xác về căn cứ tính thuế.
(2) Khơng phản ánh hoặc phản ánh khơng đầy đủ, trung thực, chính xác
số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế.
19
(3) Khơng xt trình sơ kê tốn, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu cân
thiết liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp trong thời hạn.
(4) Không chấp hành quyết định thanh tra thuế, kiểm tra thuế.
(5) Mua, bán, trao đổi và hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ khơng
theo giá trị giao dịch thơng thường trên thị trường.
(6) Mua, trao đổi hàng hóa sử dụng hóa đơn khơng hợp pháp, sử dụng
khơng hợp pháp hóa đơn mà hàng hóa là có thật theo xác định của cơ quan có
thẩm quyền và đã được kê khai doanh thu tính thuế.
(7) Có dấu hiệu bỏ trốn hoặc phát tán tài sản để không thực hiện nghĩa
vụ thuế.
(8) Thực hiện các giao dịch không đúng với bản chất kinh tế, không đúng
thực tế phát sinh nhằm mục đích giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế.
(9) Khơng tuân thủ quy định về nghĩa vụ kê khai, xác định giá giao
dịch liên kết hoặc không cung cấp thông tin theo quy định về quản lý thuế đối
với doanh nghiệp có phát sinh giao dịch liên kết.
*Ân định thuế đối với hàng hóa xuất khâu, nhập khâu
(1) Người khai thuế dựa vào các tài liệu không hợp pháp để khai thuế,
tính thuế; khơng khai thuế hoặc kê khai khơng chính xác, đầy đủ nội dung liên
quan đến xác định nghĩa vụ thuế.
(2) Quá thời hạn quy định mà người khai thuế khơng cung cấp, từ chối
hoặc trì hỗn, kéo dài việc cung cấp hồ sơ, sổ kế toán, tài liệu, chứng từ, dữ
liệu, số liệu liên quan đến việc xác định chính xác số tiền thuế phải nộp.
(3) Người khai thuế khơng chứng minh, giải trình hoặc q thời hạn
quy định mà khơng giải trình được các nội dung liên quan đến việc xác định
nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật; không chấp hành quyết định kiểm
tra, thanh tra của cơ quan hải quan.
20
(4) Người khai thuê không phản ánh hoặc phản ánh khơng đây đủ,
trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế.
(5) Cơ quan hải quan có đù bằng chứng, căn cứ xác định về việc khai
báo trị giá không đúng với trị giá giao dịch thực tế.
(6) Giao dịch được thực hiện không đúng với bản chất kinh tế, không
đúng thực tế phát sinh, ảnh hưởng đến số tiền thuế phài nộp.
(7) Người khai thuế khơng tự tính được số tiền thuế phải nộp.
(8) Trường họp khác do cơ quan hải quan hoặc cơ quan khác phát hiện
việc kê khai, tính thuế khơng đúng với quy định của pháp luật
4. Mất sổ sách và chứng từ: Trường hợp này thường xảy ra ở các doanh
nghiệp nhỏ hoặc mới thành lập, khi bộ máy kế tốn chưa có hoặc chưa ổn
định, khi lãnh đạo doanh nghiệp chưa quan tâm đến kế toán và thuế mà chỉ
tập trung vào các chiến lược kinh doanh, khi doanh nghiệp chưa có quy trình
cụ thể đối với cơng tác kế toán và thuế.
Ngày nay, khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, doanh nghiệp sẽ
có nhiều cơ hội cũng như phương án kinh doanh đề tạo ra thu nhập, nhung
song song với các doanh nghiệp có nguồn thu thì cũng có những doanh
nghiệp sẽ bị thua lồ, và có thể đứng trước nguy cơ phá sản. Chính vì vậy tình
trạng chây ỳ, trì hỗn nộp thuế, gian lận thuế và các doanh nghiệp đang cố
gắng “lách luật” khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam
đang xảy ra ngày càng nhiều. Còn các cơ quan Nhà nước, pháp luật ở nước ta
thường xun phải rà sốt các chính sách pháp luật để đề xuất các giải pháp
chống lại tình trạng thất thu thuế làm thất thoát ngân sách Nhà nước.
Chủ tịch nước Việt Nam, nguyên thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân
Phúc trong cuộc họp “Hội nghị tổng kết Công tác tài chính - ngân sách năm
2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018” do Bộ Tài Chính tổ chức vào ngày
08/01/2018 đã phát biểu rằng:
21
"Việc xây dựng chính sách thuê chưa theo kịp sự phát triên của đời
sống kinh tế - xã hội, chưa đánh giá kỹ tác động, thiểu sâu sắc thực tế đời
sống, thiếu phản biện, lắng nghe, cần khắc phục vấn đề này. Chính sách thuế
nói riêng và chính sách tài chính nói chung phải theo kịp sự phát triển kinh tế
của đất nước, phải có sự ổn định tương đối dài, từ 5 - 10 năm". [12]
Theo Chủ tịch nước Việt Nam, nguyên thủ tướng Chính phũ, chính sách
thuế hiện vẫn tư duy theo quan điểm có lợi cho cơ quan quản lý nhà nước mà
chưa hướng đến quan điểm bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế nói chung và
doanh nghiệp nói riêng khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng.
Xuyên suốt các luật thuế, quyền của cơ quan quản lý nhà nước rất lớn
với việc cấp mã sổ thuế, kiếm tra, thanh tra, cưỡng chế, phong tỏa tài khoản,
đình chỉ sử dụng hóa đơn, xử lý hành vi vi phạm, thậm chí chuyển cơ quan
điều tra...
“Doanh nghiệp với vai trò là người nộp thuế đã tạo ra giá trị gia tăng,
thặng dư cho xã hội và đóng góp cho ngân sách Nhà nước, thế nhưng chính sách
thuế vẫn chưa trân trọng người nộp thuế. Trong khi đó quyền của người nộp
thuế, chủ yếu là doanh nghiệp và người dân cịn rất ít. Chưa kể chính sách thuế
ln được giải thích theo hướng có lợi cho cơ quan Nhà nước, cịn doanh nghiệp
có kêu oan cũng bị áp đặt là vi phạm. Do đó, đây là vấn đề lớn mà toàn ngành õ
việc bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế” - Chủ tịch nước Việt Nam, nguyên
thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong cuộc họp “Hội nghị tổng kết
Cơng tác tài chính - ngân sách năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018” do
Bộ Tài Chính tổ chức vào ngày 08/01/2018 nhấn mạnh thêm. [12]
1.2.2. Những quyền cơ bản của doanh nghiệp khi nộp thuế giá trị gia tăng
Doanh nghiệp và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế theo Hiến Pháp và Pháp
luật thuế. Luật quản lý thuế quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong
quá trình thu nộp nhằm bảo đảm cho các khoản thuế được thu đúng thu đủ
22
vào ngân sách nhà nước. Doanh nghiệp đóng vai trị trung gian kê khai nộp
thuế gián thu cho người tiêu dùng, và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với tư cách
là người chịu thuế khi có thu nhập. Bão vệ quyền lợi của người nộp thuế là
cần thiết nhằm tác động vào thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp.
Quy định về quyền của người nộp thuế theo văn bản Chính phủ ban
hành ngày 13/06/2019 và có hiệu lực thực thi ngày 01/07/2019 Quốc hội ban
hành luật Quản lý thuế tại Điều 16 Luật số 38/2019/QH14 quy định chi tiết
thêm về quyền của người nộp thuế. Luật Quản lý thuế 2019 đã bổ sung thêm
một số quyền của người nộp thuế bên cạnh các quyền được quy định tại Luật
Quản lý thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006,
được sửa đổi và bổ sung tùy từng thời điểm (“Luật Quản lý thuế năm 2006”)
hiện hành.
Luật Quăn lý thuế cần bảo vệ quyền lợi cúa người nộp thuế không chỉ
bằng các qui định để thủ tục thu nộp thuế đơn giản và thuận tiện mà phải bào
vệ lợi ích vật chất của doanh nghiệp gắn với quá trình thu nộp thuế.
Thứ nhất là, doanh nghiệp được hồ trợ, hướng dần thực hiện việc nộp
thuế; cung cấp thông tin, tài liệu để thực hiện nghĩa vụ, quyền lợi của mình
trong việc nộp thuế giá trị gia tăng.
Thứ hai là, doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi về thuế giá trị gia
tăng, hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về thuế; được biết
thời hạn giải quyết hồ sơ hồn thuế, số tiền thuế khơng được hoàn và căn cứ
pháp lý đối với số tiền thuế khơng được hồn. u cầu cơ quan quản lý thuế
giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu giám định số lượng, chất
lượng, chủng loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Thứ ha là, doanh nghiệp được nhận văn bản liên quan đến nghĩa vụ
thuế giá trị gia tăng của mình khi các cơ quan chức năng tiến hành thanh tra,
kiểm tra, kiểm toán thuế; được yêu cầu cơ quan thuế giãi thích nội dung quyết
23
định xử lý vê thuê; được bảo lưu ý kiên trong biên bản kiêm tra thuê, thanh tra
thuế; được nhận văn bản kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế, quyết định xử
lý về thuế sau thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý thuế.
Thứ tư là, doanh nghiệp được bồi thường thiệt hại khi có sai phạm về
quyết định xử lý vi phạm do cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế
gây ra khi đưa ra quyết định xử phạt về thuế giá trị gia tăng theo quy định của
pháp luật. Yêu cầu cơ quan quản lý thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp. Khiếu nại, khởi kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp. Khơng bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, khơng tính tiền chậm
nộp đối với trường hợp do người nộp thuế thực hiện theo văn bản hướng dẫn
và quyết định xử lý của cơ quan thuế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên
quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng của người nộp thuế.
Quy định về quyền của người nộp thuế sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi
của doanh nghiệp với tư cách là người nộp thuế. Nhằm tối đa hóa mức độ hài
lịng của doanh nghiệp cũng như khuyến khích doanh nghiệp hồn thành tốt
trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc nộp thuế giá trị gia tăng đối với Nhà nước.
1.3. Nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp
1.3.1. Nội dung về trách nhiệm cửa doanh nghiệp trong Luật quản lý thuế
Thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách Nhà nước. Nhà nước
duy trì và phát triển thì nguồn thu từ thuế phải thường xuyên và ổn định. Do
thuế là khoản mà doanh nghiệp phải trích tài sản ra đóng nộp cho nên tính bắt
buộc đóng thuế là yếu tố tất yếu hàng đầu. Tính bắt buộc được thể hiện dưới 2
khía cạnh sau:
Đối với các cơ quan thu thuế: Thu thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với cán
bộ, cơ quan thu thuế. Cán bộ cơ quan thu thuế khơng có quyền được lựa chọn
đối tượng đối tượng chịu thuế cũng như đối tượng nộp thuế và căn cứ để tính
24