BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Chủ biên: TS. Phan Thị Phương Mai
Hà Nội, 11/2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Tác giả: TS. Phan Thị Phương Mai
Đồng tác giả: TS. Chu Tiến Đạt
ThS. Vũ Lệ Mỹ
ThS. Lại Minh Tấn
Hà Nội, 11/2021
LỜI NĨI ĐẦU
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng cơng nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ,
Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tham gia tích cực và có hiệu quả vào
chuỗi giá trị tồn cầu, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội cũng
như những thách thức to lớn, đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ
bằng nguồn vốn, chiến lược kinh doanh, công nghệ, năng suất, chất lượng, hiệu quả,
mẫu mã sản phẩm mà còn bằng uy tín, thương hiệu và đạo đức kinh doanh. Quan
niệm chung trên thế giới hiện nay đều khẳng định rằng cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong môi trường toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế chính là cạnh tranh về văn
hóa, trong đó đạo đức kinh doanh là một yếu tố có ý nghĩa quyết định.
Khi đánh giá một doanh nghiệp, khách hàng và các nhà đầu tư giờ đây khơng
chỉ nhìn vào các chỉ số đánh giá hiệu quả đầu tư như ROA (tỷ lệ sinh lời trên tổng tài
sản), ROE (tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu) hay những con số trong báo cáo tài
chính, mà còn quan tâm đến các thơng tin phi tài chính và các giá trị vơ hình. Trong
đó, phải kể đến những yếu tố thể hiện tính bền vững của doanh nghiệp liên quan đến
đạo đức kinh doanh như trách nhiệm với cộng đồng, hiệu quả bảo vệ mơi trường, tầm
nhìn của lãnh đạo, năng lực quản trị, tính minh bạch trong quản lý và công bố thông
tin... Đạo đức kinh doanh với các giá trị vơ hình và giá trị phi tài chính nêu trên sẽ
quý giá hơn những giá trị tài chính kế toán thơng thường thể hiện trên sổ sách của
doanh nghiệp. Do vậy, các nhà quản trị công ty cũng cần thay đổi cách tư duy về giá
trị của doanh nghiệp mình
Kế thừa các cơng trình nghiên cứu kinh điển về văn hóa và đạo đức kinh doanh
của các học giả nổi tiếng, giáo trình “Đạo đức kinh doanh” được biên soạn dành cho
bậc đại học thuộc các hệ đào tạo thuộc khoa Du lịch, trường Đại học Mở Hà Nội
nhằm cung cấp cho người học những nội dung cơ bản về (1) Các cơ sở lý thuyết cơ
bản về đạo đức và đạo đức kinh doanh và (2) Áp dụng lý thuyết để xây dựng môi
trường đạo đức lành mạnh trong doanh nghiệp. Giáo trình gồm 5 chương với các nội
dung ngắn gọn, súc tích, có tính chất định hướng áp dụng cao trong thực tế, cuối mỗi
chương, các câu hỏi ôn tập và thảo luận cũng được tổng hợp để tạo thuận lợi cho
người học trong quá trình học tập.
Giáo trình do nhóm tác giả TS. Phan Thị Phương Mai, TS. Chu Tiến Đạt, ThS.
Lại Minh Tấn và ThS. Vũ Lệ Mỹ biên soạn với các nội dung chính sau:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết về Đạo đức Kinh doanh
Chương 2. Vi phạm đạo đức trong kinh doanh
Chương 3. Ra quyết định đạo đức trong kinh doanh
Chương 4. Văn hóa doanh nghiệp và quá trình ra quyết định đạo đức
Chương 5. Xây dựng môi trường đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp
0
Trong đó ThS Vũ Lệ Mỹ và ThS Lại Minh Tấn biên soạn chương 1; TS. Chu
Tiến Đạt biên soạn chương 2 và biên tập chương 3,4,5; TS. Phan Thị Phương Mai
biên soạn chương 3,4,5 và biên tập chương 1.
Nhóm tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu Trường
Đại học Mở Hà Nội, Ban lãnh đạo Khoa Du lịch và các đồng nghiệp đã hỗ trợ để giáo
trình này được hồn thành. Mặc dù đã cố gắng nhưng do hạn chế về trình độ, kinh
nghiệm và nguồn lực, giáo trình khơng thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Nhóm
tác giả rất mong nhận được đóng góp chân thành từ quý độc giả để có thể hồn thiện
hơn giáo trình này.
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm tác giả
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...........................................................................................................0
BẢNG VIẾT TẮT .....................................................................................................5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH..................7
1.1 KHÁI NIỆM ĐẠO ĐỨC KINH DOANH .....................................................7
1.1.1 Đạo đức .......................................................................................................7
1.1.2 Đạo đức kinh doanh .................................................................................13
1.1.3. Đạo đức kinh doanh trong bối cảnh quốc tế ..........................................23
1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH ..........................26
1.2.1 Đạo đức trong kinh doanh .......................................................................26
1.2.3 Đạo đức kinh doanh và sự vững mạnh của nền kinh tế quốc gia .........32
1.3. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH ................................33
1.3.1 Những năm 1960: Sự trỗi dậy của các vấn đề xã hội trong kinh doanh
............................................................................................................................34
1.3.2 Những năm 1970: Đạo đức kinh doanh là lĩnh vực mới .......................34
1.3.3 Những năm 1980: Giai đoạn củng cố .....................................................35
1.3.4 Những năm 1990: Thể chế của Đạo đức kinh doanh ............................36
1.3.5 Những năm 2000: Thế kỷ 21 - Một tiêu điểm mới trong đạo đức kinh
doanh ..................................................................................................................37
1.3.6 Đạo đức kinh doanh tại Việt Nam ...........................................................38
1.4. ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI .....................42
1.4.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ...................................................44
1.4.1 Các bên liên quan trong kinh doanh .......................................................49
1.4.3 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam ...............................52
CHƯƠNG 2. VI PHẠM ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH...........................56
2.1 NHẬN DẠNG CÁC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC ...................................................56
2.1.1 Trung thực ................................................................................................56
2.1.2 Công bằng .................................................................................................57
2.1.3 Liêm chính ................................................................................................58
2.2 CÁC HÀNH VI VI PHẠM ĐẠO ĐỨC KINH DOANH ............................59
2.2.1 Lạm dụng các nguồn lực của doanh nghiệp...........................................59
2.2.2 Hành vi lạm dụng và bắt nạt nhân viên ..................................................60
2
2.2.3 Xung đột lợi ích ........................................................................................63
2.2.4 Hối lộ .........................................................................................................65
2.2.5 Khơng tn thủ quy định trong tìm hiểu thơng tin doanh nghiệp.........65
2.2.6 Phân biệt đối xử ........................................................................................66
2.2.7 Quấy rối tình dục ......................................................................................68
2.2.8 Hủy hoại môi trường ................................................................................70
2.2.9 Gian lận ....................................................................................................73
2.2.10 Giao dịch nội gián ..................................................................................84
CHƯƠNG 3. RA QUYẾT ĐỊNH ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH ............92
3.1 QUY TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH ĐẠO ĐỨC KINH DOANH .................92
3.1.1 Giá trị đạo đức trong quyết định ..............................................................92
3.1.2 Quy trình ra quyết định đạo đức ..............................................................94
3.1.3 Rào cản trong quá trình ra quyết định đạo đức ......................................97
3.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH
ĐẠO ĐỨC KINH DOANH .................................................................................99
3.2.1 Mức độ bức xúc của vấn đề đạo đức .....................................................100
3.1.2 Yếu tố cá nhân ........................................................................................100
3.1.3 Yếu tố tổ chức .........................................................................................103
3.1.4 Cơ hội vi phạm đạo đức .........................................................................105
3.2 LÃNH ĐẠO VÀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH ............................................106
3.2.1 Nhà lãnh đạo đạo đức ............................................................................106
3.2.2 Các phong cách lãnh đạo .......................................................................109
3.2.3. Đặc điểm của nhà lãnh đạo có đạo đức ...............................................116
3.2.4. Nhà lãnh đạo và quyết định đạo đức ....................................................118
CHƯƠNG 4. VĂN HĨA DOANH NGHIỆP VÀ Q TRÌNH RA QUYẾT
ĐỊNH ĐẠO ĐỨC ..................................................................................................121
4.1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA DOANH NGHIỆP ............................................121
4.1.1 Văn hóa doanh nghiệp ...........................................................................121
4.1.2 Đặc trưng, tính cách của văn hóa doanh nghiệp .................................122
4.1.3 Các biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp .............................................124
4.2 LỢI ÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP .......131
4.2.1 Đối với doanh nghiệp .............................................................................131
3
Đối với việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, dịch vụ ..........................132
4.2.2 Đối với bên ngoài doanh nghiệp ............................................................132
4.3 CÁC DẠNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP .............................................133
4.3.1 Các dạng văn hoá tổ chức của Harrison/Handy ..................................133
4.3.2 Các dạng văn hoá tổ chức của Deal và Kennedy ..................................135
4.3.3 Các dạng văn hoá tổ chức của Quinn và McGrath ..............................136
4.3.4 Các dạng văn hoá tổ chức của Scholz ...................................................138
4.3.5 Các dạng văn hoá tổ chức của Daft ......................................................138
4.3.6 Các dạng văn hoá tổ chức của Sethia và Klinow ..................................140
4.4 CÁC BƯỚC XÂY DỰNG VĂN HĨA DOANH NGHIỆP ......................140
CHƯƠNG 5. XÂY DỰNG MƠI TRƯỜNG ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
TRONG DOANH NGHIỆP .................................................................................144
5.1 CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO ĐỨC ...................................................................144
5.2 XÂY DỰNG MỘT CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO ĐỨC ..................................148
5.2.1 Bộ quy tắc ứng xử (Codes of conduct) ..................................................148
5.2.2 Nhân sự mảng đạo đức kinh doanh ......................................................155
5.2.3 Chương trình truyền thơng ....................................................................158
5.2.4 Chương trình đào tạo .............................................................................161
5.2.5 Giám sát và hỗ trợ thực hiện các tiêu chuẩn đạo đức ..........................169
5.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐẠO ĐỨC ........................175
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................179
4
BẢNG VIẾT TẮT
AA1000
ACFE
AMD
APAC
BCTC
BI
C/O
CBA
CEO
CI
CN
CSR
DN
EI
EQ
ERC
EVFTA
FDI
FSGO
FTA
GE
GM
GNSS
ICC
BASCAP
IGs
ILO
IOA
IPCC
ISO 14000
KPMG LLP
KSNB
LHQ
MBO
Tiêu chuẩn đảm bảo của Viện Trách nhiệm xã hội và đạo đức
Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ
Công ty Bán dẫn đa quốc gia AMD
Châu Á - Thái Bình Dương
Báo cáo tài chính
Hệ thống Báo cáo quản trị
Chứng nhận xuất xứ
Phân tích lợi ích - chi phí
Giám đốc điều hành
Tìm hiểu thơng tin doanh nghiệp
Công nguyên
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Trí tuệ xúc cảm
Chỉ số cảm xúc
Trung tâm nguồn lực đạo đức Mỹ
Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Việt Nam
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hướng dẫn trong việc xử phạt các hành vi phi đạo đức trong
phạm vi toàn liên bang Mỹ
Hiệp định thương mại tự do
Tập đoàn điện lực Mỹ
Tập đoàn mô tơ Mỹ
Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu
Tổ chức hoạt động nhằm ngăn chặn hàng giả và vi phạm bản
quyền của Phòng thương mại quốc tế
Tổ chức quốc tế cung cấp các dịch vụ về hệ thống vệ tinh định vị
toàn cầu
Tổ chức Lao động Quốc tế
Phân tích đầu vào, đầu ra
Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của LHQ
Bộ tiêu chuẩn quản lý ISO 14000
Công ty Kiểm toán KPMG (01 trong 4 công ty kiểm toán lớn
nhất thế giới Big Four)
Kiểm soát nội bộ
Liên hợp quốc
Quản lý theo mục tiêu
5
NĐ - CP
NHTM
NK
OECD
PGS
QH
RCEP
SA 8000
SHTT
TBCN
TIAA-CREF
TS
UNFCCC
VCCI
VIAC
VNUK FTA
WB
WBI
WEF
XK
Nghị định của Chính phủ
Ngân hàng thương mại
Nhập khẩu
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Phó Giáo sư
Quốc hội
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực
Bộ Tiêu chuẩn Trách nhiệm xã hội
Sở hữu trí tuệ
Tư bản chủ nghĩa
Hiệp hội Bảo hiểm giáo viên và niên kim Mỹ
Tiến sĩ
Chương trình Khung Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
Hiệp định thương mại tự do Vương quốc Anh-Việt Nam
Ngân hàng thế giới
Viện nghiên cứu về vấn đề Bắt nạt ở Công sở
Diễn đàn Kinh tế thế giới
Xuất khẩu
6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Mục tiêu của chương:
Sau khi nghiên cứu chương này sinh viên có khả năng:
- Phân biệt các khái niệm khác nhau về đạo đức và đạo đức kinh doanh
- Trình bày sự cần thiết của đạo đức kinh doanh
- Nhận diện nền tảng lịch sử và sự phát triển của đạo đức kinh doanh trên thế
giới và tại Việt Nam
- Trình bày tầm quan trọng của giá trị đạo đức trong hoạt động kinh doanh
- Xác định vai trò của các bên liên quan trong đạo đức kinh doanh
- Xác định khái niệm trách nhiệm xã hội
1.1 KHÁI NIỆM ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
1.1.1 Đạo đức
1.1.1.1 Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một phạm trù đặc trưng của xã hội loài người. Đây là một phạm trù
rất rộng đề cập đến mối quan hệ giữa con người với con người và các quy tắc ứng xử
trong các hoạt động sống. Từ lúc bắt đầu của nền văn minh, một số nguyên tắc đạo
đức sơ khai đã xuất hiện. Các nhà lý luận cổ đại như Pythagoras (582-500 trước CN);
Heraclitus (535-475 trước CN) Confucius (Khổng Tử, 558-479 trước CN) đã đề xuất
các quan điểm đa dạng về chân lý và nguyên tắc đạo đức. Tuy nhiên, khái niệm đạo
đức như chúng ta hiểu ngày nay lần đầu tiên được đề cập đến trong lý thuyết của nhà
triết học Hy Lạp Socrates (470- 399 trước CN).
Trong xã hội hiện đại, đạo đức có rất nhiều sắc thái ngữ nghĩa khác nhau. Paul
W. Taylor định nghĩa: “Đạo đức là sự tìm hiểu bản chất và các căn cứ của nguyên
tắc luân lý như các đánh giá, tiêu chuẩn và quy tắc ứng xử phù hợp với các nguyên
tắc đó”. Theo Mai Văn Bính đạo đức “Là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà
nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của
cộng đồng, của xã hội”. Trong từ điển Oxford, đạo đức được định nghĩa “"là những
nguyên tắc chi phối hành vi của một người hoặc việc tiến hành một hoạt động nào
đó”. Nhìn chung, mọi khái niệm về đạo đức đều bao gồm những ý: là một hình thái
ý thức xã hội; là những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và
đánh giá hành vi của con người với nhau, với cộng đồng, với tự nhiên...; những quy
tắc này hướng tới lợi ích, hạnh phúc của con người, tiến bộ xã hội, hướng tới những
điều tốt đẹp hơn.
1.1.1.2 Một số tư tưởng đạo đức học và triết lý nhân sinh
Dưới đây là một số tư tưởng đạo đức và triết lý nhân sinh đã được William S.
Sahakan - Mabel. Sahakan tóm tắt lại trong tác phẩm Tư tưởng các triết gia vĩ đại.
a. Triết lý của Socrates
7
Socrates (470-399 trước CN) là một trong những tư tưởng gia Hy Lạp cổ đại
đầu tiên kêu gọi giới học giả và các nhà lãnh đạo quốc gia đương thời, những người
quá chú tâm đến các cơng trình nghiên cứu thế giới tự nhiên, nên quan tâm nhiều hơn
đến bản chất của con người.
Đối với Socrates, con người là đối tượng đáng được quan tâm hơn cả và bất cứ
điều gì ảnh hưởng đến con người đều có tầm quan trọng quyết định. Tri thức về thế
giới tự nhiên bên ngoài (vũ trụ học - cosmology), nếu không có ý nghĩa thiết thực đối
với cuộc sống con người, chỉ có tầm quan trọng thứ yếu. Mọi tri thức có liên quan
đến bản chất và cuộc sống của con người đều đáng được sở hữu và cần phải được tích
luỹ. Hơn nữa, theo cách nói của Socrates, “cuộc sống vô minh (the unexamined life)
thì khơng đáng để sống.”
Tự biết mình
Tự biết mình, hoàn toàn biết rõ bản chất ý thức lẫn vơ thức của chính mình, là
động cơ tạo nên năng lực, sự tiết độ và thành đạt. Các cá nhân gặp phải khó khăn
trong đời phần lớn bởi vì họ không thực sự hiểu biết được bản chất, khả năng, giới
hạn, động cơ - toàn bộ cung bậc tính cách của chính họ. Thực chất, họ cần đến một
tấm gương "tâm lý" có khả năng giúp họ nhận ra bản ngã của chính mình, bao gồm
toàn bộ ưu khuyết điểm và tiềm năng thực tế của họ. Một người thực sự tự biết mình
sẽ đạt được thành cơng trong cuộc sống, bởi lẽ anh ta biết chính xác những gì nằm
trong khả năng của mình cũng như cách thức vận dụng chúng. Ngược lại, một người
khơng tự biết mình sẽ tiếp tục vấp ngã, thậm chí đi đến những huỷ hoại cả cuộc đời.
Đức hạnh là tri thức
Đối với Socrates, bất cứ ai biết điều gì là đúng đắn tất sẽ thực hiện điều đó.
Hành vi sai trái chỉ xuất phát từ sự vô minh. Một người có hành động khơng đúng bởi
vì, và chỉ vì, anh ta khơng biết cái gì là đúng đắn. Khơng có một người tỉnh táo và
lành mạnh nào lại chủ tâm làm tổn hại bản thân mình. Nếu anh ta thực sự làm một
điều như vậy, đơn giản chỉ vì phạm phải sai lầm nào đó trong quá trình hành động,
hoàn toàn khơng phải do cố ý. Không ai chủ định chọn lựa điều sai trái, bởi lẽ hành
vi tội lỗi luôn mang đến tai hoạ cho bản thân họ và người khác.
Nếu thấu hiểu hậu quả thực sự của trộm cắp, dối trá, lừa đảo, thù hằn và các hành vi
tội lỗi khác; nếu biết được chúng sẽ gây tổn hại như thế nào cho bản thân họ, chẳng
hạn như sự sa đọa về mặt tinh thần và sự thoái hoá về mặt nhân cách, chắc chắn con
người sẽ tự giác né tránh chúng. Thiếu nhận thức đúng đắn chính là lý do duy nhất
khiến một số người không thể kiềm chế được chính mình trước những cám dỗ tội lỗi;
bởi lẽ bất cứ người nào biết điều gì là đúng đắn tất sẽ thực hiện điều đó.
Đức hạnh là hạnh phúc
Theo Socrates, đức hạnh không chỉ là tri thức, bản thân nó cũng đồng nghĩa với
hạnh phúc. Bởi lẽ, hành vi đạo đức cũng chính là hành vi mang đến những điều tốt
đẹp cho người thực hiện nó và hạnh phúc kết thành quả từ đó.
8
b. Triết lý của Aristotle về sự tự phát triển năng lực
Aristotle (384-322 trước CN) đã phát triển một hệ thống tư tưởng đạo đức học
có thể được gọi là "Thuyết tự phát triển nhận thức" (Self-Realizationism). Nó được
hình thành trên quan niệm cho rằng cuộc sống tốt đẹp (hay hạnh phúc) là kết quả của
sự phát triển toàn mãn năng lực, thiên tư và nhân cách của một con người. Trong quá
trình đó, cá nhân phải chuyển toàn bộ tiềm năng của mình thành những giá trị thực.
Một đưa bé sơ sinh chưa phải là con người, chỉ là một cá nhân tiềm tàng. Để trở
thành một con người thực sự, tiềm năng của nó phải được “nhận thức và phát triển.”
Thí dụ: Đứa bé ấy có thể tiềm ẩn khả năng cảm nhận âm nhạc như Beethoven, nhưng
nếu khơng nhận thức được tài năng của mình hoặc khơng có cơ hội phát huy tài năng
ấy, nó vẫn chỉ là một "nhạc sĩ tiềm tàng" cho đến khi phát hiện ra thiên tư và hoàn
thiện kỹ năng âm nhạc của mình.
Theo Aristotle, mục đích chính đáng nhất của con người trong đời là nhận thức
bản chất thực sự (hoặc nhân cách) của mình một cách toàn diện, là phát triển các tiềm
năng của mình đến độ viên mãn và từ đó, tự hoàn thiện chính mình. Một cá nhân
khơng thực hiện được điều này sẽ luôn dằn vặt, tự bất mãn với chính mình về hậu quả
của những thất bại trong đời. Sự suy sụp tinh thần ấy bộc lộ rõ ràng qua các biểu hiện
buồn chán, đau khổ - những dấu hiệu của một cuộc sống bất hạnh. Ngược lại, người
nào nhận thức và phát huy được bản chất cũng như năng lực tiềm ẩn của mình sẽ có
được cuộc sống thỏa nguyện - một đời sống hạnh phúc.
Đức hạnh theo thuyết Aristotle
Đức hạnh bao gồm nhiều đức tính khác nhau; mỗi đức tính đại diện cho thái độ
trung hoà giữa hai thái cực có liên quan. Aristotle đã liệt kê 12 đức tính quan trọng
cùng với các dạng tính cách thái quá có liên quan với chúng.
Hành vi đúng đắn
Con người được sinh ra, theo Aristotle, không chỉ sống để tồn tại, mà để sống
một cuộc đời tốt đẹp - tuân thủ những nguyên tắc do lý trí của chính mình tạo ra, tuân
theo bản chất tối thượng của mình. Hành vi cá nhân cần được kiểm soát bởi các
nguyên tắc đạo đức, sự tiết độ và né tránh mọi hình thức thái quá hay bất cập. Điều
này đòi hỏi anh ta phải xác định hành vi đúng đắn cho từng tình huống cụ thể. Đó
khơng phải là một công việc dễ dàng, bởi lẽ mực thước và đức độ có nghĩa là làm
đúng việc, liên hệ đúng người, đúng nơi, đúng lúc, đúng mức, đúng cách và phục vụ
cho mục đích đúng đắn. Thí dụ: Bố thí vốn là một công việc đơn giản. Nhưng xét về
mặt đức hạnh, người bố thí phải ban phát đúng người, đúng thời điểm, đúng mục
đích, với một lượng thích đáng, với cung cách đúng mực. Bố thí, xét trên phương
diện đạo đức, là hành vi xuất phát từ thiện tâm.
c. Triết lý khoái lạc của Epicurus
Chủ nghĩa Khoái lạc (Hedonism) là hệ thống triết lý đề cao việc mưu cầu lạc
thú và tránh né khổ đau như là mục đích chủ yếu trong cuộc sống. Con người chỉ có
9
một nghĩa vụ đạo đức duy nhất là thoả mãn nỗi khát khao khoái lạc và loại bỏ, hay
chí ít giảm thiểu trong khả năng có thể, mọi nỗi khổ đau của mình trong đời.
Có nhiều trường phái tư tưởng khoái lạc; một số cổ xuý cho các khoái cảm nhất
thời, số khác bàn đến cả lạc thú tinh thần. Trong số đó, trường phái vị kỷ (The Egoistic
school) đề cao sự thỏa nguyện tối đa cho bản thân, bất kể đến việc gây ra hậu quả đau
khổ cho người khác. Tuy nhiên, những người theo trường phái vị lợi lý tưởng (the
Ideal Utilitarians) chỉ chấp nhận những lạc thú mà mọi cá nhân đều được phép hưởng
thụ, cho đó là mục tiêu khả dĩ mang đến lợi ích tối đa cho nhân loại.
d. Triết lý khắc kỷ Epictetus
Theo Epictetus (50-120 sau CN), triết gia vĩ đại thuộc trường phái Khắc Kỷ
(Stoicism), tri túc (contentment), có nghĩa là biết đủ, là một trong những yếu tố có giá
trị nhất trong cuộc sống -một đời sống lặng lẽ, bình yên và điềm nhiên. Khơng có gì
đáng để bận tâm phiền não; sự bình an tâm hồn là điều đáng quý trọng hơn cả. Niềm
an lạc ấy được tìm thấy thơng qua sự tự kiềm chế (self - control) hay tự chủ (self mastery); đó là khả năng chế ngự lòng ham muốn và làm chủ bản thân, khơng để
mình bng thả theo dục vọng.
Cho phép người khác khuấy động sự quân bình tâm hồn của là cá nhân đã đặt
mình vào tình trạng lệ thuộc vào họ, hay tồi tệ hơn thế - do anh ta đã để cho họ làm
chủ tâm trí của mình, trong khi một kẻ nơ lệ thực sự chỉ không thể tự chủ về mặt thể
xác mà thôi. Bất cứ người nào có khả năng khiến người khác phải giận dữ đều trở
thành chủ nhân của họ. Thực tế, họ chỉ có thể khiến ai đó phải nổi giận khi người đó
cho phép tâm hồn mình bị khuấy động.
e. Triết lý vị lợi của Jeremy Bentham
Triết lý vị lợi hiện đại được hình thành nhờ cơng của các nhà tư tưởng người
Anh, đặc biệt là Jeremy Bentham (1784-1832) và John Stuart Mill (1806-1873), hai
triết gia đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của bộ môn Đạo đức học. Giống như
triết lý khoái lạc, Chủ nghĩa vị lợi (Utilitarianism) xác định lẽ Chân-Thiện-Mỹ dưới
hình thức lạc thú, nhưng mang nặng tính nguyên tắc hơn. Về cơ bản, nó nhắm đến
mục đích mang lại “những điều tốt đẹp nhất cho tuyệt đại đa số. Trong tác phẩm “Giới
thiệu các nguyên tắc luân lý và pháp chế” (An Introduction to the Principles of Morals
and Legislation), Bentham giải thích lý tưởng ấy như sau: "Thực chất, nguyên tắc vị
lợi được sử dụng để chuẩn y hoặc phủ nhận mọi loại hành vi, xét đến ảnh hưởng của
chúng đối với lợi ích chung của cả cộng đồng - nói cách khác, xét đến khuynh hướng
phát huy hay đối kháng với hạnh phúc và lợi ích của một cộng đồng.” Ơng xác định
"lợi ích" là những gì mang đến hoan lạc, hạnh phúc, tiện nghi, tiến bộ hoặc bất cứ
hình thức nào ngăn ngừa được khổ đau, tội ác và bất hạnh.
f. Triết lý vị lợi của John Stuart Mill
Mục đích ban đầu của J. S. Mill là bảo vệ và gạn lọc thuyết vị lợi của Jeremy
Bentham, nhưng cuối cùng ông nhận thức ra rằng quan điểm của mình đối lập với
10
học thuyết ấy. Mill đã phát triển một thái độ phê phán tiền đề cơ bản của Bentham
rằng lạc thú thể xác (hay khoái cảm) là lẽ Chân-Thiện-Mỹ trong đời. Nếu ý tưởng ấy
của Bentham là đúng, Mill nhận định, liệu chúng ta có nên đặt vấn đề rằng tạo vật
đang chìm đắm trong dục lạc là một con người hay một con lợn? Thực ra, nếu khoái
cảm là điều chí thiện tận mỹ trong cuộc sống, vì sao một con người đang chịu khổ
đau và thất vọng lại có thể được xem là "thượng đẳng" hơn một con lợn đang thỏa
mãn trong dục lạc nhầy nhụa?
Mill đi đến kết rằng hoan lạc phải có tính phân biệt về chất; vì thế, chỉ một lượng
nhỏ lạc thú của con người cũng có giá trị hơn một lượng lớn lạc thú của một con lợn.
Triết lý của Mill, tương phản với thuyết “hoan lạc định tính." (Qualitative Hedonism)
g. Học thuyết đạo lý của Immanuel Kant
Immanuel Kant (1724-1804) xây dựng một học thuyết đạo đức dựa trên nền
tảng "thiện chí", ý chí nguyện tơn trọng các ngun tắc ln lý. Vì thế, học thuyết ấy
còn được gọi bằng thuật ngữ "Đạo nghĩa học" (Deontological) - đạo lý về bổn phận.
"Bổn phận là nghĩa vụ hành động xuất phát từ sự tôn trọng các quy tắc (đạo
đức)" Toàn bộ vấn đề đạo đức đều bao hàm trong lĩnh vực "thiện ý có lý tính"
(rational good will). Trong tác phẩm "Siêu hình tính của ln lý", Kant nhận định:
"Khơng có gì ở tồn bộ thế giới này, hay ngay cả bên ngoài thế giới này, có thể được
xem là tốt đẹp hồn tồn, ngoại trừ thiện ý". Nơi nào không có ý nguyện tốt lành,
không có sự tự quyết, tất không có sự tồn tại của môi trường đạo đức.
h. Triết lý yếm thế của Arthur Schopenhauer
Triết gia Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860) tin rằng Cái Xấu có ưu thế hơn,
rằng thế giới, về cơ bản, gắn liền với Cái Xấu. Hạnh phúc chỉ lướt qua, điểm xuyết
những khoảnh khắc êm đẹp ngắn ngủi trong cuộc sống đầy đau khổ và bất hạnh. Như
trong những truyện kể dân gian, sau biết bao thăng trầm tiếp nối, câu chuyện thường
kết thúc khi anh hùng và mỹ nhân bước vào đời sống lứa đôi hạnh phúc. Nếu như câu
chuyện tiếp tục, những nỗi bất hạnh tất yếu trong đời cuối cùng sẽ chứng minh cho
quan điểm của Schopenhauer, rằng "cuộc sống là một thứ sai lầm", rằng "sinh ra ở
đời đã là một cái tội".
i. Triết lý tự nhiên của Friendrich Nietzche
Friendrich Nietzche (1844-1900) tin rằng đạo đức phổ biến đương thời là thể
nghịch đảo của đạo đức chân thực, rằng những gì thực sự là đạo đức phải phù hợp và
không bao giờ mâu thuẫn với bản chất của con người.
Ông có quan điểm tương đồng với Schopenhauer về bản chất của con người bao
gồm cả bản năng sống, rằng "sống là thực hiện toàn mãn những bản năng của con
người", không phải là áp chế chúng như các nền văn hóa phổ biến trong thời hiện đại
thường đòi hỏi. Nhưng Nietzche bất đồng sâu sắc với triết lý bi quan của
Schopenhauer. Ông xác quyết rằng vẫn còn khả năng hoàn thiện nếu chúng ta dành
trọn ý nghĩa cuộc sống cho các bản năng, thay vì đè nén chúng.
11
k. Triết lý trung thành của Josia Royce
Josia Royce (1855-1916), triết gia Hoa Kỳ, định nghĩa đạo lý trung thành
(Philosophy of loyalty) của mình là "sự tận hiến, về mặt ý chí cũng như trong hành
động thực tế, của cá nhân dành cho một sự nghiệp nào đó." Trung thành là lẽ phải
tối thượng, bao hàm mọi đức hạnh trong đời. Đành rằng đôi khi lòng trung thành có
thể dẫn đến xung đột nội tâm, nhưng ngay cả trong tình huống ấy, quyết định cần
thiết vẫn là "trung thành với đức trung thành".
Trung thành - Lẽ phải tối thượng
Đức trung thành là lẽ Tân Thiện Mỹ trong đời (the summum bonum), bất kể nó
được dành cho sự nghiệp hay lý tưởng gì. Sự nghiệp có thể đúng đắn hoặc xấu xa,
đức trung thành chẳng bao giờ sai trái. Vì thế, huỷ hoại tinh thần cao đẹp của đức
trung thành là điều hoàn toàn lỗi lầm, cho dù bản thân người có lòng trung thành đang
phục vụ cho một lý tưởng sai lầm.
Nếu lòng trung thành được dành cho sự nghiệp khơng chính đáng, người ta cần
tìm cách hướng nó vào mục đích xứng đáng hơn. Nói cho cùng, tinh thần của đức
trung thành là điều cao đẹp, chọn đúng lý tưởng để theo đuổi lại là vấn đề thuộc về
trí tuệ và nhận thức.
Trung thành với đức trung thành
Khi lòng trung thành dẫn đến xung đột nội tâm, cá nhân nhất thiết phải "trung
thành với đức trung thành". Nói cách khác, anh ta không nên huỷ hoại tinh thần cao
đẹp của đức trung thành, hãy tôn vinh giá trị của nó. Đối với người trung thành với
một lý tưởng xấu xa, chúng ta không bao giờ nên phỉ báng hay đả phá tinh thần tận
hiến của họ; tốt hơn nên tìm cách hướng dẫn, tạo điều kiện giúp họ nhận thức ra vấn
đề và phát huy đức trung thành trong sự nghiệp tốt đẹp hơn. Mỗi cá nhân cần phải
giữ gìn giá trị của lòng trung thành; hành vi nào gây tổn hại đến giá trị này đều được
xem là phản bội lại đức trung thành cao cả.
l. Chủ nghĩa hiện thực đạo đức của George Edward Moore
George Edward Moore (1873-1958) phát triển chủ nghĩa vị lợi lý tưởng (Ideal
Utilitarianism) thành một triết lý độc lập với thuyết trực giác (Intuitionism). Thuyết
trực giác khẳng định rằng mọi quy tắc đạo đức đều tồn tại bên trong mỗi cá nhân,
thuộc về lĩnh vực ý chí, chủ đích hay thiên bẩm. Ngược lại, chủ nghĩa vị lợi lý tưởng
trình bày quan điểm đạo đức dưới hình thức các kết quả và sự kiện rõ ràng của hành
động. Về phần mình, Moore xác định bản chất đúng sai của hành vi dựa trên cơ sở
hiệu quả do nó gây ra, bất kể ý định của người thực hiện. "Lẽ đúng sai của một hành
vi ln tuỳ thuộc vào kết quả tồn cục của nó." Nếu hành vi ấy mang đến điều tốt đẹp
cho cuộc sống trên thế giới này, nó là một hành động đúng đắn; nếu không, nó là một
hành động sai trái.
Hành vi đúng đắn không chỉ là hành vi xuất phát từ ý định tốt lành, hay thậm
chí được dự kiến là đúng đắn nhất trong điều kiện cho phép, nó phải là hành động
12
mang đến ích lợi thực tế. Lợi ích thực tế không phải là dạng kết quả tiên đoán dựa
trên cơ sở đánh giá theo lẽ đúng - sai; nó phải là kết quả có giá trị cụ thể. Khó khăn
chủ yếu là cá nhân khó lòng xác định được liệu rằng hành động của mình thực sự sẽ
mang đến kết quả khả dĩ tốt đẹp nhất hay không. Thực chất, chỉ có trí tuệ toàn năng
mới xác định được điều ấy - nói cách khác, chỉ có hoạt động sáng tạo của Thượng đế
mới có thể thỏa mãn được yêu cầu của đạo lý này.
1.1.2 Đạo đức kinh doanh
1.1.2.1 Khái niệm đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh, được coi là sự phản ánh khía cạnh đạo đức của hoạt động
kinh doanh, có lịch sử lâu đời. Trong Bộ luật Hammurabi (Bộ luật Hammurabi ở
Lưỡng Hà thời cổ đại là bộ luật thành văn tương đối hoàn chỉnh đầu tiên trong lịch
sử nhân loại xuất hiện vào khoảng từ năm 1792 đến năm 1750 trước CN) có những
điều quy định về kinh doanh. Ngoài các mục về giá cả còn có quy định mức phạt
nghiêm khắc cho các hành vi không tuân thủ quy định. Đây có thể coi là chứng cứ
cho những cố gắng của nền văn minh nhân loại trong việc xác định các hành vi đạo
đức trong kinh doanh. Triết học của Aristotle cũng đề cập đến vấn đề minh bạch trong
quan hệ thương mại trong phần nói về quản lý các hộ nhân khẩu. Tuy nhiên, khái
niệm đạo đức kinh doanh như một ngành nghiên cứu độc lập, tự ý thức mới chỉ xuất
hiện trong nửa cuối của thế kỷ 20.
Vào năm 1974, hội nghị khoa học đầu tiên về đạo đức kinh doanh đã được tổ
chức. Đây là thời điểm mà Norman Bowie, nhà nghiên cứu về đạo đức kinh doanh
nổi tiếng, coi là sự ra đời của ngành học. Kể từ thời điểm đó, đạo đức kinh doanh đã
trở thành một chủ đề thảo luận phổ biến của các giám đốc điều hành, nhân viên, cổ
đông, người tiêu dùng, và các giáo sư đại học tại Mỹ. Sau đó, ngành nghiên cứu về
đạo đức kinh doanh đã lan rộng đến gần như tất cả các nước trên thế giới. Tuy nhiên,
không phải tất cả các học giả, giảng viên, nhà văn, và người phát ngôn đồng thuận
trong các khái niệm về đạo đức kinh doanh. Hầu hết đồng ý rằng để có những tiêu
chuẩn đạo đức cao, các doanh nghiệp và cá nhân phải tuân thủ nghiêm túc các nguyên
tắc đạo đức nhưng một số khía cạnh đặc biệt phải được xem xét khi áp dụng đạo đức
vào kinh doanh.
Đầu tiên, để tồn tại, các doanh nghiệp phải thu được lợi nhuận, nhưng đôi khi
lợi nhuận thu được thông qua các hành vi sai trái. Ở đây, có một cuộc xung đột tự
nhiên, vốn có giữa kinh doanh và đạo đức. Xã hội muốn có các doanh nghiệp để tạo
ra nhiều công ăn việc làm, những doanh nghiệp đó lại muốn hạn chế chi phí và nâng
cao năng suất; khách hàng muốn mua hàng hóa và dịch vụ với giá thấp, nhưng các
doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận; xã hội muốn giảm mức độ ô nhiễm, nhưng
các doanh nghiệp muốn giảm thiểu chi phí môi trường. Do đó, một mâu thuẫn không
thể tránh khỏi đã phát sinh, bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lợi ích của công ty và nhân
viên, khách hàng của họ, và cả xã hội. Thứ hai, các doanh nghiệp phải cân bằng giữa
13
mong muốn về lợi nhuận của họ với các nhu cầu và mong muốn của xã hội. Các nhà
quản lý phải liên tục có ý thức cân bằng nhu cầu của doanh nghiệp và các cổ đơng
của mình với nhu cầu của các bên liên quan khác, bao gồm cả người lao động, khách
hàng và cộng đồng. Việc duy trì sự cân bằng này thường đòi hỏi phải có sự thỏa hiệp
hay đánh đổi. Để giải quyết những vấn đề đặc biệt này của giới kinh doanh, xã hội đã
phát triển các quy tắc - cả thành văn và không thành văn - để hướng dẫn các doanh
nghiệp trong nỗ lực tìm kiếm lợi nhuận bằng những phương pháp khơng gây tổn hại
cho các cá nhân, môi trường hay xã hội. Đây chính là cơ sở để ngành nghiên cứu về
đạo đức kinh doanh ra đời.
Stephen Brenner đã đưa ra định nghĩa đơn giản nhất về đạo đức kinh doanh:
"Đạo đức kinh doanh là những nguyên tắc được chấp nhận quy định các hành vi đúng
hoặc sai. Các nguyên tắc này chi phối hoạt động của những nhà kinh doanh". Định
nghĩa này là khá chung chung, thiếu một số vấn đề cần thiết, chẳng hạn như: các
nguyên tắc có thể chi phối loại hành vi nào? Hoặc ai là doanh nhân? Và hành vi của
họ nên được điều chỉnh bằng cách nào?
Nhận thức được sự phức tạp của vấn đề này, Giáo sư Phillip V. Lewis từ Đại học
Abilene Christian, Mỹ đã thu thập và khảo sát 185 định nghĩa về đạo đức kinh doanh,
xuất hiện trong sách giáo khoa và các bài viết trong 20 năm (từ năm 1961-1981) để
tìm hiểu việc định nghĩa khái niệm "đạo đức kinh doanh". Sau khi tìm được các điểm
chung giữa những định nghĩa này, ông đã tổng hợp được một định nghĩa về "đạo đức
kinh doanh" như sau: "Đạo đức kinh doanh là các quy tắc, tiêu chuẩn, quy chuẩn,
hoặc các nguyên tắc cung cấp các hướng dẫn cho các hành vi đạo đức đúng đắn và
sự trung thực của một tổ chức trong các tình huống cụ thể ". Theo định nghĩa của
ông, đạo đức kinh doanh có thể bao gồm những vấn đề sau:
1. Các quy tắc, tiêu chuẩn, hoặc nguyên tắc đạo đức. Nếu được doanh nghiệp
và người lao động tuân theo những quy tắc, tiêu chuẩn hoặc nguyên tắc này sẽ ngăn
chặn những hành vi phi đạo đức. Ví dụ: nếu luật lao động quy định rằng phụ nữ có
quyền bình đẳng trong việc làm như nam giới, thì điều đó có thể ngăn người sử dụng
lao động phân biệt đối xử về giới trong quá trình tuyển dụng nhân viên.
2. Hành vi đúng đắn về mặt đạo đức – đây là những hành động của cá nhân phù
hợp với công lý, luật pháp, quy định của doanh nghiệp…, và phù hợp với thực tế.
Một doanh nhân thường sẽ tập trung chú ý vào những kết quả đến từ hành động của
mình. Và để đảm bảo sự liêm chính, minh bạch trong kinh doanh, họ không nên tham
gia vào bất kỳ hoạt động nào có xu hướng ảnh hưởng tới sự minh bạch đó.
3. Tính trung thực – điều này có nghĩa là những tuyên bố và/hoặc hành động
của mỗi cá nhân nên phản ánh đúng thực tế.
Khó khăn nhất trong nghiên cứu đạo đức nói chung và đạo đức kinh doanh nói
riêng là xác định điều gì đúng, điều gì sai. Vì một điều có thể đúng về mặt đạo đức
đối với người này, nhưng có thể sai đối với người khác; những gì hơm nay có thể
14
được coi là đúng, ngày mai có thể là sai. Điều này được Lewis đặt tên là "những tình
huống cụ thể - những trường hợp khó xử về đạo đức của mỗi cá nhân. Trong tình
huống này, mỗi cá nhân phải đưa ra những quyết định đạo đức phù hợp".
Trong ấn bản lần thứ chín giáo trình Ra Quyết định Đạo đức trong Kinh doanh
(Ethical Decision making in Business - 2013), Ferrels và John Fraedrich đã viết: "Đạo
đức kinh doanh bao gồm các nguyên tắc, giá trị và tiêu chuẩn hướng dẫn hành vi
trong thế giới kinh doanh. Nguyên tắc xác định các ranh giới cụ thể và mang tính
phổ biến, thống nhất cho các hành vi kinh doanh. Các nguyên tắc này thường là cơ
sở để phát triển các quy tắc hoạt động. Một số ví dụ về các nguyên tắc bao gồm tự
do ngôn luận, công bằng, và dân quyền. Các giá trị được sử dụng để phát triển các
chuẩn mực xã hội, ví dụ như sự liêm chính, trách nhiệm và niềm tin. Các nhà đầu tư,
nhân viên, khách hàng, các nhóm lợi ích, hệ thống pháp luật, và cộng đồng thường
xác định xem liệu một hành động cụ thể là đúng hay sai, đạo đức hay phi đạo đức.
Mặc dù quan điểm của những nhóm này không nhất thiết là đúng, nhưng chúng ảnh
hưởng đến sự chấp nhận hay phản đối của xã hội đối với một doanh nghiệp và các
hoạt động của nó".
Định nghĩa này và định nghĩa của Lewis trùng nhau hầu hết các phần. Tuy nhiên,
Ferrels và John Fraedrich xác định rõ ràng hơn những người có liên quan đến đạo đức
kinh doanh. Họ không chỉ là những nhà đầu tư, người lao động (đại diện cho giới
doanh nhân), khách hàng mà còn có hệ thống pháp luật (đại diện cho chính phủ), các
nhóm hoạt động xã hội và các cộng đồng (đại diện cho xã hội).
Như vậy, đạo đức kinh doanh có nhiều điểm chung với việc tuân thủ pháp luật,
thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và các vấn đề liên quan đến quyền và
nghĩa vụ đạo đức giữa cơng ty và cổ đơng của mình như: trách nhiệm ủy thác, trách
nhiệm đối với những bên liên quan và trách nhiệm đối với cổ đông, vv. Điều đó có
nghĩa là đạo đức kinh doanh bao gồm không chỉ việc tuân theo luật pháp và các
nguyên tắc, quy tắc của doanh nghiệp mà còn phải bảo vệ các lợi ích của những người
có liên quan với các hoạt động của doanh nghiệp và lợi ích của cộng đồng, của môi
trường tự nhiên và xã hội.
1.1.2.2 Nguyên tắc đạo đức kinh doanh
Các lý thuyết đạo đức là nền tảng để phân tích đạo đức vì chúng là những quan
điểm hướng dẫn mỗi cá nhân trong quá trình đi đến quyết định. Mỗi lý thuyết nhấn
mạnh những điểm khác nhau như: dự đoán kết quả, tuân theo nghĩa vụ của một người
đối với người khác để đi đến một quyết định đúng đắn về mặt đạo đức. Tuy nhiên, để
một lý thuyết đạo đức trở nên hữu ích, lý thuyết đó phải hướng tới một mục tiêu
chung. Các nguyên tắc đạo đức chính là những mục tiêu chung mà mỗi lý thuyết cố
gắng đạt được để thành cơng.
Trong quá trình nghiên cứu lĩnh vực đạo đức kinh doanh các chuyên gia đã đề
xuất một số các nguyên tắc đạo đức cơ bản cần tuân theo. Những nguyên tắc này cung
15
cấp một mơ hình tổng quát để phân tích các tình huống đạo đức cụ thể. Những nguyên
tắc này có thể mang tính hướng dẫn trong việc giải quyết các vấn đề đạo đức chưa
được quy định. Năm nguyên tắc đạo đức sau được Tom L, Beauchamp đề xuất trong
nghiên cứu của ông từ năm 1979, điều chỉnh và bổ sung năm 2001 và được nhiều nhà
nghiên cứu về sau trích dẫn.
i. Tôn trọng quyền tự chủ (Respecting autonomy)
Cá nhân có quyền hoạt động như một cá thể tự do, độc lập. Điều này có nghĩa
là, họ được tự do quyết định cuộc sống của mình như thế nào miễn là quyết định của
họ không ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của người khác. Cá nhân cũng có quyền
tự do suy nghĩ hoặc lựa chọn.
ii. Không gây hại (Doing no harm)
Con người có đạo đức sẽ khơng làm gì có hại cho những người sống xung quanh
mình; họ có ý thức bảo vệ cả các sinh vật khác và môi trường tự nhiên. Do vậy, tương
tác của chúng ta với mọi người không được gây hại cho người khác; chúng ta không
nên tham gia vào bất kỳ hoạt động nào có nguy cơ gây hại cho người khác.
iii. Mang lại lợi ích cho người khác (Benefiting others)
Hành động của chúng ta nên tích cực thúc đẩy sức khỏe và hạnh phúc của những
người khác. Con người có đạo đức sẽ ln nghĩ đến người khác, vì người khác mà
khơng vì lợi ích cá nhân.
iv. Cơng bằng (Being just)
Điều này đặc biệt xảy ra khi quyền của một cá nhân hoặc nhóm được cân bằng
với quyền của người khác. Tuy nhiên, có ba tiêu chuẩn là: sự cơng bằng, bình đẳng
và có đi có lại (dựa trên nguyên tắc vàng: đối xử với người khác như bạn mong muốn
được đối xử).
v. Thành thật (Being faithful)
Thành thật bao gồm sự trung thành, trung thực, giữ lời hứa và tôn trọng. Việc
không trung thực trong cách cư xử với người khác khiến các cá nhân không có đầy
đủ cơ hội để thực hiện sự lựa chọn tự do trong một hoàn cảnh nào đó, do đó hạn chế
quyền tự chủ của họ.
1.1.2.3 Các triết lý đạo đức cơ bản vận dụng trong kinh doanh
Trong giáo trình Đạo đức kinh doanh và Văn hóa cơng ty, PGS.TS Nguyễn
Mạnh Qn đã trình bày những triết lý đạo đức cơ bản được vận dụng trong kinh
doanh.
Có nhiều triết lý đạo đức khác nhau. Mỗi triết lý là một lý thuyết phức tạp được
xây dựng trên cơ sở những quan điểm về quy tắc chi phối hành vi của con người về
mặt đạo đức. Một số triết lý có cùng tư tưởng chủ đạo nhưng khác nhau về đối tượng,
phạm vi tiếp cận. Một số triết lý khác lại dựa trên những luận cứ hoàn toàn khác. Có
thể xếp những triết lý cơ bản thành 3 nhóm: (1) các triết lý dựa trên quan điểm vị lợi;
16
(2) các triết lý dựa trên quan điểm pháp lý; và (3) các triết lý dựa trên quan điểm đạo
đức.
Giữa ba nhóm này có sự khác biệt quan trọng. Các triết lý theo quan điểm vị lợi
đánh giá hành vi đạo đức căn cứ vào hệ quả, trong khi đó các triết lý theo quan điểm
đạo lý coi cách thức hành động để đạt đến mục đích mới là quan trọng. Triết lý này
xuất phát từ luận cứ cho rằng hành vi đúng đắn ắt sẽ dẫn đến kết quả tốt. Luận cứ này
có điểm chung với các triết lý theo quan điểm pháp lý khi cho rằng hành động được
coi là đúng đắn chỉ khi nó được nhiều người hay xã hội thừa nhận. Hơn nữa, các triết
lý dựa trên quan điểm pháp lý nhấn mạnh đến tính hình thức và công khai của các
quy tắc như một cách thức để đạt được sự thống nhất và khả năng vận dụng rộng rãi
một số quy tắc cơ bản.
Cách tiếp cận
Triết lý
Tư tưởng chủ đạo
Egoism
(Chủ nghĩa vị kỷ)
Định nghĩa hành vi đúng đắn hay có thể chấp
nhận được là những hành vi có thể mang lại tối
đa lợi ích cho một cá nhân, con người cụ thể
mà người đó mong muốn.
Utilitarianism
(Chủ nghĩa vị lợi)
Định nghĩa hành vi đúng đắn hay có thể chấp
nhận được là những hành vi có thể mang lại tối
đa tổng lợi ích, hay nhiều điều tốt nhất cho một
số lượng người lớn nhất
Deontology
(Thuyết đạo
đức hành vi)
Chú trọng đến việc bảo vệ quyền của cá nhân
và quan tâm đến việc xét từng hành vi cụ thể
và cách thức chúng được tiến hành, chứ không
chú trọng và kết quả.
Relativism
(Chủ nghĩa đạo
đức tương đối
Coi trọng việc đánh giá tính chất đạo đức của
hành vi dựa vào kinh nghiệm chủ quan của mỗi
người hay nhóm người.
Justice
(Thuyết đạo
đức – Công lý)
Đánh giá tính chất đạo đức trên cơ sở sự công
bằng: cùng chia sẻ, có trật tự và tương thân
tương ái.
Virtue ethics
(Thuyết đạo
đức – Nhân cách)
Cho rằng đạo đức trong từng hoàn cảnh không
chỉ được quyết định bởi những yêu cầu đạo đức
phổ biến, mà còn được quyết định bởi những
nhân cách trưởng thành có đạo đức.
Quan điểm
vị lợi
Quan điểm
pháp lý
Quan điểm
đạo lý
a. Các triết lý theo quan điểm vị lợi
Nhóm thứ nhất gồm các triết lý theo thuyết mục đích (teleology) cho rằng hành
vi có thể được coi là xác đáng và có thể chấp nhận được về mặt đạo đức nếu chúng
có thể mang lại một vài kết quả nào đó. Nói cách khác, các triết lý dựa vào thuyết
17
mục đích tiếp cận với các vấn đề đạo đức qua việc đánh giá hệ quả của hành động.
Vì vậy, chúng còn được coi là “chủ nghĩa trọng quả” (consequentialism). Ảnh hưởng
của các triết lý này trong quản lý và trong các quyết định kinh doanh là rất lớn, đôi
khi rất cụ thể nhưng đôi khi cũng rất khó nhận thấy. Các phương pháp Quản lý theo
mục tiêu (MBO – Management By Objectives), hay phương pháp phân tích lợi ích –
chi phí (CBA – Cost Benefit Analysis) là những ví dụ điển hình về các phương pháp
phân tích và quản lý thịnh hành dựa trên kết quả kinh doanh.
Hai đại diện quan trọng của các triết lý theo quan điểm vị lợi là chủ nghĩa vị kỷ
và chủ nghĩa vị lợi.
Chủ nghĩa Vị kỷ
Chủ nghĩa Vị kỷ định nghĩa một hành vi có thể được coi là đúng đắn và có chấp
nhận được hay không phải căn cứ vào hệ quả hành vi đó có thể mang lại cho đối
tượng nào đó đã xác định. “Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt
được chuột”. Những người theo chủ nghĩa vị kỷ cho rằng mọi quyết định cần phải
hướng tới việc đạt được lợi ích cá nhân tối đa. Khẩu hiệu hành động của những người
theo chủ nghĩa vị kỷ là “hãy tìm cách hành động để mang lại nhiều điều tốt nhất cho
bản thân”. Những cá nhân, công ty theo triết lý này thường chỉ chú trọng đến lợi ích
trước mắt và lợi dụng mọi hành động cơ hội để đạt mục đích riêng. Họ hành động
theo phương châm thắng-thua “win – loss”, và sẵn sàng hành động để nhằm đạt được
lợi ích và mục tiêu riêng của mình (win) bằng mọi giá, dù có thể gây thiệt hại cho
người khác (loss). Triết lý vị kỷ rất phổ biến bởi lập luận rất đơn giản phù hợp với
nhận thức của mọi đối tượng và chúng có thể “đo lường” được bằng kết quả cụ thể.
Triết lý vị kỷ thể hiện rất rõ trong thuyết kinh tế học thị trường tự do (kinh tế học vi
mô). Do chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế của cá nhân, nên nó thường xuyên gây ra
những vấn đề đạo đức và rất khó đạt được mục đích. Marx từng phê phán “học thuyết
kinh tế TBCN là thứ học thuyết tầm thường”.
Trong thực tiễn kinh doanh, triết lý vị kỷ xuất hiện một cách ít tầm thường hơn
dưới hình thức chủ nghĩa vị kỷ trong sáng (enlightened egoism). Trong đó, lợi ích của
nhiều người được xét đến đồng thời trong các quyết định. Tuy nhiên, lợi ích bản thân
vẫn được ưu tiên hơn cả. Thực chất, việc tính đến lợi ích của những người khác chỉ
được coi là tiền đề cho việc thực hiện các mục tiêu cá nhân. Đối với những công ty
hành động theo triết lý này cung cấp thơng tin sai nhằm duy trì sự ủng hộ của các bên
hữu quan để duy trì ổn định và phát triển được coi là hợp đạo lý. Triết lý vị kỷ trong
sáng có thể được khống chế bởi các quy định pháp lý và chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp chặt chẽ. Vì vậy, nó khơng bị coi là vơ đạo đức như chủ nghĩa vị kỷ tầm
thường, do đó cũng xuất hiện thường xuyên hơn trong các quyết định và hành vi của
tổ chức và của người quản lý trong thực tiễn.
Chủ nghĩa vị lợi
18
Tương tự như chủ nghĩa vị kỷ, chủ nghĩa vị lợi cũng cho rằng việc đánh giá xác
đáng của một hành động về mặt đạo đức phải căn cứ vào kết quả của nó. Nếu hành
động mang lại nhiều điều tốt hay lợi ích, hành động được coi là xác đáng; ngược lại,
nếu hậu quả gây ra là xấu hay thiệt hại, hành động không được coi là xác đáng về mặt
đạo đức. Điểm khác biệt quan trọng của triết lý vị lợi so với triết lý vị kỷ là lợi ích
của nhiều đối tượng hữu quan được xét đến đồng thời. Khẩu hiệu hành động của chủ
nghĩa vị lợi là “tìm cách mang lại nhiều nhất những điều tốt hay lợi ích cho nhiều
nhất những người hữu quan”. Triết lý này tiến bộ hơn do lấy phương châm “cùng
thắng” “win-win” để hành động. Những người theo chủ nghĩa vị lợi luôn cố gắng đạt
được lợi ích nhiều nhất cho cả bản thân (win) và cho cả những người chịu ảnh hưởng
(win) khi đưa ra một quyết định, hành động.
Trong thực tiễn, thuyết vị lợi có rất nhiều ứng dụng quan trọng. Lý thuyết Kinh
tế học đã tìm thấy ở thuyết vị lợi lối thoát cho tính “vị kỷ” không chỉ bằng cách quan
tâm đến lợi ích của một số đối tượng (vị kỷ trong sáng) mà của tất cả mọi người –
Kinh tế học vĩ mô. Trong quản lý, thuyết vị lợi cũng thể hiện ảnh hưởng rất quan
trọng trong những phương pháp phân tích và quản lý như phân tích chi phí – lợi ích
(CBA), phân tích hiệu quả, phân tích đầu vào – đầu ra (IOA), quản lý theo mục tiêu
(MBO). Triết lý vị lợi rất dễ được chấp nhận bởi phù hợp với cách nhận thức của con
người và hoàn thiện hơn triết lý vị kỷ.
Tóm lại, các triết lý dựa trên quan điểm vị lợi được chấp nhận khá rộng rãi và
có ảnh hưởng rất lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh tế và hoạt động kinh doanh.
Chúng không chỉ giúp biện giải cho các quyết định của cá nhân hay tổ chức, mà còn
được sử dụng làm cơ sở xây dựng các phương pháp quản lý và kiểm soát. Điểm tích
cực quan trọng trong các triết lý đạo đức vị lợi là giải thích được rằng hoài bão và
động cơ hành động của con người là hướng tới phục vụ lợi ích của con người. Nó
cũng khuyến khích con người lựa chọn cách hành động tốt nhất để đạt được mục đích
đã định. Hạn chế chủ yếu của chúng là tính bất cập trong việc xác minh những giá trị
và hệ quả của một hành vi. Những khó khăn “kỹ thuật” này dẫn đến những sự khác
nhau trong cách đánh giá một hành động. Hạn chế quan trọng khác là các quan điểm
này phần lớn quá chú trọng đến kết quả, nên đôi khi xem nhẹ cách thức đạt được một
kết quả nhất định. Trong nhiều trường hợp “mục đích biện minh cho phương tiện”
chưa phải đã phù hợp với quan niệm đạo đức của nhiều người. Đây cũng là “cố tật”
của các triết lý vị lợi: chỉ có khả năng phán xét về hành vi sau khi chúng ta đã kết
thúc.
b. Các triết lý theo quan điểm pháp lý
Thuyết đạo đức hành vi (deontology)
Thuyết đạo đức hành vi (deontology) liên quan đến các triết lý đạo đức coi trọng
quyền của mỗi người và mục đích của hành vi. Các triết lý đạo đức hành vi không tập
trung vào kết quả đạt được của hành vi mà vào chính cách thức thực hiện hành vi.
19
Một trong những quy tắc được coi là khuôn vàng thước ngọc của những người theo
thuyết hành vi (Golden Rule of Judeo-Christian tradition) khuyên rằng: “Hãy đối xử
với người khác theo cách mình muốn họ đối xử với mình”; đây cũng là một tư tưởng
chủ đạo của Đạo Khổng. Tư tưởng cơ bản của thuyết này là dành sự tôn trọng ngang
nhau cho tất cả mọi người. Khác với quan điểm của thuyết vị lợi, thuyết đạo đức hành
vi cho rằng có những điều con người không nên làm, ngay cả khi lợi ích đạt được là
lớn nhất. Triết lý của thuyết đạo đức hành vi cho rằng có một số hành vi nhất định về
bản chất đã luôn được coi là đúng đắn; và việc xác định tính đúng đắn được quyết
định bởi cá nhân mỗi người khi hành động chứ khơng phải xã hội. Chính vì lý do này,
triết lý đạo đức hành vi còn được gọi là chủ nghĩa phi trọng quả
(nonconsequentialism) hay chủ nghĩa đạo đức hình thức (ethical formalism) hay đạo
đức tơn trọng con người.
Người có ảnh hưởng quan trọng đến thuyết đạo đức hành vi là nhà triết học
người Đức thế kỷ 18 Immanuel Kant. Theo Kant, mặc dù nghĩa vụ đạo đức không
liên quan gì với kết quả hành động, vẫn có thể chia hành động của con người thành
những việc phải làm và những việc khơng được phép làm. Ơng đưa ra hai quy tắc nổi
tiếng về nghĩa vụ là các mệnh lệnh giả thiết (hypothetical imperatives) và mệnh lệnh
đương nhiên (categorical imperatives). Trong mệnh lệnh giả thiết, hành động được
thực hiện luôn kèm theo điều kiện: “Nếu bạn muốn … , thì hãy …”. Như vậy, khi đó
một người sẽ khơng có nghĩa vụ hành động nếu họ cảm thấy không cần như vậy.
Mệnh lệnh đương nhiên nhấn mạnh rằng, các nghĩa vụ chính là những hành động mà
một người hợp lý (a rational man) phải thực hiện mà không kèm theo bất kỳ điều
kiện gì: “Hãy …”.
Trong thuyết đạo đức hành vi, bản chất là khái niệm có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng. Theo họ, bản chất cá nhân là chính là những yếu tố sâu xa quyết định những
nguyên tắc đạo đức của một người. Nó phản ánh kinh nghiêm sống, nhận thức và thế
giới quan của người đó; nó được hình thành ngay từ rất sớm, rất ổn định và bền vững.
Trong các hoạt động hàng ngày, nó thường biểu hiện thông qua động cơ.
Khi đánh giá tính chất đạo đức của một hành vi, triết lý đạo đức hành vi chú
trọng đến tính tương thích của hành vi với các quy tắc đạo đức trong cách thức thực
hiện. Và, hành vi chỉ được coi là hợp đạo đức và có thể chấp nhận được một khi cách
hành động phản ánh rõ ràng động cơ, mục đích hành động và phù hợp với các giá trị
đạo đức phổ thông. Như vậy, triết lý đạo đức hành vi rất chú trọng đến cách thức hành
động. Một sự khác biệt nữa giữa thuyết vị lợi và thuyết đạo đức hành vi là một bên
nhấn mạnh vào hệ quả và một bên nhấn mạnh vào nguyên nhân; thuyết vị lợi coi
trọng kết quả trong khi thuyết đạo đức hành vi coi trọng phương tiện đạt được kết
quả.
Chủ nghĩa đạo đức hành vi cũng chia thành hai nhánh. Chủ nghĩa đạo đức hành
vi hành động (act deontology) và chủ nghĩa đạo đức hành vi quy tắc (rule
20
deontology). Chủ nghĩa đạo đức hành vi hành động cho rằng hành vi chính là căn cứ
để phán xét về đạo đức của con người. Triết lý đạo đức hành vi hành động đòi hỏi
con người phải ra quyết định và hành động một cách công bằng, trung thực và không
thiên vị. Triết lý đạo đức hành vi hành động quan niệm rằng, con người ln biết điều
gì đúng, điều gì sai mà khơng cần phải xét đến hệ quả hay các quy tắc đạo đức nào.
Họ coi cách thức hành động trong từng hoàn cảnh cụ thể có ý nghĩa quan trọng hơn
nhiều so với việc tuân thủ quy tắc. Ngược lại, chủ nghĩa đạo đức hành vi quy tắc cho
rằng, để đánh giá tính đạo đức của một hành vi phải căn cứ vào tính tương thích của
hành vi với các quy tắc đạo đức. Hành động càng phù hợp với quy tắc đạo đức đã
định càng được coi là hợp đạo đức. Triết lý đạo đức hành vi quy tắc sử dụng các lập
luận logic để xây dựng quy tắc hành động. Những quy tắc sẽ quy định cách thức hành
động trong các hoàn cảnh cụ thể. Con người cần nắm vững các quy tắc và hành động
phù hợp với các quy tắc đã định.
Chủ nghĩa đạo đức tương đối
Theo thuyết chủ nghĩa tương đối, hành vi đạo đức được định nghĩa dựa trên
kinh nghiệm chủ quan của một người hay nhóm người. Những người theo triết lý đạo
đức tương đối thường lấy bản thân mình hay những người xung quanh làm căn cứ để
xác định chuẩn mực hành vi đạo đức. Họ thường quan sát hành vi của một nhóm
người nhất định và cố xác định điều gì làm cho nhóm người đó đi đến thống nhất
trong một hoàn cảnh nhất định. Một sự đồng thuận trong nhóm “mẫu” được coi là
dấu hiệu của sự đúng đắn hay hợp đạo đức. Tuy nhiên, những “tiêu chuẩn đạo đức”
như vậy không được coi là vĩnh cửu. Trong những hoàn cảnh khác hay khi nhóm mẫu
thay đổi, hành vi trước đó được coi là chấp nhận được có thể sẽ trở thành sai trái hay
vô đạo đức.
Thuyết đạo đức tương đối nhắc nhở rằng chúng ta đang sống trong một xã hội
gồm những người có nhiều quan điểm khác nhau và cách thức phán xét hành vi cũng
khác nhau. Những người theo thuyết đạo đức tương đối quan sát mối tương tác giữa
các thành viên của một nhóm xã hội và cố xác định những giải pháp có khả năng dựa
vào sự thống nhất về quan điểm trong nhóm. Ví dụ như, khi hoạch định chiến lược
và kế hoạch, những người theo triết lý đạo đức tương đối thường cố dự đoán những
mâu thuẫn có thể nảy sinh giữa những người hữu quan, như người quản lý, chủ sở
hữu, người lao động, khách hàng, người cung ứng, cộng đồng xã hội, do quan điểm
và triết lý đạo đức khác nhau.
Như vậy, đối với những người theo thuyết đạo đức tương đối, quy tắc hành động
là do xã hội quy định. Chính những mâu thuẫn trong một nhóm xã hội đã buộc các
thành viên phải tương tác, thảo luận và đi đến thống nhất về cách xử lý. Đó cũng là
cách mỗi thành viên của nhóm tìm cách tự điều chỉnh, tự hoàn thiện, học hỏi và tích
lũy thêm kinh nghiệm cho bản thân. Chính sự thống nhất đã đặt ra quy tắc cho hành
vi của nhóm, đồng thời nó cũng trở thành quy tắc về hành vi của những người khác
21
dù không được thể chế hóa thành những quy tắc chính thức. Một khi các quy tắc được
thừa nhận rộng rãi, trở thành phổ biến và tương đối ổn định, chúng có thể trở thành
những quy tắc, chuẩn mực chính thức về hành vi đạo đức xã hội.
Thuyết đạo đức công lý
Thuyết đạo đức công lý quan tâm đến những gì con người cho rằng họ có nghĩa
vụ phải thực hiện, căn cứ vào quyền hạn của mỗi người và kết quả thực hiện quyền
và nghĩa vụ của họ. Chính vì vậy, thuyết đạo đức cơng lý có triết lý rất gần với triết
lý của thuyết đạo đức hành vi. Trong kinh doanh, quan điểm đạo đức công lý được
thể hiện qua việc coi trọng sự công bằng hay có thiên hướng phản kháng khi cho rằng
có sự bất công. Công lý là việc đối xử công bằng và thưởng phạt công minh theo các
chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Điều đó có nghĩa là các quy tắc được sử dụng để
phán xét về tính công bằng và về các quyết định thi hành chúng được xây dựng trên
cơ sở nhận thức của người ra quyết định về quyền con người. Các quan điểm khác
nhau khi đánh giá về sự công bằng đã làm cho thuyết đạo đức công lý phát triển theo
ba hướng: công lý trong phân phối, công lý trong quan hệ và công lý trong trật tự.
Công lý trong phân phối (distributive justice) tiến hành đánh giá tính công bằng
trên cơ sở kết quả hay hệ quả của mối quan hệ kinh doanh. Trong kinh doanh, công
lý trong phân phối cho rằng thù lao phải tương xứng với kết quả công tác. Công bằng
là một tiêu thức quan trọng thể hiện mức độ tương thích giữa kết quả công tác và
phần thưởng được hưởng. Nếu việc đánh giá kết quả lao động không hoàn thiện và
nhất quán, có thể làm nảy sinh vấn đề đạo đức.
Công lý trong quan hệ (interactive justice) tiến hành việc đánh giá trên cơ sở
những đặc trưng của quá trình thơng tin, giao tiếp được sử dụng trong mối quan hệ.
Trong kinh doanh cũng như trong những mối quan hệ xã hội cơ bản khác, được cung
cấp thông tin đầy đủ và trung thực để ra quyết định ứng xử khi giao tiếp và hợp tác
không chỉ là quyền lợi mỗi người phải được hưởng mà còn vì lợi ích của những người
khác, đặc biệt là những người có quan hệ kinh doanh gần gũi bao gồm cả của người
cung cấp thông tin. Vấn đề đạo đức sẽ nảy sinh khi các bên đối tác không được cung
cấp thông tin chính xác và đầy đủ.
Công lý trong trật tự (procedural justice) tiến hành việc đánh giá trên cơ sở tìm
hiểu cách thức hành động hay quá trình tạo ra hoặc dẫn đến một kết quả hay hệ quả
nhất định. Trong mối quan hệ lao động, vấn đề đạo đức có thể nảy sinh nếu một số
người cảm thấy họ được nhận mức lương thấp hơn so với những đồng nghiệp tương
đương, hay thấy một đồng sự được hưởng đặc cách về lương mà không có lý do chính
đáng được mọi người công nhận. Trong trường hợp này, công bằng cũng được sử
dụng như một tiêu thức quan trọng, nhưng với nghĩa người tới trước được hưởng
trước: “first in, first out”.
c. Các triết lý theo quan điểm đạo lý
Thuyết đạo đức nhân cách (virtue ethics)
22