VỊ TRÍ CỦA TRANH IN HIỆN NAY
Từ lời phàn nàn của người trong cuộc
Sáng chế xe điện của Edison năm 1879 chính là kết quả bất ngờ sau khi nghe được
lời phàn nàn của một bà già trong đêm khánh thành mạng đèn điện chiếu sáng đầu
tiên ở một thị trấn ngoại ô của New York: “Cái ông Edison làm ra đèn điện mà
không làm được cái xe điện cho người già đi đây đó”. ở Việt Nam, cách đây chưa
lâu, một nghệ sĩ đồ họa phàn nàn, tranh in bị đối xử bất bình đẳng so với vị thế các
thể loại tranh khác trong những triển lãm mỹ thuật. Mới đây, cũng nghệ sĩ này khi
đề cập đến thực trạng tranh in đã nhận định rằng Việt Nam thiếu nghệ sĩ sáng tác
tranh in chuyên nghiệp. Liên tưởng đến trường hợp sáng chế xe điện của Edison, ta
có thể đặt câu hỏi, liệu tranh in Việt Nam sẽ tạo được bất ngờ từ lời phàn nàn của
chính những người trong cuộc ngày hôm nay?
Việt Nam đã có hơn hai mươi năm đổi mới tạo điều kiện cho mỹ thuật mở rộng về
phong cách và đề tài. Trên thực tế, các thể loại tranh như sơn dầu, sơn mài đã có
những thay đổi rõ rệt. Song, cái mới của tranh in lại chưa nhiều. Thật khác với vài
chục năm trước, tranh khắc gỗ cùng với sơn mài, lụa đã được coi là đậm đà bản sắc
dân tộc, đại diện cho mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Bức tranh toàn cảnh về tranh in
trong những năm qua cho thấy diễn biến như sau: Số lượng tranh in tham gia các
triển lãm mỹ thuật không nhiều. Tranh in đẹp ngày một hiếm. Nó phản ánh sự chưa
đột phá về kỹ thuật, hình thức, cũng như chưa có những thay đổi trong đề tài để
chuyển tảI vấn đề xã hội của thời đại. Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc lần nào cũng
có giải thưởng trao cho đồ họa, tuy là những tranh có chất lượng so với tương quan
chung trong triển lãm, nhưng về mặt giá trị sáng tạo đóng góp cho sự phát triển
tranh in Việt Nam lại không có gì đáng bàn. Các nghệ sĩ đã khẳng định phong cách
vẫn tiếp tục sáng tác theo hình thức và cách làm cũ. Xét về mặt nghệ thuật, chất
lượng tranh in hiện nay của những nghệ sĩ này lại không bằng tranh của chính họ
sáng tác trong thời kỳ trước.
Mặc dầu, hội nhập quốc tế đã đem đến cơ hội biết thêm về kỹ thuật in hiện đại của
thế giới như in độc bản hay in cảm quang. Song tranh in Việt Nam vẫn ít thấy có
sự cách tân cả về hình thức và nội dung để phản ánh những vấn đề xã hội đương
đại. Cả in độc bản cũng như in cảm quang có những ưu điểm riêng của mỗi kỹ
thuật. Trong in độc bản, người vẽ sử dụng mika, kính hay tấm kẽm phẳng… như
một bề mặt chế bản. Phối hợp nhiều chất liệu, nhiều thủ pháp kỹ thuật khác nhau
sẽ cho ra một bản tranh in duy nhất. Ví dụ, in chồng nhiều lần hoặc một lần thông
qua việc che chắn một phần các lớp in tạo ra hiệu quả về tầng lớp độ sâu. Kết hợp
in với vẽ bằng tay, in và vẽ chồng chéo các chất liệu khác nhau, sử dụng vật dụng
thật đặt lên… để chế bản in. In độc bản được khá nhiều nghệ sĩ thể nghiệm, tuy
nhiên rất ít người chuyên sâu về kỹ thuật này. In cảm quang với đặc trưng là dùng
cảm quang để phơi chụp ảnh chế bản in, được dùng trên nhiều bề mặt như đá, kim
loại, lưới, plastic… Nghệ sĩ có thể chế bản phim trên vi tính. Nhờ vào sự hỗ trợ của
công nghệ mà có thể tạo nên những chế bản tạo hiệu quả ảnh. Nhưng kỹ thuật này
lại không phát triển ở Việt Nam do sự hạn chế về chất liệu. Việt Nam không sản
xuất tấm nhựa cảm quang chuyên dùng trong đồ họa và cũng không nhập khẩu
chất liệu này để bán trên thị trường. Nếu muốn sáng tác chất liệu này, thì nghệ sĩ
phải tự chế cho mình bản in cảm quang. Vì thế, tuy có điều kiện biết thêm về kỹ
thuật in cảm quang nhưng lại không có ai ứng dụng nó trong sáng tác tranh in. Bên
cạnh đó, nếu trên thế giới các tranh in đá, in kẽm, in đồng… có mực in chuyên
dùng cho từng chất liệu, thì ở Việt Nam điều kiện kinh tế không dễ để mua vì mực
in đắt. Đồng thời, do bản tính hay thích cải tiến của người Việt mà tất cả các chất
liệu in đều sử dụng mực in ốp sét trong in công nghiệp. Việc chấp nhận hoàn cảnh
theo tính tương đối đã giúp nghệ sĩ làm tranh in theo điều kiện phương tiện ở Việt
Nam. Song, cũng chính điều này làm các tranh in Việt Nam khó đạt đến hiệu quả
hoàn chỉnh.
Tìm nguyên nhân về thực trạng tranh in là cả một vấn đề. Trong đó có cả nguyên
nhân chủ quan và khách quan. Mỗi năm, số lượng sinh viên tuyển sinh vào học
khoa đồ họa của trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Đội ngũ nghệ sĩ đồ họa vốn đã mỏng lại càng trở nên mỏng hơn bởi chính những
người trong nghề cũng không dấn thân chuyên nghiệp cho chất liệu này mà lại rẽ
ngang sáng tác sang thể loại khác. Ngay trong lĩnh vực đồ họa hiện nay nhiều
người lại thiên về chọn đồ họa ứng dụng hơn là đồ họa tạo hình. Bởi Việt Nam
đang trong giai đoạn phát triển nên nhu cầu về đồ họa ứng dụng là rất cao. Số sinh
viên theo học đồ họa ứng dụng như thiết kế đồ họa ngày càng nhiều. Đã có dự
đoán rằng, đến năm 2010 nước ta sẽ cần khoảng 1 triệu nhân lực liên quan đến
thiết kế đồ họa như quảng cáo trên báo in, truyền hình, internet, sản xuất game,
web, sản xuất phim… Nhiều sinh viên khoa đồ họa sau khi tốt nghiệp đã chuyển
luôn sang làm việc thiết kế đồ họa mà bỏ đồ họa tạo hình. Số ít tuy làm nghề khác
nhưng vẫn thỉnh thoảng làm tranh in để tham gia triển lãm. Trong bối cảnh ấy, thì
việc thiếu nghệ sĩ tranh in chuyên nghiệp là điều tất yếu. Bên cạnh đó, khi cơ chế
thị trường bùng phát cũng là lúc bắt đầu của loại tranh in phục vụ cho nhu cầu của
khách du lịch. Đa số khách ngoại quốc thường tìm mua sản phẩm có hương sắc
Việt để làm quà tặng. Họ thích những tranh theo phong cách hiện thực mô tả cuộc
sống, sinh hoạt, con người Việt Nam… Từ đó, đã dẫn đến một loại tranh in thị
trường với hình thức trang trí nhằm đáp ứng thị hiếu của khách hàng. Có người
biện minh cho sự thiếu vắng nghệ sĩ chuyên nghiệp là do sáng tác tranh in có
những yêu cầu đặc thù về phương tiện chất liệu in ấn chuyên ngành, thiết bị và
phòng xưởng in tranh chuyên nghiệp… Trong khi ấy, những máy in hiện đại cũng
như các chất liệu in đắt tiền thì cá nhân người nghệ sĩ khó có thể có được. ở góc độ
khác, có người lại nói, đúng là phương tiện in, chất liệu in có vai trò quan trọng đối
với đồ họa, song không thể lấy đó làm cái cớ để đổ lỗi cho việc đồ họa tạo hình
chưa phát triển. Suy cho cùng, điều quan trọng quyết định sự thăng hoa của một
thể loại hay chất liệu vẫn là vai trò người nghệ sĩ - chủ thể sáng tạo nên tác phẩm
nghệ thuật.
Tương lai của tranh in Việt Nam phụ thuộc ở chính người sáng tác, đặc biệt là thế
hệ nghệ sĩ trẻ. Điều cốt yếu là sự đam mê yêu nghề. Chất liệu và kỹ thuật chỉ là
những phương tiện chuyển tải ý tưởng tạo hình của nghệ sĩ. Tranh in có vẻ đẹp
riêng không thể lẫn với bất cứ thể loại tranh nào khác. Nhiều danh họa nổi tiếng
thế giới như Durer, Rembrant, Goya, Picasso… bên cạnh sáng tác hội họa còn
dùng đồ họa để thể hiện những trạng thái tâm hồn, khám phá các số phận, hay làm
phương tiện để đấu tranh tư tưởng xã hội vào thời đại của mình. Sêri “Những thảm
họa chiến tranh” của Goya là cả phóng sự về thời kỳ đau thương của Tây Ban Nha,
phơi bày thực trạng tàn bạo của những cuộc chinh phạt xâm lược.
Gần đây, đã có những nghệ sĩ đồ họa quan tâm thử nghiệm chất liệu in theo xu
hướng phi hóa chất trong chuyên ngành in. Cũng đã có người thử tìm hình thức
mới bằng cách kết hợp đồ họa với thể loại nghệ thuật khác, hoặc phá cách trong
kiểu thức trình bày tranh in thông thường. Những dấu hiệu ấy khiến chúng ta có
thể lạc quan rằng, một lúc nào đó, tranh in cũng như nhiều lĩnh vực ngành nghề
khác của Việt Nam sẽ tạo được bất ngờ từ những lời phàn nàn của ngày hôm nay.