Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

Kinh nghiệm và thực tiễn quốc tế về hủy phán quyết trọng tài international experience and practice of setting aside arbitral awards

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (110.13 KB, 10 trang )

KINH NGHIỆM VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
Trọng tài viên Nguyễn Mạnh Dũng1
I.

Căn cứ hủy phán quyết trọng tài:

Luật mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế 2006
Điều 34:
(1) một trong các bên không đủ năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài; hoặc thỏa thuận đó khơng có giá

trị pháp lý;
(2) bên u cầu không được thông báo đầy đủ về việc chỉ định trọng tài viên hoặc tố tụng trọng tài

hoặc không thể tranh tụng;
(3) vụ tranh chấp không nằm trong phạm vi của thỏa thuận trọng tài;
(4) thành phần hội đồng trọng tài hoặc q trình tố tụng trọng tài khơng phù hợp với thỏa thuận của

các bên hoặc không phù hợp với Luật này;
(5) vấn đề nội dung tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài;
(6) phán quyết trái với chính sách cơng của nước đó.

Luật mẫu UNCITRAL đã được áp dụng bởi 84 quốc gia, 117 hệ thống pháp luật, ví dụ như Hàn Quốc
năm 2016: Luật Trọng tài của Hàn Quốc viện dẫn trực tiếp đến Điều 34 Luật mẫu áp dụng cho việc
hủy PQTT.
So sánh với Điều V Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành PQTT nước ngoài:
Các căn cứ từ chối công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngồi:
(1) Các bên của thỏa thuận trọng tài khơng có đủ năng lực hoặc thỏa thuận trọng tài khơng có giá trị

pháp lý;
(2) Bên yêu cầu không được thông báo về việc chỉ định trọng tài viên hoặc tố tụng trọng tài hoặc


không thể tranh tụng;
(3) Vụ tranh chấp không nằm trong phạm vi của thỏa thuận trọng tài;
(4) Thành phần trọng tài hoặc tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc luật

của nước tiến hành trọng tài;
(5) Phán quyết chưa có hiệu lực ràng buộc đối với các bên, hoặc bị hủy hay đình chỉ;
(6) Vấn đề nội dung tranh chấp khơng thể giải quyết được bằng trọng tài;
(7) Việc công nhận và thi hành phán quyết trái với chính sách cơng của nước đó.

=> 6 căn cứ hủy PQTT theo Luật mẫu UNCITRAL cũng đều là những căn cứ để từ chối cơng nhận và
thi hành PQTT nước ngồi theo Cơng ước New York 1958. Tuy hầu hết các căn cứ hủy PQTT và từ
chối công nhận và thi hành PQTT nước ngồi giống nhau, nhưng có 2 điểm khác biệt cần lưu ý trên
1 Trọng tài viên Nguyễn Mạnh Dũng là thành viên Hội đồng khoa học của VIAC và là thành viên đại diện cho Việt nam tại
Tòa trọng tài quốc tế ICC tại Paris và một số tổ chức trọng tài, hòa giải quốc tế khác. Chi tiết xem tại:
/>

thực tế: (1) những căn cứ liên quan đến chính sách cơng có thể khác nhau về bản chất tùy vào quốc
gia được yêu cầu hủy hoặc từ chối công nhận và thi hành PQTT nước ngoài; (2) những căn cứ từ chối
cơng nhận và cho thi hành chỉ có hiệu lực tại quốc gia nơi được yêu cầu công nhận và thi hành PQTT
nước ngồi, cịn những căn cứ hủy PQTT có tác dụng ngăn cản việc thi hành phán quyết đó tại tất cả
các quốc gia khác là thành viên Công ước New York.2
Vấn đề hủy phán quyết trọng tài có mối liên hệ mật thiết với chỉ số thực thi hợp đồng (Enforcing
contract) là một chỉ số quan trọng trong bộ tiêu chí đánh giá về việc tạo điều kiện thuận lợi cho
môi trường kinh doanh ở một quốc gia như thế nào.
Theo báo cáo đánh giá thường niên của Ngân hàng Thế giới về môi trường đầu tư kinh doanh, lĩnh
vực Giải quyết tranh chấp hợp đồng (Enforcing contract) của Việt Nam xếp thứ 68/190. 3 Đây là chỉ số
đo thời gian và chi phí để giải quyết một vụ tranh chấp thương mại tại tòa án sơ thẩm địa phương và
là chỉ số về chất lượng của quy trình tư pháp nhằm đánh giá liệu một quốc gia đã có những hành xử
tốt để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống tòa án. Trong tổng số điểm 7.5/18 về chất lượng
quy trình tư pháp, chỉ số về giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (ADR index) chiếm gần như tuyệt đối

với số điểm 2.5/3, trong khi đó chất lượng cấu trúc và thủ tục của tịa án chỉ có số điểm khá thấp
5/15.4 Điều này cho thấy các chế định và thực tiễn giải quyết tranh chấp ngồi tịa án có chất lượng
tương đối cao và do đó, việc nhiều PQTT bị hủy (phân tích dưới đây) là khơng đáng có.
Gần đây đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề này trong đó có Nghiên cứu của Bộ Tư Pháp do
UNDP tài trợ về khả năng áp dụng Luật mẫu của UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế 2006
dẫn đến kết luận như sau:
Các quy định pháp luật về hủy PQTT hay cơng nhận và thi hành PQTT nước ngồi khá gần với Luật
mẫu và cả Công ước New York. Việc áp dụng Luật mẫu sẽ góp phần cải cách pháp luật trọng tài VN
tiến gần với tiêu chuẩn quốc tế và giúp thực thi hiệu quả Công ước New York. Luật mẫu sử dụng từ
ngữ đơn giản, phù hợp với các hệ thống pháp luật khác nhau nhằm hài hịa hóa và hồn thiện pháp
luật quốc gia. Luật mẫu cũng là một cơ chế mềm dẻo, các quốc gia khi áp dụng vẫn có thể thay đổi
phù hợp với bối cảnh riêng tại quốc gia mình. Luật mẫu đã có nhiều tài liệu giải thích, có tập hợp các
án lệ CLOUT là nguồn tham khảo hữu ích cho tịa án và trọng tài viên. Luật mẫu đặc biệt phù hợp với
các quốc gia chưa có pháp luật trọng tài phát triển tồn diện hoặc đã có nhưng khơng phù hợp với
thực tiễn quốc tế. Do vậy, việc áp dụng các quy định của Luật mẫu vào VN sẽ mang lại nhiều lợi ích,
khơng chỉ quốc tế hóa pháp luật trọng tài, tạo niềm tin cho các bên trong quá trình giải quyết tranh
chấp mà cịn hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội thông qua thu hút đầu tư và đẩy mạnh hoạt động dịch vụ
pháp lý giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, tăng khả năng VN được lựa chọn làm địa điểm trọng tài.5
Báo cáo này dẫn đến thông tin và số liệu của một số thẩm quyền gần gũi nhất với Việt nam hoặc Việt
nam có thể học hỏi kinh nghiệm trong lĩnh vực này:

2 Explanatory Note by the UNCITRAL Secretariat on the Model Law on International Commercial Arbitration, trang 1112: />3 />4 />5 Báo cáo đánh giá, so sánh quy định pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài với Luật mẫu
UNCITRAL, đề xuất khả năng áp dụng Luật mẫu tại Việt Nam, trang 54-55.


Việt Nam
Điều 68 Luật
Trọng
tài
thương mại


1. khơng có

thỏa
thuận
trọng tài
hoặc thỏa
thuận
trọng tài
vơ hiệu;
2. thành

phần hội
đồng
trọng tài,
thủ tục tố
tụng
trọng tài
không
phù hợp
với thỏa
thuận của
các bên

Hàn Quốc6

Pháp7

Điều 70 Luật
Trọng tài (áp

dụng cho phán
quyết trọng tài
có yếu tố nước
ngoài)

Điều 36 Luật
Trọng tài9

Điều 1492 (áp
dụng
cho
PQTT trong
nước) và Điều
1520 Luật Tố
tụng dân sự
(áp dung cho
PQTT
quốc
10
tế)

khơng có
thỏa thuận
trọng tài;

1. một trong

Trung Quốc
Điều 58 Luật
Trọng tài8 (áp

dụng cho phán
quyết trọng tài
trong nước)

1. khơng


thỏa thuận
trọng tài;

2. vấn

đề
tranh chấp
vượt
q
phạm
vi
thỏa thuận
trọng
tài
hoặc nằm
ngồi thẩm
quyền của
hội
đồng
trọng tài;

1.


2.

3. sự thành lập

của
hội
đồng trọng
tài hoặc thủ
tục tố tụng
trọng
tài

3.

bên
yêu
cầu không
được thông
báo đầy đủ
về việc chỉ
định trọng
tài
viên
hoặc
tố
tụng trọng
tài
hoặc
không thể
thực hiện

việc tranh
tụng của
mình;
thành phần
của
hội

các bên
khơng đủ
năng lực

kết
thỏa
thuận
trọng tài;
hoặc thỏa
thuận đó
khơng có
giá
trị
pháp lý;
2. bên

u

cầu
khơng
được
thơng báo
đầy đủ về

việc chỉ

1. hội

đồng
trọng tài
quyết định
sai
về
thẩm
quyền của
mình

2. hội

đồng
trọng tài
được thành
lập khơng
phù hợp;

3. hội

đồng
trọng tài
khơng
thực hiện
đúng thẩm
quyền của
mình


6 Vì sao chọn Hàn Quốc: Do Việt Nam và Hàn Quốc đều là 2 nước châu Á theo hệ thống Civil Law, Luật Trọng tài Hàn
Quốc mới được sửa đổi 2016 áp dụng trực tiếp nhiều quy định của Luật mẫu UNCITRAL sửa đổi 2006 khiến cho pháp
luật trọng tài của Hàn Quốc ngày càng trở thành một môi trường thân thiện với trọng tài, nhiều cải cách được đưa ra giúp
Hàn Quốc trở thành người đi đầu trong lĩnh vực trọng tài và là trung tâm trọng tài quốc tế quan trọng khu vực Đơng Nam
Á ( />7 Vì sao chọn Pháp: Mặc dù không áp dụng Luật mẫu UNCITRAL nhưng Pháp là một trong những nước theo hệ thống
Civil Law có pháp luật về trọng tài phát triển. Paris từ lâu đã là một địa điểm trọng tài hàng đầu. Luật trọng tài của Pháp
đã ra đời từ sớm từ năm 1981 và được sửa đổi năm 2011 nhằm giúp hiện đại hóa các quy định pháp luật về trọng tài.
8 Arbitration Law of People’s Republic of China:
/>%20Arbitration%20Association,status%20of%20a%20legal%20person.&text=China%20Arbitration%20Association
%20shall%20formulate,of%20the%20Civil%20Procedure%20Law
9 Arbitration Act of Korea: />10 />

hoặc
với
quy
của
này;
3. vụ

trái
các
định
Luật

khơng đúng
với luật tố
tụng;

đồng trọng

tài
hoặc
q trình
tố
tụng
trọng tài
khơng phù
hợp
với
các
quy
định trọng
tài;

4. bằng chứng

bị giả mạo;
tranh

chấp
khơng
thuộc
thẩm
quyền
của hội
đồng
trọng tài;
trường
hợp phán
quyết

trọng tài

nội
dung
khơng
thuộc
thẩm
quyền
của hội
đồng
trọng tài
thì
nội
dung đó
bị hủy;
4. chứng cứ

do
các
bên cung
cấp là giả
mạo;
trọng tài
viên nhận
tiền, tài
sản hoặc
lợi ích vật
chất khác
của một
bên tranh

chấp làm
ảnh
hưởng
đến tính
khách
quan,

5. một bên đã

giữ lại bằng
chứng ảnh
hướng đến
sự vô tư
của trọng
tài;
6. các

trọng
tài viên đã
biển
thủ,
nhận hối lộ
hoặc

hành vi bất
chính khác
vì lợi ích cá
nhân hoặc
làm sai lệch
pháp luật

về trọng tài
của vụ việc;

7. phán quyết

vi phạm lợi
ích cơng.

4.

vấn
đề
được giải
quyết vượt
q phạm
vi
thỏa
thuận trọng
tài
hoặc
nằm ngồi
thẩm
quyền của
hội đồng
trọng tài.

định
trọng tài
hoặc tố
tụng

trọng tài
hoặc
khơng thể
thực hiện
việc tranh
tụng của
mình;
3. vụ

tranh
chấp nằm
ngồi
phạm vi
của thỏa
thuận
trọng tài;

4. thành

phần của
hội đồng
trọng tài
hoặc q
trình tố
tụng
trọng tài
khơng
phù hợp
với thỏa
thuận của

các bên
hoặc
không
phù hợp
với Luật
này;
5. vấn

đề

tranh
chấp
không thể
giải quyết
bằng
trọng tài;
6. phán

quyết trái
với đạo
đức hoặc
chính

4. thủ tục tố

tụng
khơng phù
hợp
5. việc cơng


nhận và thi
hành phán
quyết trái
với chính
sách cơng
quốc
tế
(PQTT
quốc
tế)/phán
quyết trái
với chính
sách cơng
(PQTT
trong
nước)
6. phán quyết

khơng nêu
được lý do
ra
phán
quyết,
ngày
ra
phán
quyết, tên
hoặc chữ

của

trọng tài
viên
ra
phán
quyết;
hoặc phán
quyết được
đưa
ra
không dựa
trên quyết
định đa số
(PQTT
trong
nước).
Căn cứ 1-4
áp dụng cho
cả
PQTT
trong nước
và quốc tế.


công
bằng của
phán
quyết
trọng tài;

sách công

của Hàn
Quốc.

5. phán

quyết trái
với các
nguyên
tắc

bản của
pháp luật
Việt
Nam.
II. Thủ tục hủy phán quyết trọng tài

Việt Nam

Trung Quốc

Hàn Quốc

Pháp

Phạm vi xem
xét

PQTT trong nước

PQTT trong nước

và PQTT có yếu
tố nước ngoài

PQTT
nước

trong

PQTT
trong
nước và PQTT
quốc tế

Thời hạn nộp
đơn yêu cầu

30 ngày kể từ
ngày nhận được
phán quyết trọng
tài (Điều 69 Luật
TTTM)

6 tháng kể từ
ngày nhận được
phán quyết (Điều
59 Luật TT)

3 tháng kể từ
ngày nhận được
phán

quyết
(Điều 36 Luật
TT)

1 tháng kể từ
ngày thông báo
phán
quyết
(Điều
1494
BLTTDS)

Nơi thụ lý đơn
yêu cầu

Tòa án cấp tỉnh
theo thỏa thuận
của các bên hoặc
tại nơi hội đồng
trọng tài tuyên
phán quyết trọng
tài (Điều 7 Luật
TTTM)

Tịa án cấp trung
nơi có tổ chức
trọng tài (Điều 58
Luật TT)

Tịa án quận11


Tịa Phúc thẩm
(Điều
1494
BLTTDS)

Quy trình hủy
phán quyết

Trong thời hạn 7
ngày kể từ ngày
thụ lý, Chánh án
Tòa án chỉ định
một Hội đồng xét
đơn. Trong thời
hạn 30 ngày kể từ
ngày được chỉ
định, Hội đồng
xét đơn mở phiên

Tòa án thành lập
một hội đồng để
xét đơn. Trong
vòng 2 tháng kể
từ ngày nhận đơn
yêu cầu, tòa án sẽ
ra quyết định hủy
phán quyết hoặc
từ chối xét đơn.
Nếu sau khi chấp


11 Kim & Chang, In brief: enforcing and challenging arbitral awards in South Korea:
/>

họp xét đơn. Hội
đồng dựa vào các
căn cứ trên để
xem xét, không
xét xử lại nội
dung tranh chấp.
Hội đồng quyết
định theo đa số.
Nếu bên yêu cầu
hủy rút đơn hoặc
vắng mặt tại
phiên họp khơng
có lý do chính
đáng hoặc rời
phiên họp mà
khơng được Hội
đồng chấp thuận
thì Hội đồng đình
chỉ việc xét đơn.

nhận đơn u cầu,
tịa án thấy rằng
vụ tranh chấp có
thể được giải
quyết lại bằng
trọng tài bởi hội

đồng trọng tài, tịa
án sẽ thơng báo
cho hội đồng
trọng tài để tố
tụng trọng tài lại
và đình chỉ việc
xét đơn. Nếu hội
đồng trọng tài từ
chối tố tụng trọng
tại lại, tòa án sẽ
tiếp tục xét đơn.

Nếu một bên yêu
cầu và phù hợp,
Hội đồng xét đơn
tạm đình chỉ việc
xem xét đơn trong
vòng 60 ngày để
tạo điều kiện cho
Hội đồng trọng tài
khắc phục sai sót
nhằm loại bỏ căn
cứ hủy phán
quyết (Điều 71
Luật TTTM)
Kháng cáo

Quyết định của
tịa án là cuối
cùng,

khơng
được kháng cáo
(Điều 71 Luật
TTTM)

Không
được
kháng cáo (Điều
154 Luật Tố
tụng Dân sự)12

Được kháng
cáo từ tòa án
quận lên tòa
án cấp cao, từ
tòa án cấp cao
lên Tòa án Tối
cao13

Được giám đốc
thẩm bởi Court
of Cassation14

III. Thực tiễn hủy phán quyết trọng tài
12 Hui Zhong Law Firm, In brief: enforcing and challenging arbitral awards in China:
/>%20Procedure%20Law%20stipulates,be%20appealed%20(article%20154).&text=The%20level%2Dby%2Dlevel
%20report,additional%20costs%20to%20the%20parties.
13 Gerhard Wegen and Stephan Wilske, Getting the deal through: Arbitration 2015, trang 276.
14 />


1. Việt Nam
-

Từ năm 2003 – 2011, có 26 yêu cầu hủy phán quyết, trong đó có 9 phán quyết bị hủy chiếm 34%
tổng số yêu cầu hủy. Từ năm 2011 – 2014, có 20 yêu cầu hủy phán quyết, trong đó có 10 phán
quyết bị hủy chiếm 50% tổng số yêu cầu hủy.15 Riêng năm 2019, có 274 vụ việc được đưa ra giải
quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong đó có 17 đơn yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài, 5 phán quyết trong đó đã bị hủy, chiếm 29% tổng số đơn yêu cầu. 16 Năm 2020
(tính đến tháng 11), có 18 u cầu hủy phán quyết, trong đó có 4 phán quyết bị hủy chiếm 22 %
tổng số yêu cầu.17

-

Các căn cứ thường được viện dẫn đã được nghiên cứu chi tiết trong bài viết của PGS. TS Đỗ Văn
Đại, phó chủ tịch Hội đồng nghiên cứu khoa học của VIAC.

-

Thông thường, sau khi đơn yêu cầu hủy được thụ lý, các trung tâm trọng tài không nhận được
thông báo liên quan từ tòa án.18 Các thẩm phán giải quyết yêu cầu hủy phán quyết thường không
tiếp xúc nhiều với thực tiễn trọng tài và nội dung lĩnh vực tranh chấp nên có quan điểm khác nhau
trong đường lối giải quyết yêu cầu. Thực tế cho thấy một số thẩm phán có năng lực hạn chế, chưa
hiểu đúng bản chất trọng tài, mang tư duy của pháp luật tố tụng dân sự để xem xét yêu cầu, không
sẵn sàng tạo điều kiện cho trọng tài sửa chữa, khắc phục sai sót. 19 Đến năm 2020, mới chỉ có duy
nhất hai trường hợp tòa án tạo điều kiện cho trọng tài khắc phục sai sót.20

2. Trung Quốc
-

Trong năm 2016, các tổ chức trọng tài tại Trung Quốc đã tiếp nhận 208,545 vụ, trong đó tịa án

Trung Quốc đã ra quyết định hủy phán quyết trọng tài 232 vụ, chiếm 0.11% tổng số vụ tranh
chấp, giảm 0.04% (209 vụ) so với năm 2015.21

-

Trước năm 2017, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã ban hành Quy định về Hệ thống Báo
cáo Trước (Provisions on the Prior Reporting System 2017) quy định về nghĩa vụ của các tòa án
cấp dưới báo cáo và xin sự cho phép của tòa cấp cao hơn trước khi ra quyết định hủy hoặc từ chối
công nhận và thi hành PQTT, áp dụng đối với phán quyết nước ngoài và có yếu tố nước ngồi.
Nếu Tịa án Cấp trung có ý định hủy phán quyết, Tịa án Cấp trung phải báo cáo lên Tòa án Cấp
cao. Nếu Tòa án Cấp cao đồng tình với ý kiến của Tịa án Cấp trung, Tòa án Cấp cao phải báo cáo
lên Tòa án Tối cao.

15 />16 Nguyen Ngoc Minh, Nguyen Thi Thu Trang and Nguyen Thi Mai Anh, Vietnam:
/>17 Chánh án Tòa Kinh tế Thành phố HCM cung cấp.
18 Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài thương mại – phán quyết trọng tài thương mại (kỳ 4):
/>19 Bùi Xuân Hải, Luận bàn về các nguyên nhân của tình trạng hủy phán quyết trọng tài ở Việt Nam hiện nay:
/>20 Đỗ Văn Đại, Hủy phán quyết trọng tài: thực trạng và hướng áp dụng thống nhất, trang 53-54: Quyết định số
1222/2014/QĐ-PQTT ngày 14/10/2014 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Quyết định số 971/2017/QĐ-PQTT ngày
02/8/2017 của Tịa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh.
21 CIETAC, Annual Report on International Commercial Arbitration in China in 2016, trang 38-39, 151-152. Chánh án
Tòa Kinh tế thành phố HCM cung cấp


Năm 2017, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã cải cách Quy định về Hệ thống Báo cáo
Trước áp dụng cho mọi phán quyết trọng tài, bất kể trong nước hay nước ngoài. Cải cách này
được cho là sẽ tạo ra sự thống nhất trong việc rà soát tư pháp, nhưng đồng thời cũng tiêu tốn
nhiều thời gian hơn trong quá trình hủy phán quyết. Theo thống kê của Yves Hu và Clarisse von
Wunscheim qua việc phân tích 220 quyết định được cơng khai của tịa án từ năm 2000 đến 2015,
khoảng thời gian từ lúc thụ lý đơn yêu cầu hủy phán quyết cho đến khi có phản hồi cuối cùng của

Tòa án Tối cao về việc hủy phán quyết trọng tài trung bình rơi vào khoảng 597 ngày, khoảng thời
gian ngắn nhất và dài nhất lần lượt là 165 ngày và 1,791 ngày. Đây mới chỉ là những con số thống
kê cho quá trình hủy PQTT có yếu tố nước ngồi. Năm 2016, số phán quyết trọng tài trong nước
lớn hơn gấp 65 lần số phán quyết trọng tài nước ngồi và có yếu tố nước ngoài (tỷ lệ
205,404:3,141).
Để đối mặt với khả năng tăng số vụ việc là đối tượng của Hệ thống Báo cáo trước, Tòa án Nhân
dân Tối cao đã quyết định rằng Tịa án Cấp cao ở mỗi tỉnh sẽ có quyết định cuối cùng cho việc
hủy phán quyết trọng tài trừ 2 trường hợp sau: (1) nếu các bên tranh chấp ở các tỉnh khác nhau; và
(2) nếu tòa án cấp dưới có ý định hủy phán quyết trọng tài trong nước dựa trên căn cứ vi phạm lợi
ích cơng.22
IV. Đề xuất một số giải pháp giảm tình trạng hủy phán quyết trọng tài
1. Học hỏi kinh nghiệm nước ngoài về hệ thống báo cáo lên Tòa án Tối cao, thành lập bộ phân

chuyên trách theo dõi và xử lý loại việc này
Tương tự như Hệ thống Báo cáo Trước của Trung Quốc, để hạn chế sự tùy tiện và không thống
nhất khi thụ lý giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, tòa án cấp tỉnh nên được yêu cầu
báo cáo, tham vấn ý kiến chuyên môn của TATC. Nếu TATC có cùng quan điểm với Tịa án địa
phương thì tịa án cấp tỉnh mới nên ra quyết định hủy PQTT. Trong trường hợp quan điểm của tòa
án địa phương không phù hợp với những hướng dẫn chuyên mơn, nghiệp vụ của Tịa án tối cao,
thì Tịa án địa phương phải xem xét lại vụ việc và nếu cần thiết thì nên phân cơng cho thẩm phán
khác thụ lý giải quyết. Ngoài ra, cần thành lập bộ phận chuyên trách trong Tòa Kinh tế tối cao để
phối hợp với Vụ pháp chế & quản lý khoa học cũng như Vụ hợp tác quốc tế theo dõi chặt chẽ kết
quản giải quyết các vụ việc liên quan đến trọng tài và hòa giải. 23 Việc thành lập bộ phận chuyên
trách theo dõi loại việc này là cần thiết vì nó liên quan đến việc áp dụng các điều ước quốc tế mà
Việt nam đã ký kết như Công ước New York 1958 về việc công nhận và thi hành phán quyết trọng
tài nước ngồi hay Cơng ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) và đáp ứng
nghĩa vụ thành viên chính thức của Việt nam tại UNCITRAL. Nó tạo tiền đề quan trọng cho sự
hình thành một đội ngũ thẩm phán nòng cốt am hiểu pháp luật quốc tế hỗ trợ cho quá trình hội
nhập về tư pháp quốc tế của ngành tòa án, trong tương lai có thể hình thành nên cơ cấu tịa án
thương mại quốc tế chuyên trách giải quyết tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế của Việt nam

tương tự như Trung quốc đã thành lập nên Tòa án thương mại quốc tế Trung quốc (gọi tắt là
CICC) từ 201824 và Tòa án thương mại quốc tế Singapore (SICC) ngay từ 2015 25. TATC nên
22 Reforms on the “Prior Reporting System” – A Praiseworthy Effort by the PRC Supreme People’s Court, or Not?
China: Changes in Judicial Review of Arbitral Awards: />23 Vũ Thị Hồng Vân, Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về hủy phán quyết trọng tài thương mại và
một số giải pháp khắc phục: />24 />25 />

hướng dẫn các tịa án địa phương chỉ phân cơng cho các thẩm phán thuộc tịa kinh tế vốn có nhiều
kinh nghiệm giải quyết án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài hơn thụ lý giải quyết loại
việc này. Cân nhắc phân công nhiệm vụ hướng dẫn chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm giải quyết
loại việc này cho một số tòa án thành phố lớn thường xuyên được yêu cầu như TAND thành phố
Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh.26 Sửa đổi lại biểu mẫu thống kê của TATC về kết quả
hủy phán quyết để dễ dàng nắm bắt chính xác hiện trạng loại án này. Yêu cầu tòa án cấp dưới báo
cáo kịp thời và tham vấn TATC để có hướng dẫn chun mơn cho thẩm phán xét xử.
2. Nâng cao, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về trọng tài cho các thẩm phán chuyên và tăng cường

sự hợp tác giữa tòa án và các trung tâm trọng tài.
Cần tăng cường bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về trọng tài cho các thẩm phán chuyên giải
quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Ngoài việc bản thân mỗi thẩm phán tự trau dồi kiến thức,
các trung tâm trọng tài và tịa án có thể phối hợp tổ chức các buổi tập huấn kiến thức, chia sẻ kinh
nghiệm về trọng tài cho thẩm phán và trọng tài viên. Khi có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, tịa
án nên thơng báo ngay cho trung tâm trọng tài được biết và tạo điều kiện cho các tổ chức trọng tài
hoặc hội đồng trọng tài có liên quan có các văn bản giải trình, phân tích, trình bày quan điểm về
vụ việc để thẩm phán cân nhắc kỹ lưỡng hướng giải quyết cho phù hợp với thực tiễn tố tụng trọng
tài. Cân nhắc khả năng mời đại diện tổ chức trọng tài tham dự phiên xét xử để có cơ hội trình bày
về những vấn đề chun mơn như việc giải thích và áp dụng các quy tắc tố tụng trọng tài rõ hơn
trước khi có quyết định.27 Đưa việc giảng dạy môn học Trọng tài thương mại, Hịa giải như là
mơn học bắt buộc trong chương trình đào tạo của Học viện Tòa án theo sát nội dung cuốn Sổ tay
pháp luật về Trọng tài và Hòa giải cũng như Kỷ yếu hướng dẫn việc áp dụng cơng ước New York
1958 do Tịa án tối cao biên soạn.
3. Khuyến khích tịa án tạo điều kiện cho hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài.


Điều 71.1 Luật TTTM cho phép tịa án tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu hủy PQTT không quá
60 ngày để tạo điều kiện cho hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng trọng tài theo quan điểm
của hội đồng trọng tài nhằm loại bỏ các căn cứ hủy bỏ PQTT, nhưng trên thực tế, tòa án hiếm khi
làm điều này (mới có 2 trường hợp). Đây là một cơ chế hữu hiệu để loại trừ khả năng PQTT bị
hủy và đã được vận hành tốt ở nhiều nước, ví dụ như Anh. Để làm được điều này, đòi hỏi mối
quan hệ mật thiết, tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa tòa án và trung tâm trọng tài như đã nói trên. 28
Vì vậy, TATC cần hướng dẫn và khuyến khích các tịa án địa phương áp dụng Điều 71.7. TATC có
thể tổ chức các hội nghị tổng kết, sơ kết công tác ngành, nghiên cứu các kỹ năng xét đơn yêu cầu
hủy PQTT, làm rõ trường hợp nào nên hủy và trường hợp nào nên tạo điều kiện cho hội đồng
trọng tài khắc phục sai sót để hướng dẫn các tòa án địa phương áp dụng thống nhất.29
4. Cho phép cơ chế giám đốc thẩm quyết định của tòa án về hủy phán quyết trọng tài

Do hậu quả nghiêm trọng của việc hủy PQTT cũng như từ chối công nhận và thi hành phán quyết
trọng tài nước ngoài nên nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, vv. cho phép các bên có thể
26 Báo cáo đánh giá, so sánh quy định pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài với Luật
mẫu UNCITRAL, đề xuất khả năng áp dụng Luật mẫu tại Việt Nam, trang 58.
27 Bùi Xuân Hải, Luận bàn về các nguyên nhân của tình trạng hủy phán quyết trọng tài ở Việt Nam hiện nay:
/>28 Đỗ Văn Đại, Hủy phán quyết trọng tài: thực trạng và hướng áp dụng thống nhất, trang 53-55.
29 Vũ Thị Hồng Vân, Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về hủy phán quyết trọng tài thương mại và
một số giải pháp khắc phục: />

kháng cáo quyết định của tòa về hủy PQTT lên tòa án cấp cao hơn, hay Pháp cho phép giám đốc
thẩm quyết định này của tòa. Việc này bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên và cũng tránh
được tình trạng hủy phán quyết trọng tài tùy tiện. Vì vậy, cần nghiên cứu chỉnh sửa pháp luật theo
hướng cho phép quyết định của tòa án được giám đốc thẩm.30
5. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật trọng tài Việt Nam

Luật mẫu UNCITRAL 2006 và Công ước New York 1958 là những văn bản pháp lý quan trọng,
tiến bộ được soạn thỏa bởi chuyên gia hàng đầu thế giới. Việc hoàn thiện pháp luật theo tinh thần

của những văn bản này sẽ giúp pháp luật Việt Nam hài hòa hơn với tiêu chuẩn quốc tế, giúp cho
tịa án dễ dàng áp dụng và giải thích pháp luật dựa trên những hướng dẫn của hai văn bản này.
Sửa đổi các căn cứ hủy và từ chối công nhận và thi hành phán PQTT gần gũi hơn với hai văn bản.
Đặc biệt cần sửa đổi căn cứ “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam” thành trái với chính sách cơng hay trật tự cơng. Thống nhất tịa án khơng giải quyết lại
nội dung vụ việc.31 Sớm thông qua dự thảo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân
Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thủ tục công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngồi tại Tịa án cấp sơ thẩm.

30 Như trên.
31 Bùi Xuân Hải, Luận bàn về các nguyên nhân của tình trạng hủy phán quyết trọng tài ở Việt Nam hiện nay:
/>


×