^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
History E-Books: HD220906085
Compiled & Published by Rosea
Đường Hồ Chí Minh huyền thoại
Đường Trường Sơn, chỉ cái tên thôi là đủ gợi nhớ đến sự ác liệt của 1 tuyến đường
đà từng là dòng máu huyết mạch chi viện cho chiến trường Miền Nam, là cái gai không
bao giờ có thể nhổ được của Đế quốc Mĩ Ngụy, là bản anh hùng ca bất khuất của
những chàng trai, những cô gái tuổi đôi mươi nhưng đà trở nên bất tử. Thật là khó có thể
ngợi ca hết được sự kì diệu cũng như đóng góp to lớn của con đường mang tên Hồ Chủ
Tịch trong cuộc kháng chiến chống Mĩ vĩ đại.
Đường Trường Sơn huyền thoại năm nào còn được biết đến với tên gọi đường Hồ
Chí Minh. Không thể hình dung được bằng nghị lực và ý chí nào mà dưới mưa bom bÃo
đạn của kẻ thù , con đường mòn chạy xuyên qua những khu rừng rậm nhiệt đới của cả 3
nước Đông Dương lại có thể hoàn thành nhanh đến vậy và luôn đảm bảo thông suốt trong
mọi tình huống, đế quốc Mĩ đà bỏ biết bao công sức để nghiên cứu cách xóa xổ tuyến
đường này nhưng vo vọng. Từng đoàn xe chở hàng ra tiền tuyến vẫn ngày đêm thách thức
kẻ thù.
Hàng vạn người con đà hi sinh hoặc mang phÕ tÝch cđa chiÕn tranh, hä – nh÷ng
con ngêi đà làm lên lịch sử, được cả dân tộc ta, cả thế giới ngưỡng mộ. Hi sinh cả thời
trai trẻ để làm lên kì tích có 1 không hai cho lịch sử của dân tộc. Không gì có thể sánh nổi
với những hi sinh mất mát của họ, nghĩa trang Trường Sơn nơi yên nghỉ của hàng chục
vạn chiến sĩ công binh, thanh niên xung phong, du kích... giờ đà xanh cỏ, những con
người của lịch sử giờ vẫn còn được mọi người nhắc tới như những biểu tượng của lòng
dũng cảm và sức mạnh của tuổi trẻ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Chứng kiến những kì tích như đường mòn Hồ Chí Minh, tôi có thể hiểu được vì
sao dân tộc ta lại có thể đánh thắng đế quốc Mĩ, và càng tự hào hơn khi thế hệ trẻ thời đó
lại có thể lập lên những chiến công hiển hách đến vậy. Cuốn sách này chỉ là tập hợp
những bài viết về họ, về con đường huyền thoại mà tôi thu thập được, hi vọng một phần
nào đó giúp cho thế hệ trẻ ngày nay có một niềm tự hào về quá khứ hào hùng của dân téc,
vỊ sù bÊt diƯt cđa con ®êng Hå ChÝ Minh.
Rosea
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Index:
ng Trng Sn-Con ng huyền thoại-Những bước chân kỳ diệu ...... 3
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG QUỐC TẾ TẠI VÙNG PHI QUÂN
SỰ ............................................................................................................... 4
KẾ HOẠCH HÀNG RÀO ÐIỆN TỬ MCNAMARA .................................. 5
§ường mịn HCM ........................................................................................ 5
VII. NỖ LỰC CẮT ĐỨT ĐƯỜNG MÒN HCM.......................................... 8
Những kỉ lục của Đoàn 559: .......................................................................13
Câu chuyện Trường Sơn : " chuyện O Tha" ................................................16
Đây đường mòn HCM vẫn vào được mà...!!!..............................................17
Một thuở Trường Sơn .................................................................................18
Anh lái xe Trường Sơn................................................................................22
Khẩu pháo 100 li “độc thân” giữa rừng Trường Sơn ...................................24
Người cán bộ cơng binh Trường Sơn ..........................................................27
Trí Thức cả nước mĩ hướng vào một con đường .........................................31
Những bông hoa Trường Sơn Trường Sơn xẻ dọc, rọc ngang .....................36
Tình đồng đội..............................................................................................38
Có một ngã ba Đồng Lộc như thế ...............................................................41
Đơi bạn trên tàu ..........................................................................................45
Dưới đáy ba lô người chiến sĩ .....................................................................48
Nhật kí chiến đấu binh trạm 34 năm 1970...................................................49
Dặm đường Trường Sơn .............................................................................50
Khẩu đội trưởng của tôi ..............................................................................55
Trong hang đá Trường Sơn .........................................................................58
Đại đội trưởng… giả ...................................................................................60
Đêm Trường Sơn chúng con nhớ Bác!........................................................63
Đường Hồ Chí Minh trên đất Quảng Bình ..................................................66
Nhớ mãi một người anh ..............................................................................71
Từ đường Trường Sơn chúng tôi đi vào chiến dịch Hồ Chí Minh ...............74
Đường tới cửa rừng.....................................................................................89
Vượt Cổng trời một ngàn lẻ một .................................................................94
Dọc rừng mưa nhiệt đới ..............................................................................97
Đường vào “Ông Cụ”, “Hải Yến” .............................................................103
Y tá bất đắc dĩ...........................................................................................112
Gian nan cuối đường.................................................................................114
“Hạ cánh” nơi vùng rốn tử thần sốt rét ......................................................118
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
ng Trng Sn-Con ng huyền thoại-Những bước chân
kỳ diệu
Em đọc thấy các bác viết về rất nhiều sự kiên lịch sử nhưng chẳng bác nào nhắc đến Trường
Sơn cả.nơi đây đã ghi dấu chân của không biết bao nhiêu chàng trai,cô gái đã hiến dâng hết cả
tuổi thanh xuân của mình trong sự nghiệp giải phóng miền nam thống nhất đất nuớc.những địa
danh mà ai cũng biết như:Đồng Lộc,Xuân Sơn,Hồng Lam,Phong Nha......đã gắn liền với tuổi
thanh xuân của những thanh niên xung phong đầy nhiệt huyết
Ai đã 1 lần có mặt ở đường Trường Sơn hẳn sẽ hiểu rõ sự hy sinh,mất mát và sức chịu đựng vô
bờ bến của 1 dân tộc ra trận đã trả giá như thế nào cho ngày chiến thắng
Đường Trường Sơn được Chủ tịch Hồ Chí Minh khai sinh vào ngày 19/5/1959. Lúc đầu là tuyến
vận tải chiến lược, sau này mang tên Đường mịn Hồ Chí Minh.
Đường mịn Hồ Chí Minh khởi đầu từ huyện Tân Kỳ (Nghệ An) vắt qua dãy núi Trường Sơn,
chạy suốt đến Chơn Thành, dài khoảng 16.000 km, gồm 5 hệ thống đường trục dọc, 21 đường
trục ngang, một tuyến đường cho xe chạy ban ngày dài 3.100 km, một hệ thống sông dài 500
km, một hệ thống đường ống dài 3.000 km từ miền Bắc vào tận Lộc Ninh.
Đường mòn Hồ Chí Minh, cứ 200 m có một dốc cao, 15 m có một đèo cao, 200 m có dịng suối
nhỏ, 2.000 m có dịng suối lớn, 20 km có một dịng sơng nhỏ.
Đường mịn Hồ Chí Minh ra đời nhằm đáp ứng kịp thời và có hiệu quả cho sự phát triển như vũ
bão của Cách mạng Miền Nam vào những năm 1960 và trong Chiến dịch tổng tiến công mùa
Xn 1975. Chính vì tầm quan trọng ấy mà Lầu Năm góc đã tung vào đây gần 100 chuyên viên
quân sực cao cấp, ngày đêm nghiên cứu tìm cách đánh phá, hủy diệt con đường.
Lực lượng ban đầu gồm 1 tiểu đoàn giao liên D301 với 440 người dược thành lập tháng 6-1959
và 1 tiểu đoàn vận tải đường biển thành lập tháng 9 năm đấy
Cuối năm 60 Trung đoàn 70 và 71 được thành lập,có nhiệm vụ vừa vận chuyển vừa mở đường
hành quân
Với quyết tâm "Thông đường, thông xe trong mọi tình huống", bộ đội Trường Sơn đã tổ chức
đánh 105.000 trận, bắn rơi 2.450 máy bay Mỹ các loại,bắt sống nhiều giặc lái,tiêu diệt hàng ngàn
lính nguỵ đổ bộ bằng đường không.rà phá trên 12.000 quả bom từ trường, 82.000 quả mìn các
loại. Bắc 88 cây cầu với tổng chiều dài 3.420m, đào đắp 7.500.000 m3 đất để san lấp hố bom và
đường sạt lở...
mức độ đánh phá ác liệt của địchlà khó mà tưởng tượng nổi và ngày 1 tăng theo đà thất bại của
cuộc chiến tranh trên bộ của chúng
Ðoàn quân đầu tiên gồm 440 thanh niên trai trẻ kể từ ngày đầu tiên 19/5/1959 đến ngày giải
phóng 30/4/1975, đồn qn đó đã lên tới hàng chục vạn người. Cũng vẫn là các chàng trai, cơ
gái tình nguyện đi theo tiéng gọi thiêng liêng của đất nước - đi giải phóng miền Nam, giành thống
nhất Tổ quốc. Gần 20 ngàn người trong số họ đã vĩnh viễn nằm lại trên con đường này. Cả vạn
con người cịn mang theo những thương tích trên mình trong cuộc sống hôm nay.
Trong các trận chiến Hè-Thu 1966 và trận chiến Mùa Hè 1967 giữa liên quân VNCH-Mỹ và hai
sư đồn chủ lực Bắc Viễt )tại phía Nam sơng Bến Hải, từ khu Phi Quân Sự đến quận Gio Linh
tỉnh Quảng Trị, nỗ lực chính của liên quân VNCh-My tại chiến trường này gồm có các đơn vị
thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh (VNCH), một số tiểu đoàn Nhảy Dù VNCH, và lực lượng Thủy Quân
Lục Chiến thuộc Lực Lượng 3 Thủy Bộ Hoa Kỳ. Cao điểm của các trận chiến tại khu giới-tuyến
trong hai năm 1966 và 1967 là trận hỏa tập dữ dội bằng súng cối và phi đạn vào tuyến phòng thủ
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------ca liờn quõn Vit-M trong đêm 20 tháng 3/1967, mở màn cho cuộc tổng tấn cơng của các trung
đồn chủ lực Bắc Việt vuợt vĩ tuyến 17 xâm nhập vào khu Phi Quân Sự.
Trước khi Bắc Việt mở các trận tấn công quy mô, ngay từ giữa năm 1966, , Ðại Tướng
Westmoreland đã có ý nghĩ muốn sử dụng lực lượng quốc tế đang tham chiến tại Việt Nam để
chận ngang khu Phi Quân Sự, ngồi ra ơng cũng đã thiết kế một hệ thống căn cứ án ngữ do liên
quân VNCH-Mỹ đảm trách để ngăn chận sự xâm nhập của BV. Sau đây bài lược trình về các kế
hoạch nói trên của Ðại Tướng Westmoreland.
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG LỰC LƯỢNG QUỐC TẾ TẠI VÙNG PHI QUÂN SỰ
Trước diễn biến xảy ra tại khu giới-tuyến, Ðại Tướng Westmoreland lập ngay kế hoạch KANZUS,
tên kế hoạch ghép từ chữ cái đầu tên của các nước viết bằng tiếng Anh (K= Korea (Đại Hàn, A:
Australia (Úc), NZ= New Zealand (Tân Tây Lan), US: United States (Hoa Kỳ). Tại Saigon, đại sứ
các nước đều đồng thanh ưng thuận, nhưng Hoa Thịnh Đốn (Washington, D.C., thủ đô Hoa Kỳ)
không đồng ý. Sau này khi được cử giữ chức tham mưu trưởng Lục Quân (từ giữa năm 1968),
Ðại Tướng Westmoreland vẫn hối thúc chính phủ Hoa Kỳ thực hiện kế hoạch này, vì theo nhận
định của Ðại Tướng Westmoreland thì chỉ có lực lượng này mới đánh mạnh vào yếu tố tâm lý
của thế giới, ngăn chận hữu hiệu sự xâm nhập của quân Bắc Việt .
HỆ THỐNG CĂN CỨ ÁN NGỮ DỌC PHÍA NAM VĨ TUYẾN 17
Tỉnh Quảng Trị về phía Tây có núi cao chót vót, phía Đông là biển và triền cát, con sông Hiếu
Giang phát nguyên từ phía Tây thị xã Cam Lộ cắt ngang 1/3 diện tích cực Bắc của tỉnh và chạy
xuyên qua thị xã Đông Hà ra đến Cửa Việt. Đông Hà cách Quảng Trị khoảng 10 km đường chim
bay (đường bộ: 14 km), cách cầu Hiền Lương bắc ngang sông Bến Hải khoảng 15 km đường
chim bay (đường bộ: khoảng 20 km). Từ Đơng Hà có con đường chạy lên biên giới Việt-Lào ở
phía Tây, đó là Quốc Lộ 9. Khi đến gần biên giới, có một con đường rẽ bằng đất đá, chiều ngang
hẹp, chạy ngoằn ngoèo ngang qua trại Lực lượng Đặc biệt Làng Vei đến khu vực người Thượng
ở gần căn cứ Khe Sanh.
Theo tướng Westmoreland, chỉ có một phương cách hữu hiệu nhất để ngăn chận sự xâm nhập
của quân Bắc Việt vào miền Nam qua khu Phi Quân Sự là lập một hàng rào chắn từ cửa biển
đến biên giới Lào, nhưng như thế BV còn có thể dùng đất Lào để chuyển qn. Vì vậy cần phải
chận luôn từ biên giới một hàng rào mà tướng Westoreland đặt tên là "hệ thống căn cứ án ngữ"
chung quanh các căn cứ hỏa lực và căn cứ hỏa lực để dồn quân BV vào các hành lang dễ dàng
cho phi cơ và đại bác yểm trợ các đơn vị bộ chiến tấn công để diệt.
Các căn cứ này sẽ chiếm giữ một số cao điểm trong vùng duyên-hải Quảng Trị để quan sát và
điều khiển hỏa lực Pháo binh, nhưng đồng thời cũng để quan sát vị trí đặt súng của quân BV
nhắm vào các cơ sở, doanh trại liên quân như phi trường, bãi chứa hàng để tiếp tế cho những
đơn vị đóng quân dọc theo sơng chạy từ Cửa Việt đến phía Tây đi và tại Đông Hà. Bởi lẽ rằng
quân Bắc Việt xây các vị trí đặt súng lớn ngay ở phía Bắc khu Phi Qn Sự mới mưu tính đưa
đại bác vào đó để pháo kích vào các vị trí liên quân nằm về phía Nam.
Trong số các căn cứ đặt trong địa bàn tỉnh Quảng Trị, căn cứ lớn nhất và quan trọng nhất là Cồn
Tiên, cách khu Phi Quân Sự về phía Nam khoảng 3 km đường chim bay. Yểm trợ cho căn cứ
này là căn cứ hỏa lực Carroll (Tân Lâm) nằm trên Quốc Lộ 9, cách Cam Lộ khoảng 4 km đường
chim bay. Gần cuối năm 1966, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ còn xây thêm một căn cứ nữa lấy
tên là Rock Pile xa về hướng Tây, trên đỉnh một ngọn núi cao hơn 300 mét, án ngữ các đường
dọc theo thung lũng từ hướng Tây và Bắc xuống. Hai căn cứ tiền đồn Làng Vei và Khe Sanh án
ngữ mặt cực Tây là hai cứ điểm quan trọng của hệ thống căn cứ án ngữ.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Ngay t nm 1966 khi cho lệnh các đơn vị Hoa Kỳ xây dựng hệ thống án ngữ nói trên, Ðại
Tướng Westmoreland đã nghĩ rằng các đơn vị VNCH có thể đảm nhận một phần trong số các
căn cứ này, nên ông luôn luôn theo dõi không cho các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến mở rộng căn
cứ của họ đến mức các đơn vị VNCH không đủ phương tiện để đảm nhận.
KẾ HOẠCH HÀNG RÀO ÐIỆN TỬ MCNAMARA
Cơng việc đang tiến hành thì trong chuyến đi sang căn cứ Không Quân Clark tại Phi Luật Tân
vào trung tuần tháng 9/1966 để dự họp với đại diện của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ là Trung Tướng
Alfred D. Starbird, Ðại Tướng Westmoreland được thông báo là các khoa học gia đã chế tạo
được một dụng cụ điện tử có khả năng phát giác các cuộc chuyển quân của đối phương. Dụng
cụ này sẽ làm thành một hàng rào điện tử từ bờ biển chạy dọc theo phía Nam của khu Phi Quân
Sự băng qua Lào và xuyên qua đến biên giới Thái Lan. Khi được thông báo như vậy, Ðại Tướng
Westmoreland nhận định rằng đây là một ý kiến quá sang: dùng kỹ thuật tân tiến để thay thế cho
các đơn vị tác chiến trong nhiệm vụ phịng thủ thì cịn gì bằng.
Thế nhưng vị tướng 4 sao này cũng đặt nghi vấn về tính khả dụng tuyệt hảo của dụng cụ điện tử
này: Lý thuyết thì rất hay, nhưng Ðại Tướng Westmoreland có cảm tưởng là người ta đã nói quá
đáng, có thể cả McNamara (bộ trưởng Quốc phòng) cũng vậy, khi cho rằng dụng cụ điện tử này
có thể thay thế cho các cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam.
Tên chính thức của cơng tác này là dự án JASON, gồm có việc dùng dây kẽm gai, mìn, dụng cụ
phát giác điện tử và căn cứ quân sự. Theo Ðại Tướng Westmoreland thì dưới bất cứ nhà quân
sự nào cũng thấy rằng ý kiến này thật khơi hài vì khơng có một hàng rào điện tử hay là gì đó nếu
khơng có hỏa lực ngăn chận thì cũng vơ hiệu. Nếu khơng thì cứ với hàng rào điện tử này phải bố
trí cứ mỗi dậm đặt một tiểu đoàn để canh giữ. Trong khi chấp thuận ý kiến do Trung Tướng
Starbid chuyển đạt, Ðại Tướng Westmoreland đã báo cho Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara là
nên vừa đặt hàng rào điện tử vừa bố trí quân theo kế hoạch của vị tư lệnh này. Trong khi đó, các
khoa học gia thì nghĩ đến một hàng rào chắn chạy dài suốt một dãi, còn Ðại Tướng
Westmoreland thì muốn đặt các dụng cụ này giữa hai căn cứ để phát giác mọi di chuyển của
quân BV, bất kể nhỏ hay lớn.
Theo lời kể của Ðại Tướng Westmoreland, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara đồng ý đề nghị
của ông, nhưng trong cuộc họp báo tại Hoa Thịnh Đốn, ông McNamra lại buộc miệng nói ra hết
kế hoạch lớn lao. Vậy là các phóng viên loan tin về hàng rào điện tử McNamara, các bài báo này
nói về kế hoạch này đã chính thức thơng báo cho Hà Nội biết mọi chuyện. Do đó khi các đơn vị
Cơng Binh Hoa Kỳ cho xe ủi đất đến để khai quang, chở kẽm gai đến chuẩn bị rào thì đại bác
của qn BV đã bố trí sẵn. Trước sự việc đó, Ðại Tướng Westmoreland nghĩ rằng bây giờ nếu
muốn hoàn thành mọi việc xây dựng hàng rào án ngữ này, cho dù có thay đổi như đã dự trù đi
nữa thì tổn thất nhân mạng sẽ lên cao. Vì thế, Ðại Tướng Westmoreland đã phải âm thầm dẹp
bỏ kế hoạch này để "quân BV khỏi chê cười là chúng tôi đã bị buộc phải làm vậy."
đường mòn HCM
Trần Ðỗ Cẩm
Con đường chuyển vận người và vũ khí của Việt Cộng từ Bắc vào Nam xuyên qua vùng cán
chảo của vương quốc Lào đã có từ thời chiến tranh Đơng Dương. Lúc đó hệ thống giao liên này
đích thực là những "đường mòn" dùng cho người đi bộ xuyên qua vùng rừng rậm Hạ Lào. Sau
khi chiến tranh Việt-Pháp chấm dứt vào năm 1954 với hiệp định Geneve chia cắt Việt Nam thành
hai miền Nam-Bắc, hệ thống đường mòn này hầu như khơng cịn được xử dụng.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Cho ti nm 1959, Việt Cộng thành lập một Đoàn Tiếp Vận đặc biệt mang bí số 559 có nhiệm vụ
bảo vệ, mở mang, tu sửa và xếp đặt những cơ sở hậu cần dọc theo trục tiếp vận Bắc-Nam dọc
theo bán đảo Đông Dương, thường được các giới chức quân sự mệnh danh là "đường mịn Hồ
Chí Minh" này.
Đơn vị Việt Cộng phụ trách mang tên 559 vì được thành lập vào tháng 5 năm 1959. Nhưng dù đã
được đặt dưới quyền quản trị đặc biệt của Đoàn Tiếp Vận 559, trước năm 1967, hệ thống đường
xâm nhập Bắc-Nam tại Hạ Lào vẫn rất thơ sơ nên Việt Cộng cịn phải dùng dân cơng và xe đạp
thồ để chuyển vận vũ khí và tiếp liệu.
Mãi tới năm 1971, khi cường độ của cuộc chiến tranh Việt Nam gia tăng với những trận đánh quy
mô trận địa chiến dùng chiến xa và đại pháo, đường mịn Hồ Chí Minh mới được canh tân thành
những xa lộ lớn, xe hơi có thể di chuyển hai chiều. Con đường này bắt đầu từ đèo Mụ Già gần
thị trấn Vinh với hải cảng Bến Thủy (thuộc tỉnh Quảng Bình của Bắc Việt) xuyên qua lãnh thổ Lào
rồi đâm sâu về phía Nam song song với biên giới Lào-Việt.
Đường mịn Hồ Chí Minh giao tiếp với đường số 9 là trục lộ Đông-Tây nối liền thị trấn Đông Hà
thuộc miền Nam Việt Nam và tỉnh Savanakhet của Lào tại hai điểm quang trọng, đó là thị trấn
Tchépone và Mường Nông. Hai trung tâm chuyển tiếp mấu chốt dùng làm nơi dưỡng quân và có
nhiều kho quân lương, vũ khí này được Việt Cộng đặt cho bí danh 604 và 611 nằm đối diện với
hai tỉnh cực bắc Quảng Trị, Thừa Thiên của miền Nam Việt Nam. Đây là những địa điểm chính
của Cộng Quân dùng làm bàn đạp để đẩy mạnh những cuộc tấn công và xâm nhập lãnh thổ
Quân Khu I và II của Việt Nam Cộng Hịa (VNCH).
II. ĐƯỜNG MỊN SIHANOUK
Xa hơn về phía Nam, đường mịn Hồ Chí Minh kéo dài qua vùng Tam-Biên, nơi gặp gỡ của ba
biên giới giữa các quốc gia Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Khi vào tới lãnh thổ Cam Bốt hệ thống
đường xá này thường được gọi là "đường mịn Sihanouk," mang ngụ ý ơng Hồng xứ Chùa
Tháp là một tay sai cho CS Bắc Việt. Nói khác đi, đường mòn Sihanouk là phần cực Nam, nối dài
của đường mịn Hồ Chí Minh nằm trong lãnh thổ Cam Bốt.
III. HỆ THỐNG ĐƯỜNG XÁ
Thơng thường, khi nghe nói tới "đường mịn" mọi người đều mường tượng đến hình ảnh những
lối đi nhỏ cheo leo hoặc độc đạo xuyên qua những khu rừng núi hiểm trở. Nhưng thực sự đến
năm 1971, đường mịn Hồ Chí Minh là một hệ thống đường giao thông rộng lớn và phức tạp
gồm nhiều xa lộ chạy song song nhau và tỏa rộng như một màng lưới nhện khổng lồ.
Màng lưới này dài trên một ngàn cây số phủ dọc biên giới Việt Miên Lào theo hướng Bắc-Nam.
Có nhiều nơi, bề rộng theo hướng Đơng-Tây của chiếc lưới nhiều nhánh này lên tới 90 cây số
(56 miles), ăn sâu trong lãnh thổ Lào và Cam Bốt. Các giới chức quân sự Việt Nam Cộng Hòa và
Hoa Kỳ đã phỏng đoán nếu nối chung các nhánh này, tổng cộng chiều dài của hệ thống "đường
mòn xa lộ" có thể lên tới trên 10 ngàn cây số (6,214 miles).
Các cơ quan tình báo Việt Nam Cộng Hịa và Hoa Kỳ sau nhiều năm tung các toán thám sát vào
khu vực đường mòn chiến lược này cũng mới chỉ vẽ được bản đồ được chừng trên 5 ngàn cây
số (3,107 miles), nghĩa là khoảng phân nửa. Việc khám phá, kiểm soát cũng như cắt đứt hệ
thống lưới nhện này vơ cùng khó khăn, khơng những vì q rộng lớn mà cịn vì khi cắt đứt được
nhánh này, Việt Cộng lại xây cất nhiều nhánh phụ mới phức tạp nằm sâu hơn trong lãnh thổ Lào
hoặc Cam Bốt.
IV. TỔ CHỨC
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
-------------------------------------------------------------------------------------------------------- xõy ct, tu bổ đường mịn Hồ Chí Minh, Đồn Tiếp Vận 559 đã phải thường trực xử dụng
chừng 100,000 dân công Lào-Việt, chưa kể khoảng 50,000 quân lính để hộ tống những đoàn
quân xa di chuyển cũng như bảo vệ 7 căn cứ quan trọng dọc theo đường mịn. Ngồi những căn
cứ tiếp vận chính, cịn có khoảng 50 trạm giao liên phụ, gọi là binh trạm. Mỗi binh trạm là một
căn cứ yểm trợ gồm các cơ cấu chuyển vận, tiếp liệu, truyền tin, tu bổ đường xá, phòng thủ, y tế
v.v... riêng biệt.
Theo lời thuật lại của Thiếu Tá Lê Văn Thời (Tiểu Đồn Phó Tiểu Đồn 4 thuộc Trung Đoàn 2
của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, khi bị bắt làm tù binh tại vùng Căn Cứ Hỏa Lực Sophia tại Hạ Lào trong
cuộc hành quân Lam Sơn 719 vào tháng 3 năm 1971) thì chính ơng đã bị giải qua nhiều binh
trạm dọc theo đường mịn Hồ Chí Minh trên đường ra Bắc. Thiếu Tá Thời cho biết mỗi binh trạm
là một địa điểm dừng quân cách nhau khoảng một ngày đi bộ trong rừng có nhiệm vụ cung cấp
lương thực, nơi ăn, chốn ở và hướng dẫn đoàn người tới trạm kế tiếp.
V. DI CHUYỂN
Sau năm 1967, vì nhu cầu chuyển quân cũng như yểm trợ tiếp vận của Việt Cộng gia tăng tại
chiến trường miền Nam, đường mịn Hồ Chí Minh đã được cải tiến và mở rộng để xe hơi có thể
lưu thơng được. Từ đó, xe vận tải kiểu Molotova do Nga Sô viện trợ đã được dùng để thay thế
cho dân công và xe đạp thồ trong việc chuyên chở.
Cơ quan tình báo đồng minh cho biết mỗi ngày có hàng trăm xe vận tải di chuyển trên đường
mịn Hồ Chí Minh và cũng có hàng trăm trạm nghỉ cho xe cộ chỉ riêng trong lãnh thổ Lào. Những
xe này thường chạy vào ban đêm để tránh bị phi cơ phát hiện. Mỗi đêm, xe di chuyển được
chừng 50 cây số là khoảng cách trung bình giữa trạm nghỉ này và trạm khác.
Vì phải di chuyển ban đêm nhưng lại không dám để đèn để tránh bị phát hiện nên cần tài xế rất
quen thuộc với đường xá trong vùng. Do đó, mỗi trạm nghỉ đều có một tốn tài xế cơ hữu
thường trực chuyên lái xe từ trạm mình tới trạm kế tiếp để thuộc nằm lịng địa thế vì lái đi lái lại
có mỗi một đoạn đường chừng 50 cây số (31 miles).
VI. HỆ THỐNG DẪN NHIÊN LIỆU
Trước kia, nhiên liệu cần dùng được chứa trong những thùng phi 200 lít do xe vận tải chuyên
chở hoặc đôi khi được thả trôi theo những giòng nước vào mùa mưa. Qua năm 1968 vì nhu cầu
gia tăng gấp bội, Việt Cộng đã hồn tất một hệ thống dẫn dầu dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh
để tiếp tế nhiên liệu cho các xe cơ giới.
Ống dẫn dầu có đường kính 4 inch (khoảng 10 cm) bắt đầu từ đèo Mụ Già chạy dọc theo biên
giới Lào-Việt tới khu vực Mường Nông bên Lào, đối diện với thung lũng A Shau về phía Nam.
Như vậy, Việt Cộng không những đã giải quyết được vấn đề tiếp tế nhiên liệu cho các xe vận tải
di chuyển trên đường mịn Hồ Chí Minh, mà cịn có khả năng yểm trợ cho các chiến xa hoạt
đông sâu tại chiến trường miền Nam.
Tưởng cũng nên nhắc lại chiến xa kiểu PT-76 của Việt Cộng xuất hiện lần đầu tiên trên chiến
trường miền Nam vào đêm 8 tháng 2 năm 1968 trong trận đánh tại trại Lực Lượng Đặc Biệt Lang
Vei gần Khe Sanh sát biên giới Lào-Việt trên đường số 9.
Chiến xa PT-76 là loại xe lội nước hạng nhẹ nên có thể di chuyển khá dễ đàng trên đường xá lầy
lội bên Lào, sau đó, khơng cịn thấy tham chiến cho tới năm 1971 trong trận Hạ Lào. Vì vậy, giới
chức quân sự đồng minh cho rằng vì gặp khó khăn về việc tiếp tế nhiên liệu cũng như trở ngại về
địa thế khơng thích hợp nên chiến xa hạng trung như loại T-54 của Việt Cộng không phải là mối
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------e da ln trờn chiến trường miền Nam, nhất là tại vùng cao nguyên núi non trùng điệp và rừng
rậm hiểm trở.
Theo ước lượng của giới tình báo, trong khoảng thời gian 5 năm từ 1966 tới 1971, có chừng
600,000 quân CSBV, 100,000 tấn thực phẩm, 400,000 ngàn vũ khí đủ loại và 50,000 tấn đạn
dược đã được chuyên chở qua đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam. Mật độ xe cộ đi lại rất
rộn rịp trong mùa khô từ tháng 10 tới tháng 4.
Sáu tháng cịn lại trong năm, vì mưa lũ thường xuyên nên đường xá lầy lội rất khó đi. Các cuộc
tấn công của Việt Cộng trên chiến trường miền Nam thường được khởi sự vào mùa khô, khi việc
chuyên chở người và vật liệu trên đường mòn Hồ Chí Minh khơng gặp trở ngại vì thời tiết.
VII. NỖ LỰC CẮT ĐỨT ĐƯỜNG MÒN HCM
Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, tiếp vận thường là yếu tố sinh tử góp phần quyết định quan
trọng trong việc thành cơng hay thất bại. Các bậc danh tướng cổ kim luôn luôn đặt vấn đề tiếp
vận thành mối ưu tư hàng đầu trong mỗi cuộc hành quân.
Thời xưa, khi hình thái chiến tranh cịn đơn giản với những vũ khí thơ sơ, công tác tiếp vận
thường thu gọn vào việc tiếp tế lương thực cho quân lính. Dưới thời Tam Quốc bên Tầu, vạn đại
quân sư Khổng Minh Gia Cát Lượng của nhà Hán đã chế ra "trâu gỗ, ngựa gỗ" để giải quyết vấn
đề tải lương trong những lần "lục xuất Kỳ Sơn" ra đánh Tào Tháo tại Trung Nguyên. Ông cũng
lập kế dùng thuyền chở rơm rạ chèo tới gần thủy trại của quân Tào rồi cho quân khua chiêng
gióng trống khiến địch sợ hãi bắn tên loạn xạ nên nhàn nhã thu được 10 vạn mũi tên cắm vào
thuyền đem về nạp cho Đô Đốc Chu Du của Giang Nam làm vũ khí đại thắng quân Tào trong trận
Xích Bích. Tào Tháo gian hùng đã ra lệnh chém quan Chưởng Bạ Dương Tu khi lương thực bị
cạn cũng chỉ mong trấn an lòng quân sĩ.
Gần đây hơn, dưới thời nhà Trần trong Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã đại phá quân
Mông Cổ hùng mạnh khởi đầu bằng chiến thắng Vân Đồn khi tướng Trần Khánh Dư đốt hết
những thuyền chở lương của giặc. Kết qủa, 50 vạn quân do Nguyên đã bị thảm bại. Trong thế
chiến thứ hai, những đoàn chiến xa Panzer lừng danh bách chiến bách thắng dưới quyền con
cáo già sa mạc Rommeo đã bị quân Anh chận đứng tại Phi Châu vì thiếu nhiên liệu. Vào năm
1954, quân đi Pháp đã bị thất trận tại Điện Biên Phủ vì bị cắt đứt đường tiếp vận và tăng viện duy
nhất bằng đường hàng không.
Hai xe vận tải Molotova của Bắc Việt, được ngụy trang kỹ càng, đang di chuyển trên hệ thống
đường mịn Hồ Chí Minh (tài liệu: VIETNAM, Oct 1995)
Ngày nay, quân lực Hoa Kỳ được coi là hữu hiệu nhất thế giới không hẳn chỉ vì binh sĩ thiện
chiến mà cịn nhờ bộ máy tiếp vận khổng lồ hữu hiệu gần như vô giới hạn có thể tiếp tế bất cứ
phần đất nào trên thế giới trong khoảnh khắc dăm ba tiếng đồng hồ. Trong cuộc chiến tại Việt
Nam, theo thống kê, cứ mỗi quân nhân Hoa Kỳ trực tiếp cầm súng đánh giặc ngồi mặt trận, có ít
nhất 5 người khác đàng sau lo việc tiếp vận và yểm trợ. Vì vậy, chúng ta thấy những căn cứ
quân sự lớn của Hoa Kỳ trên thế giới khơng phải là những trại lính mà là những căn cứ yễm trợ
tiếp vận khổng lồ.
Vì tầm quan trọng có mức độ quyết định của vấn đề tiếp vận, nên binh thư thường nói "một
tướng lãnh chỉ biết về hành quân mà không biết về tiếp vận thì chưa phải là một vị tướng hồn
tồn." Hồng Đế Napoleon bách chiến của nước Pháp tóm tắt ngắn gọn và đơn giản hơn: "Đạo
quân nào cũng tiến bằng chiếc bụng." Ý ơng muốn nói qn lính có no bụng mới đánh trận được.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Trong thi bui vn minh hiện đại, chiếc bụng của một đạo quân không chỉ đơn giản chỉ cần
lương thực cho quân lính, mà cịn khơng thể thiếu nhiên liệu cho xe cộ, máy bay, tầu chiến và
bom đạn cho những loại vũ khí tối tân. Do đó, khi cường độ của cuộc chiến tại Việt Nam trở
thành ác liệt với các trận đánh chuyển từ hình thái du kích chiến qua trận địa chiến với qn số
đơi bên lên tới nhiều sư đồn, vấn đề tiếp vận đương nhiên trở thành một yếu tố sinh tử đối với
Cộng quân.
Để tiếp tế cho chiến trường miền Nam, Việt Cộng dùng hai ngả chính. Đó là đường mịn Hồ Chí
Minh và hải cảng Kompong Som còn được gọi là Sihanoukville của Cam Bốt. Nhưng tới năm
1971 khi chính phủ Lon Nol thân Hoa Kỳ thay thế ơng hồng Sihanouk, đường tiếp vận từ Cam
Bốt qua ngả Kompong Som bị cấm chỉ. Con đường duy nhất cịn lại là đường mịn Hồ Chí Minh.
Cả Việt Cộng lẫn phe đồng minh đều biết rằng bên nào kiểm soát được trục tiếp vận huyết mạch
này sẽ chiến thắng tại miền Nam.
Vì tầm mức chiến lược vơ cùng quan trọng này, ngay từ năm 1965, Quân Lực Việt Nam Cộng
Hịa đã có hai kế hoạch để cắt đứt đường mịn Hồ Chí Minh: một là đổ bộ lên miền Bắc ngay
vùng hải cảng Vinh nhằm phá vỡ ngay từ đầu mối, hai là đánh sang Lào để cắt đứt tại khúc giữa.
Nhưng những kế hoạch này đã không thực hiện được vì Qn Lực VNCH khơng đủ mạnh. Vả lại
Hoa Kỳ cũng không đồng ý nới rộng chiến tranh qua tồn cõi Đơng Dương vì e ngại Trung Cộng
và Nga Sơ sẽ nhân cơ hội nhẩy vào vịng chiến.
Do đó, trong lúc Cộng Quân ra sức bảo vệ đường mịn Hồ Chí Minh thì lực lượng đồng minh dồn
nỗ lực đánh phá. Các hoạt động quân sự của đồng minh nhằm cắt đứt trục tiếp vận quan trọng
này gồm: thả những tốn biệt kích xâm nhập nội địa Lào, dùng máy bay bắn phá, dùng lực lượng
sắc tộc thiểu số Hmong của Lào và trực tiếp đổ quân sang đánh phá.
1. HOẠT ĐỘNG CỦA NHỮNG TỐN BIỆT KÍCH
Những đơn vị chuyên xâm nhập vùng lãnh thổ do địch quân kiểm sốt này thường được gọi là
Lơi Hổ do Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ huấn luyện. Đây là những toán nhỏ chừng 4, 5 người
được phi cơ thả xuống khu vực đường mịn Hồ Chí Minh để thu thập tin tức tình báo về các hoạt
động và di chuyển của Cộng quân cũng như thi hành những công tác phá hoại.
Ban đầu, những tốn biệt kích được thả dù từ các phi cơ vận tải loại C-47, sau này được thả
bằng trực thăng loại H-34 hay UH-1B. Phi Đoàn 219 của Không Quân VNCH là đơn vị phụ trách
thả và bốc những tốn biệt kích bên Lào.
2. DÙNG MÁY BAY ĐÁNH PHÁ
Song song với các hoạt động biệt kích, khơng lực Hoa Kỳ cịn dùng phi cơ oanh tạc khu trục để
thường xuyên thả bom hay bắn phá để ngăn chận sự di chuyển trên đường mịn Hồ Chí Minh.
Mỗi khi thu thập được những tin tức tình báo chính xác từ các tốn biệt kích hay từ những máy
móc điện thám về di chuyển của những tốn qn, đoàn xe hay nơi tập trung quân của địch, phi
cơ Hoa Kỳ từ các căn cứ không quân bên Thái Lan như Phanat Nikhon hay Takhli v.v... lập tức
cất cánh oanh tạc. Ngoài ra, các phi cơ võ trang Hải Qn Hoa Kỳ từ hàng khơng mẫu hạm
ngồi biển Đơng cũng thường xuyên bay tuần tiễu dọc theo đường mòn dể sẵn sàng bắn phá
mỗi khi phát hiện mục tiêu.
Các dụng cụ điện tử thám báo tối tân trông giống như những chòm cây được thả từ máy bay dọc
theo đường mịn để thâu thập dữ kiện. Khi có xe hay người di chuyển qua, các máy "sensor" có
antenne này sẽ ghi nhận những địa chấn và tự động phát ra những tín hiệu đặc biệt. Trên khơng
phận Lào, lúc nào cũng có một phi cơ Hoa Kỳ bao vùng để ghi nhận và báo về trung tâm kiểm
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------thỏm bờn Thỏi Lan. Những tin tức này được đưa vào máy điện toán để phân tích và xác định
mục tiêu cho phi cơ oanh tạc.
Khơng qn Hoa Kỳ có loại phi cơ vận tải C-130 biến cải mang tên "Spectre" trang bị máy nhắm
hồng ngoại tuyến chun dị tìm và bắn phá các xe cộ di chuyển vào ban đêm. Trong một tài liệu
chính thức, cán binh Việt Cộng nhận xét về phi cơ Spectre này như sau: "Thằng này đánh đêm
tinh như ma..."
3. LỰC LƯỢNG SẮC-TỘC HMONG LÀO
Ngồi các tốn biệt kích hỗn hợp Việt-Mỹ, Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ còn tuyển mộ và huấn
luyện người của bộ lạc thiểu số Hmong để thường trực ngăn chận các hoạt động của Cộng quân
bên Lào. Lực lượng người Hmong này được đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Vang Pao, đặt
căn cứ tại Long Cheng.
Tướng Vang Pao có nhiều tiểu đồn hoạt động tại vùng Savannakhet gần khu vực Tchepone là
một diểm tiếp vận quan trọng của Cộng Quân. Lực lượng này do Hoa Kỳ trực tiếp điều động và
quản trị, không thuộc quân đội Hoàng Gia Lào trên nguyên tắc.
4. CUỘC HÀNH QUÂN LAM SƠN 719 ĐÁNH SANG LÀO
Vào tháng 2 năm 1971, khi lực lượng Cộng quân tập trung đông đảo tại Lào để dự định tấn công
vào Quân Khu I, Quân Lực VNCH đã mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 nhằm phá vỡ ý đồ của
địch quân bằng cắt đứt đường mịn Hồ Chí Minh là trục tiếp vận chính.
Lực lượng VNCH gồm có các đơn vị tinh nhuệ như Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Liên Đoàn 1 Biệt động Quân. Vì bị đánh trúng yếu điểm, Cộng
Quân phải tung ra 6 sư đồn để bảo vệ. Đơi bên quần thảo khoảng 45 ngày với những trận đánh
đẫm máu dữ dội tại Căn Cứ Biệt Động Quân Bắc, Căn Cứ Hỏa Lực 31, đồi Lolo, đồi Sophia v.v...
Kết quả, đôi bên đều bị thiệt hại nặng về nhân mạng, chừng 10,000 người về phía Quân Lực
VNCH và 20,000 người về phía Cộng Quân.
Nhưng điều quan trọng là tuy Quân Lực VNCH chiếm được mục tiêu Tchepone, phá hủy nhiều
cơ sở tiếp vận quan trọng tại khu hậu cần 604 và 611, nhưng vì khơng đủ qn số chiếm đóng
nên phải rút về, khơng hồn tồn cắt đứt được đường mịn Hồ Chí Minh. Vì vậy, chỉ tới mùa hè
năm sau, Cộng Quân đã tập trung được đủ tiếp vận và quân số để vượt biên giới tấn công Việt
Nam Cộng Hịa tại ba mặt trận: giới tuyến Đơng Hà tại Quân Khu I, vùng cao nguyên Kontum tại
Quân Khu II và thị trấn An Lộc thuộc tỉnh Bình Long tại Quân Khu III.
Sau khi hiệp định ngưng chiến Paris được ký kết vào năm 1972, chấm dứt chiến tranh Việt Nam
trên giấy tờ, quân đội Hoa Kỳ có cớ rút lui "trong danh dự." Quân Lực VNCH không còn được
yểm trợ đúng mức nên thiếu sức mạnh để đánh phá khu vực đường mịn Hồ Chí Minh. Cộng
Qn coi như được Hoa Kỳ bật đèn xanh, tự do chuyển người và vũ khí xâm lấn miền Nam.
Vào tháng 4 năm 1975, Cộng Quân đã dùng toàn lực, đưa hầu hết quân số của miền Bắc,
khoảng 20 sư đoàn chiến đấu, nhiều sư đoàn pháo binh và trung đoàn chiến xa nặng vào chiến
đấu tại miền Nam với đầy đủ lương thực, nhiên liệu và đạn dược.
Tất cả bộ máy quân sự khổng lồ này đã được di chuyển qua ngả đường mịn Hồ Chí Minh,
chẳng gặp sức chống đối hay trở ngại nào vì Qn Lực VNCH khơng cịn mạng để ngăn chặn.
Có thể nói miền Nam đã rơi vào tay Cộng Quân dễ dàng vì họ đã hoàn toàn làm chủ được con
đường tiếp vận huyết mạch Hồ Chí Minh.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Khu M-110 (nh cựng F4) được sơn chữ "vua chiến trường". Đặt nhiều ở Quảng Trị, tham gia
cản vận tải.
Thực ra, tác giả Trần Ðỗ Cẩm đã nói lên một vài điểm rất đúng và lịch sử tuyến đường. Điều
đúng nhất là 1970-1972: giai đoạn quyết định chiến tranh, ai giành được tây Trường Sơn đến
Tây Ninh thì thắng.
Nhưng tác giả khơng nói rõ mấu chốt giai đoạn này là đường 9-Nam Lào. Và tác giả khơng nói
đủ quy mơ tuyến đường, khơng phải hàng trăm nghìn mà hàng triệu binh sĩ qua đây.
Đường Trường Sơn lịch sử là niềm tự hào của thanh niên Việt Nam
"Trường Sơn ai chưa đến đó như chưa rõ mình"
Lịng dũng cảm ,trí tuệ,bản lĩnh chiến đấu được thể hiện rõ ràng cụ thể trên tuyến đường này
Có những câu chuyện tưởng chừng như huyền thoại về những trận đánh của bộ đội và thanh
niên xung phong với biệt kích Mỹ ,ngụỵ,chư hầu....với máy bay B52 ....
Trong thời kỳ chiến tranh có thể chia ra ba giai đoạn của đường Trường Sơn
-1 /đi khơng dấu,nấu khơng khói ,nói khơng tiếng-bí mật an tồn đi dén nơi về đến chốn.
-2/Đường ta rộng thênh thang ...mở đường ra làm nhiều nhánh nhiều hướng ,mặc cho bom rơi
đạn rú đường vẫn thông tải hàng ra tiền tuyến
-3/Thần tốc hành quân vượt Trường Sơn giải phóng miền Nam
Mình đã có vào Ngã ba đồng lộc, nhà bạn mình ở Huyện Can Lộc xã Quang Lộc.
Trong đó vẫn cịn tượng đài thanh niên xung phong và khu kỉ niệm 10 cô gái Đồng Lộc. Trong đó
có một bảng danh sách các thanh niên xung phong đã hy sinh ở con đường huyền thoại đó. Rất
nhiều trong số họ là thanh niên Hà Tĩnh.
Chiến tranh đã đi qua, nhưng đơi khi nhắc lại nó cũng làm con người thêm tự hào về đất nước và
tin tưởng vào ngày mai. Nên nhớ rằng ngày xưa giặc Mỹ thả bom ác liệt thế nào mà cũng kot thể
hạ gục chúng ta, khu vực quanh Ngã ba ĐỒng lộc vẫn cịn chi chít lỗ bom. Một thời hào hùng và
oanh liệt.
Cuộc chiến tranh được bắt đầu bằng thế mạnh tuyệt đối của chúng ta về con người. Chúng ta có
tướng qn thiện chiến, nguồn cung cấp vơ tận là chính nghĩa.
Do đó ngay từ đầu, Mỹ đã áp dụng một chiến lược sai lầm: thụ động. Họ khơng cịn chọn lựa nào
khác. Dù mạnh đến đâu, tuyến phịng thủ nam giới tuyến cũng bị cơng phá, chỉ còn vấn đề thời
gian. Chúng ta vừa đánh vừa thiện chiến hơn, sự thiện chiến làm chúng ta thông đường, lại càng
mạnh hơn.
Tất cả các cuộc chiến lớn từ thời Lê đều lấy Trường Sơn làm chiến trường chính. Trước đây,
thuỷ quân đánh bộ đi song song với bộ binh ven biển mỗi năm một lần tiến cơng. Gió nam thì
qn Bắc, gió bắc thì qn Nam. Ai làm chủ Quảng Trị sẽ ở thế chủ động. Làm chủ cả Trường
Sơn là thắng.
Những khẩu vua chiến trường là dẫn chứng lớn nhất của lý luận trên. Đây là pháo hạng nặng,
tầm xa, tự hành đáng ra rất ưu việt. các trận chiến pháo binh dù lớn hay nhỏ đều lấy chiến thuật
lực lượng phân tán-hoả lực tập trung là cơ bản. Hai bên cố đưa ta vào thế đó và đẩy địch trái với
trận địa ưu việt. Đến khi pháo khai hoả đánh lớn thì mọi sự đã rồi. Pháo ta kéo xe hay bộ, tầm
ngắn, đạn nhỏ. Đáng ra những khẩu pháo tự hành to đùng trên phải thắng. Nhưng quân địch xây
dựng những trận địa kiên cố-làm vô dụng động cơ tự hành. Ta thừa thời gian đo tính thật kỹ mục
tiêu. Đến khi khai hoả, máy bay, xe phản kích, phản pháo khơng thể trinh sát kịp lực lượng phân
tán.
Đến 1970-1971, ta đã đem được pháo nhỏ bắn thẳng vào đông Quảng Trị, dùng cối - ĐKZ kết
hợp chi viện pháo binh nghiền nát những căn cứ kiên cố tây Quảng Trị. Từ năm 1969 đến 1970,
Sư đoàn Quân Vinh Quang toàn thành tiễu phỉ Vàng Pao. Chiến dịch tiễu phỉ tiến hành kỹ lưỡng:
mất dân, Mỹ đành nuôi báo cô 800000 thằng nghiện. Đến đây kết thúc giai đoạn hai, những
thành công và thương vong trong đánh lớn 1972 là kinh nghiệm và thế trận cho 1975. Từ tháng
1-1973, ta củng cố phịng ngự trên khơng, mặt đất, bờ biển đảm bảo xe lớn chạy đến Tây
Nguyên, Campuchia.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------B bin, ỏng l thế mạnh tuyệt đối liên quân miền Nam. vì hải qn ta tầu bè rất bé, khơng máy
bay cường kích, hồi đó chưa có tên lửa diệt hạm. Thường trên biển là đất của địch, kể cả vịnh
Bắc Bộ của miền Bắc. Đến 70-71-72 thế mạnh tuyệt đối này bị ta cơng phá tan tành. Ta chiếm
hải cảng, trước đó nã pháo bét xác qn Mỹ, chính điạ hình bờ biển này ghi dấu những trận
đánh lớn bộ binh đầu tiên: pháo bắn thẳng 86mm tiền tuyến.
Hết 1972, vấn đề chỉ còn là thời gian: ta chở đủ hàng dự trữ cho trận đánh cuối. Thế ta là tây
Trường Sơn đến Tây Ninh, như mũi giáo chọc thẳng tim thế quân miền Nam. Đây - theo Huy
Phúc mới thật là lỹ do tướng Mỹ lo rút quân(1968-1972): thất bại đã nhìn thấy rõ ràng.
Như vậy, từ tháng 5-1959, bắt đầu lên Trường Sơn đến 1968 là thời kỳ tìm đường-đường mịn.
Từ 1968-1972 là thời kỳ cơng phá tuyến phịng thủ nam giới tuyến-kết hợp chi viện miền Nam.
Thời kỳ 1973 trở đi: xây dựng-vận tải hàng quy mơ lớn.
Nói về Trường Sơn, Huy Phúc đọc tài liệu Mỹ thấy từ 1972 không quân ta hoạt động cả ven giới
tuyến đến biên giới Thái Lan. Nhưng tài liệu ta thì khơng. Các bác có thể tìm kiếm bổ xung giúp
Huy Phúc về những trận không chiến này không??
Tuyến vận tải quân sự chiến lược - Đường Hồ Chí Minh có một vị trí chiến lược hết sức quan
trọng nên đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách để đánh phá, ngǎn chặn với đủ loại phương tiện, vũ khí
chiến tranh hiện đại. Cuộc chiến đấu giữa ngǎn chặn và chống ngǎn chặn trên đường Hồ Chí
Minh đã diễn ra vơ cùng quyết liệt.
Cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 1975 thành cơng có một phần đóng góp khơng nhỏ của
Đồn 559. Chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, quán triệt phương châm "Thần
tốc, tạo bạo", Bộ đội Trường Sơn đã nhanh chóng tổ chức vận chuyển hai chiều từng binh đoàn
chủ lực lớn của quân đội ta, đưa một khối lượng cơ sở vật chất kỹ thuật lớn tới các chiến trường.
Khi cuộc tổng tiến công phát triển xuống đồng bằng Trung Trung Bộ và Cực Nam Trung Bộ, Bộ
đội Trường Sơn đã triển khai lực lượng công binh dọc theo Quốc lộ 1, bám sát các mũi tiến cơng
của bộ binh, vừa tháo gỡ bom mìn, vừa nhanh chóng sửa chữa, bắc lại cầu mới cho đại quân ta
tiến vào giải phóng các thành phố, thị xã và giải phóng Sài Gịn trong chiến dịch Hồ Chí Minh đại
thắng 30/4/1975.
Lực lượng cầu đường đã nguyện làm "tường đồng, vách sắt" kiên cường bám trụ, giành giật lại
từng thước đường. Một đường bị chặn, hai, ba đường mới xuất hiện. Đường chạy đêm bị đánh,
đường chạy ngày("đường kín") xuất hiện. Địch đánh một, ta làm mười, các lực lượng công binh,
thanh niên xung phong Trường Sơn đã làm nên mạng đường liên hoàn, vững chắc với 5 hệ
thống đường trục dọc, 21 đường trục ngang, nối Đông với Tây Trường Sơn vươn tới các chiến
trường, với tổng chiều dài gần 2 vạn km đường ô tô, 1.400 km đường ống dẫn xǎng dầu, 3.140
km "đường kín" cho xe chạy ban ngày và xây dựng hàng ngàn cầu, cống, ngầm...
Lực lượng vận tải bí mật luồn rừng, mang vác tiến đến cơ giới hoá vận tải trên đường bộ, vận tải
bằng đường sông, vận chuyển xǎng dầu bằng đường ống hợp thành một binh chủng vận tải cơ
giới phát triển đến đỉnh cao trong việc bảo đảm khối lượng cơ sở vật chất đồ sộ và cơ động đáp
ứng các yêu cầu của lực lượng chiến đấu chủ lực cho các chiến trường.
Lực lượng pháo phịng khơng, từ những phân đội nhỏ ban đầu, đã nhanh chóng phát triển thành
những lực lượng chiến đấu lớn, đủ sức đánh địch trên không, bảo vệ thắng lợi công cuộc chi
viện chiến lược. Trong chiến dịch đường 9 - Nam Lào, lực lượng phịng khơng bộ đội Đường Hồ
Chí Minh tạo ra những lưới lửa dày đặc, đập tan chiến thuật cơ động ồ ạt bằng máy bay lên
thẳng của Mỹ - Nguỵ.
Lực lượng bộ binh đã nhanh chóng hình thành binh đoàn lớn, đủ sức đập tan những cuộc hành
quân ngǎn chặn của địch. Đỉnh cao nhất là góp phần đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của
Mỹ - Nguỵ ra đường 9 - Nam Lào (1971). Bộ đội Trường Sơn đã đánh hàng ngàn trận chống
hành quân nống lấn, biệt kích, thám báo của địch, loại khỏi vịng chiến đấu hơn 18.000 tên địch,
bắt sống 1.190 tên, thu và phá huỷ hơn 100 xe quân sự và hàng nghìn súng các loại.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Lc lng giao liờn, với đôi chân vạn dặm bảo đảm hành quân, đưa đón bố trí nơi ǎn ở cho
hàng triệu lượt cán bộ, chiến sĩ, thương, bệnh binh vào, ra các chiến trường an tồn, bí mật.
Các cán bộ cơ quan chỉ huy, lực lượng thông tin, cơ yêu, quana y, lực lượng kỹ thuật, đội ngũ
làm cơng tác vǎn hố vǎn nghệ... đã ngày đêm bám sát tuyến đường phục vụ đắc lực cho công
tác chỉ huy và các lực lượng khác hoàn thành nhiệm vụ.
Suốt 16 nǎm, đường Trường Sơn luôn luôn trở thành trọng điểm ngǎn chặn quyết liệt của địch.
Núi rừng Trường Sơn luôn luôn rung chuyển, bị cày đi xới lại bởi hơn 3 triệu tấn bom đạn, hoá
chất độc của địch trút xuống, gây nhiều tổn thất về người, phương tiện vật chất và môi trường
sinh thái trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Hơn hai vạn cán bộ, chiến sĩ bị thương và hàng vạn
người mang thương tích chất độc màu da cam, 14.500 xe máy, 703 súng pháo và hơn 90.000
tấn hàng hoá bị phá hỏng.
Xin lạc đề một chút, có phải pháo Vua chiến trường nạp đạn vồ từ phía nịng, cần một cần cẩu
để nâng viên đạn khơng nhỉ?
Nghe nói là vì vậy nó bắn rất chậm nên nhiều trận bị pháo 105mm của ta bắn cho thất điên bát
đảo?
Khi nó nạp đạn thì phải chúc nịng xuống (để đạn khơng rơi ngược lại?). Tốc độ bắn thì chậm
thật nhưng thêm nữa là một trận địa pháo Mỹ-Nguỵ chỉ có khoảng 2 hay 4 khẩu 175mm, còn lại
là pháo tầm ngắn 105ly. Còn trận địa pháo của ta thường là toàn pháo 130ly tầm xa và ta thường
đặt pháo ngoài tầm với của 105ly. Như vậy khi đấu pháo thì tồn bộ pháo ta đối đầu với chỉ 2
hay 4 khẩu 175ly, địch phải bỏ pháo mà núp! Tuy nhiên chúng có thể gọi máy bay trợ chiến!
Pháo 105 của ngụy chỉ đạt 10,5km; 155 chỉ đạt 14,5km.
Phía ta, 85 đạt 14km; 122 đạt 17km; 130 đạt 27km, chưa kể mấy loại phản lực H12, ĐKB bắn
cũng tầm 105 nhưng tốc độ thì ác hơn nhiều.
Như vậy rõ ràng khi đấu pháo ta có ưu thế, địch chỉ hơn khoản máy bay. Về sau khi Mĩ rút khì
KQ ngụy cũng khơng đủ mạnh.
Tháng 4-1975 ở ngoại vi SG, pháo binh QĐ3 đấu pháo suốt 4 ngày, đánh tan nát gần 40 khẩu
pháo 105, 155.
Đường Trường Sơn quả thật là 1 huyền thoại, 3 vạn người VN đã ngã xuống, 2 vạn người bị
thương và hàng vạn người nhiễm chất độc hoá học để làm nên con đường mang tên Chủ tịch
HCM.
Những kỉ lục của Đoàn 559:
- Chuyến hàng đầu tiên chi viện cho miền Nam xuất phát từ Khe Hó (Tây Nam Vĩnh Linh)
- Qua 16 nǎm, đã:
+ Đào đắp, san lấp khoảng 29 triệu m3 đất đá
+ Xây dựng mạng đường bộ gồm 5 hệ thống đường trục dọc, 21 đường trục ngang ở Đông và
Tây Trường Sơn với tổng chiều dài gần 2 vạn km; 1 tuyến đường "kín" dài 3.140 km. Hệ thống
đường sông dài gần 500 km.
+ Hệ thống đướng ống dẫn xǎng, dầu dài 1.400 km vào tới Đông Nam bộ.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------+ San lp 78.000 hố bom.
+ Phá 12.600 quả bom từ trường, 8.000 bom nổ chậm, 85.100 mìn các loại.
+ Đánh 2.500 trận bộ binh loại khỏi vòng chiến đấu gần 20.000 tên địch, thu, phá huỷ hơn 100 xe
quân sự, hàng ngàn súng các loại.
+ Bǎn rơi hơn 2.450 máybay các loại
+ Vận chuyển, tổ chức hành quân hơn 2 triệu lượt bộ đội, cán bộ dân, chính, đảng vào raqua
Trường Sơn. Mỗi nǎm bình quân chuyển được hơn 1 triệu tấn hàng cho chiến trường, riêng nǎm
1974 có lượng hàng gấp 22 lần nǎm 1966.
+ Trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân nǎm 1975, Bộ đội Trường Sơn đã bảo
đảm giao thơng tồn bộ tuyến đường Quốc lộ 1 và 7 tuyến đường khác, có tổng chiều dài 2.577
km, bắc lại 88 cầu, sử dụng trên 1.000 xe ô tô chở các quân đoàn chủ lực và chở bổ sung gần
20 vạn quân cho các chiến dịch để giải phóng miền Nam.
- Đồng chí Phan Mài đã gùi nặng 100 kg trong nhiều chuyến liền. Đồng chí Nguyễn Điều thồ xe
đạp mỗi chuyến 420kg.
- Chiếc xe đạp thồ đầu tiên được đưa vào Trường Sơn là chiếc xe Favorits có số khung 20.220.
Từ nǎm 1963-1965, đại đội 9 (đoàn 70) đã dùng chiễce này thồ 1.800 tấn hàng vào chiến trường.
Nǎm 1966, chiếc xe được đưa về trạm 34 do đồng chí Hồng, tiểu đội trưởng sử dụng thồ hàng
vào, chở thương binh ra. Hai nǎm 1969-1970 đã chở được 50 thương binh, tiết kiệm được hơn
500 công cáng hộ.
- Chiếc bao gùi đầu tiên dùng để gùi hàng vào chiến trường làm bằng vải bạt dài 0,7 m, rộng 0,4
m đã cũ do đồng chí Thái, đại đội 3, sử dụng vận chuyển hàng. Tính đến ngày 15-3-11970 (khi
đưa về nhà truyền thống), chiếc bao đó đã cùng nhiều chủ nhân chuyển được hơn 50 tấn hàng,
915 kg công vǎn, thư từ đến chiến trường.
- Ngày 20-8-1959, chuyến hàng gùi bộ đầu tiên được giao cho chiến trường là vũ khí, cơng vǎn
tài liệu bí mật.
- Ngày 9-8-1964, ngày đầu tiên trung đoàn 98 đơn vị Anh hùng thực hiện mở đường cơ giới lên
Trường Sơn.
- Ngày 25-10-1965, đồn xe ơ tơ đầu tiên chở hàng vào chiến trường,mở đầu giai đoạn vận tải
cơ giới trên Trường Sơn.
- Ngày 24-7-1965, tiểu đoàn 20 cao xạ bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên trên tuyến.
- Đơn vị bǎn rơi nhiều máy bay nhất trên tuyến là tiểu đoàn 36 cao xạ (E28), bắn rơi 157 máy
bay Mỹ
- Đại đội 4 súng máy 12,7 ly là đơn vị hai lần Anh hùng, bắn rơi 156 máy bay, bình quân mỗi
chiến sĩ bắn rơi 2 máy bay.
- Ngày 3-3-1971, toàn tuyến bắn rơi 16 chiếc, riêng D28 hạ 8 chiếc.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------- Ngy 5-3-1971, ton tuyến bắn rơi 40 chiếc, riêng D24 hạ tại chỗ 18 máy bay Mỹ (cả phản lực
và trực thǎng)
- Ngày 16-6-1973, hai đồng chí Nguyễn Vǎn Thể và Lê Vǎn Thái (thông tin 470) hạ tại chỗ 1 máy
bay F4 bằng 9 viên đạn súng trung liên.
- Anh hùng Nguyễn Viết Sinh gần 6 nǎm làm nhiệm vụ gùi, thồ, vận chuyển hàng vượt Trường
Sơn. Tổng cộng chặng đường anh vượt bằng độ dài vòng quanh trái đất.
- Trong chiến dịch phản công chống cuộc hành quân "Lam Sơn 719" của địch (3-1971), các lực
lượng bộ đội Trường Sơn đã bắn rơi 365 máy bay, diệt 8.105 tên, bắt sống 1.160 tên địch, phá
huỷ 136 xe tǎng, xe cơ giới và 86 khẩu pháo.
- Trong 8 nǎm chiến đấu ở Trường Sơn, Trung đồn 98 cơng binh - đơn vị anh hùng đã mở
được 2.000 km đường ô tô, 500 km đường giao liên, khai thông 200 km đường sông, bắc 400
cầu, bắn rơi 38 máy bay, diệt 137 tên biệt kích, thám báo.
Khởi đầu ngày 19-5-1959, Đồn 559 chỉ gồm 500 cán bộ chiến sĩ do Võ Bẩm (sau này là thiếu
tướng) chỉ huy. Đến giai đoạn cuối (1973-1975) lực lượng này đã phát triển lên tới 120.000
người do trung tướng Đồng Sĩ Nguyên làm tư lệnh, gồm :
- 2 sư đồn ơ tơ vận tải : 471, 571
- 4 sư đồn cơng binh : 470, 472, 473, 565
- 1 sư đoàn bộ binh : 968
- 1 sư đoàn phịng khơng : 377
- 6 trung đồn cao xạ, 1 trung đồn bộ binh, 2 trung đồn thơng tin, 4 trung đoàn đường ống
xăng dầu, 2 trung đoàn cầu, 1 trung đồn vận tải đường sơng, 1 trung đồn giao liên cơ giới, 1
trung đoàn kho, 1 trung đoàn huấn luyện an dưỡng.
- 4 đoàn thanh niên xung phong (tương đương trung đoàn) : 10.000 người
- Trên 5.000 y bác sĩ.
- Một số đơn vị pháo mặt đất, máy bay chiến đấu.
Việc tổ chức sư đồn ơ tơ vận tải và sư đồn cơng binh chưa hề có tiền lệ, ngay cả trong quân
đội những nước phát triển.
Trong quá trình ngăn chặn tuyến vận tải, Mĩ đã sử dụng nhiều thủ đoạn và phương tiện kĩ thuật,
đây là vài ví dụ tiêu biểu nhất :
- Thả "cây nhiệt đới", thiết bị phát hiện tiếng động, ghi lại toạ độ, phát hiện các đoàn xe để máy
bay đến đánh. Tại những trọng diểm xe bị đánh nhiều, bộ đội phát hiện rất nhiều "cây nhiệt đới".
Bên cạnh sử dụng nhiều đường vòng, đường tránh, nhiều lần ta cho xe nổ máy nghi binh nhưng
không chạy, hút máy bay địch vào những chỗ khơng người, vơ hiệu hố "cây nhiệt đới".
- Thả bom từ trường thay cho các loại bom phá thông thường. Để giải toả những bãi bom từ
trường, Viện Khoa học quân sự của ta đã chế tạo thành công loại xe phóng từ, cho dẫn đầu các
đồn vận tải, bom nổ trước khi gặp xe ta hàng trăm mét (hình như loại này là lấy xe bọc thép LX
làm lõi rồi cải tiến thế nào thành ra kiểu như nam châm điện thì phải, nhờ bên KTQS giải quyết
cái)
- Sử dụng AC130 tấn cơng các đồn xe vận tải bằng pháo 20mm, 40mm và tên lửa. AC130 trang
bị các thiết bị khuếch đại ánh sáng yếu để phát hiện mục tiêu, phát hiện tia lửa điện của động cơ
xe. Tầm hoạt động khá cao, cao xạ 37mm của ta gần như bị vơ hiệu hố. Để chống AC130, ta
xây dựng mạng đường kín náu dưới tán rừng rậm, xe có thể chạy ban ngày. đi đường vịng,
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------ng trỏnh, ng thi cho một số xe do các lái xe giỏi, dũng cảm lái ở những trọng điểm thu hút
AC130 cho cao xạ 57mm và tên lửa tiêu diệt.
Câu chuyện Trường Sơn : " chuyện O Tha"
Hôm nay (15/7), ngày lễ kỷ niệm 52 năm Truyền thống Thanh niên xung phong (TNXP). Sáng,
như thói quen khi ngủ dậy, tơi lại quờ tay bật cái máy hát, và như một sự sắp đặt trước, dội vang
lên bài ca một thời vang rền ở Trường Sơn, giữa vùng trọng điểm.
Cái bài ca ấy khiến nhiều người nghe sau hịa bình ứa nước mắt, bài ca về những cô gái TNXP:
''...Ơi những cô con gái đang ngày đêm mở đường, hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi
thường...''. Cảm động. Rồi những trang ghi chép đâu đó lại hiện về. Kỷ niệm về những cuộc gặp
gỡ với những o TNXP sống dậy. Những giọt nước mắt lại tràn ứa. Thương lắm, những o TNXP
một thời dũng mảnh và gan góc, một thời hy sinh cả tuổi thanh xuân vì những tuyến đường ra
trận, một thời quên đi mình là con gái, quên đi mái tóc dài, qn đi cả những nụ hơn, sự e thẹn
đầu đời, nén chặt bao khát vọng và kỷ niệm, chỉ có một con đường trước mắt phải vượt qua,
vượt qua bom đạn, vượt qua cái chết, vượt qua tuổi dậy thì đáng yêu nhất của thời con gái để
gạt bom làm đường, để giải phóng những đồn xe vào chiến trường, một thời mà cánh tay con
gái yếu ớt của các o phải đặt lên những trái bom...
Những năm qua, tôi gặp nhiều o là cựu TNXP. Họ đã già rồi, cái tuổi mười tám đôi mươi lùi xa
lắm rồi, bây giờ họ đã trên năm mươi cả rồi, bạc tóc, vất vả và nhiều tâm sự lắm, thậm chí là
nhiều thiệt thịi lắm. Người có cuộc sống sung sướng, ít lắm; người có cuộc sống n bề gia thất
cũng ít lắm, người được coi là hạnh phúc cũng ít lắm. Và những lần gặp họ như vậy, nước mắt
nhiều lắm, nước mắt của cả người nghe và người kể. Khóc vì khổ q, cực q, cơ đơn q,
nhưng không ai trách, họ tự coi họ là không may mắn thơi và họ đón nhận sự khơng may mắn ấy
bằng cả ý chí, sự dũng cảm, thậm chí là sự cam chịu. Tơi cảm phục các o, kính trọng các o, sự
chịu đựng của các o có thể cịn cao hơn sự chịu đựng bom đạn thời chiến.
O Tha ở xã Tân Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình, bị thương, hai chân bại liệt hơn ba chục
năm. Trước, khi còn con gái, đã yêu và đã được nhà trai làm lễ hỏi, tưởng là thành vợ chồng.
Nhưng khi bị thương, o Tha thuyết phục người yêu đừng cưới mình, đừng làm chồng mình, lấy
nhau như vậy khổ lắm. Người u của o khơng chịu. Họ giằng co. Họ khóc. Rồi o Tha thuyết
phục, tìm cho anh ấy của mình một cô gái làng khác, và lại thuyết phục họ. Cuối cùng thì người
u o Tha đã có nơi có chốn. Sau mấy năm trời tìm cho người yêu một tổ ấm, o Tha rạc hẳn
người, vì đau đớn, vì tủi phận, o thương người yêu mà làm thế thôi chứ ai lại có thể cam chịu
cảnh cơ đơn một mình trong hồn cảnh tật nguyền. O Tha cũng thế. O đau, cái nỗi đau bởi đức
hy sinh cho người khác, cái nỗi đau sẻ chia, nỗi đau cho đi hết hạnh phúc để mình thì đơn cơi vị
võ một mình với bệnh tật. Bây giờ thì o vẫn vậy, trên chiếc xe lăn, và cho đến cuối đời, người
đàn bà ấy vẫn một mình lẻ bóng. Như o nói, rồi khơng biết đến ngày nào đó, chiếc xe lăn đưa o
về đến mộ. Nhưng cả làng cảm phục o, kính trọng o. Cịn o thì trời lại ban cho đôi bàn tay tài hoa
để thêu thùa may vá. Mà trời ạ, cái gối cưới o thêu, đôi bồ câu hạnh phúc o thêu, bộ áo quần trẻ
sơ sinh o may lấy, đẹp lạ lùng. Con trai, con gái trong làng cưới nhau là được o Tha tặng cho đôi
gối cưới. Sinh con đầu lòng cũng đến o Tha nhận bộ quần áo trẻ con làm q. Cịn o thì vẫn
trắng tay... Chỉ có câu hát này thì đêm đêm vòng vọng trong giấc ngủ chập chờn của o, câu hát
đối đáp mà ngày ấy, thời ấy, o và anh ấy của o vẫn thường lang thang trên cánh đồng làng và
hát: Chứ em hỏi anh nì. Trong trăm thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp? Trong ngàn thứ bắp,
bắp chi là bắp không rang? Trong vạn thứ than, than chi là than không quạt? Trong triệu thứ bạc,
bạc chi là bạc không tiêu? Trai nam nhi chàng đối đặng, dải lụa điều thiếp trao. Và anh ấy đối lại:
Thiếp hỏi thì chàng xin thưa. Trong trăm thứ dầu, nắng dãi mưa dầu là dầu không thắp. Trong
ngàn thứ bắp, lắp bắp mồm, lắp bắp miệng là bắp không rang. Trong vạn thứ than, than thở thở
than là than khơng quạt. Trong triệu thứ bạc, bạc tình bạc nghĩa là bạc không tiêu...
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Bi hỏt i ỏp ấy trĩu nặng trong lịng o những đêm dài. Xót hơn nữa là anh ấy của o lại ở cùng
xóm với o. Thành ra, ngày vợ chồng anh ấy sinh con đầu lịng, tiếng trẻ khóc dội sang o, dội hết
vào o, làm trái tim o như có thể tan nát ra được. Nhưng chắc chắn một điều, o biết, vợ chồng anh
ấy của o rất hạnh phúc. Họ đã sinh được bốn đứa con và đã trưởng thành, những đứa con của
họ cũng coi o như mẹ.
Còn o, o hết quyền làm mẹ, làm vợ, thế giới của o trên chiếc xe lăn ấy thôi, lăn mãi cho đến ngày
về mộ thơi, lẻ bóng.
Nhưng đời o lại chứng minh cho bọn trẻ một điều vô cùng giản dị rằng, vào cái thời khắc mình
cần hạnh phúc nhất lại có thể nhường hạnh phúc cho người khác, đức hy sinh ấy thực cao cả và
cảm động, đức hy sinh lại tiếp tục làm nên o Tha, làm nên một o TNXP đáng trọng biết bao
nhiêu.
Tôi mãi không quên được câu nói của o Tha: ''Mình là phận gái mà. Phận gái thì chịu thiệt thơi.
Biết làm răng?''.
Các bạn nói đến đường Trường Sơn nhưng mới nói đến con đường mịn xun dọc Trường
Sơn.
Một con đường khác cũng đóng vai trị không kém trong cuộc kháng chiến thống nhất đất nước
với những con tàu khơng số và đó cũng được gọi với một cái tên rất rất huyền thoại đó là
ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN TRÊN BIỂN.
Thực ra đường Trường Sơn trên biển về sau chủ yếu mang tính cổ vũ tinh thần thôi, lượng vận
chuyển không lớn lắm.
Ai bảo bác là đường Trường Sơn trên biển chỉ mang tính cổ vũ tinh thần.sau khi đã mở tuyến
đường xuyên qua Trường Sơn.Trung ương lại chỉ đạo là phải thành lập 1 con đường vận tải biển
nhằm tiếp tế cho chiến trường quân khu 5.vào ngày 19-10-1961tại bến Bính Động và Đồ SơnHải Phịng những con tàu không số đầu tiên đã ra đi đặt nền móng cho đường mịn Hồ Chí Minh
trên biển
Từ 6 chiếc thuyền gỗ thô sơ ban đầu với 38 cán bộ nịng cốt giả làm ngư dân tìm đường và đã
trở được những chuyến hàng đầu tiên.con đường sau đó được chuyển giao cho Lữ đồn Hải
Qn 125 thuộc bộ tư lệnh Hải Quân và được hoạt động liên tục cho đến khi đất nước thống
nhất.Trong suốt 14 năm,đã có trên 1800 chuyến tầu vận chuyển 152.000 tấn vũ khí chi viện tích
cực cho chiến trường Miền Nam.sự có mặt của từng con người,từng khẩu súng,từng viên
đạn,cân hàng đã có ý nghĩa vơ cùng lớn lao góp phần tạo cho nhiều thắng lợi dòn dã của nhiều
chiến dịch
Đây đường mòn HCM vẫn vào được mà...!!!
Quốc hội thảo luận về Dự án tổng thể đường Hồ Chí Minh: Phải là một cơng trình mẫu mực về
hiệu quả, tiết kiệm
Đại biểu Đặng Như Lợi (Cà Mau) phát biểu
Ngày 13/11, mặc dù cuối tuần nhưng các đại biểu (ĐB) Quốc hội vẫn bận rộn thảo luận, góp ý sơi
nổi về Dự án tổng thể đường Hồ Chí Minh. Các ĐB đều nhất trí với chủ trương xây dựng cơng
trình này, đồng thời góp ý, chỉnh sửa những điểm cịn chưa hợp lý về thiết kế, quy mơ cơng trình,
và nhất là bày tỏ mong muốn đây phải là cơng trình mẫu mực về tính hiệu quả, tiết kiệm.
Nên làm đường cao tốc
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Mt s B núi về kế hoạch xây dựng đường Hồ Chí Minh đều muốn "uốn" đường này có lợi cho
địa phương mình, phải có hướng đi qua các khu di tích, điểm du lịch..., ĐB Lê Quốc Dung (Thái
Bình) nói: "u cầu cao nhất của con đường phải là hiệu quả. Theo tôi, đây phải là con đường
cao tốc để rút ngắn thời gian đi lại, giảm tiêu hao nhiên liệu, sự hao mịn... của phương tiện giao
thơng. Trong khi đó, theo như Chính phủ đưa ra thì con đường chỉ có hơn 1.000 km trên tổng số
chiều dài hơn 3.000 km là đường cao tốc". ĐB Dung nói tiếp: “Có đường cao tốc Bắc - Nam thì
sau này, việc giao lưu kinh tế, hàng hóa với các nước: Trung Quốc, Thái Lan, các nước
ASEAN... rất thuận tiện". Ơng nhấn mạnh: "Do đó, phải nâng cao tầm vóc của con đường. Nhiều
đoạn đường không nhất thiết cứ phải kéo vào địa phương nọ, địa điểm kia. Theo tôi, nhiều đoạn
ở Cao Bằng, Phú Thọ, Hịa Bình... cứ lấy thước mà kẻ thì sẽ rút ngắn được một nửa đoạn
đường".
ĐB Hoàng Thanh Phú (Thái Nguyên) bàn: "Nhiều đoạn đường có thể nắn thẳng được chứ không
phải cứ men theo sườn đồi, núi. Nếu ta không làm thế, sau này sẽ chịu nhiều hậu quả về tình
trạng sụt lở, mưa bão”. Ơng Lê Dỗn Hợp (ĐB Nghệ An) cũng nói: "Dứt khốt phải là đường cao
tốc, đi đúng hướng tuyến Bắc-Nam giảm độ cao, tránh vòng vèo, uốn lượn, vừa tiết kiệm thời
gian, giảm chi phí và đỡ tai nạn giao thơng".
Tiết kiệm và tiết kiệm hơn nữa Nhiều ĐB khác cũng đưa ra những ý kiến rất đáng chú ý như:
phân cấp mạnh cho địa phương trong việc tham gia xây dựng, quản lý, bảo vệ các tuyến đường
mà "siêu quốc lộ Hồ Chí Minh" sẽ đi qua để tận dụng được nguồn nhân lực, vật lực, nguyên liệu
tại địa phương; ngăn chặn tình trạng dân tràn ra lấn chiếm hành lang an toàn cho con đường;
tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với việc xây dựng con đường này. Một số ý kiến ĐB
cũng đề nghị các địa phương sớm có các quy hoạch về các khu công nghiệp, dịch vụ, quy hoạch
lại sản xuất, tổ chức lại lực lượng lao động, dân cư... để tận dụng được những lợi thế mà đường
Hồ Chí Minh sẽ đem lại. Đồng thời, các địa phương cũng cần tính đến các biện pháp chống phá
rừng, vận chuyển lâm sản trái phép và buôn lậu... trên tuyến đường này vì ở nơi này, nơi khác
đã bắt đầu nảy sinh tình trạng này.
Rất hiếm khi phát biểu tại hội trường nhưng bài phát biểu của Tổng thanh tra Chính phủ Qch
Lê Thanh (ĐB tỉnh Bình Thuận) về vấn đề chống thất thốt, lãng phí khi xây dựng đường Hồ Chí
Minh rất hùng hồn. Ơng Thanh nói: "Vốn đầu tư cho cơng trình này là rất lớn, cho nên, theo tơi,
khi thực hiện phải có sự chỉ đạo sát sao để việc xây dựng đúng tiến độ, nâng cao được trách
nhiệm, năng lực của cán bộ, công chức để chống cho được tình trạng tham nhũng, lãng phí, thất
thốt và phải coi đó là nhiệm vụ quan trọng, làm mẫu cho các cơng trình khác về xây dựng".
Dưới góc độ chun mơn, ơng Thanh đề nghị: phải nâng cao chất lượng công tác tư vấn, giám
sát từ các khâu thiết kế, lập dự tốn, thi cơng cơng trình; nâng cao trách nhiệm của chủ dự án
trong việc lập dự án, dự tốn... Tổng thanh tra Chính phủ cịn đề nghị Bộ Giao thơng vận tải, Ban
quản lý dự án... sau này trong việc thanh, quyết toán vừa phải chặt chẽ, vừa phải kịp thời bởi vì,
theo ơng, “chúng ta phải thấy thấm thía nỗi khổ của các đơn vị xây dựng khi bỏ tiền ra lại rất
chậm được thanh toán mà từ đây, dễ phát sinh những chuyện nhũng nhiễu, tiêu cực".
ĐB Nguyễn Ngọc Trân (An Giang) góp thêm: “Chúng ta phải rút ngay kinh nghiệm trong q trình
giám sát về tình trạng thất thốt, lãng phí trong hàng loạt các cơng trình xây dựng lớn vừa qua để
đường Hồ Chí Minh khơng bị thất thốt vốn, chất lượng kém”. ĐB Đặng Như Lợi (Cà Mau) đề
nghị: “Ta nên mời nhiều chuyên gia giỏi của nước ngoài giúp ta xem xét, tư vấn về toàn bộ các
khâu: quy hoạch, thiết kế, thi công để đảm bảo chất lượng thực sự cho cơng trình”.
Một thuở Trường Sơn
"Đường mịn Hồ Chí Minh" đã trở thành một con đường nổi tiếng thế giới, trở thành một biểu
tượng cho tinh thần quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xây lược của nhân dân Việt Nam ta. Đó
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------cng chớnh l con đường dẫn dân tộc ta, quân đội ta đi tới trận quyết chiến cuối cùng, tới ngày
30-4 toàn thắng.
Đường Trường Sơn đã trở thành một nét son chói lọi trong ký ức của dân tộc ta, trở thành di sản
quý giá của thế hệ cha anh để lại, "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước...." đã là lời thề của cả một
thế hệ. Biết bao người con thân yêu của dân tộc ta đã hy sinh máu xương, hy sinh cả tuổi trẻ của
mình cho con đường dẫn tới ngày toàn thắng ấy.
Nhân kỷ niệm Ngày toàn thắng 30-4 và kỷ niệm 40 nǎm Ngày mở đường Trường Sơn, 40 nǎm
Ngày Truyền thống của bộ đội Trường Sơn, Tạp chí Vǎn nghệ Quân đội đã có cuộc gặp gỡ với
tột trong những con người đầu tiên có mặt trên Trường Sơn với tư cách là người nhận lệnh của
Đảng, của Bác đi mở con đường chiến lược cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Đó là thiếu
tướng Võ Bẩm, nguyên Tư lệnh đầu tiên của Bộ đội Trường Sơn (còn gọi là Đoàn 559).
Thiếu tướng Võ Bẩm nǎm nay đã 84 tuổi. Tuy tuổi già sức yếu nhưng ký ức của ông về một thuở
Trường Sơn mở đường đi giải phóng miền Nam vẫn cịn tươi rói như chỉ là những chuyện vừa
xảy ra ngày hôm qua.
PV. Thưa thiếu tướng: Chúng ta đang chuẩn bị kỷ niệm 40 nǎm ngày mở đường Trường Sơn...
Thiếu tướng Võ Bẩm: Tôi nay đã già yếu rồi nhưng mỗi khi chợp mắt ngủ vẫn có cảm giác như
mình đang nằm đung đưa trên võng vậy. Có đêm tơi chợt tỉnh, hỏi bà nó nhà tơi rằng có phải
hình như có ai đó vừa gõ cửa. Nếu có ai đến gọi tơi đi thì tơi phải đi thơi. Trong đó, chắc lại có
chuyện gì rồi. Đến khi bà ấy bật đèn lên, nhìn thấy cǎn phịng tơi mới biết rằng mình đang nằm
mơ. Nhìn vào gương thấy mình già quá rồi. Â''y vậy mà ngày ấy tôi to lớn lắm, nặng hơn bảy
chục ký cơ mà. Phải to lớn, khoẻ mạnh như vậy thì mới đủ sức mà đi mở đường Trường Sơn
chứ!
PV: Theo chúng tơi được biết thì bác là người đầu tiên được giao nhiệm vụ đi tổ chức lực lượng
để mở con đường vào miền Nam.
Thiếu tướng Võ Bẩm: Tôi chắc chắn không phải là người đầu tiên đi trên những con đường rừng
Trường Sơn để vào Nam ra Bắc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chúng ta cũng đã có
những cuộc hành quân vượt Trường Sơn rồi. Nhưng, đúng tôi là người đầu tiên được Quận uỷ
Trung ương và Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu, tổ chức lực lượng để đi mở con
đường đưa vũ khí, đạn dược, lương thực và con người vào chi viện cho cách mạng miền Nam
trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước theo chỉ thị của Bác Hồ.
PV: Thưa thiếu tướng! Ơng có thể nhớ lại những cảm tưởng đầu tiên của mình khi được giao một
trọng trách như vậy không?
Thiếu tướng Võ Bẩm: Nhớ! Nhớ chứ... Bởi vì đối với cuộc đời một con người thì đâu có nhiều
những giây phút như vậy. Tơi cịn nhớ, đúng vào ngày 19 tháng 5 nǎm 1959, đồng chí trung
tướng Nguyễn Vǎn Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc phịng triệu tập tơi vào cơ quan Bộ Quốc phịng để
nhận nhiệm vụ. Sau này, tơi hiểu rằng khơng phải tình cờ mà các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc
phịng chọn ngày này để giao cho tơi bằng một giọng nói trang nghiêm: "Tơi có nhiệm vụ truyền
đạt chỉ thị của Bộ Chính trị cho đồng chí. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, hết sức bí mật
để thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng ta về cơng tác miền Nam. Bộ Chính trị trực
tiếp giao cho đồng chí nhiệm vụ đi khảo satá, nghiên cứu, tổ chức một tuyết đường vượt dãy
Trường Sơn để đưa nhân tài, vật lực vào chi viện cho miền Nam, đưa cuộc đấu tranh giải phóng
miền Nam tới tồn thắng. Đây cũng là ý nguyện thiêng liêng của Bác Hồ. Con đường này phải
được mở với phương châm tuyệt đối bí mật. Trước mắt đồng chí chỉ có "một người một ngựa" đi
thực hiện việc mở đầu sự nghiệp vĩ đại này. Đồng chí hãy về suy nghĩ, vạch kế hoạch và tham
khảo ý kiến của đồng chí Trần Lương (lúc đó đồng chí Trần Lương đã nhận nhiệm vụ về miền
Nam làm bí thư Khu uỷ Khu 5. Sau này đồng chí lấy tên là Trần Nam Trung). Vì tính chất nhiệm
vụ là tuyệt mật nên khi đồng chí làm việc với ai, tham khảo ý kiến ai đều phải lập danh sách đưa
lên cho tôi để tôi báo cáo lại với Bộ Chính trị. Y'' kiến của đồng chí thế nào?
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Tụi suy ngh trong giây lát rồi trả lời.
- Thưa đồng chí trung tướng. Đây là một việc lớn, quan hệ tới toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền
Nam nhưng lại phải tiến hành rất bí mật. Thực tế là một việc "lấy thúng úp voi". Tôi sẽ cố gắng
giữ nguyên tắc để cố mà úp cho kín con voi này. Nhưng trong khi làm việc, tiếp xúc rất có thể có
sơ hở. Khi ấy các đồng chí phải tin tưởng tơi và tích cực chi viện.
Đồng chí Trung tướng nắm chặt tay tơi:
- Bộ Chính trị đã chỉ định đồng chí làm việc này, nghĩa là đã có sự tin tưởng tuyệt đối rồi. Đồng
chí cứ tiến hành cơng việc đi. Cần gì, báo cáo trực tiếp với tôi ngay....
Đấy câu chuyện mở đầu cho tuyết đường Trường Sơn chỉ có vậy. Sau đó tơi chuẩn bị phương
án, trình bày kế hoạch của mình với đồng chí Nguyễn Vǎn Vịnh và cả đồng chí Trần Lương nữa.
Giai đoạn đầu tơi nêu ra chỉ tiêu chi viện nhanh cho miền Nam 500 cán bộ, một số lượng vũ khí
nhất định. Riêng vũ khí, tơi nêu ra ý kiến chỉ dùng vũ khí chiến lợi phẩm của Pháp, những trang
bị khác cũng vậy. Có như vậy mới giữ được bí mật.
PV: Lúc đó đã là nǎm 1959 rồi. Nghĩa là sau nǎm nǎm ngày miền Bắc giải phóng. Vũ khí chiến
lợi phẩm có thể cịn. Nhưng các trang bị khác thì đâu có dễ kiếm.
Thiếu tướng Võ Bẩm: Đúng vậy! Vì thế tơi phải xin Bộ cho rút tiền ở một quỹ đặt biệt. Rồi suốt
ngày, tơi và vài dodịng chí tin cậy cậy đi khắp các chợ trời ở Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi
khác để tìm mua các loại vật dụng cịn lại thời Pháp: từ các hộp quẹt đến con dao nhíp, cây kim
sợi chỉ hay cục xà bơng, cây bút máy Paker, cái ca uống nước.... Làm sao đủ trang bị sinh hoạt
cho 500 con người mà khơng có dấu vết gì của miền Bắc hay các nước xã hội chủ nghĩa. Rất vất
vả chúng tôi mới gom được số hàng đó cho anh em.
PV: Vậy, chúng ta đã tiến hành tổ chức tuyến đường đầu tiên ra sao?
Thiếu tướng Võ Bẩm: Để làm việc ấy, anh Trần Lương và tơi quyết định tổ chức một cuộc họp bí
mật ở Vĩnh Linh. Anh Lương có triệu tập thêm một đồng chí Khu uỷ viên phụ trách liên lạc với
miền Bắc là đồng chí Quyết ra tham dự cuộc họp. Tại cuộc họp này chúng tôi thành lập một cơ
quan đầu tiên để chỉ huy do tôi làm chỉ huy trưởng và đồng chí Nguyễn Thạnh (nguyên du kích
Ba Tơ) làm chỉ huy phó, đồng chí Lê Trọng Tâm là trợ lý tổng hợp, ngồi ra cịn một đồng chí trợ
lý phụ trách vũ khí, các đồng chí phụ trách ni quân, lái xe đều là người miền Nam. Ban chỉ huy
mở đường về Nam đầu tiên có chín người. Tất cả đều là những đồng chí trung kiên, được đặc
biệt tin cậy.
PV: Và sự nghiệp " Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" bắt đầu....
Thiếu tướng Võ Bẩm: Đúng vậy! Những ngày đầu tiên đi mở tuyến ở Tây Quảng Trị thật vô cùng
gian khổ. Anh em chúng tôi bị vắt cắn máu chảy khắp cả chân tay. Tơi nói đùa với anh em "Thế
là chúng ta trở thàn những người đầu tiên lưu huyết cho cuộc chiến đấu mới này. Sau khi đã tìm
được địa điểm đặt cǎn cứ đầu mối cho tuyến đường Trường Sơn tôi trở về Hà Nội để chuẩn bị
thu gom, đóng gói, vũ khí, trang bị chuyển về miền Nam. Bốt Kim Lũ thuộc huyện Thanh Trì Hà
Nội được chọn làm nơi đầu tiên tập kết hàng hố vũ khí đạn dược chi viện cho miền Nam. Cịn
cán bộ được bí mật triệu tập về để đi Nam thì tập hợp ở nhà số 83 phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Tất
cả những cán bộ được gọi về đều chọn lọc rất kỹ lưỡng và họ vẫn chưa biết rằng họ là những
người được lựa chọn cho một sự nghiệp vĩ đại. Đơn vị đầu tiên được đưa vào miền Nam sẽ là
một tiểu đoàn, mang mật danh là tiểu đoàn 301. Tháng 7-1959 chúng tôi bắt đầu đưa lực lượng
vào tuyến.
PV: Vậy... tuyến đường đầu tiên vượt qua khu vực giới tuyến tạm thời được hình thành như thế
nào?
Thiếu tướng Võ Bẩm: Đó là tuyến đường phía Tây Quảng Trị, phải leo qua dãy núi có động Voi
Mẹp, nơi ngày xưa vua Hàm Nghe đã có thời chọn làm cǎn cứ để chống qn xâm lược Pháp.
Chúng tơi cịn nhận ra những cây chè, cây cam được nghĩa quân Cần Vương trồng từ hồi đó. Từ
đầu đường phía bắc đến động Voi Mẹp chúng tôi chia làm hai chặng đường làm sao để có thể
qua đưịng 9 vào ban đêm. Trên tuyến đó địch có cǎn cứ Q Qn, phía bắc có đồn Làng Miệt.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Ban ờm qua ng 9, để khỏi để lại bất cứ dấu vết nào mỗi anh em phải có hai mảnh gỗ ván,
mỗi mảnh chỉ đặt vừa bàn chân, dắt trong lưng để lót chân khi qua đường. Mỗi đêm chúng tôi lại
thay đổi vị trí vượt đường một lần. Vì thế đã giữ được bí mật tuyệt đối trong những đợt chuyển
quân đầu tiên.
PV: Thưa thiếu tướng! Chúng tơi có thể hình dung những gian nan, hiểm nghèo của những ngày
đầu mở tuyến đường chi viện cho miền Nam. Nhưng đến khi nào thì có Binh đồn Trường Sơn?
Thiếu tướng Vũ Bẩm: Đến tháng 9-1959 thì Bộ có quyết định thành lập đồn 559 hay như sau
này ta gọi là Binh đoàn Trường Sơn. Lúc đó đã xác định quy mơ của 559 là cấp sư đồn do tơi
làm đồn trưởng kiêm chính uỷ. Về Đảng có Ban cán sự Đảng do tơi làm Bí thư, đồng chí
Nguyễn Thạnh và đồng chí Chương làm uỷ viên. Con đường do chúng tôi mở trên đường
Trường Sơn cũng chính thức được mang tên là đường Hồ Chí Minh từ ngày ấy.
PV: Chúng ta đã có đường Hồ Chí Minh trên đường Trường Sơn. Vậy khi nào ý tưởng về đường
Hồ Chí Minh trên biển ra đời?
Thiếu tướng Võ Bẩm: Ngay khi đường Trường Sơn đi vào hoạt động ổn định chúng tôi đã nghĩ
đến việc mở một tuyến đường chi viện cho miền Nam trên biển Đơng. Kế hoạch này cũng nhanh
chóng được Bộ Chính trị cho phép tiến hành. Việc đầu tiên là tôi đi tìm một số đồng chí ở Khu 5
có kinh nghiệm đi biển và thành lập một đơn vị, nguỵ trang là một tập đồn đánh cá. Chúng tơi tổ
chức nghiên cứu đóng những chiếc thuyền giống như của ngư dân các tỉnh miền Trung. May
mắn tơi tìm được anh Phạm Kỳ nguyên là thợ đóng thuyền, khi tập kết ra Bắc công tác tại nhà
máy xe lửa Gia Lâm. Được tơi vận động, đồng chí Kỳ đồng ý, về đơn vị này cơng tác.
Đến đầu nǎm 1960, "tập đồn đánh cá" này bắt đầu đánh cá để thǎm dò và thực tập ở vùng biển
cửa Sông Gianh. Đúng vào dịp Tết nǎm 1961 chúng tôi cho một chiếc chạy thǎm dị về phía
Nam. Thuyền này do đồng chí Nửa, nguyên là chiến sĩ thi đua của Liên Khu 5 trong kháng chiến
chống Pháp phụ trách. Thuyền đã đi vào được đến Đà Nẵng an tồn. Sau đó các đồng chí này
để thuyền lại, tìm đường lên núi trở ra miền Bắc.
Có thể nói đó là chuyến vượt biển đầu tiên của chúng ta để mở đường Hồ Chí Minh trên biển.
Sau khi đi thử một vài chuyến, có chuyến thành cơng, có chuyến thất bại, chúng tơi rút ra kết luận
rằng, để phát triển đường trên biển, không thể dùng mãi thuyền buồm, mà phải dùng tới tàu thuỷ.
Vì thế chúng tơi kiến nghị lên Bộ Quốc phịng và Bộ Chính trị chuyển giao tuyến đườn này cho
bộ đội Hải Quân. Đề nghị đó đã được chấp nhận và sau này, bộ đội Hải quân đã lập nhiều chiến
công trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.
PV: Sau này, các tác giả viết tổng kết chiến tranh nhận định rằng, đường Hồ Chí Minh xuyên
Trường Sơn là một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước. Điều đó cũng dễ nhất trí. Nhưng với đồng chí, vị Tư lệnh đầu tiên của bộ đội Trường
Sơn, vào lúc nào đồng chí cảm thấy đắc chí nhất? Vào lúc thơng tuyến đường vào Nam hay vào
thời điểm khi đường Trường Sơn đã trở thành một đại lộ, nườm nượp quân đi?
Thiếu tướng Võ Bẩm: Có một lần trên Trường Sơn sau khi đã thơng tuyến với Khu 5, khi cùng
một số cán bộ miền Nam leo lên đỉnh A Tép, đứng nhìn ra xung quanh rừng núi bao la, tơi đã nói
với các đồng chí trong đồn "Núi rừng của ta trùng điệp, hùng vĩ như thế kia thì cho dù đế quốc
Mỹ có kéo hết cả giai cấp tư sản sang cũng không thể chiếm được đất nước mình". Và tơi có
ứng tác mấy câu như sau: "Non xanh nước biếc bao la. Con đường thống nhất mở ra đây rồi.
Anh, tôi cố gắng lên thôi. Mỹ cút, nguỵ nhào ta lại gặp nhau". Phải chǎng, đó chính là lúc mà tơi
cảm thấy đắc ý nhất?
PV: Chúng tôi được biết, thiếu tướng đã từng được gặp và báo cáo công việc với Bác Hồ. Thiếu
tướng có thể kể lại kỷ niệm đó khơng?
Thiếu tướng Võ Bẩm: Đó là một kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời của tôi, vào thời điểm mà
chúng tơi đã hồn thành thơng tuyến con đường phía Tây Trường Sơn. Tôi trở về Hà Nội để báo
cáo công việc với Bộ.
Vào một buổi trưa, tôi đang nghỉ ở nhà riêng thì có điện thoại gọi vào gấp cơ quan Quân uỷ để
làm việc. Tôi vội mặc quân phục rồi đi ngay.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Vo n phũng lm việc của Qn uỷ Trung ương tơi bỗng giật thót khi thấy Bác Hồ đang ngồi
nói chuyện với đồng chí Vǎn Tiến Dũng, thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng. Tôi như chết
đứng, chưa kịp phản ứng gì thì anh Dũng bước tới bảo: "Bác Hồ đang chờ anh đó" Tơi vội giơ
tay lên vành mũ chào. Bác đứng dậy, bước tới đón tơi và thân mật hỏi:
- Chú có khoẻ không? Bác đang muốn nghe chú trực tiếp báo cáo tình hình hoạt động của đồn
559? Bác muốn biết anh em bộ đội trong đó sống ra sao, có khoẻ mạnh khơng? Đồng bào các
dân tộc trên Trường Sơn có đủ cơm ǎn, áo mặc không?
Tôi cố gắng trấn tĩnh để báo cáo công việc với Bác. Để thuận lợi, tơi mở cặp lấy bản đồ của mình
trải lên bàn và bắt đầu báo cáo với Bác về tình hình tuyến đường Trường Sơn, tình hình bộ đội
và nhân dân các dân tộc trên Trường Sơn. Tơi nói đến việc nhân dân các dân tộc trên Trường
Sơn hết lịng vì sự nghiệp giải phóng đất nước, hy sinh râtá nhiều cho tuyến đường Trường Sơn
nhưng đời sống vô cùng khổ cực. Tuy vậy, nhân dân vẫn nhường từng hạt gạo, củ mì cho bộ đội
để bộ đội có sức mà mở đường đi giải phóng miền Nam. Nguyện vọng của nhân dân rất giản dị,
mà thiêng liêng đó là mong sao nước nhà mau thống nhất "để chúng tao có muối của Bác Hồ mà
ǎn".
Khi tơi nói tới đây, Bác rưng rưng nước mắt. Người xua tay, ngắt lời tôi:
- Việc đầu tiên chú nhanh chóng chuyển cho đồng bào Trường Sơn 30 tấn muối, mười tấn vải.
Bác đã chỉ thị cho các cơ quan chuẩn bị rồi. Sau đó lập ngay danh sách các chiến sĩ lập thành
tích xuất sắc để Bác khen thưởng.
Sau khi nghe tôi báo cáo xong, Bác khen.
- Các chú đã mở được con đường về Nam, như vậy là rất tốt. Bây giờ phải khơn khéo, tỉnh táo
để làm việc tốt hơn. Đó chính là con đường sẽ đưa chúng ta tới chiến thắng.
Sau này, tơi vơ cùng thấm thía những lời dạy của Bác. Tôi hiểu ý của Bác là: sự nghiệp dù to lớn
đến đâu nhưng nếu khơng có nhân dân, khơng có mồ hơi xương máu của chiến sĩ thì khơng bao
giờ thành cơng được. Ngày nay, chúng ta đã có cả giang sơn, nhưng đừng bao giờ quên ý
tưởng sâu xa của Bác, có nhân dân mới có sự nghiệp.
PV: Xin cám ơn thiếu tướng! Cám ơn người lão tướng đã lĩnh ấn tiên phong mở đường Trường
Sơn.
Tôi cũng xin được tiết lộ thêm rằng thiếu tướng Võ Bẩm tuy đã già yếu, nhưng trái tim vẫn cịn
sục sơi nhiệt huyết. Khi tơi nói rằng: Chúng ta đang làm nhiều việc để chuẩn bị kỷ niệm 40 nǎm
ngày mở đường Trường Sơn. Thì vị lão tướng ngơ ngác nhìn tơi rồi hỏi lại: "Đã bốn mươi nǎm
trôi qua rồi cơ à!" ờ... kỷ niệm... thì cứ kỷ niệm.... nhưng đừng quên hàng vạn con em của chúng
ta đã hy sinh trên các nẻo đường Trường Sơn".
Tôi cũng xin mượn những lời này để kết thúc bài phỏng vấn của mình.
(Tạp chí Vǎn nghệ Qn đội - Khuất Quang Thuỵ)
Hình như thiếu tướng Võ Bẩm cũng có hồi ký.
Mình có 2 cuốn hồi ký :
- Đường xuyên Trường Sơn của Đồng Sĩ Nguyên - tư lệnh binh đoàn Trường Sơn
- Trường Sơn ngày ấy của Phan Hữu Đại, đại tá, nguyên chính ủy Sư đồn ơ tơ cơ động vận tải
571. (xuất bản năm 1999)
Cuốn thứ nhất thì chắc nhiều người có vì mới in lại. Cuốn thứ 2 của cụ Phan Hữu Đại khá hay,
viết khá chi tiết về những gian khổ mà bộ đội TS phải gánh chịu trong cuộc chiến chống Mỹ.
Linh có rảnh, hơm tới mình mang luôn cuốn này đi cho Linh gõ, rồi gửi lên cho mọi người đọc.
Anh lái xe Trường Sơn
Xe các anh ra đi,
Trong mênh mông Trường Sơn
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Gia trp trựng nỳi biếc
Giăng giăng bức màn sương
Đồn xe đi, cheo leo
Giữa mơng lung trời sao
Mồ hơi đầm lưng áo
Đèo mãi cao, cịn cao
Xe anh đi mùa khô
Trong bụi mù đất đỏ
Áo anh đầy bụi phủ
Màu xanh thành màu nâu
Xe anh đi mùa mưa
Trong đất bùn lầy lội
Cùng suối lũ, mưa rơi
Làn da anh xanh tái
Từ bên Trường Sơn Đông
Anh qua Trường Sơn Tây
“Miền Nam" trong trái tim
Sống chết nào sá chi…
Xe anh mê mải vượt suối đèo
Trời khuya gió lạnh, giọt sương gieo
Xe nối theo xe, đi lầm lũi
Hàng nặng, băng qua những chặng đèo
Dù “địch đánh, ta cứ đi”
Qua nhiều trọng điểm vạn lần nguy
Bom nổ trước sau trùm khói lửa
Vẫn không ngăn được bánh xe quay…
Anh biết giờ đây bên xe anh
Bao chàng lính trẻ mắt long lanh
Bao cơ em gái hồng đôi má
Tay vẫy, miệng cười, đôi mắt xanh.
Đã mấy năm rồi khơng nghỉ ngơi
Xư từng vỡ kính, bẹp bên tai
Nguỵ trang giàn lá che mắt địch
Anh vẫn vào ra những tháng ngày.
Qua núi qua non, anh cùng xe
Sớm tối bên nhau vượt dặm dài
Trước vành tay lái, anh nhìn thẳng
Với một niềm tin khơng chuyển lay
Ơi anh! “Anh lái xe Trường Sơn"
Bình dị tên anh giữa chiến trường
Thương mến xiết bao người dũng sĩ
Tên anh còn mãi với con đường
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Trng Sn Tõy, Xuõn 1972
Khi Bác Hồ giao nhiệm vụ thì cụ Võ Bẩm có lẽ cũng chỉ là Đại tá thơi, cấp tướng sau này mới
phong. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên cũng chỉ mang hàm đại tá, sau giải phóng phong vượt cấp lên
Trung tướng. Chính uỷ cũng chỉ đại tá (Đặng Tính). Ngày xưa đại tá là to lắm rồi.
Bộ đội Trường Sơn đã 2 lần nhận huân chương Sao vàng, thật đáng trân trọng các bác nhỉ?
Trong khi rất ít cơ quan được nhận Sao vàng.
Đường Trường Sơn mới khả năng thất thốt lãng phí tham nhũng chắc khơng cao và cũng
khơng nhiều vì nó chủ yếu giao cho bộ đội làm, vừa rồi có vị tư lệnh 559 có dấu hiệu tham nhũng
lập tức mất chức luôn. Bộ đội 559 làm kinh tế chủ yếu lấy công làm lãi không dám tham ơ đâu
các bác ạ.
Vài dịng mạo muội.
Năm mới về,chúng ta cùng thắp hương cầu nguyện cho hàng vạn người đã mãi mãi dâng tuổi
thanh xuân cho đất nước trên quãng đường này. Chúng ta cũng mừng tuổi và tri ân những người
thật may mắn mà còn sống.Mong rằng thế hệ chúng ta sẽ làm cho đất nước tươi đẹp hơn.
Các bác ah`, bọn em làm giao thông cũng đang làm đường Trường Sơn Đông mới(giai đoạn
Thiết kế kỹ thuật).Mùng 10 tết này lại vào đó khảo sát.Bọn em làm đoạn Thạnh Mỹ - Đà Lạt do tư
vấn Trường Sơn làm tổng thể.Những địa danh như YANGMAO, DrưngKnớ(địa phận ĐăkLăk,
Lâm Đồng..)...lại bắt đầu ghi dấu chân những người thợ, kỹ sư giao thơng như bọn em.Ơi ruồi
Vàng, muỗi bạc ,vắt kim cương, ôi những đỉnh đèo mây phủ, những cơn mưa rừng...Tất cả chỉ
có ở Trường Sơn thơi.Đường này bọn em làm mới nên khơng biết có liên quan đến đường
Trường Sơn mà các bác nói đến khơng?
Theo em đước Biết đường trường sơn ngày xưa chủ yếu là phía tây thơi.đi qua Lào là chủ yếu
sau đó là Miên.
Ơng già em lài Lái xe đồn 559 từ 1968(lính của cụ Đồng Sĩ Nguyên)sau 1972 chuyển qua trung
đoàn giao liên cơ giới em cũng có 1 số hình ảnh mà ơng già em chụp hồi đó cịn lưu được tới
bây giờ
-Để đảm bảo vận chuyển hàng hóa trên suất chiều dài tuyến ta bố trí những binh trạm vận tải mổi
binh trạm sẽ đảm nhiệm vận chuyển trên 1 cung đường nhất định ,biên chế binh trạm thông
thường gồm có vài đại đội hoậc 1,2 tiểu đồn xe.pháo cao xạ.1,2 đơn vị bộ binh bảo vệ hành
lang.ngồi ra cịn có lực lượng cơng binh rà phá bom mìn và thanh niên xung phong.
Cái nữa là hàng hoá vận chuyển bằng xe vận tải chỉ hoạt động vào mùa khô.mùa mưa chạy
khơng được.mùa khơ thì bụi đỏ cứ bốc lên ngùn ngụt xe mà khơng đập kính là khơng thấy đường
chạy-cho nên mới có 1 Bài thơ của bác Phạm Tiến duật về tiểu đội xe khơng kính-khi vận chuyển hàng hóa ban đêm(khơng có đèn) nhiệm vụ của anh lái phụ duy nhất là nhìn 2
bên đường..tìm hầm chữ A...dọc tuyến cứ 1 qng đường thì cơng binh lại đào hầm chữ A có
gắn lân tinh trước cửa để lái xe có gì chui vơ đó tránh bom..
-theo ơng già em nói lính xế sợ nhất là mấy chú C130.bọn này là bậc thầy về săn xe của ta..các
chú này cứ quần thảo hàng tiếng trên trời dịm ngó.chỉ cần có tín hiệu là các chú ấy chớp liền rất
chính xác.lái xe ai cũng ớn.
-cái tiếp là sau khi chuyển hàng xong đưa xe đi giấu rồi lên võng nằm 1 giấc tới chiều...nhưng mà
cái áo giáp phải giấu cho kỹ nếu khơng là "bốc hơi" như chơi có nhiều anh hay đi tới các xe ngó
nghiêng lắm
Khẩu pháo 100 li “độc thân” giữa rừng Trường Sơn
Không biết khi giúp ta trang bị những trung đoàn pháo cao xạ 100 li với những bộ khí tài hiện đại,
các bạn Liên Xơ có bao giờ nghĩ rằng vào một lúc nào đó, tại một nơi nào đó, có một khẩu pháo
100 li, đơn độc một mình, đêm đêm nhả từng quả đạn, tham gia đánh máy bay AC130 của Mỹ
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085
^=^ Đặng Hoàng Hải ^=^
--------------------------------------------------------------------------------------------------------trờn Trng Sn?
Nghe thỡ lạ, khó tin, nhưng đó lại là chuyện có thật một trăm phần trăm.
Trước tiên, xin nói về máy bay AC130-, “con quái vật 5 đầu”, “con cú vọ độc ác”, “thằng cướp
đêm”… kẻ thù đặc biệt nguy hiểm của bộ đội lái xe trên Trường Sơn. Bom sát thương, bom bi,
thậm chí cả bom B52 rải thảm, anh em cũng khơng ngại (vì đã nắm được quy luật của B52). Chỉ
ngán nhất cái thằng “sập thùng” này.
Cứ mỗi điểm xạ “pập-pùng!“, “pập-pùng!” là một xe ta ăn đạn cối 40 li của AC130.
Tôi đã nhiều đêm trèo lên đỉnh núi Xóm Péng để nghiên cứu về loại máy bay hiểm độc đó.
Những đêm đầu tơi thỉ thấy, qua ánh trăng, chiếc máy bay hai thân AC119, loại máy bay mà tơi
đã từng thấy khi nó thả dù tiếp tế cho lính Pháp ở thung lũng Điện Biên năm xưa. Sau một tiếng
“Rẹ-ẹ-ẹt” dài giống như chiếc xe Zin sang số, là một loạt đạn 20 li cày xuống đường AC119 bắn
20 li cũng khá chính xác, nhưng ở đâu có pháo ta bắn mạnh là nó chuồn ngay.
Đêm 18 tháng 1 năm 1972, tôi lại trèo lên đỉnh núi. Khoảng 18 giờ, tiếng động cơ ầm ì từ xa vọng
lại, nhưng nghe nặng nề hơn những đêm trước. Khi tiếng ầm ì đến gần, tơi ngửa mặt nhìn lên,
căng mắt theo dõi.
Trong ánh trăng vằng vặc, tơi chợt nhìn thấy lờ mờ bóng dáng chiếc máy bay, với cái bụng to bè,
lướt qua rất nhanh. Chỉ mấy giây thôi, rồi nó mất hút trong màn đêm, nhưng tơi khẳng định đó là
AC130!
Nghe tiếng động cơ thay đổi, tơi đốn nó đã bắt đầu lượn vịng trên trọng điểm. Bên dưới đường
kia, đoàn xe ta đang đi qua. Bỗng “pập-pùng!”, “pập-pùng!”, những tiếng nổ của đạn cối 40 li làm
tim tơi đau nhói. Thế nào cũng có một chiếc xe dính đạn của nó rồi. Khơng biết đồng chí lái của
ta có kịp xuống hầm ẩn nấp?
Từng cụm lưới lửa cao xạ vọt lên, bắn chặn đầu máy bay. Lập tức bọn cường kích F4 nhào tới
ném bom phản ứng trận địa. Tuy thế, đạn cao xạ vẫn tiếp tục từng đợt, từng đợt nổ rền trên
trọng điểm Xóm Péng.
Tơi hy vọng nó sẽ chuồn. Nhưng khơng! Những tiếng “pập-pùng!”, “pập-pùng!” vẫn cứ như một
điệp khúc quái ác kéo dài, dai dẳng. Tôi bỗng hiểu ra rằng: thế là độ cao bay của AC130, hơn
hẳn AC119, đã ở ngoài tầm bắn của pháo cao xạ 37 li của ta.
Ở đây, chúng tơi có một đại đội pháo 57 li, nhưng cũng khơng uy hiếp nổi nó. Chỉ sau vài loạt
bắn, trận địa pháo 57 đã bị bọn F4, A7 lao đến ném bom: bom phá, bom sát thương, bom bi, cả
bom lân tinh nữa. Hai pháo thủ của đại đội hy sinh ngay trên mâm pháo.
Với phương tiện quan sát bằng “máy khuếch đại ánh sáng mờ”, đặc biệt có thêm phương tiện
mới, quan sát bằng “tia hồng ngoại”, phát hiện mục tiêu nhờ ở “bức xạ nhiệt” toát ra từ máy nổ
của xe, tên cú vọ đã dễ dàng nhằm trúng xe ta.
Đêm nay, mười xe cháy trên đường. Một xe xích của trung đồn tơi kéo một khẩu pháo 100 li
của đại đội 3, trên đường vào Tà Lộng, đi qua đó, cũng bị AC130 đánh hỏng.
Đại đội 3 chỉ cịn lại ba khẩu pháo, với bộ khí tài vừa mới được sửa chữa, do hư hỏng sau một
chặng đường dài vượt đỉnh Trường Sơn.
(Trich trong Hồi ký-Ký ức Đường Trường Sơn của Lưu Trọng Lân)
--------------------------------------------------------------------------------------------------------Allrights reserved by Rosea
HD220906085