Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Phân tích kinh tế vĩ mô tình hình lạm phát ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (196.5 KB, 11 trang )

I/ LÝ DO CHỌN CHỦ ĐỀ
Trong bối cảnh bất ổn vĩ mơ vẫn tiếp tục tích luỹ và có dấu hiệu bùng phát
vào những tháng đầu năm 2011, lạm phát trở thành một trong bốn vấn đề gay gắt
nhất liên quan đến bình ổn vĩ mơ (cùng với quản lý tỷ giá, thâm hụt thương mại
và thâm hụt ngân sách). Tuy nhiên, những năm gần đây các yếu tố quyết định
lạm phát cũng như những biến động của lạm phát luôn là chủ đề được thảo luận
nhiều nhất ở Việt Nam. Nguyên nhân của điều này rất rõ ràng, vì lạm phát đã
luôn là vấn đề nan giải nhất, làm tổn thương nhất đối với nền kinh tế Việt Nam.
Trong khi đó, nền kinh tế càng ngày phát triển đa dạng và phong phú, và nguyên
nhân của lạm phát cũng vì thế mà trở nên ngày càng phức tạp và khó lường hơn.
Những sự kiện gần đây như việc Việt Nam gia nhập WTO, luồng vốn nước ngoài
đột nhiên chảy mạnh vào Việt Nam trong hai năm 2007-2008, các vấn đề của thị
trường ngoại hối Việt Nam năm 2009 và 2010, cùng với cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới cũng như nguy cơ lạm phát tăng mạnh trở lại đã đặt ra nhiều thách
thức mới cho việc quản lí kinh tế vĩ mô và đặc biệt là kiềm chế lạm phát ở Việt
Nam. Hàng loạt những thay đổi trong môi trường vĩ mơ và chính sách kinh tế
trong những năm gần đây đã đặt ra yêu cầu cần có một cách tiếp cận tồn diện và
có hệ thống nhằm xác định những nhân tố vĩ mô quyết định đến lạm phát trong
bối cảnh mới của Việt Nam. Từ những phân tích trên nhóm em quyết định chọn
chủ đề : “Phân tích những nhân tố vĩ mơ quyết định lạm phát ở Việt Nam” để
làm chủ đề nghiên cứu.
II/ LÝ THUYẾT LẠM PHÁT
1/ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LẠM PHÁT
Trước khi nói đến định nghĩa của lạm phát, chúng ta hãy nhắc đơi chút về
“tiền”, đặc biệt là tiền giấy, vì đây là phương tiện trao đổi và thanh tốn thơng
dụng nhất ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại.
Tiền giấy ban đầu là dấu hiệu của vàng, thay thế cho vàng làm chức năng
thanh toán và phương tiện trao đổi. Tuy nhiên, khi tiền giấy khơng có giá trị bản
thân mà chỉ có giá trị danh nghĩa, cho nên nó khơng thể tự điều hồ giữa chức
năng lưu thơng và tích trữ, từ đó tiền giấy bị mất giá và trở thành một hiện tượng
phổ biến và thường xuyên trong xã hội ngày nay. Từ những vấn đề vừa nêu, ta có


thể hiểu lạm phát một cách đơn giản như sau:
1


“Lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập trong lưu thông vượt quá
nhu cầu cần thiết của lưu thông hàng hoá làm cho tiền giấy bị mất giá và giá cả
hàng hoá được biểu hiện bằng đồng tiền mất giá không ngừng tăng lên”.
Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát là giá cả hàng hoá tăng liên tục nên
người ta thường căn cứ vào chỉ số giá cả hàng hoá tăng để làm căn cứ phân thành
ba loại lạm phát:
 Lạm phát vừa phải (lạm phát một con số): biểu hiện chỉ số giá cả tăng
chậm trong khoảng 10% trở lại. Do đó, đồng tiền mất giá khơng nhiều,
không ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh. Ở hầu hết các nước trên thế
giới áp dụng và xem đó là chất xúc tác cho nền kinh tế phát triển.
 Lạm phát phi mã: giá cả hàng hoá bắt đầu tăng với tỉ lệ hai hoặc ba con
số. Khi lạm phát này xuất hiện thì bắt đầu gây ảnh hưởng đến đời sống
kinh tế xã hội.
 Siêu lạm phát: xảy ra khi tốc độ tăng giá vượt xa lạm phát phi mã.
2/ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH LẠM PHÁT:
Sau khi có được một cách hiểu cơ bản về lạm phát, chúng ta sẽ cùng
nghiên cứu về những nhân tố tác động đến lạm phát. Tuy nhiên, lạm phát đã được
nghiên cứu rất sâu trong các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm cho
từng nước cụ thể. Chúng ta không thể bắt đầu thảo luận về các nhân tố quyết
định lạm phát mà không nhắc đến những ý tưởng và một số luận thuyết về lạm
phát. Có bốn luận thuyết chính về lạm phát:
a/ LẠM PHÁT LƯU THÔNG TIỀN TỆ
Tiêu biểu cho quan điểm này là J.Bodin và M.Friedman. Họ cho rằng: lạm
phát là do đưa nhiều tiền thừa vào lưu thơng làm cho giá cả tăng lên. Friedman
nói: “Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu
thông tăng lên với nhịp độ nhanh hơn so với nhịp độ sản xuất”.

Hay nếu nhìn vào thực tế, ta có thể hiểu một cách khái quát: lạm phát tiền
tệ xuất hiện khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng cung tiền qua việc thực hiện
Chính sách tiền tệ mở rộng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc tăng cung tiền
của ngân hàng trung ương (chẳng hạn như việc mua ngoại tệ để giữ cho đồng nội

2


tệ khơng bị mất giá hay mua chứng khốn theo mục tiêu của chính phủ) khiến
cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên.
Bây giờ, để hiểu rõ hơn về luận thuyết trên, chúng ta sẽ đi vào một ví dụ
thực tế để xem xét.
Hình 1. Tỷ lệ lạm phát Việt Nam, tốc độ tăng cung tiền và tín dụng, 19962009

Nguồn: IFS và NHNN, 2010
Từ đồ thị trên ta có thể thấy, tiền tệ - tín dụng và lạm phát có mối tương
quan rất chặt chẽ với nhau. Cụ thể ta thấy đường biểu diễn lạm phát có xu hướng
“đi theo” đường biểu diễn tiền tệ - tín dụng. Hay nói đơn giản khi tiền tệ - tín
dụng tăng thì lạm phát cũng tăng theo. Nếu nhìn vào giai đoạn 2006-2007 ta
nhận thấy, lạm phát sau khi giảm nhẹ trong năm 2006 đã lại tăng mạnh tới 12,6%
năm 2007 và lên tới 20% vào năm 2008. Có nhiều lý do đã được đưa ra nhằm
giải thích cho sự tăng mạnh trở lại của lạm phát trong những năm 2007-2008.
Những lý do này bao gồm sự tăng mạnh của mức lương tối thiểu, sự gia tăng của
giá cả hàng hoá quốc tế, chính sách quản lý tỷ giá cứng nhắc và thiếu linh hoạt,
sự mở cửa của Việt Nam với thế giới từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào cuối
năm 2006 khiến cho luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ mạnh vào Việt
Nam, đẩy giá chứng khoán và giá tài sản lên rất cao, và đặc biệt là chính sách
tiền tệ lỏng lẻo và không linh hoạt. Bằng chứng ở đây là với việc giữ ổn định tỷ
giá, buộc NHNN phải bơm một lượng tiền lớn vào nền kinh tế góp phần làm
trầm trọng hơn tình trạng lạm phát, điều này đã nói lên rằng chính việc tăng cung

tiền đã trực tiếp gây ra lạm phát. Những vấn đề vừa nêu trên đây, mới chỉ là
3


những phân tích đối với một nền kinh tế trong ngắn hạn, chúng ta có thể tìm thấy
nhiều ngun nhân dẫn đến lạm phát, và khó có thể nhận thấy đâu là nguyên
nhân chủ yếu. Tuy nhiên, khi phân tích và nghiên cứu để xem xét một nền kinh tế
trong dài hạn thì những nhà kinh tế cho rằng tác nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát
là việc NHNN thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng (hay tăng sức cung tiền) qua
các thời kỳ vì những mục đích khác nhau trong từng thời điểm.
b/ LẠM PHÁT CẦU DƯ THỪA TỔNG QUÁT
Quan điểm này do J.Keynes đề xướng. Ông cho rằng nguyên nhân cơ bản
của lạm phát là do sự biến động cung – cầu. Khi mức cung vượt quá mức cầu thì
dẫn đến tình trạng đình đốn sản xuất. Khi đó, nhà nước cần tăng lượng tiền vào
lưu thơng, tăng chi tiêu nhà nước, tăng tín dụng, nghĩa là tăng cầu để đạt tới mức
cân bằng với cung và vượt cung. Lúc này lạm phát đã xuất hiện, và lạm phát ở
đây có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển. Vậy là trong điều kiện nền kinh tế
phát triển có hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật được áp dụng tích cực, cơ cấu kinh tế
được đổi mới nhanh và đúng hướng thì lạm phát đã là một cơng cụ để tăng
trưởng kinh tế, chống suy thoái. Nhưng khi nền kinh tế đã rơi vào thời kỳ phát
triển kém hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật được áp dụng chậm chạp, cơ cấu kinh tế
được đổi mới theo các hướng khơng đúng hoặc trì trệ,…thì lạm phát đã khơng
cịn là một công cụ tăng trưởng kinh tế nữa. Chúng ta hãy liên hệ đến một ví dụ
thực tế để có thể nhìn nhận vấn đề này sâu hơn:
Vào cuối thập niên 1990, đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại vì
những dấu hiệu do dự trong tiến trình cải cách kinh tế xuất hiện từ năm 1996 và
những ảnh hưởng lan truyền tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm
1997. Hậu quả của tình trạng này là nền kinh tế trải qua một giai đoạn suy giảm
tốc độ tăng trưởng đi liền với hiện tượng giảm phát trong những năm 1999-2001.


4


Hình 2. Tăng trưởng kinh tế và lạm phát, 1995-2009

Nguồn: Tổng hợp từ GSO (2010)
Trước tình hình đó, một kế hoạch kích thích kinh tế thơng qua nới lỏng tín
dụng và mở rộng đầu tư nhà nước bắt đầu được thực hiện từ năm 2000. Việc duy
trì chính sách kích thích tương đối liên tục trong những năm sau đó, một mặt
giúp nền kinh tế lấy lại phần nào đà tăng trưởng, nhưng mặt khác đã tích tụ
những tác nhân ngầm gây ra lạm phát cao bắt đầu bộc lộ từ giữa năm 2007. Thêm
vào đó, việc gia nhập WTO vào 11/2006 mở ra một thời kỳ hội nhập sâu rộng
chưa từng có, khiến mức độ giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng vọt, làm
dòng vốn vào (cả đầu trực tiếp và gián tiếp) tăng mạnh. Nhu cầu ổn định đồng
tiền Việt đòi hỏi NHNN phải trung hồ một lượng ngoại tệ lớn, góp phần thổi
bùng lạm phát trong năm 2008.
c/ LẠM PHÁT CHI PHÍ:
Luật thuyết này cho rằng lạm phát nảy sinh do mức tăng các chi phí sản
xuất, kinh doanh đã nhanh hơn mức tăng năng suất lao động. Mức tăng này chủ
yếu là do tiền lương được tăng lên, giá các nguyên vật liệu tăng, công nghệ cũ kỹ
không được đổi mới, cách thức quản lý lạc hậu khơng giảm được chi phí…
Để hiểu rõ hơn về luận thuyết này, ta có thể liên hệ với thực tế qua:
5


Tình hình lạm phát ở Việt Nam trong năm 2008. Vào năm này giá dầu
tăng cao tác động hầu hết các ngành sản xuất trong nước dẫn tới tăng giá bán đầu
ra và không ngành sản xuất nào trong nước cưỡng lại được xu thế này. Bao gồm
cả ngành giao thông vận tải, than, khai thác than, luyện sắt thép …Ta có thể thấy
rõ, giá dầu đã tăng 72%, sắt thép tăng 114%, phân bón tăng 59,6%, khí hố lỏng

tăng 95% kể từ đầu năm 2007 đến tháng 3/2008 và đây cũng là mức tăng cao
nhất từ trước tới nay. Kèm theo đó, giá lương thực, thực phẩm liên tục gia tăng:
xuất phát từ q trình biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai dịch bệnh diễn ra liên
tiếp, cùng với những năm tăng trưởng kinh tế mạnh trên thế giới - là những năm
q trình cơng nghiệp hố được đẩy mạnh khiến diện tích đất sử dụng cho trồng
trọt, chăn nuôi bị thu hẹp. Tất cả những điều trên làm sản lượng lương thực thực phẩm ngày càng giảm mạnh dẫn đến thu hẹp nguồn cung và tất nhiên giá cả
của lương thực - thực phẩm được đẩy lên cao. Ngoài tác động của nền kinh tế
toàn cầu, nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam là do nội tại bên trong
của nền kinh tế. Chi phí sản xuất tăng cao; trước bối cảnh lạm phát toàn cầu gia
tăng đã tác động làm giá hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam gia
tăng mạnh mẽ như xăng dầu, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu - là những nguyên
nhiên vật liệu đầu vào chính của q trình sản xuất. Mặc dù Chính phủ đã cố
gắng kiểm soát giá xăng dầu, nhưng từ đầu năm 2007 đến hết Quý I/2008 giá
xăng dầu đã phải điều chỉnh tăng 4 lần, tính chung giá xăng dầu đã tăng tới 38%,
giá thép tăng 91%, giá điện tăng 7,6%; giá than tăng 30%; giá xi măng tăng 15%;
giá phân bón tăng 58%. Điều này đã tác động làm chi phí sản xuất tăng cao dẫn
đến giá cả hàng hóa cũng tăng theo. Bên cạnh đó, giá lương thực, thực phẩm
cũng tăng cao; vì những nguyên nhân đã được nêu lên ở trên. Và điều quan trọng,
lương thực thực phẩm là nguyên liệu đầu vào của rất nhiều ngành sản xuất đồng
thời là nguồn thực phẩm chính hàng ngày của con người vì thế nó góp phần đẩy
giá thành sản xuất tăng cao.
Và khi giá bán tăng cùng với quy luật cung cầu sẽ làm tổng cầu giảm, các
doanh nghiệp sẽ cắt giảm sản xuất, sa thải công nhân. Hậu quả dẫn đến cho nền
kinh tế lúc này vừa có lạm phát vừa bị suy thoái. Nếu lạm phát do cầu kéo ở mức
vừa phải là một điều kiện tốt cho nền kinh tế, nó sẽ kích thích đầu tư mở rộng sản
xuất, người ta cịn ví nó như một một chất dầu mỡ dùng để bôi trơn cho bộ máy
6


cho nền kinh tế, nhưng lạm phát chi phí đẩy thì dù bất kì mức độ nào cũng đều

khơng tốt vì bản thân nó mang trong mình sự suy thối.
d/ LẠM PHÁT CƠ CẤU:
Lý thuyết cơ cấu được phổ biến ở nhiều nước đang phát triển. Theo lý
thuyết này thì lạm phát nảy sinh là do sự mất cân đối sâu sắc trong chính cơ cấu
của nền kinh tế (mất cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa cơng nghiệp nặng và
công nghiệp nhẹ, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa sản xuất và dịch vụ,…).
Chính sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế đã làm cho nền kinh tế phát triển
khơng hiệu quả.
Nếu nhìn vào thực tế nền kinh tế Việt Nam hiện nay, ta sẽ dễ dàng nhận
ra: Ngành cơng nghiệp ở nước ta tuy có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng yếu tố
hiện đại trong tồn ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật cơng
nghệ nhìn chung vẫn ở mức trung bình. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm liên
tục trong những năm gần đây. Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám và
giá trị gia tăng cao như dịch vụ tài chính – tín dụng, dịch vụ tư vấn chậm phát
triển. Tình trạng độc quyền, dẫn tới giá cả dịch vụ cao, chất lượng dịch vụ thấp
còn tồn tại ở nhiều ngành như điện lực, viễn thông, đường sắt. Một số ngành có
tính chất động lực như giáo dục – đào tạo, khoa học – cơng nghệ, tính chất xã hội
hố cịn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước tạo gánh nặng cho ngân
sách nhà nước cùng với cơ chế kinh tế độc quyền, quan liêu bao cấp nặng nề.
Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế, các quan hệ tiền tệ
không phát huy hiệu quả vào việc kích thích, thúc đẩy nền kinh tế phát triển cùng
với những yếu kém của nền kinh tế đã làm cho tình hình lạm phát diễn ra ngày
một phổ biến hơn. Các thể chế kinh tế độc quyền, quan liêu bao cấp, đóng cửa…
hướng nền kinh tế nước ta phát triển các ngành có chi phí cao, tách rời cầu thị
trường, cơ lập với thế giới bên ngồi do vậy mà khơng thể tạo mơi trường kinh
doanh hiệu quả cho các doanh nghiệp, các công ty dẫn đến sự mất cân đối giữa
cung và cầu, tăng bội chi ngân sách nhà nước thể hiện nền kinh tế kém hiệu quả,
các doanh nghiệp thua lỗ…đó là nguyên nhân sâu xa đưa nước ta lâm vào tình
trạng lạm phát. Ngồi ra, cịn có sự kém hiệu quả trong hoạt động đầu tư công,
cũng như công tác quản lý thị trường chúng ta làm chưa tốt, dẫn đến việc đưa ra

những chính sách chưa thực sự thoả đáng, khiến cho các nguồn thu của ngân
7


sách nhà nước ngày càng cạn kiệt, và điều đó khiến ta luôn liên tưởng rằng đặc
điểm căn bản của ngân sách nhà nước Việt Nam là “thâm hụt triền miên ở mức
cao”. Đồng thời nợ cơng có khuynh hướng tăng liên tục trong nhiều năm qua.
Hình 3. Thu-chi và thâm hụt ngân sách, 2000-2009

Nguồn: Tổng hợp từ IMF (2003, 2006, 2009)
Đầu tư công năm 2007 chiếm 37,2%, năm 2008 chiếm 33,9%. Đặc biệt
năm 2009 chiếm 40,6%. Tỷ lệ ngân sách chi cho các dự án đầu tư công dường
như tỷ lệ nghịch với hiệu quả của các dự án trên. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng cơ bản như đường xá, cầu cống, sân bay, hải cảng… là rất cần thiết để góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một thực trạng đáng buồn ở Việt
8


Nam hiện nay đó là các dự án đầu tư cơng đang dàn trải, khơng có định hướng
quy hoạch cụ thể. Các dự án đòi hỏi đầu tư với lượng vốn lớn nhưng hiệu suất sử
dụng thu về thì khơng nhiều. Điều này tạo ra một sự mất cân đối trong nền kinh
tế, khiến thâm hụt ngân sách của nước ta hàng năm tăng cao trong khi đó bộ mặt
của nền kinh tế khơng có dấu hiệu cải thiện rõ rệt.
3/ TÁC ĐỘNG VÀ BIỆN PHÁP
Từ những phân tích cơ bản cùng với những ví dụ thực tiễn được đưa ra để
giúp ta có được một cái nhìn tổng quan đối với bốn luận thuyết về lạm phát. Và
ngay sau đây, chúng ta sẽ cùng tiếp cận đến những tác động của lạm phát đến nền
kinh tế, cũng như những biện pháp cơ bản để kiềm chế lạm phát.
a/ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT:
Sự gia tăng mức giá chung hàm ý sự giảm sức mua của tiền tệ. Đó là bởi

vì khi mức giá chung tăng, mỗi đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ
hơn. Ảnh hưởng của lạm phát được phân đều trong nền kinh tế, và kết quả là chi
phí của một số mặt hàng và lợi nhuận của một số mặt hàng sẽ bị ẩn giấu bởi sự
sụt giảm sức mua của tiền tệ này. Ví dụ: khi xảy ra lạm phát, với những chủ cho
vay hoặc người gửi tiền, những người được trả một mức lãi suất cố định với
những khoản cho vay hoặc khoản tiền gửi, sẽ bị giảm sức mua của những khoản
tiền lãi suất của họ, trong khi những người vay họ lại được hưởng lợi. Những cá
nhân hoặc tổ chức có tài sản tiền mặt sẽ bị giảm sức mua của những cổ phần họ
nắm giữ. Tăng khoản tiền thanh tốn cho cơng nhân và những người hưởng
lương hưu thường chậm hơn tỷ lệ lạm phát, đặc biệt với những người được thanh
toán những khoản tiền cố định.
b/ BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT:
Trong trường hợp có lạm phát xảy ra, Nhà nước thường áp dụng các giải
pháp sau:
 Thắt chặt khối cung tiền tệ: Trong trường hợp nền kinh tế có dấu hiệu
lạm phát, NHNN sẽ thực hiện chính sách thắt chặt khối cung tiền tệ
bằng các cơng cụ của mình như tăng lãi suất chiết khấu, tăng tỉ lệ dự
trữ pháp định, không phát hành thêm tiền vào lưu thông.
 Kiềm giữ giá cả: bằng cách nhập khẩu lượng hàng mà nền kinh tế
thiếu; xuất kho dự trữ ra bán; thực hiện chính sách kiểm soát giá.
9


 Ấn định mức lãi suất cao: Khi lãi suất tiền gửi được ấn định ở mức cao
sẽ thu hút bớt tiền trong lưu thông về.
 Giảm chi tiêu ngân sách: chi tiêu ngân sách là một bộ phận quan trọng
của tổng cầu, giảm chi ngân sách những khoản chi chưa thật sự cần
thiết sẽ làm giảm sức ép đối với tổng cầu và giá cả sẽ hạ xuống.
 Hạn chế tăng tiền lương: tiền lương là một bộ phận quan trọng trong
chi phí sản xuất, tăng tiền lương sẽ làm tăng tổng chi phí sản xuất, dẫn

đến giá cả tăng lên, đồng thời tăng tiền lương cũng làm tăng thu nhập
cho dân chúng, gây sức ép làm tăng tổng cầu.
 Lạm phát chống lạm phát: Nhà nước gia tăng đầu tư mở rộng sản xuất,
kết quả của đầu tư sẽ làm tăng cung, tạo điều kiện cân bằng quan hệ
cung cầu.
 Thực hiện chiến lược thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Canh tranh hoàn

hảo sẽ tránh được độc quyền đẩy giá lên, mặt khác cạnh tranh sẽ thúc
đẩy cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất, góp phần làm cho giá
cả hàng hoá hạ xuống.
 Mua lấy một tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát: lạm phát và thất nghiệp là
hai yếu tố đối nghịch nhau, người ta có thể mua lấy một tỷ lệ thất
nghiệp và lạm phát vừa phải để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
bình thường và đời sống xã hội ổn định.

10


11



×