Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

Pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp, qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh quảng bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (177.56 KB, 31 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

TIỂU LUẬN THỰC TẬP NGHỀ LUẬT
ĐỀ TÀI:
“PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ XỬ LÝ RÁC THẢI Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP,
QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH”
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS. TS ĐOÀN ĐỨC LƯƠNG
HỌC VIÊN: NGUYỄN THÚY HẰNG
LỚP: CAO HỌC LUẬT KINH TẾ K22 – QUẢNG BÌNH

Quảng Bình, năm 2021

LỜI CẢM ƠN


Để hồn thiện tiểu luận này, tơi bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
thầy giáo PGS. TS Đoàn Đức Lương, Giảng viên Trường Đại học Luật Huế đã tận tình
hướng dẫn tơi trong suốt q trình nghiên cứu xây dựng và hồn thành tiểu luận. Tôi xin
trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cơ giáo trong Ban giám hiệu, phịng
Đào tạo, Khoa Kinh tế và PTNT Trường Đại học Luật Huế đã truyền đạt những kiến thức,
kinh nghiệm thực tiễn trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân tỉnh
Quảng Bình, cùng các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều
kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và hồn thiện tiểu luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, xong với kinh nghiệm còn hạn chế và thời gian tìm
hiểu, thu thập các tài liệu nghiên cứu khơng nhiều, tiểu luận khơng tránh khỏi những thiếu
sót. Tơi rất mong nhận được sự đóng góp từ phía thầy cô, các bạn học viên và đồng


nghiệp để tiểu luận được hồn chỉnh hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả

Nguyễn Thúy Hằng

MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT.


Viết tắt
KCN
BVMT
UBND
HĐND
QLNN
BQL

Ý nghĩa đầy đủ
Khu công nghiệp
Bảo vệ môi trường
Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân
Quản lý Nhà nước
Ban quản lý

PHẦN MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Rác thải công nghiệp là chất thải từ hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp ra ngồi
mơi trường. Cùng với mức sống của con người hiện đại và công cuộc công nghiệp hóa –
hiện đại hóa ngày càng phát triển mạnh; các nhà máy, KCN ngày càng gia tăng không
ngừng tại Việt Nam đã khiến cho lượng rác ở các KCN thải ra môi trường ngày càng
nhiều với các thành phần phức tạp và đa dạng. Trong thành phần rác thải cơng nghiệp có


chứa nhiều chất độc, khi chất độc được đưa vào mơi trường và khơng được xử lý khoa
học thì những chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều lồi sinh vật có lợi, làm cho
mơi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây
trồng. Khu tập trung rác thải công nghiệp là nơi thu hút, phát sinh và phát triển các loại
côn trùng, các loại vi trùng là nguồn mang dịch bệnh gây ra nhiều bệnh truyền nhiễm cho
con người và các sinh vật. Nếu lượng rác thải này không được thu gom, xử lý, tồn đọng ở
môi trường lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người cũng như ảnh hưởng tới môi
trường xung quanh. Để bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng cũng như làm cho môi trường
sống không bị ô nhiễm bởi rác thải ở khu công nghiệp, mỗi nhà máy, khu công nghiệp hãy
nêu cao ý thức bảo vệ mơi trường đó là việc xử lý rác thải trước khi xả ra môi trường.
Dịch vụ xử lý chất thải công nghiệp trong KCN là loại hình dịch vụ mới và phải
đứng ứng nhiều điều kiện theo quy định pháp luật, Nhà nước từng bước ban hành nhiều
quy định pháp luật. Nhằm hướng đến hoàn thiện khung pháp lý về loại hình dịch vụ này,
bảo vệ môi trường và tuân thủ các cam kết quốc tế. Với các trang thiết bị hiện đại, công
nghệ xử lý tiên tiến được vận hành bởi đội ngũ nhân sự có trình độ chun mơn, năng lực
cao. Nhằm giúp các doanh nghiệp loại bỏ tính nguy hiểm của rác thải trong q trình sản
xuất, bảo vệ mơi trường làm việc nói riêng và mơi trường sống xung quanh nói chung.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Bình hiện có 6 KCN tập trung đang hoạt động, cùng với
việc đẩy mạnh chính sách thu hút đầu tư các khu công nghiệp đang phát triển ngày càng
mạnh mẽ. Thống kê từ Sở Tài ngun và Mơi trường tỉnh Quảng Bình cho thấy bình quân
tổng lượng rác thải công nghiệp phát sinh tại các khu cơng nghiệp ước tính khoảng
1.985,05 tấn/năm. Những năm gần đây, lượng rác thải ở các KCN ở tỉnh Quảng Bình tăng

nhanh cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và q trình cơng nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ.
Các hoạt động xử lý rác thải ở các KCN của tỉnh Quảng Bình cịn nhiều bất cập, các quy
định của pháp luật về quản lý rác thải công nghiệp, các dịch vụ xử lý rác thải còn nhiều
hạn chế, chưa đầy đủ gây ra rất nhiều khó khăn cho các nhà máy, xí nghiệp trong q
trình xử lý.
Vì thế, việc hoàn thiện pháp luật về quản lý, nâng cao dịch vụ xử lý rác thải ở các
khu KCN là một nhu cầu cấp thiết. Đồng thời, chi phí thu gom và xử lý rác thải ở các
KCN cũng tăng theo, đặc biệt chi phí xây dựng cơ sở xử lý rác thải công nghiệp, dịch vụ
xử lý lượng nước bẩn, mùi hơi, khí thải vẫn cịn gặp nhiều khó khăn. Đây cũng là vấn đề
mà các cấp lãnh đạo tỉnh Quảng bình ln đặc biệt quan tâm. Chính vì các nguyên nhân
trên nên tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở
các khu công nghiệp, qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình”.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài


Vấn đề pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải cơng nghiệp nói chung và xử lý rác thải ở
các KCN nói riêng ln là đề tài được nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam
nghiên cứu. Cụ thể như sau:
- Nguyễn Trường Giang (1996), Môi trường và Luật quốc tế về mơi trường. Nxb Chính trị
quốc gia. Lê Đức Trung (2014), Kỹ thuật xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, NXB
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
- Quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp, luận văn Thạc sĩ của tác giả Phạm
Thị Thanh Thuỷ (2016), Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn chủ yếu tập
nghiên cứu quy định định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công nghiệp
và đề xuất một số giải pháp.
- ThS. Phạm Thanh Tùng (201), Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của
doanh nghiệp trong hoạt động quản lý chất thải, bài viết đăng trên trang web của Toà án
nhân tối cao.
- Đỗ Văn Thông (2007), “Vấn đề môi trường và sức khỏe cộng đồng trong q trình cơng

nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Lý luận chính trị.
Các cơng trình nghiên cứu đó đã ít nhiều làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
của công tác quản lý rác thải ở KCN. Bên cạnh đó, các cơng trình cịn phân tích, đánh giá
trong lĩnh vực mơi trường và tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu. Tuy nhiên, các công trình
nêu trên chưa đi sâu vào nghiên cứu và phân tích thực trạng pháp luật về dịch vụ xử lý rác
thải ở các KCN. Do đó, việc nghiên cứu đề tài là khơng trùng lắp với những cơng trình đã
nghiên cứu trước.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về
dịch vụ xử lý rác thải ở cácKCN, qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình. Từ đó đề
xuất các biện pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN, qua thực
tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về xử lý rác thải công nghiệp, cơ sở lý luận về
thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN.
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dịch vụ xử lý
rác thải ở các KCN, qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình.


- Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về dịch vụ xử
lý rác thải ở các KCN, qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình để tìm ra những khó
khăn, vướng mắc để làm rõ nguyên nhân.
- Đề xuất một số định hướng giải pháp thực hiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải
ở các KCN, qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các
KCN và thực tiễn áp dụng dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng

Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khơng gian: Pháp luật về dịch xử lý rác thải công nghiệp là một phạm trù nghiên
cứu rộng, vì vậy tiểu luận khơng thể nghiên cứu hoạt động xử lý của tất cả các loại rác
thải hiện nay, cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của xử lý rác thải
mà chủ yếu đề cập đến các vấn đề pháp lý liên quan đến dịch vụ xử lý chất thải công
nghiệp.
Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về dịch vụ xử lý rác
thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Thời gian: Số liệu nghiên cứu từ năm 2016 – 2021.
5 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê – nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; phương pháp luận các quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng; chính sách pháp
luật Nhà nước về bảo vệ mơi trường nói chung và dịch vụ xử lý, quản lý rác thải cơng
nghiệp nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết tiểu luận sử dụng phương pháp
nghiên cứu lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát
thực tiễn và đánh giá, phương pháp phân tích….Cụ thể, như sau:
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của tiểu luận khi
nghiên cứu các vấn đề lý luận về dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp, đánh giá thực trạng


pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp và thực tiễn áp dụng pháp luật về dịch vụ
xử lý rác thải ở các KCN tại tỉnh Quảng Bình.
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tập hợp, xử lý các tài liệu, số liệu liên
quan đến xử lý rác thải ở các KCN tại tỉnh Quảng Bình phục vụ cho việc nghiên cứu đề
tài.
- Phương pháp chứng minh được sử dụng để làm sáng tỏ các luận điểm, các nhận

định về thực trạng pháp luật về xử lý rác thảiở các KCN, thực tiễn áp dụng pháp luật về
rác thải ở các KCN tại tỉnh Quảng Bình.
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra những
nhận định, kết luận của từng chương và kết luận chung của tiểu luận.
6. Những đóng góp mới của tiểu luận
Tiểu luận góp phần nghiên cứu về hệ thống hóa một số sơ sở lý luận và nghiên cứu
thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn thực hiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác
thải ở các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Tiểu luận là cơng trình khoa học có ý nghĩa nhất định trong việc làm rõ các vấn đề
lý luận, thực tiễn áp dụng pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN và các giải pháp,
phương hướng trong thời gian tới. Các kết quả nghiên cứu của tiểu luận này có thể được
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về Luật Kinh tế. Một
số đề xuất, kiến nghị của tiểu luận có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và
tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về xử lý rác thải công nghiệp
hiện nay.
7. Cấu trúc của tiểu luận
Kết cấu của tiểu luận gồm 3 Chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu
công nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp và
thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp tại tỉnh Quảng Bình.


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ XỬ
LÝ RÁC THẢI Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Khái quát về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp



1.1.1. Khái niệm rác thải công nghiệp
Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (số 55/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hịa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thơng qua ngày 23/6/2014): “Rác thải (chất thải) là vật chất
được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”
Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải
và phế liệu: “Rác thải công nghiệp là rác thải (chất thải) phát sinh từ hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ.”
Rác thải công nghiệp là rác thải được tạo ra từ hoạt động công nghiệp, bao gồm bất kỳ vật
liệu nào trở nên vơ dụng trong q trình sản xuất của các cơ sở sản xuất, xí nghiệp, nhà
Theo tính chất rác thải công nghiệp được phân loại thành 2 loại:
- Rác thải công nghiệp không nguy hại: là các rác thải (dạng phế phẩm, phế liệu) từ quá
trình sản xuất công nghiệp không nguy hại đến con người cũng như môi trường xung
quanh.
- Rác thải công nghiệp nguy hại: là các rác thải (dạng phế phẩm, phế liệu hóa chất, vật
liệu trung gian...) sinh ra trong quá trình sản xuất cơng nghiệp có đặc tính bắt lửa, dễ cháy
nổ,
Rác thải công nghiệp là nguồn tạp chất ảnh hưởng xấu đến môi trường và đời sống, sức
khỏe con người và gây ra một số tác động như:
- Ơ nhiễm mơi trường nước: làm chết các sinh vật sống trong ao, hồ, sơng, biển…
- Ơ nhiễm mơi trường đất: Chất độc thấm vào lịng đất
- Ơ nhiễm khơng khí: Tạo nên mùi hơi, khói bụi ảnh hưởng đến hệ hơ hấp người và động
vật hoặc gây nên hiện tượng sương mù ở thành phố lớn.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm khu công nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính
phủ quy định về quản lý Khu công nghiệp và Khu kinh tế: Khu cơng nghiệp là khu vực có
ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản
xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị
định này. Khu cơng nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu

công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái


- Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất
hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục
áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này. Khu chế xuất được ngăn cách với khu
vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật
về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
- Khu công nghiệp hỗ trợ là KCN chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực
hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tỷ lệ diện tích đất cho các dự
án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất
cơng nghiệp có thể cho thuê của KCN.
- Khu công nghiệp sinh thái là KCN, trong đó có các doanh nghiệp trong KCN tham gia
vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác
trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp.
1.1.2.2. Đặc điểm của các khu công nghiệp
- Các KCN thường được xây dựng ở những vị trí địa lý thuận lợi, gần các đường giao
thơng, cảng biển, sân bay, thuận tiện giao lưu với các trung tâm kinh tế lớn địi hỏi diện
tích khá lớn, địa hình tương đối bằng phẳng, thích hợp xây dựng các cơng trình cơng
nghiệp và cơ sở hạ tầng thích hợp.
- Các doanh nghiệp trong KCN thường được hưởng các quy định riêng của nhà nước và
chính quyền địa phương. Các quy định này thể hiện sự quan tâm, ưu đãi, tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển.
- Trong KCN có hạ tầng sản xuất thống nhất với mạng lưới hạ tầng bên ngồi. Các KCN
thường có nhu cầu sử dụng lượng lớn nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng, và cũng thải ra
lượng chất thải khổng lồ, địi hỏi phải có hệ thống xử lý chất thải phù hợp, đạt tiêu chuẩn
theo các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
- Các KCN chịu sự quản lý của Chính phủ về quyết định thành lập, quy hoạch tổng thể,
khung điều lệ mẫu, kiểm sốt, có trình độ tổ chức cao và phương thức quản lý tiên tiến.

Các KCN thường có ban quản lý riêng nhằm nâng cao hiệu lực thi hành các hợp đồng và
những quy định bắt buộc, phê duyệt và tiếp nhận những dự án mới, cung cấp các chính
sách và xúc tiến đầu tư.
- Các KCN có tính tập trung và tính hội nhập quốc tế cao, bao gồm nhiều doanh nghiệp,
nhiều ngành nghề, thu hút đầu tư lớn ở trong và ngoài nước. Tập trung nhiều loại hình sản
xuất và dịch vụ công nghiệp, đủ khả năng thực hiện các dự án lớn, khối lượng sản phẩm
lớn, ứng dụng nhiều công nghệ đặc biệt là các công nghệ cao, tạo nhiều sản phẩm có hàm
lượng chất xám cao, có sức cạnh tranh lớn.


1.1.3. Khái niệm xử lý rác thải và dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp
1.1.3.1. Khái niệm xử lý rác thải
- Khoản 16 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản
lý rác thải và phế liệu quy định về phân loại, lưu giữ rác thải quy định: Xử lý rác thải là
q trình sử dụng các giải pháp cơng nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại
bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong rác
thải.
Xử lý rác thải ở các KCN là phân loại các loại rác thải trong quá trình sản xuất của các
nhà máy trong các KCN để áp dụng biện pháp công nghệ xử lý thích hợp như chơn lấp,
tái chế, thiêu hủy nhằm mục đích tránh cho số lượng liên tục đào thải này tồn đọng gây ô
nhiễm cho môi trường.
1.1.3.2. Dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp
Dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp là hoạt động xử lý rác thải nhằm đáp ứng nhu cầu xử
lý rác thải công nghiệp của các nhà máy sản xuất ở các KCN nhằm bảo đảm vấn đề bảo
vệ môi trường.
Ngày nay, các KCN ngày càng phát triển đồng thời lượng rác thải nguy hại xả ra ngày
càng nhiều. Công việc xử lý rác thải ở các KCN đang rất được quan tâm, chú ý. Chính vì
vậy rất nhiều cơng ty đã thành lập với mục đích cung cấp dịch xụ xử lý rác thải công
nghiệp giúp nhà máy sản xuất công nghiệp bảo vệ môi trường, làm giảm bớt đi áp lực
xử lý lượng rác thải ở các KCN. Với đội ngũ có đầy đủ kiến thức, năng lực, với những cơ

sở vật chất, thiết bị máy móc chuyên dụng, hiệp đại, áp dụng những cơng nghệ mới có
thể xử lý được tất cả các loại rác thải công nghiệp ở các KCN.
Tùy vào tính chất từng loại rác thải cơng nghiệp sẽ có biện pháp gom, xử lý khác nhau.
Thơng thường, quy trình xử lý rác thải cơng nghiệp bao gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: Quản lý, xử lý nhanh rác thải bằng cách phân loại rác tại nguồn sản sinh.
Bước 2: Thu gom rác công nghiệp đã được phân loại
- Rác thông thường: Đặt gọn gàng trong khu vực chứa.
- Rác nguy hại: Lựa chọn vật chứa phù hợp và có dán biển báo rác thải nguy hại để nhận
biết.
Bước 3: Vận chuyển rác thải công nghiệp đến bãi tập trung.
Bước 4: Tiến hành xử lý rác công nghiệp bằng phương pháp phù hợp dựa vào tính chất,
mức độ độc hại của rác thải.


1.2. Khái quát pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp
Về lý luận, pháp luật là hệ thống các quy tắc hành vi, quy tắc xử sự do Nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Khái niệm pháp luật được thể hiện rõ nét hơn
bởi các khái niệm liên quan mà cốt lõi nhất là các quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp
luật là những quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các
quan hệ pháp luật phát sinh trong đời sống xã hội.
Như vậy, pháp luật dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN là những quy phạm được phân loại
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, là tổng thể những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành, thừa nhận nhằm điều chỉnh nội dung và trình tự trong quy trình xử lý rác thải giới
hạn điều chỉnh là phạm vi giới hạn các KCN trên lãnh thổ Việt Nam.
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014 được coi là một
bước quan trọng hoàn thiện pháp luật về hoạt động xử lý rác thải trong các KCN ở Việt
Nam. Theo đó, Luật đã bổ sung các quy phạm pháp luật cụ thể trong lĩnh vực này như: bổ
sung quy định mọi loại rác thải phải được quản lý từ khi phát sinh, giảm thiểu, phân loại,
thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý. Các tổ chức kinh doanh dịch

vụ phải có các hoạt động giảm thiểu phát thải, tái chế, tái sử dụng chất thải được hưởng
chính sách ưu đãi của Nhà nước; quy định trách nhiệm của các chủ đầu tư khu công
nghiệp, khu chế xuất trong quản lý chất thải; để khắc phục những mặt trái trong xử lý chất
thải ở các KCN trong thời gian vừa qua, Luật đã đưa ra 6 nguyên tắc trong xử lý rác thải ở
các KCN; quy định bổ sung các điều kiện hành nghề xử lý rác thải nguy hại.
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp
1.2.2.1. Đối với chủ nguồn thải rác thải ở khu công nghiệp.
Căn cứ Điều 90 và Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Nghị định số
38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 đã quy định việc xử lý của cơ quan nhà nước đối với
các chủ nguồn thải rác thải ở các KCN thông qua sổ đăng ký với Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh/TP trực thuộc trung ương. Thủ tục đăng ký chủ nguồn thải được thực hiện một
lần (không gia hạn, điều chỉnh) khi bắt đầu có hoạt động phát sinh rác thải ở các KCN.
Sau khi được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải, thông tin về rác thải được cập nhật bằng báo
cáo xử lý rác thải ở khu KCN định kỳ.
1.2.2.2. Đối với cơ sở xử lỹ rác thải ở khu công nghiệp
Hiện nay, việc thu gom, vận chuyển rác thải ở các KCN chỉ được thực hiện bởi các tổ
chức, cá nhân có Giấy phép xử lý rác thải nguy hại. Để được cấp giấy phép này, đơn vị
phải có báo cáo đánh giá tác động mơi trường được Bộ Tài nguyên và môi trường phê
duyệt đối với dự án đầu tư cơ sở xử lý rác thải ở các KCN. Đồng thời, địa điểm của cơ sở


phải nằm trong quy hoạch có nội dung về quản lý, xử lý rác thải do cơ quan có thẩm
quyền cấp tỉnh trở lên phê duyệt.
1.2.2.3. Đối với doanh nghiệp dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp.
Chủ xử lý trước hết doanh nghiệp dịch dụ xử lý rác thải ở KCN phải có Giấy phép xử lý
rác thải công nghiệp, đồng thời ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải công
nghiệp với các chủ nguồn rác thải công nghiệp. Hiện nay, quy định tại Nghị định số
38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 yêu cầu các chủ xử lý rác thải công nghiệp phải áp
dụng tiêu chuẩn quốc gia về hệ thống quản lý môi trường (TCVN ISO 14001) trong thời
hạn 02 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép xử lý rác thải công nghiệp. Tương tự như các

đơn vị thu gom, vận chuyển rác thải cơng nghiệp, thì hoạt động của cơng ty xử lý rác thải
ở KCN cũng yêu cầu lập, sử dụng, lưu trữ và quản lý chứng từ xử lý rác thải ở KCN và
các hồ sơ liên quan,
Ngồi ra, cịn cần thực hiện kế hoạch kiểm sốt ơ nhiễm mơi trường và phục hồi môi
trường khi chấm dứt hoạt động.
1.3. Một số yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở
các khu công nghiệp
1.3.1. Yếu tố kinh tế
Việc đầu tư hệ thống xử lý rác thải ở các KCN hiện nay tốn kém chi phí rất lớn, đặc biệt
khó khăn với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi năng lực tài chính có hạn. Mặc dù, chi phí
này là chi phí ban đầu và sẽ giúp Doanh nghiệp giảm chi phí xử lý rác thải, có biện pháp
phịng ngừa, khắc phục sự cố môi trường và giúp nâng cao hiệu quả sản xuất sau này. Tuy
nhiên việc quyết định có đầu tư một hệ thống xử lý rác thải công nghiệp hiệu quả và áp
dụng công nghệ đảm bảo thân thiện môi trường thì đối với bất cứ nhà đầu tư nào cũng khá
khó khăn.
1.3.2. Yếu tố pháp luật
Chính sách pháp luật là công cụ đắc lực đồng thời là phương tiện để Nhà nước thể hiện
quyền lực của mình trong điều tiết và quản lý kinh tế - xã hội. Chỉ có hệ thống pháp luật,
chính sách chặt chẽ, minh bạch mới có thể thúc đẩy hoạt động quản lý hiệu quả, phát huy
được hiệu lực của bộ máy Nhà nước. Việc ban hành các quy định một cách cụ thể, chính
xác, hợp lý và khoa học góp phần khơng nhỏ vào việc quản lý nhà nước về tài nguyên và
môi trường nói chung, chất rác thải ở các KCN nói riêng hiệu quả hơn. Việc chưa xác
định rõ đơn vị dầu mối quản lý rác thải ở các KCN ở cấp Trung ương (Bộ Xây dựng, Bộ
Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Mơi trường,
Bộ Khoa học và Cơng nghệ). Vì vậy, ở địa phương, công tác quản lý rác thải công nghiệp
sẽ những chồng chéo trong việc triển khai các chương trình xử lý rác thải ở KCN.


Các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường chưa đồng bộ, nhiều văn bản chồng chéo và
thay đồi; một số văn bản ban hành chậm nên việc áp dụng các văn bản pháp luật về bảo

vệ môi trường vào thực tế gặp nhiều khó khăn.
1.3.3. Yếu tố thực hiện.
- Hiện nay, các cơ sở tái chế rác thải ở các KCN đều có quy mơ nhỏ, mức độ đầu tư cơng
nghệ khơng cao do chi phí tài chính quá cao, đa số công nghệ được sử dụng đều trong tình
trạng lạc hậu, máy móc thiết bị cũ, gây ô nhiễm môi trường thứ cấp.
- Trình độ năng lực, phẩm chất và số lượng cán bộ quản lý về mơi trường nói chung, dịch
vụ xử lý thải ở KCN nói riêng có tác động lớn đến kết quả quản lý nhà nước về rác thải
cơng nghiệp; đóng vai trị quyết định trong việc ban hành chính sách, pháp luật và tổ chức
thực thi các quy định về xử lý rác thải ở các KCN.
- Trình độ nhận thức của các doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả công tác xử lý
rác thải ở các KCN. Nếu nhận thức của doanh nghiệp về BVMT nói chung, chất thải rắn
cơng nghiệp nói riêng được sâu sắc nó sẽ chi phối hành vi chi tiền đầu tư cơ sở hạ tầng xử
lý chất thải phù hợp với tiêu chuẩn cho phép. Hành vi vi phạm pháp luật về BVMT, rác
thải sẽ được hạn chế. Thái độ chấp hành pháp luật về BVMT và ủng hộ các nhà quản lý
trong việc thực hiện nhiệm vụ QLNN về mơi trường nói chung, rác thải cơng nghiệp nói
riêng sẽ giúp các nhà quản lý gặp nhiều thuận lợi trong công tác quản lý và ngược lại

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUÂT VỀ DỊCH VỤ XỬ LÝ RÁC THẢI Ở
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. Thực trạng pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp
2.1.1. Pháp luật hiện hành về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp


Hệ thống pháp luật hiện hành đối với vấn đề xử lý rác thải trong khu công nghiệp, Quốc
hội và Chính phủ đã xây dựng một khung pháp lý cơ bản với:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của
Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số
38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị
định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh
giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;

Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ ban hành quy định về hoạt
động xử lý rác thải, quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến
Quản lý CTNH; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030; Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng
chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015,
tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 1440/2008/QĐ-TTg ngày 6 tháng 10 năm 2008
của Thủ tướng chính phủ phê duyệt kế hoạch các cơ sở xử lý chất thải tại ba vùng kinh tế
trọng điểm miền Bắc, Trung, Nam đến năm 2020.
- Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 7/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp rác thải nguy
hại
- Thông tư liên Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng số
01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18 tháng 1 năm 2001 hướng dẫn các quy định về
bảo vệ môi trường đối với việc chọn lựa địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp rác
thải.
- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn
cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn:
Khung pháp lý hiện nay không thể thiếu các quy chuẩn kỹ thuật đối với rác thải công
nghiệp phát sinh trong hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trong KCN
- Thông tư 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp.
2.1.1. Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu
công nghiệp
2.1.1. Ưu điểm


- Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy định pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải

công nghiệp đã kịp thời phục vụ cho công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực dịch vụ xử
lý rác thải công nghiệp, bám sát vào nhu cầu thực tế của địa phương, từng KCN.
- Nâng cao hiệu quả dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp nhằm cải thiện chất lượng môi
trường, đảm bảo sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững.
- Xây dựng hệ thống pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp, theo đó lượng rác
thải ở các KCN được phân loại tại nguồn, thu gom, tái chế, tái sử dụng và xử lý triệt để
bằng công nghệ tiên tiến và phù hợp, hạn chế tối đa lượng chất thải chôn lấp.
- Thiết lập cơ sơ pháp lý để quản lý, xây dựng các khu xử lý rác thải công nghiệp theo quy
hoạch và triển khai lập quy hoạch chi tiết các cơ sở xử lý rác thải công nghiệp đảm bảo
nâng cao hiệu quả dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN.
- Nâng cao nhận thức của cộng đồng vềdịch vụ xử lý rác thải cơng nghiệp, hình thành lối
sống thân thiện với môi trường. Thiết lập các điều kiện cần thiết về cơ sở hạ tầng, tài
chính và nguồn nhân lực cho dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN.
- Phân bố hợp lý các khu xử lý rác thải công nghiệp ở các KCN, đảm bảo phục vụ các
KCN và đảm bảo yêu cầu vệ sinh môi trường. Đồng thời lựa chọn cơng nghệ thích hợp để
xử lý, tái chế các loại rác thải công nghiệp nhằm đảm bảo xử lý triệt để rác thải công
nghiệp.
- Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có tính khả thi cao, góp phần quan
trọng vào việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế của các doanh nghiệp ở các KCN.
- Các quy định pháp luật hiện hành về dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN đã góp phần xử lý
lượng rác thải cơng nghiệp tương đối tốt, tỷ lệ thu gom rác thải công nghiệp tăng dần qua
các năm, tỷ lệ rác tài nguyên được phân tách có dấu hiệu khả quan ở các vùng thí điểm
2.1.2. Hạn chế
- Khung pháp lý hiện hành chưa triển khai triệt để việc phân công trách nhiệm giữa cơ
quan quản lý và đơn vị thực hiện.
- Trách nhiệm của các bên về BVMT nói chung và giải quyết vấn đề chất thải nguy hại
trong KCN còn nhiều bất cập.
- Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường của KCN chưa thực sự hiệu quả. Sự
thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp hoạt động trong KCN.

- Cơ chế, chính sách, pháp luật bảo vệ mơi trường cịn nhiều hạn chế, bất cập.


- Cơ quan có thẩm quyền bảo vệ mơi trường KCN chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm
đúng mức tới công tác bảo vệ môi trường.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục còn hạn chế, chưa phát huy được hiệu qủa.
2.2.Thực tiễn áp dụng pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công nghiệp tại
tỉnh Quảng Bình.
2.2.1. Tình hình thực hiện áp dụng pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu
công nghiệp tại tỉnh Quảng Bình.
Thời gian qua, việc thực hiện áp dụng pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các tại các
KCN tại tỉnh Quảng Bình đã đạt được khá nhiều kết quả tích cực, đóng góp vào công tác
BVMT hướng đến sự phát triển bền vững. Có thể tổng kết những kết quả nổi bật trong
cơng tác QLNN về xử lý rác thải tại các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình như sau:
- Cơng tác xây dựng và thực hiện quy hoạch dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN: UBND
tỉnh Quảng Bình đã xây dựng và phê duyệt Quy hoạch dịch vụ xử lý rác ở các KCN tại
tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 tại Quyết định số 2738/QĐ-UBND ngày 01 tháng 11 năm
2013, điều chỉnh Quy hoạch dịch vụ xử lý rác ở các KCN tại Quyết định số 3126/QĐUBND ngày 19 tháng 9 năm 2018 làm cơ sở giao trách nhiệm thực hiện cho các đơn vị
liên quan.
- Xây dựng và thực hiện chính sách quản lý dịch vụ xử lý rác thải tại cácKCN: UBND
tỉnh Quảng Bình đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo tổ chức
thực hiện công tác quản lý dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp tại các KCN trên địa bàn
tỉnh. Việc ban hành và triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ
đạo của UBND tỉnh có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao hiệu quả phối hợp, hỗ trợ trong
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ mơi trường KCN nói chung, quản lý rác thải cơng nghiệp nói
riêng giữa BQL KCN, Sở Tài nguyên và Môi trường, Công an tỉnh và UBND các huyện,
thành phố nơi có KCN.
- Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực bảo vệ môi trường: Sở Tài nguyên và Mơi trường có
Chi cục Bảo vệ mơi trường trực tiếp thực hiện chức năng QLNN về mơi trường nói
chung, rác thải cơng nghiệp nói riêng. BQL KCN tỉnh Quảng Bình đã có phịng chun

mơn về quản lý mơi trường là Phịng Quản lý Tài ngun và Mơi trường với trình độ
chun mơn cao.
- Cơng tác tun truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về dịch vụ xử lý rác thải
công nghiệp tại các KCN đã được UBND tỉnh chú trọng chỉ đạo các đơn vị liên quan thực
hiện, kịp thời phổ biến các chính sách, văn bản pháp luật về BVMT, quản lý dịch vụ xử lý
rác thải tại các KCN; nhận thức về công tác BVMT của các doanh nghiệp trong các KCN
ngày càng được nâng cao. Các doanh nghiệp đã chú trọng, quan tâm đến công tác BVMT,


thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về BVMT cũng như các điều khoản cam
kết theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Bản cam kết BVMT được phê duyệt.
- Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý dịch vụ xử lý rác thải
tại các KCN đã được chú trọng: Hàng năm, Ban Quản lý KCN Quảng Bình đã chủ trì
hoặc phối hợp với Sở Tài ngun và Mơi trường và các sở, ban, ngành liên quan tổ chức
các cuộc kiểm tra về công tác BVMT của các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN trên
địa bàn tỉnh. Đồng thời phối hợp với các Đoàn thanh tra, kiểm tra do Bộ Tài nguyên và
Môi trường tổ chức nhằm chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT
trong các KCN. Qua các đợt kiểm tra, thanh tra cho thấy nhìn chung, các doanh nghiệp
trong KCN đã thực hiện đầy đủ các biện pháp BVMT theo nội dung báo cáo đánh giá tác
động môi trường hoặc Bản cam kết BVMT được phê duyệt. Đã xây dựng các hạng mục
cơng trình xử lý rác thải cơng nghiệp, bố trí cán bộ phụ trách cơng tácBVMT, thực hiện
nghiêm túc chương trình quan trắc mơi trường định kỳ và chế độ thơng tin, báo cáo theo
quy định. Khơng có trường hợp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng xảy ra
2.2.2. Những vướng mắc trong thực hiện áp dụng pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải
ở các khu công nghiệp tại tỉnh Quảng Bình.
- Theo Quy hoạch quản lý, xử lý rác thải tỉnh Quảng Bình thì cơng tác xử lý rác thải ở các
KCN trên địa bàn tỉnh chưa được giao thống nhất cho một cơ quan, mà được phân công
cho nhiều sở, ngành cùng tham gia quản lý, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở
Xây dựng, BQL KCN, Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ... Tuy nhiên, trên
thực tế, hiện trạng tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực QLNN về rác thải công nghiệp tại

các KCN chủ yếu do Sở Tài nguyên và Môi trường, BQL KCN tỉnh là hai đơn vị đảm
nhiệm thực hiện. Như vậy, rõ ràng có sự chồng chéo giữa văn bản quản lý và thực trạng
triển khai thực hiện.
- Chế tài xử lý vi phạm trong công tác xử lý rác thải công nghiệp chưa được quy định rõ
ràng. Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa quy định trách nhiệm hiệu lực
và hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường KCN. Mặt khác, trong trường hợp,
BQL KCN tỉnh Quảng Bình thực hiện khơng đúng, khơng đầy đủ trách nhiệm quản lý,
bảo vệ môi trường KCN theo quy định của pháp luật.
- Về công tác thanh, kiểm tra, do lực lượng mỏng, thiếu trang thiết bị nên hiệu quả cũng
chưa đạt như mong muốn. Mặc dù hàng năm, các cơ quản quản lý về BVMT đều tổ chức
thanh, kiểm tra tình hình tuân thủ quy định pháp luật BVMT nói chung và cơng tác quản
lý dịch vụ xử lý rác thải cơng nghiệp nói riêng, nhưng khơng nhiều vi phạm lớn liên quan
đến công tác xử lý rác thải công nghiệp ở các KCN bị phát hiện. Bên cạnh đó, hiện nay,
cơng tác thanh tra kiểm tra đối với nhà máy ở các KCN thực hiện theo Chỉ thị số 20/CT-


TT ngày 17/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra,
kiểm tra doanh nghiệp. Theo đó, cơng tác thanh tra, kiểm tra chỉ được thực hiện theo Kế
hoạch của UBND tỉnh phê duyệt hàng năm, đảm bảo khơng để xảy ra tình trạng thanh tra,
kiểm tra quá 01 lần/năm đối với các nhà máy. Kế hoạch, thời gian, nội dung được thông
báo rõ ràng cho đơn vị được kiểm tra. Mặc dù quy định như trên có ưu điểm là đảm bảo
tính cơng khai minh bạch, giúp đối tượng được thanh tra, kiểm tra chủ động bố trí thời
gian làm việc nhưng lại có hạn chế là do nắm được lịch thanh tra, kiểm tra cụ thể, các nhà
máy sẽ có hành vi đối phó như dừng hoạt động hoặc hoạt động giảm công suất đúng vào
thời điểm thanh tra theo kế hoạch, do đó kết quả thanh tra, kiểm tra không thu được kết
quả theo yêu cầu.
- Trang thiết bị, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử
lý rác thải công nghiệp ở các KCN trên bàn tỉnh Quảng Bình hiện nay vẫn cịn thiếu cơ
bản, chưa được quan đầu tư, chưa có đơn vị đầu tư dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp với

công nghệ xử lý tiên tiến trên địa bàn tỉnh.
- Các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vần cịn là các KCN nhỏ, chưa thực sự phát triển
mạnh. Vẫn chưa thu hút được vốn đầu tư từ mạnh và có lượng sản phẩm lớn, có chất
lương.
- Các rác thải cơng nghiệp tại các cơ sở sản xuất kinh doanh trong KCN chưa được phân
loại triệt để tại nguồn; do đó các rác thải cơng nghiệp nguy hại cịn có khả năng lẫn với
các rác thải khác. Bên cạnh đó, các biện pháp giảm thiểu phát sinh chưa được áp dụng
mạnh mẽ.
- Thực tế, một phần lớn rác thải công nghiệp thông thường được các cơ sở sản xuất kinh
doanh trong KCN bán lại cho đơn vị thu mua tái chế. Tuy nhiên, hiện trạng hoạt động tái
chế rác thải còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, phi chính thức ở các làng nghề, thiếu sự quản
lý và kiểm soát của các cơ quan BVMT địa phương. Phần lớn các cơ sở tái chế có quy mơ
nhỏ, mức độ đầu tư công nghệ không cao, đa số công nghệ đều lạc hậu, máy móc thiết bị
cũ, gây ơ nhiễm mơi trường. Trong khi đó, Nhà nước chưa có quy định về sử dụng cơng
nghệ rõ ràng, chưa có chỉ tiêu và tiêu chuẩn lựa chọn thiết bị, công nghệ xử lý phù hợp.
2.2.3. Nguyên nhân của những vướng mắc thực hiện áp dụng pháp luật về dịch vụ
xử lý rác thải ở các khu cơng nghiệp tại tỉnh Quảng Bình.
- Do hệ thống chính sách pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải còn chưa đầy đủ, chồng chéo.
Việc tổ chức, phân công trách nhiệm về xử lý rác thải cơng nghiệp vẫn cịn phân tán và
thiếu sự thống nhất gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện. Trong khi đó, việc triển
khai thực thi các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về rác thải công nghiệp vẫn cịn
những khó khăn, vướng mắc. Cơng tác thanh tra, kiểm tra thực thi pháp luật còn nhiều


hạn chế, các chế tài quy định về xử phạt đối với các vi phạm về rác thải ở các KCN trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình chưa đủ sức răn đe.
- Ðầu tư cho công tác quản lý dịch vụ xử lý rác thải còn hạn chế, chưa đáp ứng đuợc nhu
cầu thực tế do thiếu nguồn lực tài chính. Cơng tác xã hội hóa hiện cịn yếu do thiếu các
quy định phù hợp nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư. Quảng Bình vẫn là một trong
những tỉnh tương đối nghèo của cả nước, nguồn thu ngân sách chưa cao, việc phát triển

KCN tương đối chậm và chưa được đầu tư đúng mức.
- Vấn đề lựa chọn công nghệ xử lý xử lý rác thải của các nhà máy trong KCN chưa tối ưu,
vẫn đang là bài toán thách thức đối với các nhà quản lý và các nhà khoa học. Trong khi
hiện chưa có mơ hình cơng nghệ xử lý rác thải ở các KCN hoàn thiện đạt được cả các tiêu
chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường. Hiện tại trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vẫn
chưa có đơn vị đầu tư Nhà máy xử lý rác thải công nghiệp thông thường và rác thải cơng
nghiệpở các KCN. Do đó, gây khó khăn trong việc xử lý rác thải cơng nghiệp theo quy
định.
- Ngồi ra, việc nhiều doanh nghiệp chưa có ý thức trong việc tuân thủ các quy định về
BVMT nói chung, xử lý rác thải cơng nghiệp nói riêng cũng là một trong những nhân tố
làm gia tăng bất cập trong dịch vụ xử lý rác thải tại các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình.

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HỒN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ XỬ LÝ
RÁC THẢI Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH


3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu công
nghiệp tại tỉnh Quảng Bình.
Cùng với phát triển kinh tế, mức sinh hoạt của người dân ngày càng được nâng cao
thì lượng rác thải công nghiệp cũng tăng nhanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất
lượng môi trường và sức khoẻ con người. Vì vậy, để góp phần hồn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý rác thải ở các KCN ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng
Bình nói riêng, tơi đề xuất một số phương hướng như sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến dịch vụ xử
lý rác thải công nghiệp:
- Quy định cụ thể như thế nào là đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của các phương tiện,
thiết bị thu gom, về vận chuyển rác thải công nghiệp; quy định cụ thể trách nhiệm của chủ
xử lý rác thải cơng nghiệp chịu hồn tồn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện

vận chuyển khơng chính chủ trong q trình vận chuyển rác thải cơng nghiệp. Bên cạnh
đó, đề xuất giữ nguyên việc sử dụng hệ thống định vị (GPS) quy định tại khoản 2 Điều 8
Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, tuy nhiên, cần thiết phải có sự nghiên cứu, điều chỉnh
quy định một cách hợp lý về cách thức để hệ thống định vị GPS đối với phương tiện vận
chuyển được áp dụng hiệu quả trên thực tế bằng cách giới thiệu, phổ biến, hướng dẫn cụ
thể kiến thức về GPS và cách sử dụng; mở rộng sự kết nối mạng internet để quá trình vận
chuyển được cập nhật chính xác, tránh gián đoạn.
- Tiếp tục hồn thiện Bộ luật Hình sự theo hướng:
+ Về chủ thể của tội phạm, nên bổ sung theo hướng quy định trách nhiệm hình sự
đối của pháp nhân đối với tội phạm quy định tại Điều 236 Bộ luật Hình sự năm 2015 để
tránh được việc bỏ lọt tội phạm, tạo động lực nâng cao ý thức của pháp nhân trong việc
quản lý, kiểm sốt rác thải cơng nghiệp nguy hại ra mơi trường.
+ Về hình phạt, cần sửa đổi quy định về khung hình phạt và mức hình phạt theo
hướng tăng nặng thêm mức hình phạt tiền khi áp dụng là hình phạt chính để đồng bộ và
hợp lý với mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ mơi trường. Mặt khác, cần quy
định lại mức hình phạt tù có thời hạn theo hướng tăng nặng hơn nhưng vẫn đảm bảo sự
hợp lý của khung hình phạt - vì chính nó có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng, rất nghiệm
trọng và đặc biệt nghiêm trọng đối với con người và môi trường.
Thứ hai, nâng cao chất lượng quản lý dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN thông qua
việc thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:


- Học hỏi và vận dụng phương pháp quản lý dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp của
các nước trên thế giới phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của các KCN tỉnh Quảng Bình.
- Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý
nghiêm những hành vi vi phạm quy định về dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp nhằm phát
hiện nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo nguyên tắc chủ thế gây thiệt hại cho môi trường phải
chịu trách nhiệm pháp lý đặt ra theo quy định của pháp luật. Đồng thời, ngoài việc chủ thể
bị áp dụng trách nhiệm pháp lý khi có hành gây thiệt hại cho mơi trường nên tăng cường
hình phạt bổ sung phải cải tạo, khôi phục lại môi trường do hành vi mình gây nên.

- Cần đẩy mạnh cơng tác thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý rác thải công
nghiệp theo quy định của pháp luật để bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, cơ sở xử lý tích
cực áp dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật trong việc xử lý rác thải công nghiệp.
Thứ ba, Nhà nước, UBND tỉnh nên tạo điều kiện và có những chính sách khuyến
khích đối với cơ sở sử dụng cơng nghệ sạch, tiên tiến BVMT trường như: Giảm thuế,
miễn thuế, khen thưởng, vinh danh các cơ sở và quảng bá công khai trên cổng thơng tin
đại chúng. Có như vậy, một phần sẽ tạo động lực cho các cơ sở có ý thức trong việc
BVMT nói chung và rác thải cơng nghiệp ra ngồi mơi trường nói riêng.
Thứ tư, đẩy mạnh cơng tác tuyên truyền, giáo dục nội dung của pháp luật quản lý
dịch vụ xử lý rác thải công nghiệp nhằm mục đích nâng cao nhận thức của người dân về
tác hại của loại rác thải này đối với môi trường và đời sống cộng đồng. Đặc biệt đối với
người dân sống xung quanh vùng quy hoạch các cơng trình xử lý rác thải ở các KCN. Cần
sử dụng triệt để thơng tin đại chúng như: Báo chí, truyền hình, băng rôn, khẩu hiệu... để
đưa các thông tin về rác thải công nghiệp vào đời sống, giáo dục ý thức của cộng đồng
trong việc thực hiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các KCN.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải ở các khu cơng nghiệp
tại tỉnh Quảng Bình.
3.2.1. Giải pháp về thể chế, chính sách.
- Hồn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, chi tiết, có tính ổn
định cao để áp dụng trong cơng tác xử lý rác thải ở các KCN.
- Có cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân tham gia đầu tư xây dựng
và trực tiếp quản lý, khai thác, vận hành dự án xử lý rác thải công nghiệp đảm bảo tính
hiệu quả, ổn định và bền vững.
- Có chính sách ưu đãi, khuyến khích các nguồn lực xã hội hành nghề dịch vụ xử lý
rác thải đầu tư các thiết bị, công nghệ xử lý rác thải ở các KCN theo hướng tiên tiến, thân
thiện môi trường.
3.3.2. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện.


- Nghiên cứu đưa nội dung giáo dục môi trường trong đó có dịch vụ xử lý rác thải

cơng nghiệp vào chương trình chính khóa của các cấp học cao như cao đẳng, đại học…..
- Tăng cường trao đổi, tham quan, học tập kinh nghiệm trong triển khai công tác xử
lý rác thải cơng nghiệp, chú trọng đến tính khả thi, sự phù hợp khi triển khai áp dụng cùng
mô hình xử lý rác thải cơng nghiệp ở các KCN.
- Đào tạo có và tăng cường nguồn nhân, đội ngũ lực phục vụ cho công tác xử lý rác
thải chất lượng, chuyên môn cao.
- Đẩy mạnh việc xây dựng và phổ biến cơ sở dữ liệu về rác thải cộng nghiệp; các tài
liệu hướng dẫn kỹ thuật về quản lý, dịch vụ xử lý rác thải nhằm thực hiện công tác quản
lý có hệ thống, thống nhất.
3.2.3. Nhóm giải pháp về nguồn lực.
- Quy định cụ thể về nguồn vốn ngân sách các cấp đầu tư cho việc thực hiện quản lý
rác thải công nghiệp nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tế phát sinh cần được thu gom, xử
lý rác thải ở các KCN.
- Tăng cường năng lực của cán bộ có trình độ chun mơn, năng lực về môi trường
phục vụ cho công tác xử lý rác tthair ở các KCN.
- Mở rộng hỗ trợ tín dụng nhà nước cho các cơng trình đầu tư, dự án tái chế, tái sử
dụng và thu hồi năng lượng từ rác thải cũng như các ưu đãi về thuế, phí và lệ phí. Rà sốt,
nghiên cứu giảm thiểu thủ tục trong quá trình triển khai vay vốn để thực hiện các dự án
xử lý rác thải công nghiệp áp dụng công nghệ phù hợp với điều kiện kinh tế của các KCN
tại Việt Nam.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào hoạt động tái
chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ rác thải công nghiệp. Đẩy mạnh hợp tác công tư trong lĩnh vực xử lý, tái chế rác thải ở các KCN.
- Đẩy mạnh xã hội hố cơng tác thu gom, vận chuyển và vận hành cơ sở dịch xử lý
rác thải cơng nghiệp; tăng dần nguồn thu phí vệ sinh, giảm dần hỗ trợ từ ngân sách cho
hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải công nghiệp.
Mặt khác, tỉnh cũng ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về tăng cường hoạt động dịch
vụ xử lý rác thải, qua đó tỷ lệ rác thải được thu gom và xử lý đảm bảo BVMT không
ngừng tăng lên qua các năm. Khu Công nghiệp Hòn La cũng được đầu tư trạm xử lý nước
thải tập trung với công suất thiết kế 500 m3/ngày đêm. Ngoài ra, tỉnh cũng chú trọng xử
lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đến nay, 18 cơ sở đã hoàn thành việc

xử lý triệt để ô nhiễm môi trường đảm bảo theo đúng tiến độ
3.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dịch vụ xử lý rác thải
ở các khu công nghiệp tại tỉnh Quảng Bình.


- HĐND, UBND tỉnh cân đối, bố trí các nguồn vốn ODA vốn tín dụng trong kế
hoạch ngân sách hàng năm cho cơng tác xã hội hố về mơi trường, tạo điều kiện về thủ
tục hành chính để các tổ chức, cá nhân tham gia sâu rộng vào các loại hình xã hội hóa.
- Tăng cường cơng tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ cao trong tổ chức
thực hiện pháp luật BVMT nói chung và tổ chức xử lý rác thải ở các KCN trên địa bàn
tỉnh. Giải pháp này xuất phát từ vai trò to lớn của khoa học công nghệ đối với môi trường.
Hiện nay, khoa học cơng nghệ đã dần thể hiện được vai trị có ích với mơi trường, thân
thiện với mơi trường và góp phần bảo vệ, cải thiện mơi trường. Do vậy, cần tập trung đầu
tư nhiều hơn cho hoạt động này. Ví dụ như đẩy mạnh đầu tư cho hoạt động của hệ thống
quan trắc, công tác dự báo, cảnh báo về tài nguyên, môi trường trên địa bàn; các hệ thống
vận chuyển, tập kết và xử lý tiên tiến, nhằm đưa ra những cảnh báo kịp thời, cần thiết để
có thể đưa ra những kế hoạch, biện pháp đúng đắn nhằm ngăn chặn ô nhiễm môi trường
sớm nhất.
- Đẩy mạnh việc xây dựng các mơ hình điểm về tái chế, tái sử dụng và thu hồi
năng lượng từ rác thải ở các KCN nhằm lựa chọn các mơ hình phù hợp để nhân rộng trên
phạm vi cả nước. Thúc đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa hoạt động thu gom và xử lý rác
thải ở các KCN, để huy động nguồn lực từ tư nhân, xã hội, đề nghị xem xét cho phép tỉnh
Quảng Bình cơ chế đặc biệt: Giá dịch vụ đối với vấn đề xử lý rác thải ở các KCN.
- Khuyến khích và triển khai nhanh các đề tài, dự án nghiên cứu, ứng dụng, chuyển
giao công nghệ trong việc xử lý các loại rác thải gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; Sử
dụng hiệu quả nguồn tài ngun, năng lượng; Có cơ chế, chính sách ưu đãi những cơ sở
sản xuất kinh doanh ứng dụng và phát triển công nghệ sạch, thân thiện với môi trường;
khuyến khích phát triển năng lượng sạch như năng lượng từ gió, điện địa nhiệt, thủy điện;
thực hiện phát động mạnh mẽ các chương trình tiết kiệm năng lượng. Có cơ chế khuyến
khích các doanh nghiệp áp dụng “sản xuất sạch hơn”, nhằm giảm thiểu rác thải ở các

KCN sản xuất ra hàng ngày, khắc phục ô nhiễm môi trường một cách tối đa.
- Tạo hành lang pháp lý đầy đủ để lực lượng thanh tra chuyên ngành có thể chủ
động, linh hoạt trong hoạt động của mình thơng qua việc sửa đổi bổ sung Luật thanh tra,
trong đó có quy định riêng cho hoạt động thanh tra chuyên ngành đặc biệt là hoạt động
thanh tra đột suất không phải báo trước, không bị ràng buộc bởi các quy định về trình tự,
thủ tục hoạt động theo các quy chế hoạt động của Đoàn thanh tra, kiểm tra. Xây dựng và
ban hành hướng dẫn về kiểm tra, thanh tra và xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ mơi
trường song song với việc đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm traBVMT, áp dụng các biện
pháp xử lí nghiêm đối với các hành vi vi phạm.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về môi trường nói
chung, pháp luật về xử lý rác thải cơng nghiệp nói riêng thơng qua các phương tiện thơng
tin đại chúng như: Cổng thơng tin điện tử tỉnh Quảng Bình, Báo Quảng Bình, các kênh
thơng tin, mạng xã hội chính thống,...với các hình thức và nội dung phong phú: Tuyên
truyền qua các ấn phẩm, tập gấp, tờ rơi,...; lồng ghép chương trình phân loại xử lý rác thải


×