Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền và Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (193.21 KB, 25 trang )

BÀI THU HOẠCH KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Mơn học:
Tên chủ
đề/vấn đề
bài thu

TƠN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG
Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước
đối với tôn giáo thời kỳ đổi mới và thực tiễn áp dụng
trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

hoạch:
SỐ
PHÁCH

ĐIỂM

Ngày chấm:
Giảng viên chấm 1

Giảng viên chấm

(Kí, ghi rõ họ, tên)

2
(Kí, ghi rõ họ, tên)

Bằng số:

Bằng chữ:



……………………………………………………………………………………
Mơn học
Tên chủđề/vấn
đề bài thu

TƠN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG
Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước
đối với tơn giáo thời kỳ đổi mới và thực tiễn áp dụng

hoạch
SỐPHÁCH

trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Họ và tên học viên

NGUYỄN KHẮC HÙNG

Mã số học viên
Lớp
Ngày nộp

AF211018
K72.A18

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………….……………………………….………1
B. NỘI DUNG…………………………………………….……………….……2



I. KHÁI NIỆM, QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG
VỀ TƠN GIÁO.………….………………………………………………………2
1.1. Khái niệm tơn giáo.………….……………………………...………………2
1.2. Quan điểm của Đảng đối với tơn giáo.…………………………...…………2
1.3. Ngun tắc chính sách đối với tôn giáo. …………………………...………9
II. THỰC TRẠNG, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÔN GIÁO TẠI TỈNH HƯNG YÊN. …………………….………10
2.1. Thực trạng..………………………………………………………..………10
2.2. Hạn chế. ……………………………………………………...……………13
2.3. Nguyên nhân. ……………………………………………...………………13
III. NGUỒN LỰC VÀ VAI TRỊ CỦA TƠN GIÁO ĐẾN Q TRÌNH PHÁT
TRIỂN CỦA TỈNH HƯNG YÊN. …………………………………….………14
2.1. Nguồn lực của tơn giáo. ……………………………………..……………14
2.2. Vai trị của tơn giáo. ………………………………………………………16
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TÔN
GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN. …………………………………17
C. KẾT LUẬN ………………………………………....……………..…..……22
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tơn giáo, tín ngưỡng tồn tại
đan xen nhau, đáp ứng nhu cầu về đời sống tâm linh và đời sống tinh thần của
đông đảo người dân. Là người lãnh đạo và quản lý xã hội, Đảng và Nhà nước
Việt Nam, từ phương diện quan điểm, chính sách đã ln quan tâm đến lĩnh vực
tín ngưỡng, tơn giáo, nhằm bảo đảm quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáo
của nhân dân và củng cố khối đại đồn kết tơn giáo, dân tộc. Đến nay cả nước có
41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt

động. Quan điểm, chính sách đối với tín ngưỡng, tơn giáo được xây dựng trên
cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ
thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tơn giáo ở Việt Nam và trên thế giới; phù hợp với
tình hình cách mạng trong từng thời kỳ.
Thực tế cho thấy, sau 36 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà
nước ta không ngừng nâng cao nhận thức về tôn giáo và quản lý nhà nước trong
lĩnh vực tơn giáo, tín ngưỡng. Cùng với chủ trương, chính sách tự do tín
ngưỡng, tơn giáo đúng đắn và nhất qn của Đảng, đa số chức sắc và tín đồ các
tơn giáo đã tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, hành đạo trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, phát huy truyền thống
yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là nền tảng để xây dựng chủ trương, chính sách,
tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tơn giáo, tín ngưỡng của đồng bào có đạo
và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Trong bối
cảnh đất nước có nhiều thay đổi, vấn đề tơn giáo, tín ngưỡng có những nội dung
mới, vì vậy phải nghiên cứu để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn giải quyết vấn
đề tín ngưỡng, tơn giáo một cách thấu đáo, có hiệu quả vì mục tiêu phát triển
một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, cơng bằng, văn minh.
Với lý do đó em chọn nội dung “Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà
nước đối với tôn giáo thời kỳ đổi mới và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên” làm chủ đề bài thu hoạch mơn Tơn giáo và tín ngưỡng của mình.


2

NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM, QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG
VỀ TƠN GIÁO.
1.1. Khái niệm tơn giáo.
Tơn giáo là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một thực thể xã hội.

Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh hoang đường, hư ảo
hiện thực khách quan vào đầu óc con người. Với tư cách là một thực thể xã hội,
tôn giáo cũng như các hiện tượng xã hội khác, tôn giáo do đời sống kinh tế - xã
hội sinh ra, và chịu sự chi phối, tác động của những điều kiện xã hội. Đồng thời,
nó cũng có tác động trở lại với đời sống xã hội cả ở mặt tích cực và hạn chế của
nó.
1.2. Quan điểm của Đảng đối với tơn giáo.
Quan điểm đối với tơn giáo, tín ngưỡng của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới đất nước, từ năm 1986 đến nay, được khẳng định trong
nhiều văn bản, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề về tôn giáo và công tác tôn
giáo; trong văn kiện các kỳ Đại hội Đảng (từ Đại hội đại biểu tồn quốc làn thứ
VI đến nay). Trong đó Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ
Chính trị về Tăng cường cơng tác tơn giáo trong tình hình mới là văn kiện đổi
mới đầu tiên, có tính “đột phá” của Đảng ta về vấn đề tôn giáo và công tác tôn
giáo. Trong đó, về vấn đề tơn giáo có 3 quan điểm nhận thức mới, có tính “đột
phá”: tơn giáo là vấn đề cịn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu tinh
thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức tơn giáo có nhiều điểm phù hợp với
công cuộc xây dựng xã hội mới. Đồng thời, Nghị quyết cũng nhấn mạnh có 3
quan điểm chỉ đạo cơng tác: công tác tôn giáo vừa phải quan tâm giải quyết hợp
lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi
dụng tôn giáo chống phá cách mạng; nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là
công tác vận động quần chúng; làm tốt cơng tác tơn giáo là trách nhiệm của tồn
bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 2-7-1998 về Cơng tác tơn giáo trong tình hình
mới tiếp tục khẳng định: tơn trọng và khuyến khích phát huy những giá trị văn


3

hóa đạo đức tốt đẹp của các tơn giáo, đồng thời đề ra các nguyên tắc trong công

tác tôn giáo.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
(1998) về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc, Đảng chủ trương: “Khuyến khích ý tưởng cơng bằng, bác ái, hướng
thiện... trong tôn giáo, đồng thời tuyên truyền giáo dục khắc phục tệ mê tín dị
đoan, chống việc lợi dụng tơn giáo, tín ngưỡng thực hiện ý đồ chính trị xấu”.
Như vậy, có thể thấy, quan điểm của Đảng về tôn giáo và công tác tôn
giáo đã chuyển chủ yếu từ nhận thức xem tôn giáo là vấn đề chính trị nhạy cảm,
tiêu cực, bị địch lợi dụng tôn giáo, sang coi tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân, quần chúng có đạo là lực lượng quan trọng, không thể tách
rời cộng đồng dân tộc và tơn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức tích cực.
Nhận thức của Đảng về tơn giáo như vậy là khách quan và toàn diện hơn so với
trước đây.
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung
ương khóa IX về Cơng tác tơn giáo, Đảng một lần nữa thể hiện sự nhất quán cao
độ quan điểm, chính sách đối với tơn giáo đã được nêu trong Nghị quyết số 24NQ/TW với khẳng định: hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo phải nhằm tăng
cường đồn kết đồng bào các tơn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát
huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nghị quyết
số 25-NQ/TW đã kế thừa, bổ sung, phát triển những quan điểm nhận thức và
quan điểm công tác tôn giáo của Nghị quyết số 24-NQ/TW với các nội dung
sau:
- Tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thực hiện nhất qn chính sách tơn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tơn giáo theo hoặc khơng theo một tôn giáo nào, quyền tự do sinh hoạt



4

tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật. Các tơn giáo hoạt động trong khn
khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Quan điểm này là sự đổi mới rõ rệt, căn bản cả về lý luận và thực tiễn
đối với tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng. Trong đó, Đảng tiếp tục khẳng
định quan điểm tơn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn
tồn tại lâu dài, nhung đã phát triển, bổ sung đặt tôn giáo trong mối quan hệ với
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quan điểm này nhằm nâng cao nhận thức, khắc
phục biểu hiện chủ quan, duy ý chí, phiến diện trong nhìn nhận, giải quyết vấn
đề tơn giáo. Tạo sự tin tưởng, phấn khởi cho tín đồ, chức sắc các tơn giáo,
động viên, khuyến khích họ tham gia xây dựng đất nước. Đấu tranh chống
những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ nghĩa xã hội chống
tơn giáo. Đó là cơ sở quan trọng trong việc nhìn nhận và giải quyết van đề tôn
giáo ở nước ta trong giai đoạn mới.
- Đảng, Nhà nước thực hiện nhất qn chính sách đại đồn kết tồn dân
tộc.
Đồn kết đồng bào theo các tơn giáo khác nhau; đồn kết đồng bào theo
tơn giáo và đồng bào khơng theo tơn giáo. Giữ gìn và phát huy những giá trị
tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tơn vinh những người có cơng với
Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do
tín ngưỡng, tơn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tơn giáo để
hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước,
kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh
quốc gia.
Quan điểm này của Đảng về tôn giáo đã xác định rõ mục tiêu của công
tác tôn giáo thời kỳ đổi mới đất nước, đồng thời khẳng định vai trò của tôn
giáo và đồng bào tôn giáo trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này nhằm khắc phục biểu
hiện phân biệt, đối xử, đố kỵ, mặc cảm vì lý do tơn giáo, chống âm mưu dùng

tín ngưỡng, tơn giáo hoạt động mê tín, dị đoan, chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc và chống phá cách mạng, động viên, khuyến khích đồng bào các tơn giáo


5

tích cực tham gia cơng cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là quan điểm
chính sách cơ bản, quan trọng chỉ đạo công tác tôn giáo của Đảng trong thời kỳ
đổi mới, đặt cơ sở cho việc xây dựng khối đại đồn kết tồn dân tộc trong cơng
tác tôn giáo.
- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng.
Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là điểm
tương đồng để gắn bó đồng bào các tơn giáo với sự nghiệp chung. Mọi cơng
dân khơng phân biệt tín ngưỡng, tơn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào
nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc;
thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phịng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân, trong đó có đồng
bào tơn giáo.
Quan điểm này chỉ rõ vấn đề tơn giáo chính yếu ở nước ta là vấn đề
quần chúng nhân dân - đối tượng phát triển của Đảng và công tác vận động
quần chúng các tơn giáo phải tồn diện, từ kinh tế, xã hội, chính trị đến vãn
hóa tinh thần. Nội dung của công tác vận động quần chúng trong công tác tôn
giáo bao gồm: cơng tác tun truyền giáo dục chính sách pháp luật tôn giáo;
công tác tập hợp quần chúng, tổ chức phong trào thực hiện các chương trình
phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống dân sinh, trình độ dân trí cho
quần chúng; cơng tác xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, tập hợp tín đồ, chức
sắc, nhà tu hành tham gia các tổ chức chính trị - xã hội và xây dựng lực lượng

cốt cán trong các tôn giáo.
Quan điểm này khắc phục biểu hiện hành chính, quan liêu, cửa quyền,
xa rời quần chúng hoặc hữu khuynh theo đuôi quần chúng.
Khắc phục quan niệm chưa đúng khi cho rằng, đưa cơng tác vận động tín đồ
các tôn giáo vào công tác an ninh xã hội. Làm cho giáo luật gần với pháp luật,
đạo đức tôn giáo xích lại gần đạo đức xã hội, quần chúng có đạo hiểu rõ chính


6

sách, tự giác đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo. Đồn kết dân tộc, đồn
két tơn giáo, phát huy mặt tương đồng, hạn chế tác động tiêu cực của của tơn
giáo, tơn trọng sự khác biệt vì mục tiêu chung.
- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị do Đảng lãnh
đạo.
Cơng tác tơn giáo liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, liên
quan đến mọi cấp, mọi ngành, từ Trung ương đến cơ sở. Do đó, làm tốt cơng
tác tơn giáo là trách nhiệm của tồn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Tổ
chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chun trách làm cơng tác tơn giáo có trách
nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý nhà nước đối
với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ
chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng.
Quan điểm này đã khẳng định tính chất khách quan và quan trọng của
cơng tác tơn giáo, đồng thời đòi hỏi mỗi tổ chức của hệ thống chính trị phải xác
định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, chức năng cụ thể của mình trong cơng tác tơn
giáo. Trong đó, Đảng là nhân tố lãnh đạo tồn bộ hệ thống chính trị trong q
trình tiến hành cơng tác tôn giáo. Các ban, ngành tham mưu giúp tổ chức đảng
trong công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng cốt cán trong tín đồ,
chức sắc các tơn giáo.
Nhà nước quản lý hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo theo quy định

của Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước phải khơng ngừng hồn thiện hệ thống
pháp luật về tơn giáo và kiện tồn tổ chức, bộ máy làm cơng tác tơn giáo.
Mặt trận và các đồn thể chính trị - xã hội ln qn triệt quan điểm của
Đảng, nắm vững chính sách, pháp luật của Nhả nước để vận động quần chúng
tiến hành công tác tôn giáo và thực hiện tốt chính sách tơn giáo. Các đồn thể
chính trị “ xã hội căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình vận động, tập hợp
thu hút tín đồ, chức sắc tôn giáo vào tổ chức và thực hiện tốt chính sách, pháp
luật về tơn giáo của Đảng và Nhà nước.
Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chun trách làm cơng tác tơn giáo có
trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cổ và kiện toàn. Phát huy vai trò của các cơ


7

quan chuyên trách công tác tôn giáo, đặc biệt tổ chức đảng, chính quyền cơ sở.
Lực lượng cơng an, qn đội tăng cường công tác xây dựng lực lượng cốt cán
trong tín đồ, chức sắc tơn giáo và chủ động phịng ngừa âm mưu lợi dụng tơn
giáo. Cơng tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi
dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động
quần chúng, để quần chúng tự giác đấu tranh chống lợi dụng tơn giáo.
Quan điểm này góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của toàn
bộ hệ thống chính trị về cơng tác tơn giáo. Tạo sự phối hợp thống nhất trong
tồn bộ hệ thống chính trị làm nên sức mạnh tổng hợp về công tác tôn giáo,
tránh sự thiếu thống nhất. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức
trong hệ thống chính trị, tránh đùn đẩy trách nhiệm hay lấn sân lẫn nhau trong
công tác tơn giáo, đồng thời khắc phục tình trạng bng lỏng quản lý trong công
tác tôn giáo.
- Việc theo đạo và truyền đạo phải tuân thủ chính sách, pháp luật của Nhà
nước.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp

pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa
nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động
tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn,
sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.
Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giảo tuyên truyền,
hoạt động mê tín, dị đoan, khơng ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các
tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái pháp luật,
vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Quan điểm này khẳng định, Nhà nước bảo hộ các hoạt động truyền giáo
đúng đắn, chống lợi dụng truyền giáo vi phạm pháp luật. Nhà nước bảo hộ cho
các tôn giáo chân chính, chống mê tín, dị đoan, đồng thời tránh can thiệp vào
công việc nội bộ tôn giáo thuần tuy hay buông lỏng quản lý không dám đấu
tranh với những hành vi hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật.


8

Các quan điểm trên địi hỏi cơng tác tơn giáo phải ln qn triệt từ nhận
thức đến thực tiễn. Đó là cơ sở trực tiếp để Đảng, Nhà nước tiếp tục đề ra chủ
trương, chính sách cụ thể đối với tín ngưỡng, tơn giáo nói chung và đối với các
hình thức tín ngưỡng, tơn giáo cụ thể nói riêng.
Trong q trình lãnh đạo thực hiện cơng cuộc đổi mới đất nước, qua các
văn kiện Đại hội Đảng các thời kỳ, Đảng đã đưa ra các quan điểm nhận thức về
tôn giáo và định hướng chính sách, pháp luật đối với tơn giáo, tín ngưỡng mang
tầm chiến lược.
Đại hội lần thứ VI (1986) đã mở ra thời kỳ đổi mới đất nước, trong đó vấn
đề tơn giáo và cơng tác tơn giáo được Đảng khẳng định trên một số quan điểm
định hướng có ý nghĩa căn cốt đối với chính sách, pháp luật về tơn giáo. Đó là:
“Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, thực hành chính sách tơn trọng tự do

tín ngưởng. Lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tơn giáo đồn kết xây dựng
cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc. Cảnh giác, kiên quyết và
kịp thời chống lại âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động chia rẽ đồng
bào có đạo với đồng bào khơng có đạo, giữa đồng bào theo đạo này với đồng
bào theo đạo khác”.
Trên cơ sở đó, đến các Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, XII,
XIII các quan điểm định hướng của Đại hội VI tiếp tục được Đảng khẳng định
với sự mở rộng, làm sâu sắc hơn và đặc biệt là đã nhấn mạnh tới quan điểm
“phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của các tơn giáo và đại đoàn kết toàn
dân tộc”. Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của
Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về Cơng tác tơn giáo, Chỉ thị số 18CT/TW, ngày 10-01-2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số
25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về Cơng tác tơn giáo trong
tình hình mới, đã khẳng định, quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác tôn
giáo đã đạt được nhiều kết quả, góp phần xây dựng khối đại đồn kết dân tộc,
góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước; phát huy những giá
trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của tơn giáo. Những nội dung này sau
đó đã được tái khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ


9

XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII chỉ rõ: “Vận động, đồn
kết, tập hợp các tổ chức tơn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng
góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ
chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được
Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các
nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu
tranh và xử lý nghiêm những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà
nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đồn kết tơn giáo và khối đại

đồn kết tồn dân tộc”.
Như vậy, cơng tác tôn giáo trong thời gian tới vẫn tiếp tục thực hiện quan
điểm của Đảng đã được xác định, chú ý phát huy nguồn lực xã hội của tơn giáo
đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
1.3. Nguyên tắc chính sách đối với tơn giáo.
Để thực hiện tốt quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tín
ngưỡng, tơn giáo trong thời kỳ đổi mới, cần phải quán triệt và nghiêm túc thực
hiện các nguyên tắc chính sách tôn giáo như sau:
Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tơn giáo và quyền tự do
khơng tín ngưỡng tơn giáo của cơng dân. Mọi người đều bình đẳng về nghĩa vụ
và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo,
cũng như giữa các tơn giáo khác nhau.
Đồn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong
khối đại đồn kết tồn dân.
Những hoạt động tơn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và
lợi ích chính đáng, hựp pháp của tín đồ được bảo đảm. Những giá trị văn hóa,
đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích
phát huy.
Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt đúng quy định của pháp
luật; chủ động giúp đỡ, giải quyết các nhu cầu hoạt động tơn giáo, tín ngưỡng,
tâm lỉnh của quần chúng; chủ động phòng ngừa, đấu tranh với những hành vi lợi


10

dụng tín ngưỡng, tơn giáo. Lồng ghép nội dung, nhiệm vụ công tác tôn giáo với
nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng có đơng đồng bào tơn giáo.
Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tơn giáo phải tuân thủ Hiển
pháp và pháp luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc; gìn giữ độc lập dân
tộc và chủ quyền quốc gia. Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để làm mất trật tự xã

hội, phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân,
chống lại Nhà nước, gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hóa của dân
tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc tơn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, đều bị xử lý
theo pháp luật. Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ.
Quán triệt nguyên tắc chính sách đối với tơn giáo, các cấp ủy đảng, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần chấp
hành nghiêm túc các nguyên tắc nêu trên trong thục hiện chính sách tơn giáo,
đồng thời cũng cần dựa vào những nguyên tắc đó để xây dựng giải pháp linh
hoạt và mềm dẻo nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác.
II. THỰC TRẠNG, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÔN GIÁOTẠI TỈNH HƯNG YÊN.
2.1. Thực trạng.
Nhìn lại gần 20 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW và Chương trình
hành động số 52-CTr/TU của tỉnh ủy Hưng n về cơng tác tơn giáo có thể thấy,
nhận thức của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân
về tơn giáo, cơng tác tơn giáo có những chuyển biến rõ rệt. Cấp ủy, chính quyền
các cấp đã cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo điều kiện
thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo hoạt động thuần túy, cơ bản tuân thủ pháp
luật. Đại đa số chức sắc, chức việc và tín đồ các tơn giáo chấp hành tốt chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các
hoạt động xã hội, y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo, góp phần vào sự phát triển
chung của tỉnh. Số lượng chức sắc, tín đồ có sự phát triển mạnh về số lượng,
tính đến hết năm 2016, tỉnh Hưng n có 03 tơn giáo hoạt động hợp pháp là
Phật giáo, Công giáo và Tin lành, trong đó Phật giáo có 591 cơ sở thờ tự, 361
tăng ni và trên 21000 tín đồ; Cơng giáo có 89 xứ, họ đạo (26 giáo xứ, 63 họ


11

đạo), 80 nhà thờ và nhà nguyện, 19 linh mục chính xứ, quản xứ, 36 nữ tu, dự tu

và khoảng 20.000 giáo dân thuộc sự quản lý của 04 Tòa giám mục (Thái Bình,
Bắc Ninh, Hải Phịng, Hà Nội); Tin lành có 16 điểm nhóm thuộc 06 hệ phái Tin
Lành, trong đó có 03 hệ phái được Ban Tơn giáo Chính phủ cấp giấy chứng
nhận đăng ký hoạt động tơn giáo ở 9/10 huyện, thành phố; có 02 chức sắc (01
mục sư, 01 mục sư nhiệm chức), 01 truyền đạo, 10 chức việc và trên 200 tín
hữu.
Bộ máy làm cơng tác tôn giáo được tăng cường ở cả 3 cấp về số lượng và
chất lượng. Năm 2003, tồn tỉnh có 223 cán bộ làm công tác tôn giáo (cấp tỉnh
13 người, cấp huyện 50 người, cấp xã 160); đến năm 2017 tăng lên là 740 người
(cấp tỉnh 36 người, cấp huyện 60 người, cấp xã 644 người). Nhiều ban, ngành đã
thành lập bộ phận chuyên trách làm công tác tôn giáo. Ban Chỉ đạo công tác tôn
giáo các cấp được thành lập, kiện tồn và đi vào hoạt động có hiệu quả; phối
hợp với các ngành chức năng tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ
đạo, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân sinh hoạt tôn giáo theo đúng pháp luật, hiến
chương, điều lệ của giáo hội. Tích cực tham gia các hoạt động, nhân đạo từ
thiện; tổ chức thăm và tặng quà các chức sắc tôn giáo trên địa bàn tỉnh nhân các
dịp lễ trọng như Tết Nguyên đán, Đại lễ Phật đản, lễ Noel... Qua đó, góp phần
ổn định tình hình tơn giáo trên địa bàn tỉnh, động viên các chức sắc, tín đồ các
tơn giáo tin tưởng vào đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sống ”tốt
đời, đẹp đạo”.
Công tác đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ
làm công tác tôn giáo, đội ngũ tăng, ni từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm thực
hiện. Từ năm 2011 đến nay, Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo tỉnh đã mở được 06
lớp cho khoảng 1500 lượt cán bộ. Ban tơn giáo các cấp phối hợp với trường
chính trị Nguyễn Văn Linh và trung tâm chính trị các huyện, thành phố mở trên
186 lớp cho khoảng 5500 lượt cán bộ cơ sở, cán bộ các hội, đoàn thể, đội ngũ
chức sắc tôn giáo. Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ) đã cho ý kiến để Giáo hội Phật
giáo Việt Nam tỉnh tổ chức giới đàn truyền chức cho 202 giới tử, tấm phong giáo
phẩm cho 01 Thượng tọa, 09 Ni trưởng và 20 Ni sư; tiếp nhận 45 hội viên; đào



12

tạo tại chỗ và gửi đi đào tạo 36 vị có trình độ cơ sở Phật học, trung cấp 85 vị,
cao đẳng 18 vị, Học viện 25 vị. Có ý kiến để các Tòa Giám mục bổ nhiệm chánh
xứ và quản xứ cho 09 linh mục, cử 02 công dân đi học tại Chủng viện Mỹ Đức,
tỉnh Thái Bình.
Cơng tác phối hợp giữa các cấp, các ngành được tăng cường và phát huy
hiệu quả, cụ thể như: Ban Tôn giáo tỉnh đã phối hợp với Hội Nông dân, Hội
Liên hiệp Phụ nữ, Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh xây dựng
chương trình phối hợp cơng tác, triển khai và tổ chức; định kỳ sơ kết, tổng kết
đánh giá kết quả thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn
giáo trên địa bàn. Sở Xây dựng, Ban Tôn giáo phối hợp với các địa phương tiến
hành thẩm định, cấp phép xây dựng, sửa chữa nhiều cơ sở thờ tự, phần nào đáp
ứng được nhu cầu tơn giáo của nhân dân.
Cơng tác phát triển đồn viên, hội viên, tăng cường xây dựng lực lượng
nòng cốt cho phong trào quần chúng ở địa phương được cấp ủy, chính quyền,
MTTQ và các tổ chức chính trị đặc biệt quan tâm. Khuyến khích, tạo điều kiện
cho đồng bào tơn giáo tham gia tổ chức đảng, chính quyền, cùng với quần chúng
nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết tồn dân, qua đó hệ thống chính trị vùng
đồng bào có đạo được củng cố, tăng cường. Đến tháng 10/2016, trên địa bàn
tỉnh có 71 chức sắc, tín đồ các tôn giáo tham gia đại biểu Quốc hội và Hội đồng
nhân dân các cấp (Phật giáo 30 người, Công giáo 41 người); tham gia cấp ủy các
cấp có 528 người (Phật giáo 510 người, Công giáo 18 người); tham gia UBND
các cấp có 21 người (Cơng giáo 21 người); tham gia Ủy ban MTTQ và ban chấp
hành đồn thể chính trị - xã hội các cấp có 555 người (Phật giáo 332 người,
Công giáo 223 người).
MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh cơng tác tun truyền
vận động đồng bào tôn giáo thực hiện các cuộc vận động “Tồn dân đồn kết
xây dựng nơng thơn mới đơ thị văn minh”, “Ngày vì người nghèo”, “Người Việt

Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”..., tham gia các hoạt động khuyến học,
khuyến tài, từ thiện nhân đạo, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu ủng hộ các quỹ do
Trung ương và tỉnh phát động; tiêu biểu có Thượng tọa Thích Thanh Hiện, Sư cô


13

Thích Đàm Thành, với số tiền qun góp mỗi năm lên đến hàng tỷ đồng. Nhiều
chủ trương, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội được cụ
thể hóa phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, góp phần nâng cao đời
sống vật chất, văn hóa tinh thần cho đồng bào các tơn giáo; xuất hiện nhiều
gương điển hình trong phát triển kinh tế là đồng bào có đạo, như giáo dân Bùi
Văn Hà, thôn Đông Khu, xã Đức Hợp trồng chuối tiêu hồng xuất khẩu thu lãi
khoảng 110 triệu đồng/năm; giáo dân Nguyễn Văn Tiến xã Ngọc Thanh, Kim
Động sản xuất gạch mỗi năm thu lãi 200 triệu đồng.
2.2. Hạn chế.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn một số bất cập; một số quy
định chưa thực sự phù hợp thực tiễn, chưa đầy đủ và thống nhất giữa Luật tín
ngưỡng tơn giáo (TNTG) với các luật liên quan; công tác tuyên truyền, phổ biến
tuy đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao; việc áp dụng Luật vào thực tiễn
ở một số nơi chưa thống nhất.
Công tác triển khai Luật ở khơng ít nơi cịn lúng túng. Quan hệ phối hợp
giữa các sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh; giữa cơ quan QLNN về TNTG với các
tổ chức tôn giáo chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên.
Tổ chức bộ máy làm công tác QLNN về TNTG chưa tương xứng với yêu
cầu nhiệm vụ; năng lực QLNN của đội ngũ cán bộ, cơng chức ở trên địa bàn tỉnh
cịn chưa đồng đều; việc phân cơng, bố trí cán bộ làm cơng tác tôn giáo ở cấp
huyện, cấp xã chưa hợp lý.
Việc giao đất tơn giáo, quản lý tài chính, xây dựng mới, sửa chữa, nâng
cấp, cải tạo cơ sở tơn giáo cịn tồn tại, bất cập. Vi phạm về hoạt động tôn giáo

cịn xảy ra ở nhiều hình thức nhưng việc phát hiện, xử lý có lúc, có nơi chưa kịp
thời, quyết liệt, hiệu quả chưa cao, trong đó có vụ việc phức tạp, kéo dài, ảnh
hưởng đến hiệu lực QLNN và việc củng cố đoàn kết trong nhân dân.
Việc sử dụng cơ sở tơn giáo trong phát triển du lịch cịn nhiều bất cập,
chưa tương xứng với tiềm năng.
2.3. Nguyên nhân.


14

Tôn giáo là hoạt động tinh thần, thuộc lĩnh vựcvăn hóa, trong xu thế hội
nhập quốc tế sâu rộng, tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, cùng với
việc lợi dụng tơn giáo gây khó khăn cho cơng tác quản lý tơn giáo. Nước ta có
nhiều tơn giáo và hoạt động tín ngưỡng phong phú, mỗi tổ chức tơn giáo lại có
quy mơ, mơ hình tổ chức, hệ thống giáo lý, giáo luật khác nhau. Ngoài ra, thực
tiễn cịn có nhiều hiện tượng tơn giáo mới xuất hiện và hoạt động phức tạp.
Trong khi đó Luật TNTG chỉ quy định chung, bao quát cho tất cả các tôn giáo,
đồng thời chịu tác động của các Luật liên quan khác nên cần thiết phải giám sát
và hoàn thiện. Một số vấn đề về đất đai tơn giáo có tính lịch sử lâu dài và phức
tạp.
Việc chậm ban hành một số văn bản để hướng dẫn thi hành, triển khai
Luật như: quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực TNTG; quy
định về quản lý, sử dụng tài sản, tài chính cơ sở tơn giáo; một số huyện chưa ban
hành văn bản phân công về QLNN đối với cơ sở tín ngưỡng trên địa bàn. Nhận
thức của các cấp, các ngành, người làm công tác tôn giáo, người có đạo về chính
sách, pháp luật về tơn giáo có lúc, có nơi cịn hạn chế. Luật TNTG mới ban hành
nên công tác tuyên truyên, phổ biến, giáo dục, pháp luật về TNTG còn chưa
được sâu rộng. Việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác QLNN về
tôn giáo chưa được đầu tư đúng mức. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện
chính sách, pháp luật về đất đai tôn giáo; xây dựng, cải tạo cơ sở tơn giáo; quản

lý tài sản, tài chính cơ sở tơn giáo của cơ quan hữu quan có nơi, có thời điểm
chưa chặt chẽ, thường xun, kịp thời.
Ngồi chiến lược chung, nhà nước chưa có kế hoạch, chương trình, hướng
dẫn trong phát triển du lịch sử dụng cơ sở tơn giáo.
III. NGUỒN LỰC VÀ VAI TRỊ CỦA TƠN GIÁO ĐẾN QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH HƯNG YÊN.
2.1. Nguồn lực của tôn giáo.
Nguồn lực tôn giáo cơ bản và thường được thể hiện ở hai phương diện:
nguồn lực tinh thần – đấy là những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo và nguồn
lực vật chất – nguồn vốn xã hội. Hai loại nguồn lực này được thể hiện ở hai


15

dạng hoạt động: hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội nhưng luôn song hành,
thúc đẩy lẫn nhau trong cùng một chủ thể là tổ chức tôn giáo.
Nguồn lực tinh thần của tơn giáo chính là giá trị đạo đức, văn hóa tơn
giáo, được thể hiện trong hệ thống triết lý, giáo lý và những điều răn giới cầm
nhằm điều chỉnh ý thức, hành vi của tín đồ và được tín đồ tin theo một cách tự
nguyện, tự giác. Giá trị đó, ngồi việc bảo vệ niềm tin tơn giáo thiêng liêng, còn
đề cập đến những chuẩn mực đạo đức chung như sống hiếu thảo, trung thực,
nhân ái, hướng tới điều lành, tránh xa điều ác. Trong hoạt động tôn giáo, thông
qua các lễ thức các nhà lãnh đạo tơn giáo ln lấy đó làm chuẩn mực để khun
dạy tín đồ thực hiện. Niềm tin tơn giáo đã trở thành nhu cầu của một bộ phận
người dân, giúp họ vượt qua những khó khăn, bế tắc trong cuộc sống, hy vọng
một tương lai tươi sáng hơn. Giá trị đạo đức tơn giáo là bệ đỡ tinh thần giúp tín
đồ sống trách nhiệm với lối sống lành mạnh hơn.
Nguồn lực vật chất của tôn giáo được kết hợp bởi hai yếu tố nguồn nhân
lực và nguồn vốn. Hơn 24,5 triệu tín đồ các tơn giáo, chiếm 27% dân số Việt
Nam chính là nguồn nhân lực quan trọng có nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi

trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tăng trưởng kinh tế ổn định hàng
năm của đất nước có sự đóng góp từ nguồn nhân lực và nguồn vốn của tín đồ
các tơn giáo. Họ chính là người làm ra của cải khơng chỉ phục vụ đời sống gia
đình mà cịn cùng với các thành phần xã hội khác góp phần vào phát triến kinh
tế của đất nước.
Để phát huy nguồn lực của tôn giáo trong xây dựng đất nước cần phát
triển cách tiếp cận mới về tôn giáo theo hướng:
- Tôn giáo là một thực thể xã hội tồn tại khách quan và mang trong mình
những giá trị tích cực. Số lượng tín đồ tơn giáo là nguồn nhân lực của đất nước,
không chỉ là người trực tiếp làm ra của cải (nguồn vốn) để phát triển đất nước.
Nguồn nhân lực đó có niềm tin tơn giáo sẽ làm tăng tính hiệp thông giữa những
người cùng đức tin, tạo nên sức mạnh, tính cố kết cộng đồng cao, là những hạt
nhân quan trọng làm nên đồn kết tơn giáo, đồn kết dân tộc và là lực lượng


16

quần chúng góp phần ổn định, phát triển đất nước, đó là một thực tế khơng thể
phù nhận.
Khi đã nhìn nhận đúng và đặt để đúng vai trò của tổ chức tơn giáo, thì
trong thực thi cần đưa tơn giáo vào tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, điều
đó khơng chỉ kích đẩy được nguồn vốn xã hội từ tơn giáo, mà cịn tạo sự đồng
thuận xã hội. Khi nhìn nhận tơn giáo là một thực thể xã hội, tổ chức này sẽ có
đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ như những tổ chức xã hội khác trong hoạt động tôn
giáo và hoạt động xã hội. Tạo ra một sân chơi pháp lý bình đẳng để phát huy
nguồn vốn xã hội của tôn giáo cho phát triển đất nước.
- Phát huy giá trị đạo đức, văn hóa tơn giáo vào xây dựng đạo đức, văn
hóa dân tộc: Việt Nam ln tự hào là đất nước có nền văn hóa độc đáo, với
những giá trị vật thể và phi vật thể được thế giới cơng nhận, bên cạnh đó sự đa
dạng của văn hóa các dân tộc thiểu số đã góp phần làm nên bề dày và sự đa dạng

của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh tồn cầu hố, văn hóa Việt
Nam đã và đang có những tác động biến đổi sâu sắc theo xu hướng mai một bản
sắc, ý thức về việc giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc trong bộ phận lớp trẻ
ngày một yếu đi. Sự du nhập và chạy theo các trào lưu văn hóa mới đã và đang
làm cho giá trị đạo đức xã hội ngày một pha tạp. Do vậy, việc giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của
Đảng, Nhà nước mà là mọi thành phần xã hội, trong đó có các tổ chức tơn giáo.
Trong nhiệm vụ này việc đưa tôn giáo vào cùng tham gia thực hiện là vấn đề cần
tính đến.
2.2. Vai trị của tôn giáo.
Thứ nhất là giá trị đạo đức tôn giáo góp phần vào xác lập các giá trị xã hội
và ảnh hưởng trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội, kể cả trong hoạt động kinh
tế.
Thứ hai là tôn giáo tham gia nâng đỡ, bồi bổ các giá trị đạo đức, văn hóa
xã hội. Đặc biệt trong phát triển bền vững hiện nay thì phát triển văn hóa cực kỳ
quan trọng. Tiếp đến là những đóng góp của tơn giáo về vật chất và nguồn nhân
lực góp phần cùng với Nhà nước thúc đẩy hệ thống an sinh xã hội.


17

Thứ ba là đồn kết dân tộc. Tơn giáo nào cũng có mục tiêu hướng thiện,
u chuộng hịa bình, tránh xa những điều ác. Ở đâu có tổ chức tơn giáo tốt thì
vấn đề tự quản ở đó cũng rất tốt. Bản thân tơn giáo có giáo lý, giáo luật, những
điều răn đã thấm sâu vào mỗi tín đồ tơn giáo. Như vậy, khi các giá trị đó được
thực hiện tốt sẽ khiến vai trị của tơn giáo trong đồn kết dân tộc, đồn kết tơn
giáo cũng rất tốt, tạo dựng sự đồng thuận xã hội.
Thứ tư là vai trò khẳng định chủ trương, chính sách tơn giáo đúng đắn của
Đảng, Nhà nước Việt Nam khi nguồn lực của tôn giáo được phát huy, khi tôn
giáo được bày tỏ.

IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TÔN
GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN.
Một là, tiếp tục phát huy vai trò tham mưu với Đảng, Nhà nước trong
cơng tác xây dựng và hồn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tơn giáo.
Cần chủ động rà sốt, tham mưu giúp Chính phủ bổ sung, hồn thiện pháp
luật về tín ngưỡng, tơn giáo theo hướng thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Đảng
về tín ngưỡng, tơn giáo; đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật trong
nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia để tạo hành lang pháp lý
thuận lợi cho hoạt động tín ngưỡng, tơn giáo. Trước mắt, cần sớm tham mưu
giúp Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật
Tín ngưỡng, tơn giáo; Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín
ngưỡng, tơn giáo…
Tham gia góp ý sửa đổi, bổ sung một số quy định trong các luật chuyên
ngành liên quan đến tín ngưỡng, tơn giáo (theo chương trình xây dựng pháp luật
của Quốc hội) nhằm đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện chính sách,
pháp luật về tín ngưỡng, tơn giáo; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy các tổ
chức tơn giáo có thế mạnh, tiềm năng tham gia, tổ chức các hoạt động xã hội,
đóng góp nguồn lực cho xây dựng và phát triển đất nước. Tham gia tích cực,
hiệu quả thực hiện Đề án hồn thiện pháp luật ngành Nội vụ đến năm 2025, định


18

hướng đến năm 2030; tiếp tục tham mưu hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín
ngưỡng, tơn giáo.
Hai là, tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tơn
giáo.
Đẩy mạnh cơng tác tun truyền quan điểm, chủ trương của Đảng đã

được thể hiện trong Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương
khóa IX về cơng tác tơn giáo; Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10/01/2018 của Bộ
Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo
trong tình hình mới. Triển khai Chương trình hành động của Bộ Nội vụ thực
hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng liên quan đến tín ngưỡng, tơn giáo.Thực
hiện tốt cơng tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và
Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật Tín ngưỡng, tơn giáo; các luật chun ngành liên quan đến tín
ngưỡng, tơn giáo góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật cho
cán bộ, công chức, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tơn giáo và
người dân trong giai đoạn mới.
Ba là, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về
tín ngưỡng, tơn giáo.
Hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy
định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận; chủ động
giải quyết các nhu cầu hoạt động tơn giáo chính đáng của các tín đồ; kịp thời
nắm bắt tình hình, tâm tư, nguyện vọng của các tơn giáo, quần chúng tơn giáo và
có phương hướng giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh; chủ động phòng
ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tơn giáo để
chia rẽ, phá hoại khối đại đồn kết tồn dân tộc, đồn kết tơn giáo.
Xem xét cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo cho
các tổ chức đủ điều kiện. Hướng dẫn các tổ chức tôn giáo tổ chức tốt các hội
nghị thường niên, đại hội nhiệm kỳ; bầu, chọn nhân sự lãnh đạo giáo hội có đạo
hạnh, có trình độ, khả năng lãnh đạo, tinh thần đối thoại, hợp tác và ý thức chấp


19

hành pháp luật; thẩm định hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng, sửa chữa, cải tạo,
nâng cấp các cơ sở tôn giáo. Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả

quản lý nhà nước đối với hoạt động sinh hoạt tơn giáo của người nước ngồi ở
Việt Nam. Quan tâm phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của Nhân dân, trong đó có quần chúng tơn giáo. Vận động, đồn kết, tập
hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”,
đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy những
giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và huy động các nguồn lực của tôn giáo cho sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Bốn là, tăng cường công tác đối ngoại tôn giáo, thúc đẩy hoạt động hợp
tác với các nước trong khu vực và trên thế giới về vấn đề tôn giáo.
Tham gia các diễn đàn về tôn giáo quốc tế và khu vực; chủ động thơng
tin, tun truyền về tình hình, chính sách tơn giáo, thành tựu đạt được trong lĩnh
vực tôn giáo để cộng đồng quốc tế hiểu và ủng hộ Việt Nam trong các hoạt động
đối ngoại; đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực
thù địch đối với tình hình tơn giáo và cơng tác tôn giáo của Nhà nước Việt Nam;
chuẩn bị tốt nội dung, lập luận tham gia các vòng đối thoại nhân quyền song
phương và đa phương.
Chú trọng tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế trên lĩnh vực tôn giáo.
Giúp đỡ, hướng dẫn các tổ chức tôn giáo thực hiện các hoạt động quan hệ quốc
tế theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng
và Nhà nước ta. Vận động chức sắc, tín đồ tơn giáo Việt Nam ở nước ngồi
hướng về xây dựng đất nước.
Năm là, chủ động, tích cực trong cơng tác tiếp xúc, vận động, tranh thủ
chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tổ chức tơn giáo.
Chủ động vận động, đồn kết đồng bào các tơn giáo thông qua việc đẩy
mạnh các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn
minh, thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật ở địa phương. Thường
xuyên gặp gỡ các chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người có uy tín trong các tổ
chức tơn giáo, tạo sự đồng thuận trong thực hiện chủ trương, chính sách và giáo



20

dục tín đồ chấp hành pháp luật. Xây dựng lực lượng nịng cốt trong tơn giáo tạo
nguồn lực cần thiết khi xử lý các vấn đề phức tạp trong tôn giáo. Phát triển đảng
viên là người có đạo và phân cơng nhiệm vụ cho đảng viên có đạo trong việc
nắm tình hình và thực hiện tốt cơng tác dân vận với quần chúng, tín đồ.
Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, tập trung giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tín ngưỡng, tơn giáo.
Chủ động phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và địa phương tổ chức
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tơn giáo
và xử lý, giải quyết kịp thời theo thẩm quyền các vụ việc liên quan; tập trung
tháo gỡ những vướng mắc, “điểm nóng” ngay từ cơ sở, khơng để phát sinh khiếu
kiện đơng người, vượt cấp. Thực hiện cải cách hành chính, dịch vụ công trực
tuyến mức độ 4, cơ chế “một cửa” về tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của các tổ chức, cá nhân tơn giáo. Tổ chức
thực hiện có hiệu quả việc tiếp nhận và xử lý, giải quyết dứt điểm, kịp thời các
trường hợp kiến nghị, phản ánh của người dân về tình hình vi phạm pháp luật
liên quan đến tín ngưỡng, tơn giáo.
Nâng cao chất lượng cơng tác kiểm tra thi hành pháp luật và thực hiện
pháp luật về tín ngưỡng, tơn giáo kết hợp cơng tác kiểm tra, rà soát văn bản quy
phạm pháp luật tại các tỉnh, thành phố. Tăng cường công tác thanh tra chuyên
ngành, kiểm tra thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt đối với các
vụ việc phức tạp, kịp thời tham mưu, xử lý những vi phạm của tổ chức, cá nhân
tơn giáo.
Bảy là, củng cố, kiện tồn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác quản lý
nhà nước về tín ngưỡng, tơn giáo các cấp; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức làm cơng tác tín ngưỡng, tơn giáo.
Tiếp tục củng cố, kiện tồn tổ chức bộ máy, cán bộ làm cơng tác quản lý
nhà nước về tín ngưỡng, tơn giáo các cấp theo hướng phù hợp đảm bảo ổn định,
đồng bộ, có hệ thống ngành dọc từ Trung ương tới địa phương; quan tâm đào

tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tín
ngưỡng, tơn giáo các cấp; tạo nguồn cán bộ gắn với việc nâng cao năng lực, chất


21

lượng trong thực hiện nhiệm vụ. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Tập huấn,
bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ về tín ngưỡng cho cán bộ, cơng chức
làm cơng tác tín ngưỡng, tơn giáo giai đoạn 2021-2025”.
Tám là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành
trong cơng tác tín ngưỡng, tơn giáo.
Tăng cường công tác phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị,
giữa các cơ quan Đảng với chính quyền các cấp, bảo đảm việc tổ chức thực hiện
chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tơn giáo được kịp thời và hiệu quả; kịp thời
giải quyết những nhu cầu chính đáng của các cơ sở tín ngưỡng, của các tôn giáo
đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; chủ động cung cấp, trao đổi thông
tin giữa các cơ quan để thống nhất tổ chức triển khai thực hiện chỉ đạo của
Đảng, Nhà nước về cơng tác tín ngưỡng, tôn giáo; định kỳ sơ kết, tổng kết đánh
giá kết quả thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tín
ngưỡng, tơn giáo.


22

KẾT LUẬN
Mọi tơn giáo ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật
bảo vệ, được tự do hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tuyệt
nhiên không một tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị chính quyền ngăn
cấm. Chức sắc, tín đồ các tơn giáo ln gắn bó với quốc gia, dân tộc theo
phương châm “Đạo pháp dân tộc và CNXH”, thực hiện “sống phúc âm trong

lòng dân tộc”,“nước vinh đạo sáng”, vừa làm trịn bổn phận của tín đồ đối với
tơn giáo, vừa hăng hái lao động sản xuất, góp phần cùng tồn dân đẩy mạnh
thực hiện cơng cuộc đổi mới, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn sinh động đó đã, đang được khẳng định qua những
thành tựu đã đạt và được nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao.
Với vai trò là một thành tố cấu thành của văn hóa, tơn giáo đã góp phần
lưu giữ, bồi đắp và làm phong phú những giá trị truyền thống văn hóa, mang giá
trị nhân văn, hướng thiện có ảnh hưởng tích cực trong đời sống xã hội, thông
qua giáo lý khuyên răn con người sống hướng thiện, vị tha, bác ái... Những giới
điều trong giáo lý các tôn giáo mang giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc, góp
phần điều chỉnh hành vi ứng xử của con người. Nhiều khu dân cư có đơng đồng
bào theo tơn giáo trở thành điểm sáng về phòng chống tội phạm, phòng chống
ma túy và các tệ nạn xã hội khác, giữ gìn tốt an ninh trật tự, an tồn xã hội. Tín
đồ, chức sắc tích cực tham gia phát triển kinh tế xã hội, góp phần vào cơng cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Dù mỗi
tơn giáo đều có đường hướng và phương châm hành đạo riêng nhưng đều chung
một định hướng là sống “Tốt đời, đẹp đạo” gắn bó đồng hành với dân tộc, với
đất nước.


23

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý luận
chính trị: Tơn giáo và tín ngưỡng, Nxb.Lý luận chính trị.
2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII,
XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày
12.3.2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác tôn giáo
của tỉnh Hưng Yên.

4. Báo cáo sơ kết 03 năm triển khai thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo và
Nghị định 162/2017/NĐ-CP của tỉnh Hưng Yên.
5.

/>
trien-dat-nuoc.html


×