Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

BÀI THI CHÍNH KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (366.52 KB, 11 trang )

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THEO HỒ SƠ TÌNH HUỐNG
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ

Hồ sơ

Thông tin hồ sơ

HS 01

Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

KỲ THI
CHÍNH

Người khởi kiện: Bùi Sơn Đơng
Người bị kiện: Đào Bá Dung
HS 06

Tranh chấp quyền sử dụng đất
Nguyên đơn: Chu Thị Thanh – Chu Văn Sinh
Bị đơn: Đinh Thị Tám

Họ và tên: Nguyễn Hoàng Minh Hằng
Sinh ngày 30 tháng 9 năm 1997
SBD 56 Lớp LS23.2.B Khóa 23 tại Hà Nội

Hà Nội, ngày 24 tháng 3 năm 2022



NỘI DUNG
I. HS 01
1. Dựa vào nội dung phần trình bày của ông Bùi Sơn Đông và các tài liệu giấy
tờ khác trong hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp? Giải thích lý do
vì sao anh (chị) đưa ra quan điểm như vậy? (1.5 điểm)

-

a. Tóm tắt tình tiết sự việc HS 01:
Người khởi kiện: Ơng Bùi Sơn Đông
Địa chỉ: Tổ 80 khối 8 phường Hà Khẩu, Thành phố Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh
Người bị kiện: Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng
Chi nhánh Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng – Chi nhánh tỉnh Quảng
Ninh (LICOGI)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Bá Dung

Ngày 16/1/2016, UBND Thành phố Hạ Long ban hành quyết định số 681/QĐUBND về việc thu hồi đất của 15 hộ dân (bao gồm hộ gia đình ông Bùi Sơn Đông_ để
giải phóng mặt bằng (GPMB) xây dựng khu đô thị Nam ga Hạ Long (do LICOGI làm
chủ đầu tư). LICOGI có trách nhiệm tổ chức giải phóng mặt bằng và thực hiện chi trả
tiền bồi thường, hỗ trợ các hộ dân theo phương án bồi thường được phê duyệt.
Phần đất ông Đông bị thu hồi và được bồi thường theo quyết định trên là: 40,9
m2 đất nông nghiệp, Thửa đất 215, tờ bản đồ số 40. Trên đất đang trồng hoa màu là
Rau muống loại 1.
Ngày 9,10/6/2016, do trước đó LICOGI thực hiện san lấp mặt bằng, đổ đổ đất
lấp dòng chảy cửa cống đường 18 nên sau mưa lớn, nước lái dòng vào thửa đất số 28,
tờ bản đồ GPMB số 4 của hộ gia đình ơng Đơng.
Ngày 14/6/2016, ơng Đơng cùng LICOGI và các cán bộ địa làm việc, thống nhất
khối lượng vật kiến trúc, cây, hoa màu của hộ gia đình ơng Đơng tại thửa đất số 28 tờ
bản đồ GPMB số 4, làm cơ sở lập phương án đền bù.

LICOGI đã lên phương án bồi thường cho ơng Đơng, trong đó phần cây, hoa màu
bị ngập lụt được bồi thường 11.400.000 VND, áp giá theo Quyết định số 4405/QĐ-UB
ngày 4/11/2015 của UBND tỉnh Quảng Ninh “V/v ban hành bộ đơn giá bồi thường thiệt
hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Gia đình ơng Đơng khơng đồng ý với phương án bồi thường của LICOGI và đến
nay chưa nhận được bồi thường từ LICOGI.
Các yêu cầu của Người khởi kiện:
(1) Yêu cầu LICOGI bồi thường giá trị 40,9 m2 đất
(2) Yêu cầu LICOGI Bồi thường hoa màu trên đất bị san lấp, và cây cối, hoa màu bị
ngập úng: tăng 50% giá trị cây cối, hoa màu trong phương án bồi thường;
1


(3) Yêu cầu LICOGI Bồi thường vụ thu hoạch năm 2016 đối với cây ngập chết vĩnh
viễn: 5.000.000 VND. Nếu LICOGI trả chậm, LICOGI phải trả bằng hai vụ (năm 2016
và 2017)
Tổng thiệt hại ước tính: 35.000.000 VND
(4) Yêu cầu LICOGI bồi thường cơng trình kiến trúc của gia đình ông Đông bị ảnh
hưởng bởi quá trình thi công
(5) Yêu cầu LICOGI trả trước 30/6/2017
b.
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:
Đối với 40,9 m2 đất, tờ bản đồ 215, tờ 10 trong diện bị thu hồi và hoa màu trên
đất bị thu hồi, ông Đông muốn được bồi thường giá trị đất và hoa màu đã san lấp, và
tăng 50 % giá trị của cây cối, hoa màu trong phương án bồi thường (yêu cầu (1) và (2)
tại điểm a nêu trên).
Yêu cầu này có liên quan đến việc thay đổi giá trong phương án bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất, mối quan hệ phát sinh từ Quyết định hành chính của cơ quan nhà
nước. Do dó, khơng thể yêu cầu bồi thường từ LICOGI mà cần thực hiện các thủ tục
liên quan đến khiếu nại, khiếu kiện quyết định hành chính có liên quan để giải quyết.

Đối với khoản bồi thường liên quan đến các tài sản là vật kiến trúc, cây và hoa
màu trên thửa số 28, tờ bản đồ 4. Ơng Đơng có các u cầu từ (2) đến (5).
Trong quá trình LICOGI cho san lấp thửa đất 215, đã gây ra thiệt hại về các tài sản trên
thửa đất số 28 của gia đình ông Đông. Thửa đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của
gia đình ơng Đơng, và khơng thuộc diện thu hồi. Vậy nên, mối quan hệ bồi thường thiệt
hại ở đây là mối quan hệ dân sự, giữa gia đình ông Đông là chủ sở hữu tài sản bị thiệt
hại và LICOGI, bên có lỗi gây nên thiệt hại đến các tài sản nói trên. Khoản 1 Điều 584
Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
“ Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín,
tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi
thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Xét rằng:
Giữa Bên LICOGI và gia đình ơng Đơng khơng tồn tại quan hệ Hợp đồng;
Bên LICOGI có hành vi xâm phạm đến tài sản của gia đình ơng Đơng và gây ra
thiệt hại thực tế trực tiếp
➔ Do đó, quan hệ tranh chấp giữa ông Đông và LICOGI trong trường hợp này là
Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Điều 584 BLDS 2015, và quan
hệ tranh chấp này cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Khoản 6 Điều 26
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

2


II. HS 06
1. Tóm tắt tình tiết vụ tranh chấp:
Ngun đơn:
-

-


Bà Chu Thị Thanh, sinh năm 1931
Trú quán: Số 12, tổ 16 phường Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện
Biên.
Ông Chu Văn Sinh, sinh năm 1936
Trú quán: Vạn Thắng, Hịa Thắng, Hữu Lũng, Lạng Sơn.- Người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan:

Bị đơn:
Bà Đinh Thị Tám, sinh năm 1930.
Trú quán: Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-

Bà Chu Thi Loan, sinh năm 1935
Trú quán: Tổ 3, phường Cầu Thía, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái

-

Bà Chu Thị The, sinh năm 1944
Trú quán: Đội 1 thôn Diên Điền, xã Bình Hịa, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

-

Ông Chu Khắc Hồng, sinh năm 1956
Bà Trần Thị Đắc, sinh năm 1957
Bà Chu Thị Mai, sinh năm 1952

Vợ chồng cụ Chu Khắc Trường và cụ Chu Thị Cúc sinh sống trên mảnh đất có diện
tích 777m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 do UBND xã Phù Vân quản

lý tại Thôn 6, xã Phù Vân, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Hai cụ sinh được 4 người
con gồm: bà Chu Thị Thanh, bà Chu Thị Loan, ông Chu Văn Sinh và bà Chu Thị The.
Năm 1945, cụ Trường mất, cụ Cúc cùng 4 người con vẫn sinh sống trên diện tích đất
mà cụ Trường để lại. Năm 1990, cụ Cúc mất để lại tài sản gồm có ngơi nhà cấp 4, lợp
ngói đỏ 2 gian, tường trát đất và diện tích đất ở là 777m2 tại thôn 6, xã Phù Vân, TP Phủ
Lý, tỉnh Hà Nam.
Ngày 21/01/1994, ông Sinh tự ý lập giấy chuyển quyền thừa kế cho vợ chồng ông
Chu Khắc Thun và bà Đinh Thị Tám mà khơng có sự đồng ý của những đồng thừa kế
khác. Tháng 7/1994, bà Thanh về thăm quê thấy việc ông Sinh tự ý chuyển quyền thừa
kế cho ông Thuyên mà bà cùng bà Loan, bà The không được biết. Do vậy, bà Thanh đề
nghị chính quyền xã giải quyểt. Ngày 10/04/1994, UBND xã đã có quyết định hủy bỏ
đơn chuyển quyền thừa kế giữa ơng Sinh và ơng Thun. Sau đó, bốn chị em bà Thanh,
bà Loan và bà The, ông Sinh đã họp bàn và thống nhất giao mảnh đất trên cho ông
3


Thuyên trông nom, quản lý. Thời hạn giao đất là 5 năm kể từ ngày 15/4/1994 đến
15/4/1999. Và ông Thuyên được hưởng 50% tổng giá trị thu nhập từ tài sản trên đất đó.
Hết thời hạn 5 năm theo thỏa thuận do ông Thuyên chết nên bà Tám là vợ ông Thuyên
trông coi và thu hoạch tài sản trên đất từ đó đến nay. Tháng 05/2016, phát hiện bà Tám
và con gái là Chu Thị Mai đang tập kết vật liệu xây dựng để xây nhà ngay trên diện tích
đất nêu trên nên bà Chu Thị Thanh đã báo chính quyền địa phương để giải quyết. Bà
Thanh đã đề nghị chính quyền địa phương can thiệp, hịa giải 02 lần nhưng không thành.
Nguyên đơn đưa ra các yêu cầu như sau:
(1) Buộc Bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích 777m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập
năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho bà Chu Thị Thanh,
ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan, bà Chu Thị The.
(2) Buộc bà Đinh Thị Tám phải trả lại nhà, cây cối trên đất thuộc sở hữu của cụ Cúc trên
thửa đất đang tranh chấp nêu trên.
(3) Yêu cầu buộc bà Đinh Thị Tám phải hoàn trả 50% tổng giá trị thu nhập cây lưu niên

kể từ ngày 15/4/1994 theo giấy gửi UBND xã Phù Vân, TP Phủ Lý
(4) Yêu cầu bà Tám tháo dỡ căn nhà và các công trình xây dựng trái phép trên thửa đất
nêu trên

2. Anh (chị) hãy nêu ý kiến nhận xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn? Giải
thích lý do vì sao anh (chị) đưa ra nhận xét như vậy? (1.5 điểm)
Qua các tình tiết của vụ việc, có thể thấy ngun đơn và bị đơn đang có tranh chấp
về việc xác định quyền sử dụng mảnh đất diện tích 777m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ
số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Phía ngun
đơn thì cho rằng quyền sử dụng đất thuộc về mình và các chị em đồng thừa kế, do dất
có nguồn gốc từ cha mẹ các đồng thừa kế để lại. Tuy nhiên, Bị đơn cho rằng thừa đất
trên thuộc quyền sở hữu của mình do ông Sinh, là 1 trong các nguyên đơn, đã chuyển
nhượng đất theo giấy chuyển quyền thừa kế năm 1994, và gia đình Bị đơn sống ổn định,
lâu dài và đóng thuế đất hàng năm cho thửa đất này.
Nhận xét về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn đưa ra 4 yêu cầu khởi kiện, trong đó, yêu cầu khởi kiện cũng là vấn đề
trọng tâm nhất cần chứng minh, đó là:
Về yêu cầu số (1), Yêu cầu Bị đơn trả lại diện tích 777m2 tại thửa đất số 40 mà Bị
đơn đang sử dụng trái phép, là di sản thừa kế của cha mẹ, và đáng lẽ thuộc về nguyên
đơn và các chị em đồng thừa kế khác.
Yêu cầu khởi kiện này của Nguyên đơn này đủ điều kiện khởi kiện và có căn cứ
pháp luật, bởi lẽ:
4


-

-

-


Thửa đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cha mẹ Nguyên
đơn, được ghi nhận trong hồ sơ địa chính của địa phương và được chính quyền
địa phương, làng xóm và các bên đương sự thừa nhận;
Khi ông Trường và bà Cúc là cha mẹ của 4 chị em Nguyên đơn chết không để lại
di chúc; Nguyên đơn là con ruột, thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên được chi di sản
thừa kế theo pháp luật về thừa kế, căn cứ
Thửa đất là di sản thừa kế chưa chia, nên vẫn sẽ thuộc sở hữu chung của 4 chị
em ơng Sinh, bà Thanh;
Chưa có hoạt động chuyển nhượng đất hợp pháp nào được thực hiện giữa các chị
em đối với bà Tám hay bất cứ người nào khác.

Theo Điều 3 Luật đất đai 1993 đã ghi nhận quyền sử dụng đất thuộc di sản thừa kế
theo quy định pháp luật thừa kế. Theo đó căn cứ vào điểm a, b tiểu mục 1.3 mục 1 phần
2 Nghị quyết 02/2004 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán về việc hướng dẫn áp dụng
pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hơn nhân và gia đình thì tại thời điểm
xảy ra tranh chấp, thửa đất có nhà ở và tài sản trên đất cũng được xác định là di sản thừa
kế của bà Cúc. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Pháp lệnh về thừa kế năm
1990, Mục 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 thì hàng thừa kế thứ nhất gồm:
vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Theo quy
định tại khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh thừa kế năm 1990: “Những người thừa kế cùng hàng
được hưởng phần di sản bằng nhau”.
Do đó, quyền sử dụng diện tích 777 m2 thửa đất số 40 được xác định là di sản thừa
kế của cha mẹ để lại cho 4 chị em Bà Thanh, Ông Sinh, bà Loan và Bà The. Việc Nguyên
đơn đòi di sản thừa kế thuộc về mình là hồn tồn có căn cứ và đúng pháp luật.
Khi Nguyên đơn đã giành được quyền sử dụng đối với diện tích 777 m2 thửa đất số
40, Nguyên đơn có thêm một phần căn cứ để đưa ra các yêu cầu số (2) và số (4). Riêng
đối với yêu cầu số (3) cần xem xét riêng vì liên quan đến giao kết hợp đồng giữa hai
bên.
Đối với yêu cầu số (2), việc Nguyên đơn yêu cầu trả lại các di sản là nhà và cây lưu

niên do mẹ là cụ Cúc để lại là hợp lý. Tuy nhiên, trên thực tế, do thời gian q lâu, căn
nhà đã khơng cịn do hư hỏng, và tài sản của Cụ Cúc chỉ còn lại các cây lưu niên là 12
cây nhãn và 1 cây dừa. Nguyên đơn nên sửa lại yêu cầu khởi kiện sao cho chi tiết và
đúng với thực tế, có như vậy thì việc thi hành bản án của tịa sẽ dễ dàng và mang tính
khả thi hơn.
Đối với yêu cầu số (4), việc yêu cầu Bị đơn tháo dỡ nhà và cơng trình vi phạm. Tháng
6/2016 bà Tám đã tự ý tập kết vật liệu xây dựng 1 căn nhà cấp 4 khoảng 100m2 trên
thửa đất khi chưa có sự đồng ý của các đồng thừa kế của thửa đất. Trong nội dung biên
bản hoà giải tranh chấp đất đai ngày 19/6/2016, ơng Lại Hồng Minh là cán bộ địa chính
xã đã khẳng đinh việc bà Tám xây dựng nhà trên đất của bà Cúc là không đúng. Như
5


vậy, bà Tám đã có hành vi chiếm đất (theo định nghĩa tại điểm khoản 2 Điều 3 Nghị
định số 102/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/01/2014 về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai), là một hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản
1 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013. Trong trường hợp này, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn
chấm dứt hành vi vi phạm, là tháo dỡ nhà và cơng trình vi phạm trên đất thuộc quyền sở
hữu của các đồng thừa kế là có cơ sở.
Đối với yêu cầu số (3), Yêu cầu buộc bà Đinh Thị Tám phải hoàn trả 50% tổng giá
trị thu nhập cây lưu niên kể từ ngày 15/4/1994 theo giấy gửi UBND xã Phù Vân, TP
Phủ Lý đã nêu trong đơn khởi kiện ngày 5/11/2016. Yêu cầu này xuất phát từ giấy giao
quyền trông nom ngày 15/4/1994 của bốn chị em là đồng thừa kế mảnh đất cho ông Chu
Văn Thuyên, chồng bà Tám. Đây là một giao dịch dân sự giữa các bên, và được coi như
hợp đồng dân sự về việc thỏa thuận, một bên giao quyền trông nom, một bên nhận quyền
trông nom mảnh đất và nhận 50% giá trị thu nhập cây trên đất, thời hạn 5 năm từ
15/4/1994 đến 15/4/1999. Tuy nhiên, tại thời điểm khởi kiện là 5/11/2016, nguyên đơn
mới yêu cầu quyền lợi từ hợp đồng này. Căn cứ Điều 427 Bộ luật dân sự 2005, thời hiệu
khởi kiện về hợp đồng dân sự là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích của các chủ thể bị
xâm hại. Vì đã quá thời hiệu trên, nên yêu cầu này của Ngun đơn sẽ khơng được tịa

án chấp nhận. Do đó, ngun đơn khơng nên đưa ra u cầu này.
3. Có ý kiến cho rằng, quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp “kiện đòi tài
sản”. Nêu quan điểm của anh (chị) và giải thích? (1.5 điểm)
Để xác định quan hệ tranh chấp ở đây có phải quan hệ tranh chấp “kiện địi tài sản” hay
khơng, và viêc lựa chọn mối quan hệ này để “đặt tên” cho tranh chấp, từ đó đưa ra
phương hướng giải quyết, chúng ta cần cân nhắc đến nhiều yếu tố.
Trước hết, tài sản mà các bên đang tranh chấp ở đây là quyền sử dụng diện tích
777 m2 thửa đất số 40. Nguyên đơn tham gia vụ tranh chấp là ông Sinh, bà Thanh là 2
trong số 4 chị em là người thừa kế mảnh đất, 2 chị em còn lại tham gia vụ kiện với tư
cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Do đó, Nguyên đơn chỉ là chủ sở hữu
một phần, chứ khơng phải tồn bộ mảnh đất. Mảnh đất sẽ được coi là tài sản chung của
4 chị em đồng thừa kế do Di sản hiện chưa được phân chia, cũng không rõ ai sở hữu
phần nào của tài sản. Bên cạnh đó, thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng cho bất cứ ai trong 4 chị em, mà hiện tại trong bản đồ địa chính của địa phương
vẫn mang tên Cụ Cúc. Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:
“Điều 256. Quyền đòi lại tài sản
Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử
dụng tài sản, người được lợi về tài sản khơng có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc
quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản
6


đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều
258 của Bộ luật này.”
Kế thừa ý chí của BLDS 2005, Điều 166 BLDS 2015 cũng quy định:
“Điều 166. Quyền đòi lại tài sản
1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền địi lại tài sản từ người
chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản khơng có căn cứ pháp luật.
2. Chủ sở hữu khơng có quyền địi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền

khác đối với tài sản đó.”
Có thể thấy, để được coi là quan hệ “kiện đòi tài sản”, nguyên đơn phải là chủ sở
hữu hoặc sử dụng toàn bộ, hợp pháp đối với khối tài sản đang tranh chấp. Trong vụ kiện
này, 2 ngun đơn khơng phải là chủ sở hữu tồn bộ tài sản, khơng có quyền sử dụng
tồn bộ đối với diện tích 777 m2 thửa đất số 40, mà chỉ đang “miễn cưỡng” nằm trong
quan hệ sở hữu chung với các đồng thừa kế khác. Nói “miễn cưỡng” là bởi các đồng
thừa kế chưa thực hiện kê khai di sản thừa kế, chưa chính thức để hơp pháp hóa quyền
thừa kế di sản của mình. Do đó, khi ngun đơn khởi kiện và xác định quan hệ có tranh
chấp, khơng nên coi đây là tranh chấp “kiện địi tài sản” do không đầy đủ yếu tố cấu
thành.
Quan hệ tranh chấp trong HS 06 này nên được xác nhận theo hướng là Tranh
chấp quyền sử dụng đất, bởi lẽ, các bên đang tranh chấp về việc: ai là người có quyền
sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp đến giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
có tồn tại hay không và các yêu cầu khác liên quan đến tài sản gắn liền với đất. Việc lựa
chọn tranh chấp quyền sử dụng đất, thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đất đai sẽ rõ ràng
về quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như phân định về quyền sở hữu thực sự thuộc
về ai. Bên cạnh đó, khi Nguyên đơn khởi kiện Tranh chấp quyền sử dụng đất, Nguyên
đơn có thể thông qua quyền thừa kế để giành quyền sở hữu đối với thửa đất.
4. Là luật sư của bị đơn, anh (chị) hãy xác định những chứng cứ cần cung cấp cho
Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng? (1.5 điểm)
Là luật sư của bị đơn, cần xác nhận các lợi thế của bị đơn trong vụ kiện này, đó là:
-

-

Có sự kiện ông Sinh bên Nguyên đơn kí giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
giấy tờ này được cơ quan địa phương xác nhận (giấy chuyển quyền thừa kế tại
Bút lục 07-08) và ông Sinh đã nhận 1 phần tiền là 500.000 VND;
Bị đơn sinh sống ổn định, lâu dài trên đất từ năm 1994 đến năm 2016 mà không
phát sinh tranh chấp;

Bị đơn thực hiện đóng các khoản thuế, phí của thửa đất đến cơ quan nhà nước có
thẩm quyền;

7


Bị đơn có thể giành được quyền sử dụng đất theo Khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai
2013. Một số tài liệu, chứng cứ Bị đơn cần cung cấp để bảo vệ quyền và lợi ích hơp
pháp, gồm có:
-

Đơn chuyển quyền thừa kế ngày 27 tháng 01 năm 1994;
Giấy Biên nhận tiền ngày 24/01/1994;
Giấy biên nhận về nộp thuế ngày 25/06/2016 của trưởng thôn Phạm Trường Sinh

5. Anh (chị) hãy chỉ ra các lợi thế và bất lợi cho nguyên đơn và dự kiến bản trình
bày yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm? (4.0 điểm)
Trong vụ tranh chấp tại HS 06, Nguyên đơn có những lợi thế như: nguồn gốc thửa
đất do cha mẹ, tổ tiên để lại; đã kịp thời yêu cầu hủy giấy chuyển quyền thừa kế; có hành
động ngăn cản khi Bà Tám xây dựng trái phép trên thửa đất, đã từng đóng thuế đất; có
giao quyền trơng nom thửa đất cho trưởng họ từ năm 2001.
Tuy nhiên, trong vụ kiện này, Nguyên đơn có một số bất lợi, và đó cũng là lợi thế
của phía bị đơn: chưa thực hiện kê khai di sản thừa kế, chưa đăng ký quyền sử dụng đất,
khi biết Bị đơn sinh sống ổn định, lâu dài trồng trọt và cải tạo thửa đất mặc dù đã hết
thời hạn giao quyền trơng nom nhưng khơng có ý kiến phản đối gì. Ngun đơn cũng
khơng thường xun nộp các khoản thuế đất trong khoảng thời gian dài dù đó là nghĩa
vụ của người có quyền sử dụng đất. Khi bà Tám xây nhà trái phép trên đất, Nguyên đơn
cũng chưa có hành động quyết liệt, chưa yêu cầu các cơ quan chức năng để ngăn chặn
hành vi ngăn chặn, lập biên bản xây dựng trái phép.
Do đó, khi bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn, ta nên tập trung đưa ra các tình

tiết và căn cứ chứng minh nguồn gốc đất và tính vơ hiệu của giấy chuyển quyền thừa kế
(hay hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Bên cạnh đó, chứng minh vào tính
khơng liên tục của việc Bị đơn sinh sống trên diện tích 777 m2 thửa số 40 nêu trên.
Dự kiến bản trình bày yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tịa sơ thẩm như
sau:
-

Kính thưa HĐXX, ngày hơm nay tơi là LS Nguyễn Hồng Minh Hằng thuộc
VPLS A - Đồn LS TP Hà Nội, tham dự phiên tịa hôm nay với tư cách là LS bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Chu Thị Thanh, ơng Chu Văn Sinh là các
nguyên đơn trong vụ kiện.

Thay mặt cho các thân chủ, tơi xin trình bày nội dung vụ việc và yêu cầu của bên
nguyên đơn như sau:
Cụ Chu Khắc Trường và Cụ Chu Thị Cúc có tất cả 4 người con lần lượt là: Bà Chu
Thị Thanh, Bà Chu Thị Loan, Ông Chu Khắc Sinh, và Bà Chu Thị The. Cụ Trường mất
năm 1945, đến năm 1990 thì Cụ Cúc mất, cả hai đều khơng để lại di chúc. Tài sản các
8


cụ để lại là lại một ngôi nhà 2 gian và đất với tổng diện tích 777m2, tại thửa đất số 40 tờ
bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6 xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Vì các chị em đều đi làm ăn xa nên thửa đất được giao cho ông Sinh quản lý.
-

Ngày 20/1/1994 Ông Sinh tự ý lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
ông Chu Khắc Thuyên, chồng bà Tám, mà không bàn bạc, thống nhất với các chị
em trong gia đình (bà Thanh, Loan, The). Bà Chu Thị Thanh khi biết sự việc đã
đề nghị chính quyền xã tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế. Có giấy thơng
báo tạm đình chỉ việc chuyển quyền thừa kế ngày 10/4/1994.


-

Ngày 15/4/1994, bà Thanh, ông Sinh, bà The và bà Loan đã bàn bạc và thống
nhất giao cho ông Chu Khắc Thuyên trông coi nhà đất và thu hoạch hoa màu trên
mảnh đất, ơng Thun được hưởng 50% và có trách nhiệm đóng thuế nhà đất và
các nghĩa vụ khác với địa phương, thời hạn là 05 năm (1994-1999), có giấy giao
quyền trông nom.

-

Ngày 03/03/1999, ông Thuyên qua đời, bà Đinh Thị Tám (vợ ông Thuyên) vẫn
trông nom, thu hoạch hoa lợi trên di sản đó. Nhưng từ khi chuyển giao quyền
trơng nom cho gia đình ơng Thun, gia đình ơng khơng đóng đầy đủ các khoản
thuế đất cho nhà nước và trả các khoản cho bốn chị em bà Thanh, ông Sinh...
theo như giấy chuyển giao đã ký.

-

Ngày 22/11/2001, ông Chu Văn Sinh có làm một giấy giao quyền sử dụng đất
cho ông Chu Khắc Chinh trông nom và thu hoạch hoa lợi trên mảnh đất bố mẹ
ông để lại và có xác nhận của UBND xã Phù Vân (ơng Sinh có thống nhất với
các chị em trong gia đình). Sau đó bà Tám khơng ở lại địa phương nữa nhưng
hàng năm vẫn quay về thu hoạch hoa màu.

-

Tháng 5/2016, bà Tám đã tự ý xây dựng nhà cấp 4 trên thửa đất nêu trên, không
thông báo hay xin ý kiến 4 chị em bà Thanh, Loan, The và ông Sinh. Khi biết sự
việc, bà Thanh đã đến gặp bà Tám yêu cầu bà dừng lại mọi hoạt động xây dựng

nhưng bà Tám vẫn tiếp tục thực hiện. Bà Thanh đã đề nghị chính quyền địa
phương can thiệp, hịa giải 02 lần nhưng không thành.

Ngày 05/11/2016, bà Chu Thị Thanh và ông Chu Văn Sinh đã gửi đơn khởi kiện
đến TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam yêu cầu:
1.

Bà Đinh Thị Tám trả lại diện tích 777m2 tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 02 lập
năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam cho bà Chu Thị
Thanh, ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan, bà Chu Thị The.

2.

Buộc bà Đinh Thị Tám phải trả tài sản trên đất thuộc sở hữu của cụ Cúc là cây
cối lưu niên gồm 12 cây nhãn và 1 cây dừa trên diện tích đất 777m2 tại thửa đất
số 40 tờ bản đồ số 02 lập năm 1998 tại thôn 6, xã Phù Vân, huyện Phủ Lý, tỉnh
9


Hà Nam cho bà Chu Thị Thanh, ông Chu Văn Sinh, bà Chu Thị Loan, bà Chu
Thị The.
Yêu cầu bà Tám tháo dỡ căn nhà và các cơng trình xây dựng trái phép trên đất.

3.

Những tài liệu chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là hợp pháp:
-

Chứng minh nhân dân của bà Chu Thị Thanh;


-

Chứng minh nhân dân của ông Chu Văn Sinh;

-

Giấy chứng nhận ông Chu Khắc Trường đã chết (BL16);

-

Giấy chứng tử của bà Chu Thị Cúc (BL17);

-

Sổ hộ khẩu;

-

Trích lục bản đồ thửa đất;

-

Thơng báo của UBND xã Phù Vân ngày 10/4/1994;

-

Biên bản hòa giải của UBND xã Phù Vân ngày 19/6/2012, ngày 25/10/2012;

-


Báo cáo số 79/BC-UBND ngày 25/10/2012 của UBND xã Phù Vân về kết quả
giải quyết tranh chấp;

-

Giấy chứng tử của bà Cúc, giấy xác nhận ông Trường đã mất;

-

Giấy uỷ quyền trông nom ngày 15/4/1994;

-

Giấy giao quyền sử dụng ngày 22/11/2001;

-

Thông báo số 05/TB-UB ngày 10/4/1994 của UBND xã Phù Vân về tạm đình chỉ
việc chuyển quyền thừa kế.

-

Các biên bản họp gia đình ngày 10/01/2007, ngày 05/6/2012.

Trên đây là phần trình bày ý kiến của bên nguyên đơn.
Mời HDXX tiếp tục làm việc.

10




×