BBBB
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
HN&GĐ : Hơn nhân và gia đình
TAND
: Tịa án nhân dân
UBND
: Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Lí luận đi đơi với thực tiễn”1 và “Thực tiễn
cần phải có lý thuyết soi đường, lý thuyết khơng có thực tiễn là lý thuyết sng”2. Thực
vậy, lý thuyết và thực tiễn cần được bổ sung cho nhau, đối với sinh viên, quá trình học tập
trên giảng đường là q trình tích lũy kiến thức và thực tập là cơ hội để sinh viên cọ xát
với thực tiễn, áp dụng những kiến thức đã học vào xử lý tình huống.
Hơn nhân là việc hệ trọng của đời người, là cầu nối giữa hai con người không cùng
chung huyết thống hòa làm một và là sợi dây ràng buộc giữa người đàn ông và người phụ
nữ, gắn kết họ trở thành một gia đình. Mục đích của hơn nhân là tình yêu giữa nam và nữ
muốn chung sống với nhau suốt đời, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững
trên cơ sở giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Khi cuộc sống hơn nhân khơng cịn giữ được ý
nghĩa như ban đầu và mục đích hơn nhân khơng đạt được thì vợ, chồng có quyền được
chấm dứt quan hệ vợ chồng. Nếu như kết hôn là sự xác lập quan hệ vợ chồng của người
nam và người nữ theo quy định của pháp luật thì ly hơn là sự chấm dứt mối quan hệ đó. Ở
Việt Nam, trong những năm gần đây, tình trạng ly hơn diễn ra phổ biến, ngày càng tăng về
số lượng lẫn tính chất phức tạp về nội dung, địi hỏi phải có những biện pháp cần thiết để
hạn chế ly hôn; đồng thời hồn thiện, phát huy vai trị của pháp luật trong việc điều chỉnh
các quan hệ xã hội nảy sinh từ việc giải quyết các vụ việc ly hôn. Cho nên, nghiên cứu về
ly hôn theo theo pháp luật Việt Nam ln là vấn đề có tính cấp thiết về mặt lý luận và
thực tiễn. Các nghiên cứu về ly hơn ở Việt Nam rất phong phú nhưng chưa có cơng trình
nào đề cập một cách tồn diện những vấn đề lý luận về ly hôn theo quy định của pháp luật
Việt Nam với thực tiễn giải quyết ly hôn tại Hồng Hồngi - một đơn vị hành chính cấp
quận của thành phố Hà Nội, nơi đã và đang khẳng định tiềm năng và thế mạnh đối với sự
phát triển của thành phố. Tình trạng ly hơn ở quận Hồng Hồngi cũng có chiều hướng
gia tăng với tính chất ngày càng phức tạp. Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thực tiễn giải
quyết các trường hợp ly hơn tại Tịa án nhân dân trên địa bàn quận Hoàng Hoàngi”
Thực trạng ly hơn tại Tồ án nhân dân trên địa bàn quận Hồng Hồngi” có ý nghĩa
quan trọng trong việc đưa ra những phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp hồn thiện
pháp luật về ly hơn phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Báo cáo nghiên cứu về tình hình ly hơn và thực tiễn việc giải quyết các trường hợp
ly hôn tại TAND quận Hoàng Hoàngi, thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 trong việc giải
quyết các vụ việc ly hơn tại TAND quận Hồng Hoàngi.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
3
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện hành,
đề tài không bao gồm giải quyết ly hơn có yếu tố nước ngồi và khơng đi sâu nghiên cứu
1 Hồ Chí Minh Tồn tập, nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội 1995, tập 9, tr. 292
2 Hồ Chí Minh Tồn tập, nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội 1995, tập 8, tr. 496
trình tự, thủ tục tố tụng về ly hơn. Đề tài đánh giá, phân tích thực trạng ly hơn tại Tịa án
nhân dân quận Hồng Hồngi thơng qua các bản án, quyết định trong 03 năm, từ năm
2018 đến năm 2020.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về ly hôn và thực trạng ly hơn tại Tịa án. Qua
đó phát hiện những vấn đề còn bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những
vướng mắc trong thực tiễn giải quyết nhằm kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật
về ly hôn, nâng cao chất lượng giải quyết ly hôn của Toà án.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về ly hôn; quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành về ly hôn; Thực trạng ly hơn và giải quyết ly hơn tại Tịa án nhân dân
quận Hoàng Hoàngi, thành phố Hà Nội. Sau cùng là đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy
định của pháp luật hiện hành về ly hôn và nâng cao chất lượng giải quyết ly hơn của Tịa
án.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. VÀI NÉT VỀ ĐỀ TÀI THỰC TẬP VÀ CƠ QUAN THỰC TẬP
1. Tìm hiểu một số vấn đề về ly hôn
1.1. Khái niệm ly hôn và giải quyết các trường hợp ly hơn
Khi cuộc hơn nhân khơng cịn giữ được ý nghĩa như ban đầu, việc ly hôn là cần thiết để
giải phóng cho vợ, chồng khỏi những mâu thuẫn sâu sắc mà họ không thể tự giải quyết
được. Theo Lê-nin:“Thực ra tự do ly hơn tuyệt khơng có nghĩa là làm “tan rã” những
mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân
chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” bởi bản
chất ly hôn “chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc sống hôn nhân này là cuộc sống hôn
nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngồi và lừa dối. Đương nhiên, không phải sự
tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản
chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như
mọi người đã biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ
không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan”.3 Ly hôn là mặt trái của hôn nhân
nhưng việc giải quyết ly hôn là tất yếu khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, tình
cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ. Tuy nhiên, ly hôn không thể tiến hành một cách tùy tiện
mà phải đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước bởi ly hôn không chỉ ảnh hưởng
trực tiếp đến quan hệ vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các con cũng
như lợi ích xã hội. Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của
vợ chồng hoặc một bên vợ hoặc một bên chồng
và có giá trị pháp lý khi được Tịa án có
4
thẩm quyền cơng nhận. Đây có thể coi là biện pháp cuối cùng để chấm dứt tình trạng hơn
3 C. Mác(1978), “Bản dự luật về li hôn”, C. Mác - Ph. Ăngghen toàn tập, Tập
1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 220
nhân không thể cứu vãn được. Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 “Ly hôn là
việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa
án”4
Tại điều 1 BLTTDS năm 2015 quy định: Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên
tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây
gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu
cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự) Các vụ việc phát sinh trong lĩnh
vực HN&GĐ được gọi là các vụ việc về HN&GĐ, được Tòa giải quyết theo trình tự luật
định. Pháp luật quy định về các nguyên tắc cơ bản trình tự, thủ tục khỏi kiện để Tòa án
giải quyết các vụ về tranh chấp dân sự, hơn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao
động,..5 Trong đs, đối với những vụ việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ nhân thân
hoặc về tài sản giữa các bên tham gia pháp luật HN&GĐ được gọi vụ án HN&GĐ, thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 38 BLTTDS và được giải quyết theo trình tự
thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Đối với những việc khơng có tranh chấp mà chỉ u cầu
Tịa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó về HN&GĐ thì đó
là việc dân sư, thuộc thẩm quyền của Tòa án theo điều 29 BLTTDS về thủ tục giải quyết
việc dân sự. Như vậy, về quy định trình tự thủ tục khi Tịa án thụ lý, hòa giải, xét xử sơ
thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án HN&GĐ.
Có thể khẳng định, yếu tố “tranh chấp” là yếu tố cơ bản để xác định một vụ việc là
“vụ án” hay là “việc”. Về tính chất của quan hệ hơn nhân, có ba mối quan hệ là hôn nhân
hợp pháo, hủy việc kết hôn trái luật, những trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng
nhưng không được công nhận là vợ chồng 6. vIệc xác định rõ quan hệ hôn nhân và yêu cầu
của đương sự là căn cứ để xác định việc HN&GĐ hay là vụ án HN&GĐ. Chỉ có hôn nhân
hợp pháp ( hoặc một số trường hợp coi như hợp pháp 7) nếu có tranh chấp theo điều 28
BLTTDS năm 2015 mới thuộc thẩm quyền của Tòa án. Đối với việc u cầu hủy kết hơn
trái luật, Tịa án sẽ thụ lý giải quyết theo thủ tục việc dân sự theo điều 29 BLTTDS 2015.
Như vậy, giải quyết các trường hợp ly hôn của TAND cấp huyện là việc Tòa án áp
dụng các quy định pháp luật để ban hành bản án hoặc quyết điịnh là chấm dứt hoặc phát
sinh mới các quyền và nghĩa vụ vợ chồng và những người khác có liên quan đến các
trường hợp ly hơn là do một bên u cầu, thuận tình ly hôn, ly hôn do yêu cầu của accs
chủ thể khác theo quy định pháp luật.
1.2. Căn cứ ly hôn trong các trường hợp:
1.2.1. Căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp thuận tình ly hơn
Thuận tình ly hơn là trường hợp cả hai vợ chồng cùng yêu cầu được chấm dứt hơn nhân
bằng đơn thuận tình ly hơn của vợ chồng. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, trước
khi tiến hành hòa giải để vợ chồng đồn tụ, khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham
4 Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014
5
5 Xem Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự 2014
6 Điều 3, Điều 10, Điều 12, Điều 13, Điều 15, Điều 16 Luật HNGĐ nă 2014
7 Một số trường hợp ngoại lệ đối với quan hệ hôn nhân vi phạm chế độ “ một vợ, một chồng “ . Xem Đại học
Luật Hà Nội, giáo trìn Luật HN&GĐ.
khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ
em về hồn cảnh gia đình, ngun nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ,
chồng, con có liên quan đến vụ án; trường hợp đơn và các tài liệu, chứng cứ cung cấp đã
có đủ cơ sở để xác định thì khơng phải thu thập thêm. Khi giải quyết đơn u cầu thuận
tình ly hơn thì việc hịa giải để vợ chồng đoàn tụ với nhau là thủ tục bắt buộc phải tiến
hành. Sau khi tiến hành hòa giải, căn cứ vào kết quả hòa giải để Thẩm phán ra quyết định
phù hợp. Nếu vợ chồng đoàn tụ với nhau thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết
việc u cầu. Trường hợp hịa giải đồn tụ không thành và các đương sự thỏa thuận được
việc chia tài sản, việc trơng nom, chăm sóc, giáo dục con thì Tịa án ra quyết định cơng
nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự8.
1.2.2. Căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ
hoặc chồng
Theo quy định tại Điều 56 Luật hơn nhân và gia đình năm 2014, có hai căn cứ ly hơn
áp dụng cho trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng.
- Căn cứ thứ nhất: Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng
quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung khơng thể kéo dài, mục đích của hơn nhân khơng đạt được.
- Căn cứ thứ hai: Vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích9.
1.3. Hậu quả pháp lý khi ly hơn
Vợ chồng kết hơn với nhau trên cơ sở tình u tự nguyện nhưng trong thực tế cuộc
sống vẫn có hàng ngàn lý do khác nhau để vợ chồng chia tay nhau. Ly hơn là hiện tượng
khơng bình thường nhưng nó tồn tại như một tất yếu khách quan. Ly hôn nó ảnh hưởng
trực tiếp đến hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến lợi ích của vợ chồng, của các con và lợi
ích của xã hội. Vì vậy, khi giải quyết ly hơn Tịa án phải giải quyết các vấn đề như: quan
hệ tài sản, quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng giữa vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ,
con cái.
2. Tìm hiểu về cơ quan thực tập – TAND quận Hoàng Hoàngi:
2.1. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của TAND quận Hoàng Hoàngi:
2.1.1. Cơ cấu tổ chức
TAND quận Hoàng Hoàngi là cơ quan xét xử sơ thẩm các vụ án trên địa bàn quận
Hoàng Hoàngi, thành phố Hà Nội, thực hiện chức năng tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bằng hoạt động của
mình, Tịa án góp phần giáo dục cơng dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng,
chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
TAND quận Hồng Hồngi hiện nay có:
- đồng chí Nguyễn Thu Hiền – Chánh án
6
- đồng chí Nguyễn Mạnh Tiến – Phó chánh
án
- đồng chí Nguyễn Tiến Hải – Phó chánh án
8 Điều 55 Luật HN&GĐ 2014
9 Khoản 2 Điều 56 Luật HN & GĐ 2014
- đồng chí Nguyễn Thị Tâm – Chánh văn phịng
Và 16 thẩm phán sơ cấp, 3 thẩm phán trung cấp và 11 thư ký tòa án.
2.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn
Theo luật tổ chức Tịa án nhân dân năm 2014 thì TAND quận Hồng Hồngi
có nhiệm vụ:
- Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật.
- Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.
2.2. Thủ tục ly hôn tại Tịa án:
2.2.1. Quyền ly hơn và căn cứ cho ly hôn theo pháp luật hiện hành:
Thứ nhất: Về nguyên tắc vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tồ án giải
quyết việc ly hơn. Tuy nhiên trường hợp vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới
mười hai tháng tuổi thì người chồng khơng có quyền u cầu xin ly hơn.
Thứ hai: Tịa án xem xét, quyết định cho ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau
đây:
- Tình trạng của vợ chồng trầm trọng;
- Đời sống chung khơng thể kéo dài;
- Mục đích của hơn nhân khơng đạt.
2.2.2. Trình tự thủ tục ly hơn tại Tịa án
2.2.2.1. Thuận tình ly hơn
Bước 1: Đương sự nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND quận nơi cư trú,
làm việc của vợ hoặc chồng;
Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05
ngày làm việc Tịa án kiểm tra đơn và ra thơng báo nộp tiền tạm ứng án phí cho Đương
sự;
Bước 3: Đương sự nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án
quận và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tịa án;
Bước 4: Trong thời hạn 15 ngày làm việc Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải.
Bước 5: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hịa giải khơng thành (khơng thay đổi
quyết định về việc ly hôn) nếu các bên không thay đổi ý kiến Tịa án ra quyết định cơng
nhận thuận tình ly hơn.
2.2.2.2. Trình tự đơn phương ly hơn (ly hôn theo yêu cầu 1 bên)
Bước 1: đương sự nộp hồ sơ khởi kiện 7về việc xin ly hôn tại TAND quận nơi bị đơn
(chồng hoặc vợ) đang cư trú, làm việc;
Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tịa án sẽ ra thơng báo nộp
tiền tạm ứng án phí cho Đương sự;
Bước 3: Đương sự nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án
quận và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;
Bước 4: Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và ra Bản
án hoặc quyết định giải quyết vụ án.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG LY HÔN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC
LY HƠN THEO LUẬT HƠN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 TẠI TỊA ÁN
NHÂN DÂN QUẬN Hồng HồngI
1. Thực trạng ly hơn tại TAND quận Hồng Hồngi:
2.1. Nhận xét chung
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội thì trong những năm gần đây, trên địa
bàn quận Hồng Hồngi, số vụ việc về ly hơn tăng mạnh, ảnh hưởng khơng nhỏ đến đời
sống xã hội trong quận nói chung và đời sống hơn nhân và gia đình nói riêng; ngun
nhân, tính chất của các vụ việc ly hơn ngày càng phức tạp. Số lượng vụ án hôn nhân và
gia đình chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các loại án mà Tịa án nhân dân quận Hồng
Hồngi thụ lý.
Theo báo cáo tổng kết ba năm 2018, 2019 và nửa đầu 2020 của Tịa án nhân dân
quận Hồng Hồngi, thành phố Hà Nội thì số vụ án hơn nhân và gia đình được thụ lý và
giải quyết qua từng năm như sau:
Bảng 1: Công tác thụ lý và giải quyết các vụ án hơn nhân và gia đình của Tịa án
nhân dân quận Hồng Hồngi qua các năm 2018, 2019, 2020
Năm
2018
2019
2020
(Đơn vị: Vụ)
Số vụ án đã thụ
lý
1388
1276
1108
Số vụ án đã Số vụ án chưa
giải quyết
giải quyết
1358
30
1238
38
1072
36
Tỷ lệ
quyết
97,83%
97,02%
96,75%
giải
(Nguồn: Báo cáo văn phịng Tịa án nhân dân quận Hồng Hồngi)
Qua bảng số liệu trên có thể thấy việc giải quyết các vụ án hơn nhân và gia đình
đều đạt kết quả cao những năm vừa qua, tỷ lệ số vụ án đã giải quyết đều xấp xỉ 97%.
Đối với thủ tục giải quyết u cầu cơng nhận thuận tình ly hơn, kể từ ngày
01/7/2016, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tịa án nhân dân quận
Hoàng Hoàngi đã áp dụng Điều 212 của bộ luật này ra quyết định cơng nhận thuận tình ly
hơn và sự thỏa thuận của các đương sự mà8khơng cịn mở phiên họp nữa. Điều này đã
giúp Tòa án tiết kiệm hơn về mặt thời gian, giảm các vụ việc tồn đọng; đối với các đương
sự thì cũng tiết kiệm được thời gian và hơn nữa, quyết định này có hiệu lực thi hành ngay
và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, số lượng vụ án tồn vẫn cịn; nhiều vụ án bị kháng cáo,
kháng nghị; tình trạng án bị hủy vẫn tồn tại.. Như vậy, ngoài những kết quả đạt được, Tịa
án nhân dân quận Hồng Hồngi cịn có những hạn chế khi giải quyết vụ việc ly hôn xuất
phát từ những nguyên nhân chủ quan, khách quan trong quá trình áp dụng pháp luật khiến
cho công tác xét xử chưa thực sự đạt hiệu quả.
2.2. Tình hình ly hơn trên địa bàn quận Hồng Hồngi nghiên cứu trên một số
phương diện:
2.2.1. Về độ tuổi ly hôn
Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về độ tuổi kết hôn: nam từ đủ 20 tuổi trở lên,
nữ từ đủ 18 tuổi trở lên (Khoản 1 Điều 8 Luật hơn nhân và gia đình năm 2014), nhưng
khơng quy định độ tuổi ly hôn mà chỉ quy định các căn cứ ly hơn, khi có những căn cứ mà
pháp luật quy định thì cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết cho họ được quyền ly hôn.
Bởi vậy, mà trên thực tế tình trạng ly hơn ngày càng nhiều và diễn ra ở nhiều lứa tuổi
khác nhau. Theo báo cáo tổng kết hàng năm của TAND quận Hoàng Hoàngi cho thấy thực
trạng ly hôn ở các độ tuổi như sau:
Bảng 2: Thống kê độ tuổi ly hôn trên địa bàn quận Hoàng Hoàngi từ năm 2017
đến nửa đầu năm 2020
Đơn vị tính: (%)
Năm
2017
2018
2019
2020
18 30 tuổi
37 ,5 %
42.7 %
53.2%
30 50 tuổi
52 ,9 %
45.5 %
53.3 %
46.7 %
35.3 %
50 tu ổi trở êl n
9 ,6 %
11 ,8 %
8 ,7 %
11 ,5 %
Đ ộ tuổi
Qua bảng số liệu trên, có thể thấy tỷ lệ ly hôn cao nhất tập trung ở độ tuổi từ 18
đến 30 tuổi, và liên tục tăng sau mỗi năm. Phần lớn ly hôn khi mới chung sống cùng nhau
được từ 1-7 năm, hầu hết đang có con nhỏ, mỗi năm tồn thành phố có khoảng 3-4 ngàn
đôi bạn trẻ tổ chức kết hôn, xây dựng tổ ấm gia đình. Tuy nhiên do yêu vội, cưới gấp, kết
hôn theo trào lưu không chuẩn bị kỹ càng trước khi bước vào cuộc sống lứa đôi, nhiều
cặp vợ chồng trẻ đã phải “dắt” nhau ra tòa sau một thời gian ngắn chung sống, thực trạng
này thực sự trở nên báo động đối với toàn xã hội. Hoặc đối với một số gia đình mặc dù đã
chung sống với nhau một thời gian nhưng vẫn chưa có con đã làm cho vợ, chồng khơng
cịn thiết tha với gia đình nên sẽ có xu hướng ngoại tình để mong có một đứa con… Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn như vợ chồng có sự thay đổi trong sinh hoạt, phải
dành nhiều thời gian để chăm sóc con khơng có nhiều thời gian để vợ chồng quan tâm
chia sẻ với nhau. Bên cạnh đó, có thể do những mâu thuẫn về kinh tế đem lại như các
khoản chi tiêu cho gia đình ngày càng nhiều,9 vợ chồng mâu thuẫn dẫn đến thiếu sự thơng
cảm, hiểu nhau đó cũng chính là ngun nhân mà vợ chồng ly hơn.
Ngồi ra, ở độ tuổi từ 30 đến 50 tỷ lệ ly hôn tập trung cũng tương đối cao bởi lẽ ở
độ tuổi này các cặp vợ chồng chịu rất nhiều áp lực từ cuộc sống gia đình, từ cơng việc cơ
quan… Khi đó mọi cái xấu, tốt của vợ chồng cũng được bộc lộ rõ nhất. Ở độ tuổi này,
tình u tình cảm vợ chồng có nhiều thay đổi, tình cảm vợ chồng có phần lắng xuống ở đó
chỉ cịn trách nhiệm và bổn phận đối với gia đình, với con cái. Trong giai đoạn này cũng
có những thay đổi lớn trong địa vị xã hội, đối với người đàn ông đã bước qua tuổi lập
thân, lúc này họ đã có một chút địa vị trong xã hội. Có thể thấy, thời kỳ này đối với người
đàn ông họ đã đạt được đỉnh cao thành công về sự nghiệp và đạt được nhiều mặt về vật
chất như tiền tài, danh vọng. Từ những mâu thuẫn nhỏ nhặt, sau dần là những cuộc tranh
cãi vã giữa hai bên và nguy cơ tan vỡ gia đình cũng từ đó tăng lên và dẫn đến hiện tượng
"Ông ăn chả, bà ăn nem" và khi vợ chồng khơng cịn tình u và sự tơn trọng lẫn nhau
nữa thì ly hơn là điều tất yếu xảy ra.
Nếu như ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi tỷ lệ ly hơn tập trung cao nhất thì ở độ tuổi
trên 50 tỷ lệ ly hôn lại thấp hơn nhiều. Vì như phân tích ở độ tuổi từ 30 đến 50 tuổi như
trên cho thấy nếu hai vợ chồng bước qua gia đoạn thời kỳ quan trọng nhất được coi là
bước ngoặt của cuộc sống, thì lúc này vợ chồng đã có một khoảng thời gian dài để hiểu và
thông cảm cho nhau. Hơn nữa lúc này con cái của họ đã trưởng thành, họ cũng có thể lên
chức ơng bà, giữa họ cịn có sợi dây liên kết đó chính là các con, các cháu của cho nên, họ
phải là tấm gương cho con cháu học hỏi và noi theo, đây cũng là nét đẹp trong phong tục
truyền thống của người Việt Nam ta từ xưa đến nay. .
2.2.2. Về thành phần xã hội
Bên cạnh việc việc xem xét tình tình ly hơn trên địa bàn quận Hoàng Hoàngi theo
độ tuổi, trong các báo cáo thống kê số liệu của TAND quận Hoàng Hoàngi cũng cho thấy
trong tình hình ly hơn về thành phần xã hội, việc ly hôn diễn ra ở mọi đối tượng, thuộc
các tầng lớp khác nhau trong xã hội như: Cán bộ, công chức, viên chức, cơng nhân, hưu
trí, bn bán dịch vụ, nội trợ…
Qua số liệu thống kê tại văn phòng TAND quận Hồng Hồngi, tỷ lệ ly hơn cao
trong xã hội tập trung chủ yếu ở thành phần cán bộ, viên chức. Điều đó đặt ra câu hỏi liệu
sự khác biệt về trình độ nhận thức có ảnh hưởng sâu sắc đến thực trạng ly hơn hay khơng
khi mà tình trạng ly hôn ở cán bộ, viên chức ngày càng gia tăng chiếm tỷ lệ cao trong khi
đó ở các tầng lớp lao động khác thì ngược lại trình độ học vấn không cao tương ứng với
tỷ lệ ly hôn chiếm tỷ lệ thấp hơn. Điều đó lý giải tại sao cán bộ công chức, viên chức
chiếm tỷ lệ ly hôn cao bởi do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, do những khó
khăn trong nền cơ chế thị trường tác động đến, ngày nay do áp lực của tiến độ cơng việc
thành phần cán bộ cơng chức họ có rất ít thời gian để chăm sóc gia đình, con cái, đi công
tác, đi làm từ sáng đến tối, thường xuyên phải tiếp xúc với khách hàng với đối tác hay mải
mê nghiên cứu những cơng trình khoa học nên họ dần dần lãng quên đi chức năng trách
nhiệm của người vợ, người chồng trong gia đình mải mê tiến thân trên con đường sự
nghiệp của mình. Từ đó dẫn đến một lối sống thực dụng, ích kỷ cá nhân. Ở tầng lớp trí
thức, cái "Tơi", lịng tự trọng, tự ái cao của10hai bên dẫn đến thiếu sự dung hòa giữa hai
bên, không bên nào chịu nhường nhịn bên nào chỉ vì những câu nói nhỏ nhặt, những lời lẽ
xúc phạm lẫn nhau dẫn đến tình trạng vợ chồng ngày càng căng thẳng, mâu thuẫn sâu sắc
họ sẵn sàng ký vào đơn xin ly hôn ngay lập tức mà không cần phải suy nghĩ, đắn đo.
Trong khi đó ở các tầng lớp khác nhau thì họ dễ cảm thông, bỏ qua cho nhau hơn
về những khuyết điểm, những mâu thuẫn. Có thể những cuộc tranh cãi, mâu thuẫn liên
tiếp xảy ra, thậm chí cịn xảy ra những cuộc chửi nhau, thậm chí là xơ xát… nhưng họ có
thể nhanh chóng làm lành và bỏ qua cho nhau. Chính vì vậy, mà những cuộc ly hơn cũng
ít xảy ra hơn. Thậm chí, khơng ít trường hợp vợ, chồng đã gửi đơn xin ly hôn đến TAND
quận, sau những buổi hòa giải của Tòa án, họ đã hiểu được những tác động xấu của hậu
quả ly hôn và rút đơn về đồn tụ gia đình.
2.3. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến ly hôn được tổng kết qua báo cáo của
TAND quận Hoàng Hoàngi
2.3.1. Bạo lực gia đình
Qua số liệu tổng kết năm 2018 và năm 2019 cho thấy nguyên nhân dẫn đến ly hôn
về lý do bị đánh đập, ngược đãi của năm 2018 là 42 vụ, còn năm 2019 là 54 vụ án. Bạo
lực gia đình ở đây được đề cập đến có thể là bạo lực về vật chất hay bạo lực về tinh thần.
Trên thực tế thì bạo lực tinh thần được biểu hiện ở những hành vi như thóa mạ, sỉ nhục
hay bỏ rơi nạn nhân, không một chút quan tâm đối hồi đến họ, cấm đốn cách ly khơng
cho gặp con cái… Qua thực tế nghiên cứu cho thấy, tình trạng bạo lực trong gia đình hiện
nay ở quận Hồng Hoàngi được coi là một hiện tượng khá phổ biến mà nguồn gốc sâu xa
chính là bắt nguồn từ những xích mích nhỏ trong quan hệ gia đình, trong quan hệ vợ
chồng… Mỗi người vợ hoặc chồng trước khi đến với nhau nên vợ chồng họ đều xuất thân
từ mỗi gia đình khác nhau, thừa hưởng một kiểu giáo dục, một nếp sống, một thói quen
khác nhau để rồi đến với nhau kết hợp thành một gia đình riêng. Tất nhiên, sẽ có những
điểm khơng phù hợp giữa hai người cần phải có một khoảng thời gian để thích nghi hịa
hợp lẫn nhau. Vì vậy, hai bên vợ chồng cần phải nhường nhịn và giúp đỡ lẫn nhau trong
cuộc sống chung, Tuy nhiên, trên thực tế trong cuộc sống gia đình có khơng ít những cặp
vợ chồng đã giải quyết những mâu thuẫn đó bằng những hành vi vũ lực, bạo lực gia đình
gây tổn hại cho nhau về thể xác và tinh thần.
Ví dụ: Bản án số 47/2020/HNGĐ-ST giữa anh Phan Đô Thành và chị Mai Thị
Thu Hà. Hai anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hơn năm 1995, sau
khi kết hơn, vợ chồng anh Thành, chị Hà sống số 20 ngõ 282 phố Định Cơng, phường
Định Cơng, quận Hồng Hồngi. Đến năm 2013, vợ chồng anh chị nảy sinh mâu thuẫn do
quan niệm sống khơng đồng nhất, khơng có chung tiếng nói. Anh Thành thường xuyên có
lời lẽ xúc phạm chị, thậm trí lại đánh chửi chị và cả các. Việc anh đánh chị và chửi bới
xúc phạm chị xảy ra thường xuyên, các con anh chị và hàng xóm đều biết. Sau mỗi lần xơ
xát anh chị khơng có hướng giải quyết. Vì vậy cuộc sống hơn nhân khơng hạnh phúc.
Thời gian gần đây, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Ngày 29/5/2020, xác định
vợ chồng không thể hàn gắn, khơng cịn tình cảm nên chị Hà đã nộp đơn xin ly hơn tại
TAND quận Hồng Hồngi.
11
Ngày 11/6/2020, Tịa án nhân dân quận Hoàng Hoàngi đã triệu tập anh Thành, chị
Hà để tiến hành lấy lời khai và hòa giải. Trong q trình hịa giải, cơ quan Tịa án nhận
thấy cuộc sống chung của vợ chồng anh chị thường xuất hiện mâu thuẫn căng thẳng do
bất đồng quan điểm, khơng tin tưởng nhau, khơng có tiếng nói chung, dẫn đến khơng cịn
tình cảm và xảy ra xơ xát. Anh Thành không đồng ý ly hôn nhưng không đưa được biện
pháp gì khắc phục tình trạng mâu thuẫn hiện nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa hai anh chị là
trầm trọng, kéo dài, khơng hịa giải được. chị Hà kiên quyết ly hơn vì khơng cịn tình cảm,
anh Thành khơng muốn ly hôn do không muốn cuộc sống bị xáo trộn. Thiết nghĩ cuộc
sống hôn nhân hạnh phúc sự tự nguyện phải từ hai phía, nếu chỉ có sự níu kéo thì khơng
mang lại hạnh phúc, mục đích hơn nhân khơng đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận u cầu ly
hơn của chị Hà và xử cho chị Hà ly hôn với anh Thành là phù hợp với quy định tại Điều
51, Điều 56 Luật Hơn nhân và Gia đình năm 2014.
2.3.2. Ngoại tình
Bên cạnh nạn bạo lực trong gia đình, ngoại tình cũng là một trong những nguyên
nhân cơ bản dẫn đến ly hôn. Điều này cũng xuất phát từ những mâu thuẫn trong gia đình
do vợ chồng tính cách không hợp nhau, hoặc xuất phát từ lý do về kinh tế do càng ngày
cuộc sống chi tiêu càng đắt đỏ khó khăn trong khi đó tiền lương và thu nhập khác lại thấp
không đủ để chi trả cho cuộc sống hàng ngày… Tất cả những yêu cầu trên tác động tâm lý
đến vợ chồng dẫn đến vợ chồng thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, nghi ngờ lẫn nhau trong vấn
đề tình cảm và kinh tế dẫn đến ngoại tình. Ngày nay, tình trạng ngoại tình khơng chỉ có ở
người đàn ông mà ngay cả người phụ nữ cũng chiếm tỷ lệ cao. Nó khơng chỉ xảy ra ở
trong các gia đình lao động mà trong giới cơng chức nhất là giới có chức vụ lại chiếm tỷ
lệ cao nhất trong xã hội, đây cũng là một trong những mặt trái của nền kinh tế thị trường.
Nguyên nhân ngoại tình dẫn đến tình trạng ly hơn chiếm tỷ lệ tương đối cao, nếu
như năm 2018 theo báo cáo thống kê số liệu của TAND quận Hoàng Hoàngi thụ lý là 54
vụ án thì đến năm 2019 số vụ án ly hơn với ngun nhân ngoại tình đã gia tăng lên đến 65
vụ trên tổng số 1388 vụ án ly hôn mà TAND quận Hoàng Hoàngi đã thụ lý và giải quyết.
Nhìn chung, tình trạng vợ chồng ngoại tình ngày nay càng trở nên phổ biến, nó là nhân tố
làm cho hạnh phúc gia đình tan vỡ nếu như giữa người vợ hoặc chồng khơng có sự cảm
thơng thương u quan tâm lẫn nhau thường xuyên.
Ví dụ tại bản án số 10/2020/HNGĐ-ST: ông Phạm Đức Minh sinh năm 1959 và bà
Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1972 kết hôn ngày 11/4/1999 trên cơ sở tự nguyện và có
đăng ký kết hơn tại UBND phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi
kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2001 thì mâu thuẫn ngun nhân là do ơng
Minh có quan hệ ngoại tình với vợ cũ vfa có quan hệ với nhiều người đàn bà khác dẫn
đến vợ chồng thường xun cãi nhau, từ đó tình cảm lạnh nhạt, vợ chồng sống ly thân
khơng cịn quan tâm đến nhau. Năm 2019 bà đã làm đơn ly hơn, Tịa đã thụ lý sau đó bà
rút đơn và Tịa đã đình chỉ giải quyết nhưng vợ chồng khơng về đồn tụ chung sống với
nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng khơng cịn, bà Hồng xin được ly hơn.
Ngày 24 tháng 4 năm 2020, TAND quận Hoàng Hoàngi đã đưa vụ việc ra xét xử
tại Bản án số 10/2020/HNGĐ- ST, theo đó chấp nhận đơn xin ly hơn của bà Nguyễn Thị
Hồng đối với ông Phạm Đức Minh. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng bà
Hồng ông Minh đã trầm trọng, có kéo dài12
cuộc sống chung cũng khơng mang lại hạnh
phúc cho nhau, mục đích hơn nhân không đạt được, nên TAND quận đã cho phép anh chị
ly hôn theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình..
2.3.3. Nguyên nhân kinh tế
Cùng với bạo lực gia đình và ngoại tình, nguyên nhân kinh tế là một trong những
nguyên nhân chủ yếu dẫn tới ly hôn. Trong xã hội hiện nay, một thực tế cho thấy trong gia
đình vấn đề kinh tế khơng chỉ ở vai trị cả người chồng quyết định mà người vợ cũng có
vai trị tham gia, vợ chồng cùng nhau lo toan kinh tế. Cùng với sự tác động của cơ chế thị
trường, nhiều gia đình đã có cơ hội nắm bắt thời thế dẫn tới sự tăng trưởng của kinh tế gia
đình. Hiện nay tình trạng ly hơn xuất phát từ ngun nhân kinh tế ngày càng có xu hướng
gia tăng và trong tương lai khơng xa nó sẽ chiếm tỷ lệ cao. Trong 2020, TAND quận
Hoàng Hoàngi đã thụ lý 85 vụ ly hơn có mâu thuẫn liên quan đến kinh tế. Kinh tế tăng
trưởng, thu nhập cao làm cải thiện cuộc sống gia đình nhưng đồng thời trong nhiều gia
đình chính yếu tố kinh tế lại là nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn gia đình hay nói cách khác
đó là "sự va chạm đồng tiền và cách làm ăn".
Ví dụ bản án số 29/2020/HNGĐ-ST: Chị Đỗ Thị Vinh và anh Nguyễn Mạnh
Hùng kết hôn ngày 12/11/2013, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hơn tại UBND
phường Tương Mai, quận Hồng Hồngi. . Trong q trình chung sống, vợ chồng anh chị
phát sinh nhiều mâu thuẫn, mà nguyên nhân do anh Hùng khơng chí thú làm ăn, thường
xun bỏ đi chơi đê và còn sử dụng ma túy làm ảnh hưởng đến cuộc sống và kinh tế gia
đình.Sau nhiều lần va chạm, vợ choonhg chủ hà thuận vài ngày rồi lại mâu thuẫn, anh chị
ly thân được khaorng hơn 1 năm. Không những gây sự đánh đâp chị, anh cịn gây khó
khăn cho chị trong kinh doanh. Tại Bản án số 29/2019/HNGĐ-ST ngày 6/7/2020 của
TAND quận Hoàng Hoàngi giải quyết vụ việc trên theo hướng chấp nhận đơn ly hơn của
chị Vinh bởi TAND nhận thấy tình trạng hơn nhân giữa vợ chồng anh chị đã trầm trọng,
đời sống chung khơng thể kéo dài, mục đích hơn nhân khơng đạt nên đã chấp nhận yêu
cầu ly hôn của chị Vinh.
Có thể nói, ngun nhân kinh tế dẫn đến tình trạng ly hôn ngày càng trở nên phổ
biến tuy nhiên để làm giảm tình trạng ly hơn xuất phát từ ngun nhân này, cần phải có
những chính sách quan tâm tạo việc làm ổn định cho các hộ gia đình nhất là các hộ gia
đình nghèo ở các phường trong địa bàn quận như cho vay vốn đầu tư phát triển để các hộ
tự tạo việc làm, phát triển kinh doanh, nâng cao thu nhập… nhằm xóa bỏ khoảng cách
giàu nghèo. Bởi khi đời sống kinh tế gia đình khá giả thì những mâu thuẫn gia đình do
kinh tế sẽ giảm đi rất nhiều.
2.3.4. Một bên tham gia các tệ nạn xã hội, bị truy cứu TNHS
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thì các tệ nạn xã hội cũng
phát sinh ngày một nhiều. Tệ nạn xã hội là hiện tượng bao gồm những hành vi sai lệch
với chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối với
đời sống xã hội Có trường hợp gia đình kiệt quệ về kinh tế cũng vì chồng rượu chè, cờ
bạc… làm xói mịn tình u, tình vợ chồng và nhiều gia đình cuối cùng cũng dẫn tới kết
13 xã hội không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức
cục đưa nhau ra tịa ly hơn. Có thể nói, tệ nạn
khỏe, đạo đức con người, ảnh hưởng đến trật tự xã hội mà nó cịn làm tan vỡ hạnh phúc
gia đình.
Ngồi ra, việc một bên vợ hoặc chồng bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng là
một trong những nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn. Những trường hợp bị truy cứu trách
nhiệm hình sự là trường hợp khi vợ hoặc chồng trong cuộc sống có những hành vi làm
trái với các quy định của pháp luật do lỗi cố ý hay vô ý, mức độ lỗi nặng nhẹ khác nhau,
mà tùy từng trường hợp có thể bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý bằng hành chính có
thể bị cảnh cáo, phạt tiền cách chức, thuyên chuyển công tác, hạ bậc lương… hay trường
hợp vi phạm xâm phạm các quan hệ được bộ luật hình sự bảo vệ và phải chịu các chế tài
hình sự. Trong những trường hợp đó ít nhiều có ảnh hưởng khơng nhỏ đến cuộc sống của
mỗi gia đình như vấn đề kinh tế. Nếu vợ hoặc chồng có sự thơng cảm cho nhau thì mọi
chuyện sẽ đơn giản, nhưng nếu khơng có sự thơng cảm thì mâu thuẫn gia đình sẽ phát
sinh.
Ví dụ: Chị Đặng Thị Ngọc Lan và anh Đỗ Tiến Dũng kết hôn trên cơ sở tình
nguyện, có đăng ký kết hơn tại UBND phường Tương Mai, quận Hồng Hồngi. Sau khi
kết hơn, vợ chồng chung sống với gia đình nhà chồng tại số 2C8 tổ 55 phường Tương
Mai, quận Hoàng Hoàngi. Cuộc sống gia đình diễn ra ấm êm, hạnh phúc được một thời
gian ngắn thì âu thuẫn tính cách quan điểm và kinh tế. Năm 2014, anh Dũng bị Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt chung thân về hành vi giết người, hiện đang chấp
hành án tại Đội 21 Phân trại số 1 Trại giam số 5 Bộ Công a. Nay, chị Hà xác định không
thể tiếp tục chờ đợi và khơng cịn tình cảm với anh Dũng và có đơn xin ly hơn, anh Dũng
cũng nhất trí ly hơn với chị Lan vì xác định tình cảm khơng cịn. Ngày 24/4/2020, TAND
quận Hồng Hồngi đã đưa vụ việc ra xét xử và quyết định tại Bản án số 13/2020/HNGĐST, theo đó cho chị Đặng Thị Ngọc Lan được ly hôn anh Đỗ Tiến Dũng.
2. Thực tiễn giải quyết việc ly hơn tại TAND quận Hồng Hồngi theo Luật
hơn nhân và gia đình năm 2014:
Đối với những cặp vợ chồng, một bên muốn ly hơn vì khơng cịn tình cảm, áp lực
từ phía gia đình hoặc muốn giải thốt cho vợ, chồng khi bản thân khơng có khả năng sinh
con…, giữa họ khơng hề có hành vi bạo lực gia đình hay hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ
chồng nhưng họ cảm thấy cuộc hơn nhân của mình không hạnh phúc, họ không muốn
chung sống với người kia nữa thì Tịa án sẽ dựa vào căn cứ ly hôn nào để giải quyết yêu
cầu ly hôn của họ khi hịa giải khơng thành? Kết hơn là tự nguyện tiến bộ thì ly hơn cũng
vậy, phải tơn trọng ý chí chủ quan của đương sự dù chỉ là một bên, không thể ép họ tiếp
tục sống chung với lý do yêu cầu của họ chưa chính đáng. Tùy vào quan điểm và cách lập
luận của mỗi Thẩm phán mà u cầu xin ly hơn của đương sự có được chấp nhận hay
không, dẫn đến sự không thống nhất khi giải quyết các vụ án có nội dung tương tự.
Ví dụ như vụ án ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Bích Thủy và anh Trình Văn Quy.
chị Thủy và anh Quy đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Bình Hưng Hịa, quận
Bình Tân, TP Hồ Chí Minh năm 2013 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hơn, cuộc sống
chung vợ chồng của chị Nguyễn Thị Bích Thủy và anh Trình Văn Quy hạnh phúc được
một thời gian sau đó nảy sinh mâu thuẫn do tình cảm của hai người đã nhạt phai và chị
Thủy vào TP HCM sinh sống làm việc còn anh
14 Quy vẫn làm việc tại Hà Nội. Chị Nguyễn
Thị Bích Thủy xác định tình cảm giữa chị và anh Quy đến nay khơng cịn, hơn nhân đã
thực sự tan vỡ, khơng thể hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hơn với
anh Trình Văn Quy. Theo nội dung bản án số 57/2020/HNGĐ-ST ngày 16/9/2020 của
Tòa án nhân dân quận Hồng Hồngi thì Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa
anh chị đã xảy ra những mâu thuẫn, cả 2 anh chị anh đều khơng có biện pháp để khắc
phục, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hơn nhân khơng đạt
được. Vì vậy, xử cho chị Nguyễn Thị Bích Thủy được ly hơn anh Trình Văn Quy. Trong
vụ án này, để phán quyết cho chị Thủy được ly hôn với anh Quy, Thẩm phán giải quyết đã
căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 mặc dù khơng có hành
vi bạo lực gia đình cũng như hành vi vi phạm nghĩa vụ vợ chồng. Tôi đồng ý với phán
quyết của bản án sơ thẩm số 57/2017/HNGĐ-ST bởi căn cứ vào thực trạng cuộc hôn nhân
của anh Quy và chị Thủy đã thực sự tan vỡ, không thể ép họ tiếp tục duy trì cuộc sống
chung.
Hiện nay, Luật hơn nhân và gia đình hiện hành khơng quy định ly thân là căn cứ
để ly hơn nhưng trên thực tế, Tịa án thường theo hướng xem ly thân trong khoảng thời
gian nhất định làm cho mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hơn nhân khơng đạt
được để giải quyết ly hơn. Điều này là hồn tồn phù hợp để xem xét thực trạng quan hệ
vợ chồng đã đến mức trầm trọng hay chưa để cho ly hôn hoặc bác yêu cầu ly hôn của
đương sự bởi khi sống ly thân, vợ chồng khơng cùng chung sống, khơng có đóng góp cho
cuộc sống chung, khơng cùng chăm sóc con cái. Ví dụ như vụ án ly hôn giữa ông Phạm
Hải Đông và bà Vũ Thị Lan. Theo lời khai của ông Đơng thì ơng và bà Vũ Thị Lan kết
hơn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại , quận
Hoàng Hoàngi, tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng khơng hạnh phúc. Ngun nhân
chính là do vợ chồng khơng hợp tính, bất đồng quan điểm sống. Đến năm 1990 vì cơng
việc nên ơng đi làm ăn xa nhà, từ đó giữa hai vợ chồng ít chung sống với nhau. Đến năm
2009, ông Đông về Hồng Hồngi mở khách sạn, khơng đi làm ăn xa nữa nhưng hai vợ
chồng lại khơng thể hịa hợp nên ly thân từ tháng 10/2009. Trong thời gian sống ly thân,
giữa hai ơng bà khơng cịn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống của người đó. Nay ơng
Đơng xác định tình cảm vợ chồng khơng cịn, cuộc sống chung khơng có hạnh phúc,
khơng có khả năng đồn tụ nên ông cương quyết xin ly hôn với bà Vũ Thị Lan. Tại bản án
sơ thẩm số 58/2020/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân quận Hoàng Hoàngi ngày
17/09/2020 đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Hải Đông đối với bà Vũ Thị
Lan. Theo tơi, Tịa án nhân dân quận Hồng Hồngi quyết định cho ơng Đơng được ly
hơn với bà Lan là hợp tình và hợp lý bởi khi khơng cùng chung sống trong một thời gian
dài, tình cảm vợ chồng sẽ nhạt phai; vợ, chồng khơng có sự quan tâm, chăm sóc cho nhau
cũng như đóng góp cho cuộc sống chung và tất yếu dẫn đến mục đích hơn nhân khơng đạt
được.
Trên thực tế có nhiều trường hợp Tịa án gặp khó khăn trong việc thu thập chứng
cứ chứng minh mâu thuẫn vợ chồng được coi là trầm trọng. Bởi mẫu thuẫn gia đình là
việc riêng tư, có những cặp vợ chồng khi cán bộ Tịa án đi xác minh tình trạng cuộc hơn
nhân của vợ chồng thì ngay cả người thân, làng xóm, tổ dân phố cũng không biết việc vợ
chồng xảy ra mâu thuẫn kéo dài. Do vậy, Thẩm phán khi xem xét và đánh giá mức độ
trầm trọng chủ yếu dựa trên lời khai của các15đương sự. Tuy nhiên, khi đã muốn ly hôn thì
có thể đương sự sẽ khai khơng chính xác như thực tế để được ly hôn hoặc nếu bị đơn
không muốn ly hơn sẽ khai để Tịa án bác đơn u cầu ly hơn của ngun đơn. Do đó, dễ
dẫn đến việc xác định quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng hay chưa sẽ
mang tính chủ quan của Thẩm phán bởi tình trạng hơn nhân nghiêng về lĩnh vực tình cảm,
khơng thể có sự định lượng rõ ràng. Khi giải quyết ly hơn, Tịa án phải cân nhắc rất thận
trọng để giải quyết cho các bên ly hôn, bảo đảm quyền tự do ly hôn của mỗi bên nhưng
phù hợp với quy định của pháp luật về căn cứ ly hơn.
Ngồi áp dụng các căn cứ về điều kiện ly hơn TAND quận Hồng Hồngi cũng áp
dụng nhiều căn cứ khác theo Luật HN&GĐ 2014 để giải quyết các vụ việc hôn nhân trên
thực tế. Về việc lấy ý kiến của con trên 7 tuổi, Khoản 2 Điều 81 Luật hơn nhân và gia
đình năm 2014 quy định, trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con từ đủ 7 tuổi trở
lên có ý nghĩa bắt buộc, làm cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định giao con cho ai nuôi
nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ. Việc hỏi ý kiến để các con nói
lên tâm tư, nguyện vọng của mình là cần thiết bởi khi cha mẹ ly hơn, con cái mất đi một
điểm tựa quan trọng nhất, đó chính là mái ấm gia đình. Điều này là hồn tồn chính đáng,
phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em mà Việt
Nam là quốc gia thành viên. Trong thực tiễn xét xử, Tịa án cịn gặp vướng mắc khi cha
mẹ khơng hợp tác, khơng đưa con tới để tịa lấy ý kiến của các con. Lý do là họ không
muốn cho con cái biết họ ly hôn, sợ chúng bị tổn thương về tâm lý. Khi đó, Tịa án vẫn
phải tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt để xem
xét, quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng con bởi theo quy định tại Điều 214, Điều 217
Bộ luật dân sự năm 2015 thì việc khơng lấy được lời khai của các con khơng là căn cứ để
đình chỉ hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Hiện nay, Tòa án lấy ý kiến của con từ
đủ 07 tuổi trở lên bằng văn bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của con và cha mẹ. Việc lấy ý
kiến được thực hiện tại trụ sở Tòa án trước khi xét xử vụ việc ly hôn hoặc theo yêu cầu
của một bên đương sự, Tòa án sẽ triệu tập con để xét nguyện vọng của con ngay tại phiên
tòa.
Về xác định mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, theo quy định tại Khoản 1 Điều
116 Luật hơn nhân và gia đình năm 2014 thì mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp
dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào
thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của
người được cấp dưỡng; nếu khơng thỏa thuận được thì u cầu Tịa án giải quyết. Hiện
nay, việc xác định mức cấp dưỡng là một vấn đề khó khăn đối với Tịa án bởi chưa có quy
định cụ thể về mức cấp dưỡng tối thiểu để đảm bảo cuộc sống cho người được cấp dưỡng.
Có lẽ việc pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về mức cấp dưỡng nhằm tạo sự linh
hoạt cho Tòa án khi giải quyết nhưng thiết nghĩ vẫn cần có quy định về mức cấp dưỡng
tối thiểu nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của đứa trẻ. Tuy nhiên, cán
bộ Tịa án sẽ gặp khó khăn khi xác minh thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nếu
người đó khơng chủ động chứng minh thu nhập và muốn trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
Ví dụ: Anh Đỗ Văn Hịa khởi kiện xin ly hơn với chị Phùng Thị Hà. Anh Hòa và
chị Hà đã đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường Định Cơng, quận
Hồng Hồngi, thành phố Hà Nội. Vợ chồng16chung sống hạnh phúc cho đến năm 2012 thì
bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh Hòa nghi ngờ chị Hà có quan hệ ngoại tình. Anh Hịa
và chị Hà có 02 con chung là cháu Đỗ Thị Hằng sinh ngày 14/5/2009 và cháu Đỗ Văn
Hải, sinh ngày 17/11/2012. Trong vụ án này, các bên đương sự không thống nhất được
mức cấp dưỡng nuôi con. Theo lời khai của anh Hịa: Anh và chị Hà có 02 con chung là
cháu Đỗ Thị Hằng sinh ngày 14/5/2009 và cháu Đỗ Văn Hải, sinh ngày 17/11/2012. Nay
các cháu đã lớn nên tùy theo nguyện vọng các cháu muốn ở với anh hay chị Hà thì anh
đều đồng ý. Nếu cả hai con ở với chị Hà thì anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con là 1,000.000đ
/tháng cho cả hai con.
Theo lời khai của chị Hà: Chị và anh Hịa có 02 con chung là cháu Đỗ Thị Hằng
sinh ngày 14/5/2009 và cháu Đỗ Văn Hải, sinh ngày 17/11/2012. Hiện nay các cháu đang
ở với chị. Vì vậy, nếu phải ly hơn chị có nguyện vọng ni cả hai cháu. Tuy nhiên, nay
các cháu đã lớn nên tùy theo nguyện vọng các cháu. Nếu các cháu muốn ở với anh Hịa
thì chị cũng đồng ý. Tại phiên tòa chị Hà yêu cầu anh Hịa cấp dưỡng ni con với mức
2.000.000đ/tháng cho cả hai con nếu hai con ở với chị. Tại Bản án số 09/HNGĐ-ST ngày
26/01/2020, Tịa án nhân dân quận Hồng Hoàngi đã xử: giao cháu Đỗ Thị Hằng sinh
ngày 14/5/2009 và cháu Đỗ Văn Hải, sinh ngày 17/11/2012 cho chị Hà trực tiếp chăm
sóc, ni dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Anh Hịa phải có nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung với mức 1.000.000đ/tháng cho cả hai con cho đến khi các con đủ
18 tuổi.
Tuy nhiên, Bản án số 09/HNGĐ-ST cũng cho thấy, khơng có văn bản nào được căn
cứ khi Tòa án xác định mức cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng. Mặc dù số tiền này
bằng số tiền mà anh Hòa tự nguyện cấp dưỡng nhưng liệu có đảm bảo được các chi phí
thiết yếu tối thiểu cho hai đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi học hay không?
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GĨP PHẦN HỒN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ LY HƠN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC LY HƠN TẠI TỊA
ÁN NHÂN DÂN QUẬN Hồng HồngI
Thứ nhất, khi tình cảm vợ chồng khơng cịn thì đương nhiên cuộc hơn nhân sẽ rơi
vào trạng thái trầm trọng nên thay vì quy định phải có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi
phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hơn nhân lâm vào tình trạng
trầm trọng, đời sống chung khơng thể kéo dài, mục đích của hơn nhân khơng đạt được thì
Tịa án mới giải quyết u cầu ly hơn của một bên vợ hoặc chồng thì theo ý kiến tác giả,
chỉ quy định “nếu xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích của hơn nhân khơng đạt được thì Tồ án quyết định cho ly hôn”. Việc quy
định như vậy sẽ bao quát được cả những trường hợp giữa vợ, chồng khơng có hành vi bạo
lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng nhưng khơng thể
tiếp tục duy trì cuộc sống chung và sẽ hạn chế được tình trạng một bên cố tình thực hiện
các hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng
để được Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Thứ hai, cần quy định về chế định ly thân bởi ly thân là một hiện tượng thực tế
trong quan hệ vợ chồng, là giải pháp để vợ chồng suy nghĩ cặn kẽ, nhìn lại khiếm khuyết
17
của nhau, đánh giá lại tình cảm vợ chồng để từ đó có biện pháp giải quyết thích hợp. Ly
thân cịn là một biện pháp hữu hiệu tránh tình trạng bạo lực gia đình, thời gian sống ly
thân vợ chồng có thời gian cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ly hôn. Theo quy định tại Khoản
2 Điều 19 Luật hơn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng sau khi kết hơn có nghĩa vụ
sống chung với nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề
nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý
do chính đáng khác. Thiết nghĩ, để giải quyết được vấn đề minh bạch trong việc các bên
thực hiện giao dịch phát sinh quyền và nghĩa vụ khi ly thân, cũng như quyền lợi của các
con, các thành viên khác trong gia đình được đảm bảo thì chế định ly thân cần được pháp
luật hơn nhân gia đình quy định vì vấn đề này xảy ra phổ biến trong thực tiễn và pháp luật
khơng thể cấm.
Thứ ba, cần có những hướng dẫn cụ thể hơn đối với việc xác định yếu tố lỗi của
một bên vợ hoặc chồng khi chia tài sản chung vợ chồng để người vợ, người chồng trong
các trường hợp này có thể đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho hành vi lỗi của bên vi
phạm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, ví dụ như kết luận của bệnh viện
điều trị cho nạn nhân của bạo lực gia đình, biên bản hịa giải của chính quyền địa phương
hay biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi ngoại tình. Đồng thời, cần có quy
định hướng dẫn về việc áp dụng yếu tố lỗi như thế nào để phân chia tài sản chung và nếu
phân chia cho bên có lỗi ít hơn phần tài sản mà đáng lẽ họ được hưởng thì ít hơn bao
nhiêu là hợp lý.
Thứ tư, cần quy định cụ thể về mức cấp dưỡng tối thiểu bởi mặc dù trên thực tế
mỗi trường hợp ly hơn, mức thu nhập, điều kiện cụ thể và hồn cảnh sống của mỗi người
khác nhau; nhưng để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống và để những đứa trẻ
sau khi ly hôn phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần thì theo quan điểm của tác giả,
nên quy định mức cấp dưỡng tính trên phần trăm thu nhập của người phải cấp dưỡng hoặc
lấy mức tiền lương tối thiểu vào từng thời điểm làm định khung để quy định mức cấp
dưỡng. Trong thời gian chưa có hướng dẫn cụ thể về mức cấp dưỡng, Tịa án có thể thu
thập chứng cứ thể hiện mức sinh hoạt trung bình của đứa trẻ tại địa phương sinh sống từ
cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em như Phịng Văn hóa và thơng tin, Phòng
Lao động – Thương binh và xã hội ở cấp quận, Ủy ban nhân dân cấp xã.
KẾT LUẬN
Trong những năm vừa qua, Tịa án nhân dân quận Hồng Hồngi đã thụ lý và giải
quyết hàng trăm vụ án về hơn nhân và gia đình mỗi năm; trong đó phần lớn là các vụ án
về ly hôn. Số lượng vụ án ly hơn ngày càng tăng và có tính chất phức tạp. Bởi hậu quả
pháp lý của ly hôn không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi bên vợ, chồng mà còn tác động đến
con cái, xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu, báo cáo đã làm rõ được những vấn đề có tính
chất lý luận về ly hơn như: làm rõ khái niệm ly hôn, căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của ly
hơn và đã phân tích, đánh giá các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về
quyền u cầu ly hơn, căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn. Báo cáo cũng đã tiến
hành đi sâu nghiên cứu và phân tích thực tiễn giải quyết các vụ việc ly hơn tại Tịa án
nhân dân quận Hồng Hồngi: tìm hiểu tình18hình thụ lý, giải quyết các vụ việc hơn nhân
và gia đình nói chung, vụ việc ly hơn nói riêng; nêu được những khó khăn, vướng mắc
trong thực tiễn xét xử. Trên cơ sở đó, tơi đưa ra một số giải pháp hồn thiện pháp luật về
ly hơn, nâng cao hiệu quả giải quyết vụ việc ly hơn tại Tịa án nhân dân quận Hoàng
Hoàngi. Những đề xuất này sẽ góp phần vào nhỏ vào q trình hồn thiện, hướng dẫn
pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao và q trình xét xử các vụ án về ly hơn tại Tịa án
nhân dân quận Hồng Hồngi trong thời gian tới.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội (2015), Bộ luật dân sự, Hà Nội.
2. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội.
3. Quốc hội (2000), Luật hơn nhân và gia đình, Hà Nội.
4. Quốc hội (2014), Luật hơn nhân và gia đình, Hà Nội.
5. Quốc hội (2014), Luật tổ chức tòa án nhân dân, Hà Nội.
6. Chính phủ (2001), Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 quy định chi tiết thi
hành Luật Hơn nhân và gia đình, Hà Nội.
7. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp (2016),
Thông tư liên tịch 01/2016/TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy
định của Luật hơn nhân và gia đình, Hà Nội.
8. Tịa án nhân dân tối cao, Án lệ số 03/2016/AL ngày 06/04/2016, Hà Nội.
9. Hồ Chí Minh Tồn tập, nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội 1995, tập 9, tr. 292
10. Hồ Chí Minh Tồn tập, nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội 1995, tập 8, tr. 496
11. Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em.
12. C. Mác(1978), C. Mác - Ph. Ăngghen toàn tập, Tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ
Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
14. Trần Nguyễn Thị Tâm Đan (2017), Áp dụng căn cứ ly hơn tại Tịa án nhân dân
quận Thanh Xn – Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội.
15. Cao Mai Hoa (2014), Ly hôn – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
16. Ngô Thị Hường (2015), “Quyền yêu cầu li hơn theo Luật hơn nhân và gia đình
năm 2014”, Tạp chí Luật học, (12), tr.40-46.
17. Nguyễn Thanh Tú (2012), “Thực tiễn giải quyết ly hơn tại tịa án nhân dân quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội theo luật hơn nhân và gia đình năm 2000”, Luận văn
thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc Gia19Hà Nội, Hà Nội.
18. Lê Thị Mận (2017), “Bàn về việc xét nguyện vọng của con khi cha mẹ ly hơn”,
Tạp chí Tịa án nhân dân, (16), tr. 11 – 16.
19. Nguyễn Viết Thái (2013), Hậu quả pháp lý của ly hơn theo luật hơn nhân và gia
đình Việt Nam năm 2000, Luận văn thạc sĩ luật học , Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
20.Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà
Nội.
21. Tịa án nhân dân quận Hồng Hồngi, thành phố Hà Nội (2017), Báo cáo tổng
kết ngành Tòa án năm 2017, Hà Nội.
22. Tịa án nhân dân quận Hồng Hồngi, thành phố Hà Nội (2018), Báo cáo tổng
kết ngành Tòa án năm 2018, Hà Nội.
23. Tòa án nhân dân quận Hoàng Hoàngi, thành phố Hà Nội (2019), Báo cáo tổng
kết ngành Tòa án năm 2019, Hà Nội.
24. Tòa án nhân dân quận Hoàng Hoàngi, thành phố Hà Nội (2020), Báo cáo tổng
kết ngành Tòa án tháng 1,2,3,4,5,6 năm 2020, Hà Nội.
25. Tịa án nhân dân quận Hồng Hồngi, thành phố Hà Nội (2020), Hồ sơ Hơn
nhân và Gia đình sơ thẩm, Hà Nội.
PHỤ LỤC 1 : KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG QUÁ
TRÌNH THỰC TẬP
1. Những kết quả đạt được trong quá trình thực tập
Thứ nhất: Về kiến thức
Thời gian thực tập tại TAND quận Hoàng Hoàngi đã giúp em tìm hiểu rõ hơn về cơ
cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ và quá trình thực hiện, giải quyết cơng việc, có cơ hội
quan sát và học hỏi kiến thức từ các anh chị đi trước, vận dụng những kiến thức đã học
trên giảng đường vào thực tiễn, nhìn nhận và xử lý các vấn đề ở góc độ chun mơn sâu
hơn, có cơ hội được trải nghiệm, được trực tiếp tham gia hướng dẫn công dân giải quyết
một số công việc chuyên môn theo hướng dẫn như: Tham gia hướng dẫn công dân tiến
hành thủ tục ly hôn, viết đơn khởi kiện, xác định lại cha cho con, tham gia buổi xác minh
lấy ý kiến của đương sự; được hiểu biết hơn về quá trình tố tụng.
Thứ hai: Về kỹ năng
Quá trình thực tập tại TAND quận Hồng Hồngi đã cho em bước vào một mơi
trường làm việc hồn tồn mới mẻ đó là mơi trường trong cơ quan hành chính nhà nước.
Chính mơi trường này đã cơ hội để em trau dồi thêm nhiều kỹ năng như kỹ năng giao
tiếp: Giao tiếp với đồng nghiệp, với cấp trên đặc biệt là giao tiếp với công dân - người đến
làm thủ tục, giấy tờ cũng như văn hóa nơi cơng sở và vận dụng các kỹ năng đã được trang
bị về tin học, kỹ năng hòa giải một vụ ly hôn vào thực tiễn. Trong thời gian thực tập, em
còn tiếp thu được nhiều kỹ năng mới, đặc biệt là các kỹ năng mềm như: Phát biểu trước
đám đơng, thuyết trình, hùng biện và học hỏi
20 được một số kỹ năng hành chính như viết
báo cáo, lập kế hoạch. Đây là các kỹ năng rất quan trọng trang bị và hình thành cho con
đường chức nghiệp nhà nước cũng như hành trang cho nghề nghiệp sau này.
Thứ ba: Kinh nghiệm thực tế
Trong thời gian thực tập, nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán bộ Tịa án và
từ việc quan sát, trực tiếp tham gia vào hướng dẫn công dân giải quyết các công việc liên
quan đến thủ tục ly hôn đã giúp em đã tiếp thu và học hỏi được nhiều kinh nghiệm thực tế
quý báu đó là kinh nghiệm thu thập thông tin, kinh nghiệm giải quyết các thủ tục hồ sơ
cho công dân đến kinh nghiệm phát biểu trước đám đông, đặc biệt là kinh nghiệm giao
tiếp, truyền đạt với công dân, với bà con nông dân khi trình độ nhận thức cịn thấp và văn
hóa ứng xử mang đậm phong tục tập quán. Đồng thời q trình thực tập giúp em có được
sự chủ động, tự tin trong công việc, trong giao tiếp, tinh thần trách nhiệm đối với công
việc, tinh thần luôn phấn đấu và khơng ngừng học hỏi nâng cao trình độ chun mơn cũng
như kinh nghiệm thực tế.
2.Những hạn chế, khó khăn trong quá trình thực tập
Trong thời gian thực tập tại TAND quận Hồng Hồngi, em đã gặp những khó
khăn bước đầu, đó là sự chênh lệch giữa lí thuyết và kiến thức thực tế, thiếu kiến thức
chuyên môn cũng như việc nghiên cứu tài liệu chưa kĩ, chưa có kinh nghiệm trong giải
quyết cơng việc, các kĩ năng hành chính cịn thiếu sót, nhất là những kinh nghiệm thực tế.
Thời gian thực tập cũng là khoảng thời gian em bước vào một mơi trường làm việc
hồn tồn mới mẻ - mơi trường hành chính nhà nước với một mơ hình quy củ, nguyên tắc
nghiêm ngặt nên không tránh khỏi bỡ ngỡ, vấp váp ban đầu. Tuy nhiên, những khó khăn
nêu trên khơng phải là rào cản, ngược lại nó trở thành động lực để em cố gắng, vượt qua
thử thách và trưởng thành hơn..
PHỤ LỤC 2: NHỮNG BẢN ÁN KÈM THEO
21
22