Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (22.88 MB, 92 trang )


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của

riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các sổ liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chinh xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chỉnh theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tơi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đồn Quảng Hưng


MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan
Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng
MỞ ĐẦU............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VÈ



THỤC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT Tự CÔNG CỘNG...... 7
1.1.

Một số vấn đề lý luận........................................................................... 7

1.1.1.

Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra............... 7

1.1.2.

Khái niệm các tội xâm phạm trật tự công cộng.................................13

1.1.3.

Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các
tội xâm phạm trật tự công cộng............................................................ 17

1.1.4.

Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố trong giai

đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng.............................. 21

1.2.

Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra các tội

trật
• xâm >phạm

• tự
• cơng cộng
• CT .......................................... 28

1.2.1.

Pháp luật về thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn điều tra........ 28

1.2.2.

Pháp luật về nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng.......................... 32

CHƯƠNG 2: THỤC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỤC HÀNH QUYỀN CƠNG TỐ
Ồ GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA CÁC TỘI
XÂM PHẠM
TRẬT





TỤ CƠNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN HẢI PHỊNG...................... 39
2.1.


Thực trạng thực hành quyền cơng tố ồ' giai đoạn điều tra các

tội
trật
• xâm 1phạm

• tự
• cơng cộng
• ơ trên địa
• bàn Hải Phòng............39


2.1.1.

Tình hình chung trên địa bàn thành phố Hải Phịng.......................... 39

2.1.2.

Thực trạng thực hành quyền công tố ở giai đoạn điềutra các tội

xâm phạm trật tự công cộng trên địa bàn Hải Phịng......................... 41

2.2.

Kiến nghị hồn thiện pháp luật........................................................ 66

2.2.1.

Kiến nghị hồn thiện chế định Thực hành quyền cơng tố................. 66


2.2.2.

Kiến nghị hồn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật

tự công cộng.........................................................................................68
2.3.

Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố ở giai

đoạn
điều tra các tội
xâm 1phạm
trật
tự• cơng” cộng




• c_y trên địa

bàn Hăi Phịng.................................................................................... 69

2.3.1.

Những giải pháp chung........................................................................ 69

2.3.2.

Giải pháp cụ thể................................................................................... 74


KÉT LUẬN.......................................................................................................81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................... 83


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẲT

BLHS:

Bơ• lt
• hình sư•

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

BPNC:

Biện pháp ngăn chặn

CQCT:

Cơ quan cạnh tranh

CQĐT:

Cơ quan điều tra

THQCT:

Thực hành quyền cơng tố


TNHS:

Trách nhiêm
• hình sư•

TTCC:

Trật tự cơng cộng

TTHS:

Tố tụng hình sự

VKS:

Viên
• kiểm sát

VKSND:

Viên
• kiểm sát nhân dân

VKSNDTC: Viên
• kiểm sát nhân dân tối cao


DANH MỤC BẢNG


r

Sơ niêu


Tên bảng

Bảng 2.1

Thống kê tội phạm xâm phạm trật tự cơng cộng ở Hải
Phịng từ năm 2016 đến năm 2020

Bảng 2.2

Trang

42

Thống kê BPNC áp dụng đối với bị can phạm tội xâm
phạm đến trật tự công cộng ở Hải Phòng từ năm 2016
đến năm 2020

47


MỞ ĐÀU
1. Tính câp thiêt của đê tài

Thực hành quyền cơng tố trong việc giải quyết vụ án hình sự là một
trong những chức năng trọng tâm của Viện kiếm sát nhân dân, được ghi nhận


trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát

nhân dân cùng Cơ quan điều tra là hai cơ quan có trách nhiệm chính trong
cơng tác đấu tranh, phịng, chống tội phạm thể hiện rõ nét nhất khi Viện kiểm
sát nhân dân thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra. Viện kiềm sát
nhân dân phải thực hiện tốt trách nhiệm thực hành quyền công tố trong hoạt
động điều tra mới có thể đảm bào mọi hành vi phạm tội và người phạm tội

được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp

luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội.
Trong những năm vừa qua, hoạt động thực hành quyền công tố trong

hoạt động điều tra được Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành
phố Hải Phịng đã được chú trọng, góp phần tích cực vào cơng tác đấu tranh,

phịng, chống tội phạm, ồn định an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội. Đặc

biệt, khi giải quyết các vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự công
cộng, hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra được đề
cao và thu được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên hoạt động thực hành

công quyền công tố còn bộc lộ những hạn chế nhất định, như: sự thiếu thống
nhất trong việc xác định tội danh, áp dụng điều luật và khoản, điểm của Bộ
luật Hình sự dẫn đến việc giải quyết các vụ việc tương tự lại có các kết quả

khác nhau; nhiều Kiềm sát viên chưa làm hết trách nhiệm khi được thực hành
quyền công tố dẫn đến tình trạng phải trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần...


Những hạn chế này xuất phát từ những nguyên khách quan, chủ quan, trong
đó phải kể đến nguyên nhân pháp luật về thực hành quyền công tố và pháp

luật hình sự chưa cụ thể, rõ ràng gây khó khăn cho Kiểm sát viên khi thực

1


hành quyền công tố giải quyết vụ án. Đồng thời, những nguyên nhân chủ
quan như: sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chưa chặt chẽ,
trình độ năng lực Kiểm sát viên chưa cao, lãnh đạo Viện kiểm sát cấp huyện

chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát hoạt động thực hành quyền công tố...
Trước yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu giữ vững trật tự an toàn xã hội

bão đăm cho sự phát triển đất nước trong thời đại công nghệ lần thứ tư, bào
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân và sự ổn định, phát triển của thành

phố Hải Phịng học viên chọn đề tài:
“Thực hành quyền cơng tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội

xâm phạm trật tự công cộng trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hải
Phịng” góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tổ của Viện

kiểm sát nhân dân, đấu tranh xử lý các tội xâm phạm trật tự công cộng trên

địa bàn thành phố.
2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành
quyền công tổ trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công

công trên địa bàn thành phố Hải Phòng, luận văn đề xuất một số quan điểm,
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều

tra đối với loại tội phạm này đáp ứng yêu cầu cùa công cuộc cải cách tư pháp
và nhiệm vụ chính trị của địa phương.
2.2. Mục
tiêu cụ• thể


- Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện

kiểm sát nhân dân.

- Đánh giá thực trạng qua đó nêu lên kết quả đạt được cũng như những
hạn chế khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội

2


xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiêm sát nhân dân hai câp trên địa bàn
thành phố Hải Phòng giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với các tội xâm phạm trật tự công

cộng của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tại Hải phịng.

3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
3.1. Tính mới của đề tài

Nghiên cứu đề tài “Thực hành quyền công tổ trong giai đoạn điều tra
các vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiêm

sát nhân dân thành phố Hải Phòng” đề cập đến những nội dung mới như sau:

- Luận văn tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án các tội xâm phạm trật tự

công cộng của Viện kiểm sát nhân dân.

- Luận văn đánh giá một cách khách quan thực trạng, những khó khăn,
vướng mắc và nguyên nhân của thực trạng thực hành quyền công tố trong giai

đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân

cấp hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay.

- Luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp cụ thể để tiếp tục
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra các các tội xâm phạm trật tự công cộng cũa Viện kiếm

sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phịng.
3.2. Những đóng góp của đề tài

- Làm sáng tỏ vị trí, vai trị của ngành Kiểm sát trong hoạt động thực
hành quyền công tố, đặc biệt là vấn đề áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố của Viện kiếm sát nhân dân thành phố Hải Phòng trong giai


đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trong thời gian qua, nham
đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan thực trạng tình hình, từ đó

đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động này.

3


- Luận văn có thê được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Kiêm sát
viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp trong điều tra vụ án hình sự và những ai quan tâm lĩnh vực này. Đồng

thời, luận văn cũng là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về pháp
luật nói chung và về thực hành quyền cơng tố, kiếm sát các hoạt động tư pháp
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Ve đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quan

điểm, lý thuyết về thực hành quyền công tố được công bố trên các ấn phẩm;
hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về quyền công tố và thực hành quyền

công tố; hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án
hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân
dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

- về phạm vi nghiên cứu: Đe tài nghiên cứu hoạt động thực hành quyền


công tố của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn thành phố Hải Phòng
trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng trong giai đoạn từ
năm 2016 đến năm 2020.
5. Tổng quan tài liệu

Có nhiều cơng trình nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong hoạt động

thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp được đăng trên sách,

báo, tạp chí chuyên ngành, bao gồm:

Cuốn sách “Ẩy năng thực hành quyền công to và kiêm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự" của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội năm 2006; Sách chuyên khảo "Quyền công tổ và kiêm sát các hoạt động
tư pháp trong hoạt động điều tra" cùa TS. Lê Hữu Thể - Nhà xuất bản Tư

pháp năm 2008.

Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về áp dụng pháp luật

4


thực hành quyên công tô và kiêm sát các hoạt động tư pháp, như: Luận án tiên

sĩ “Quyền công tố ở Việt Nam” năm 2002 của TS. Lê Thị Tuyết Hoa; Luận
văn thạc sĩ “Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn

điều tra của Viện kiêm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay” năm 2005 của tác







giả Trịnh Duy Tám; Luận văn thạc sĩ “Chất lượng thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử sơ thấm các vụ án hình sự của Viện kiêm sát nhân dân
tỉnh Hà Nam” năm 2008 của tác giả Trần Thị Đông; Luận văn thạc sĩ “Áp

dụng pháp luật trong kiêm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện Kiểm sát

nhản dân thành phổ Hà Nội” năm 2010 của tác giả Nguyền Duy Hưng; Luận
văn thạc sĩ “Ảp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tổ ở giai đoạn

điều tra các vụ án hình sự của Viện kiêm sát nhân dân ở tỉnh Yên Bái” năm

2011 của tác giả Hồng Xn Đản.
Có một số cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn của các
tác giả đăng trên các tạp chí chuyên ngành: “Đặc trưng cùa áp dụng pháp luật
hình sự” của tác giả Chu Thị Trang Vân đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp

luật số 3/2006; “Cơ quan thực hành quyền công tổ trong cải cách tư pháp ở
nước ta hiện nay” của tác giả Đỗ Văn Đưong đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp số 7/2006; “Viện kiêm sát nhân dãn các Cấp cần làm tốt việc tăng cường

trách nhiệm công tổ trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều
tra” của tác giả Trần Công Phàn đăng trên tạp chí Kiểm sát số 16/2012.
Các cơng trình nghiên cứu luận giải về áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố và kiếm sát các hoạt động tư pháp nói chung và áp dụng


pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói riêng. Đây là những

cơng trình khoa học có giá trị tham khảo trong quá trình tác giả thực hiện luận
văn. Tuy vậy, đến nay, chưa có cơng trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn

diện về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra

các tội xâm phạm trật tự công cộng của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn

thành phố Hải Phòng hiện nay.

5


6. Phương pháp nghiên cứu

Học viên sử dụng các phương pháp nghiên cửu khoa học cụ thể như:
Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa; trao đổi
nghiệp vụ với đội ngũ Kiểm sát viên hai cấp trên địa bàn thành phố Hải phòng

trực tiếp tiến hành hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra

các tội xâm phạm trật tự công cộng.
7. Cơ cấu đề tài

Đe tài gồm lời nói đầu, kết luận và hai chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công

tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng.

Chương 2'. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả

thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công
cộng trên địa bàn Hải Phòng.

6


CHƯƠNG 1

MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THựC HÀNH
QUYỀN CƠNG TĨ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIÈU TRA CÁC

TỘI XÂM PHẠM TRẬT Tự CƠNG CỘNG










1.1. Một số vấn đề lý luận

1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
Đi vào tìm hiểu hiểu khái niệm thực hành quyền công tố, trước hết phài
hiểu thế nào là quyền công tố bởi lẽ, quyền công tố và thực hành quyền cơng


tố có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong TTHS, quyền cơng tố có nội
dung là sự buộc tội của Nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội

(truy cứu TNHS đối với người phạm tội) còn THQCT là tổng hợp các quyền

năng pháp lý để thực hiện việc buộc tội ấy - là chức năng của một cơ quan
Nhà nước (CQCT) [15, tr. 53],
1.1.1.1. Khái niệm quyền công tố
Trong lịch sử xã hội, quyền công tố xuất hiện cùng với sự ra đời của

Nhà nước, ke cả là Nhà nước cồ đại cho đến Nhà nước hiện đại. Khi Nhà
7







nước xuất hiện đồng thời kéo theo sự xuất hiện của các thế lực chống lại sự

tồn tại hoặc quyền và lợi ích của Nhà nước. Tất yếu dẫn đến sự ra đời của
quyền công tố với chức năng đầu tiên là bảo vệ giai cấp, quyền và lợi ích của

giai cấp, sau đó mở rộng ra bảo vệ sự ổn định chung cho toàn xã hội.
Kể từ khi xuất hiện trong Hiến pháp năm 1980 cùng những khái niệm

truyền thống như “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”, khái niệm “quyền cơng

tố” cho đến nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu đưa ra các quan điểm giải

thích cho khái niệm này. Có thể kể đến một vài cơng trình điển hình như:
Cơng trình nghiên cứu về “Những vấn đề lý luận về chế định công tố” của

GS.TSKH Lê Văn Cảm trong Kỷ yếu Hội nghị khoa học: Tổ chức và hoạt

động của Viện kiếm sát trong tình hình mới, do úy ban Pháp luật của Quốc

7


hội tô chức năm 2001 [4]; Luận án tiên sĩ “Quyên công tô ờ Việt Nam” của
TS. Lê Thị Tuyết Hoa năm 2005 [15]; Cơng trình nghiên cứu về “Chế định

Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp Việt Nam” của GS.TSKH Đào Trí
Úc đăng trong Tạp chí kiểm sát số 13/2012 [40]; Sách chuyên khảo “Quyền

công tố và kiếm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của TS. Lê
Hữu Thể - Nhà xuất băn Tư pháp năm 2008 [39]; Cơng trình nghiên cứu “Một
số vấn đề về quyền công tố” của PGS.TS Trần Văn Độ [13]... Từ nghiên cứu

những quan điểm giải thích khái niệm quyền công tố, học viên cho rằng khái

niệm của quyền công tố như sau:
Quyền công tố là quyền lực công thuộc về Nhà nước, được Nhà nước

giao cho một cơ quan Nhà nước độc lập (ở Việt Nam thì Viện kiêm sát nhân

dân là cơ quan Nhà nước được giao thực hành quyền công tố) thực hiện việc
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra


xét xử trước tịa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó. Phạm vi của quyền

cơng tổ bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc bằng bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật.

Quyền cơng tổ theo đó sẽ bao gồm các đặc điểm sau:
Thứ nhất, C.Mác đã khẳng định: “Quyền công tố thê hiện rõ mối quan
hệ giữa Nhà nước với người phạm tội và moi quan hệ ấy do chính hành vi
phạm tội làm phát sinh ra..." [3, tr. 128-129], theo quan niệm này thì quyền

cơng tố là khái niệm pháp lý xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và
pháp luật. Quyền công tố bảo đảm cho Nhà nước có khả năng xử lý tội phạm
- một hiện tượng xã hội xuất hiện, tồn tại khách quan trong xã hội có Nhà
nước. Khi Nhà nước xuất hiện, ngồi nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp

thống trị, để duy trì sự xung đột xã hội trong vịng trật tự do Nhà nước thiết

lập, Nhà nước đã giành lấy quyền trừng trị những hành vi xâm hại lợi ích
chung từ tay cá nhân (sự thay thế quyền tư tố bằng quyền cơng tổ). Vì vậy,

8


quyên lực Nhà nước cũng được hiêu là quyên lực cơng cộng, theo đó qun

cơng tố với tính chất là cơng quyền hồn tồn khơng thể tách rời sự ra đời của
Nhà nước [21, tr. 133-135],
Thứ hai, quyền công tố được thực hiện trong lĩnh vực TTHS, bắt đầu từ
khi có tội phạm xảy ra cho đến khi có phán quyết cùa Tịa án đã có hiệu lực


pháp luật, khơng bị kháng nghị. GS.TSKH Lê Văn Cảm đã khẳng định tại
cơng trình “Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tổ" như sau:
Chỉ khi nào và ở đâu có việc thực hiện tội phạm, thì khi ấy và ở đó
mới có thể nói đến sự buộc tội nhân danh Nhà nước - chức năng

quan trọng nhất của quyền cơng tố; quyền cơng tố mang tính cụ thể,
tức chỉ xuất hiện trong trường hợp tội phạm cụ thể đã được thực
hiện và đối với những người phạm tội cụ thể, không tồn tại quyền

công tố chung chung [4, tr. 1-12],
Quyền cơng tố cũng có thể kết thúc trước khi mở phiên tịa khi có đủ
căn cứ để giải quyết vấn đề TNHS đối với người bị tình nghi phạm tội (Theo
quy định của BLTTHS năm 2015 thì quyền cơng tố có thể bị triệt tiêu trong

giai đoạn điều tra, truy tố, giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu có đủ căn cứ theo
quy định của pháp luật TTHS để đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với bị

can hoặc trước khi mở phiên tịa, VKS có căn cứ rút toàn bộ quyết định truy

tố đối với bị can theo quy định của pháp luật TTHS [14, tr. 48]
Thứ ba, quyền công tố được giao cho CQCT để thực hiện truy tố người

phạm tội ra xét xử trước Toà án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó nên quyền
cơng tố gắn liền với quyền tài phán của Tòa án. Trong khoa học pháp lý
TTHS hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố

nhưng các quan điểm này đều thống nhất khẳng định một trong những nội

dung của quyền công tố là quyền truy tố người phạm tội ra trước Toà án và


9


thực hiện việc buộc tội tại phiên tồ. Có thê nói, qun cơng tơ là bước khởi
đầu cho quyền tài phán bởi Tồ án chỉ có thể xét xử người phạm tội khi mà

CQCT đại diện cho Nhà nước truy tố người phạm tội ra trước Toà án.
Thứ tư, quyền công tố tồn tại độc lập đối với quyền tài phán của Toà án
và CQCT độc lập với cơ quan điều tra. Quyền cơng tố theo bản chất của mình
là quyền yêu cầu trừng trị công khai những hành vi phạm tội, do đó để đảm

bảo tính khách quan và sự cơng bằng thì quyền này phải độc lập với quyền tài
phán của Toà án [15, tr. 24]. Cùng với sự phát triển của Nhà nước, quyền

cơng tố dần hình thành là một chế định pháp lý độc lập trong TTHS. về mặt
ngun tắc, quyền cơng tố chỉ có thể do một cơ quan thực hiện (CQCT), độc
lập với Toà án, CQĐT.

ỉ. 1.1.2. Khái niệm thực hành quyền công tổ

Như đã phân tích ở trên, quyền cơng tố là quyền lực công của Nhà nước,
gắn liền băn chất Nhà nước. Để đảm bảo thực hiện việc truy cứu TNHS đối với

người phạm tội, Nhà nước thể chế những quyền năng pháp lý thuộc nội dung
quyền công tố vào luật TTHS và giao cho CQCT thực hiện các quyền năng đó

để phát hiện và thực hiện truy cứu TNHS đối với người phạm tội.

CQCT thực hành quyền công tố phải là một cơ quan nhà nước và là
một cơ quan độc lập với CQĐT và Toà án. Trong nghiên cứu của mình về

quyền cơng tố, C.Mác khẳng định: “■S'w’ trừng phạt là quyền của Nhà nước,
không thê chuyên giao cho tư nhân” [3, tr. 218-219]. Quyền công tố là quyền

lực công thuộc về Nhà nước nên THQCT phải do cơ quan Nhà nước được
giao tiến hành các hoạt động pháp lý quy định trong luật TTHS để thực hiện

chức năng buộc tội. Đế đảm bảo tính khách quan, cơng bằng trong quá trình

tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự thì CQCT phải là một cơ quan Nhà
nước độc lập. CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra

cũng tham gia vào quá trình buộc tội như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến

10


hành các hoạt động điêu tra nhưng CQĐT không phải CQCT mà đóng vai trị
là một thiết chế quan trọng hỗ trợ CQCT thu thập chứng cứ xác định tội
phạm, người phạm tội. Chỉ có cơ quan có thẩm quyền đầy đủ và độc lập thay

mặt Nhà nước truy tố người phạm tội ra Toà án đế xét xử và thực hiện việc
buộc tội của Nhà nước tại phiên toà mới là chủ thể THQCT [15, tr. 47],

Quyền công tố có nội dung là sự buộc tội của Nhà nước đối với người
phạm tội nên nội dung của THQCT là việc CQCT sử dụng những quyền năng

được quy định trong TTHS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội. THQCT

bắt đầu kể từ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong
suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự và kết thúc khi có

bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tịa án khơng bị kháng nghị.

CQCT cùa nước ta là hệ thống cơ quan Viện kiểm sát. Ngay từ khi
thành lập vào ngày 26 tháng 7 năm 1960, VKS đã được Nhà nước giao cho
thực hiện chức năng công tố “trụy tố trước Tồ án nhân dân những người
phạm pháp hình sự” [24, Điều 3, khoản b], bên cạnh chức năng chủ yếu khi đó
là kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đăm bào tính thống nhất của pháp

chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, pháp luật TTHS của nước

ta thời điểm trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định
phạm vi của THQCT chỉ giới hạn bắt đầu kể từ khi VKS thực hiện “kiểm sát
việc khởi tố, tự mình khởi tố vụ án hình sự và chuyền đến cơ quan điều tra để
yêu cầu tiến hành điều tra; trực tiếp điều tra” [27, Điều 141, khoản 3, điểm a]
hay “quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định

khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi

tố vụ án hình sự, khởi tố bị can” [33, Điều 36, khoản 2, điểm a]. Việc quy
định phạm vi THQCT chỉ bắt đầu kể từ giai đoạn điều tra đã giới hạn phạm vi

THQCT hẹp hơn phạm vi của quyền công tố dẫn đến câu hởi đặt ra là cơ quan
sẽ tiến hành hoạt động công tố trước khi tội phạm bị khởi tố. Bộ luật Tố tụng

11


hình sự năm 2015 đã trả lời câu hỏi đó băng cách quy định bô sung hoạt động
pháp lý TTHS của VKS trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội


phạm tại điểm a, b khoản 2 Điều 41 của Bộ luật:

- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình
sự, khởi tố bị can; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi, bổ
sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can;

- Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm;
quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định

khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định

khởi tố bị can; quyết định nhập, tách vụ án [36],

Từ đó mở rộng phạm vi của THQCT bằng với phạm vi của quyền công
tố, đồng thời, đánh giá đúng bản chất, phạm vi hoạt động pháp lý TTHS của

VKS trong việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội.

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm THQCT như sau:
Thực hành quyền công tổ là việc sử dụng quyền năng pháp lý trong tố tụng

hình sự của cơ quan công tố (tại Việt Nam là Viện kiêm sát nhân dân) đê truy

cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội ra xét xử trước tòa án và đồng thời
hảo vệ sự buộc tội đó.
Trong giới hạn của luận văn, học viên trình bày nội dung THQCT trong

giai đoạn điều tra, có nghĩa là đi tìm hiểu việc VKS sữ dụng quyền năng pháp


lý trong TTHS thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội kể từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm

đến khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án hình sự. Nội dung THQCT

trong giai đoạn điều tra bao gồm các hoạt động: khởi tố, thay đổi, hủy bỏ hoặc
phê chuấn khởi tố vụ án, khởi tố bị can; áp dụng, thay đối, hủy bỏ các biện

12


pháp ngăn chặn, cưỡng chê; yêu câu xác minh, điêu tra; hủy bỏ các qut định

tố tụng khơng có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT; quyết định việc đình chỉ
điều tra, đình chỉ vụ án...

Mặc dù Bộ luật TTHS hiện hành không quy định thủ tục tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố vào Chương X của Bộ

luật về “Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự’’, đồng thời Điều

172 của Bộ luật cũng quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu kể từ
khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra, nhưng học viên nhận định quá
trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
thuộc giai đoạn điều tra bởi lẽ, khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và

kiến nghị khởi tố, CQĐT tiến hành các hoạt động nghiệp vụ nhằm xác định có
hay khơng hành vi phạm tội để từ đó có căn cứ khởi tố hoặc khơng khởi tố vụ


án hình sự. Các tài liệu, chứng cứ CQĐT thu thập trong giai đoạn này (Biên
bán khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, Kết luận giám định, định

giá...) rất quan trọng để chứng minh tội phạm, là tiền đề, cơ sở để CQĐT tiến

hành thu thập thêm tài liệu, chứng cứ đế cùng cố hồ sơ, mở rộng điều tra. Khi
thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội

phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân cũng tiến hành một số
hoạt động tương tự trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, như: phê chuấn,

khơng phê chuẩn, hủy bở, áp dụng, thay thế biện pháp ngăn chặn; yêu cầu
CQĐT khởi tố hoặc khởi tố vụ án hình sự ... .
ĩ. 1.2. Khái niệm các tội xâm phạm trật tự công cộng

Trật tự công công là trạng thái ồn định, khơng có nhũng hành vi vượt
q tiêu chuẩn đạo đức xã hội, vượt quá khuôn khổ cho phép của Nhà nước tại

những nơi phục vụ, đảm bảo lợi ích xã hội chung cúa con người như trường

học, bệnh viện, công viên, khu dân cư ... . Trật tự công cộng là một trong
những đối tượng được luật hình sự bảo vệ. Theo quy định tại Bộ luật Hình sự
Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây xin phép gọi tắt là Bộ

13


luật Hình sự năm 2015) các đơi tượng đó là: “độc lập, chủ qun, thơng nhât,
tồn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn


hóa, quốc phịng, an ninh, trật tự, an tồn xã hội..

[37, Điều 8, khoản 1],

Dưới góc độ khoa học, khái niệm các tội xâm phạm TTCC được đề cập

dưới nhiều quan điểm nhưng chù yếu các quan điểm đó thường gộp chung
khái niệm của các tội xâm phạm TTCC với các tội xâm phạm an tồn cơng

cộng mà không định nghĩa riêng về các tội xâm phạm TTCC.
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh:
Các tội xâm phạm an toàn, TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã
hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực

hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến an tồn cơng cộng,
TTCC gây ra những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của nhân dân,
gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và của cá nhân [47, tr. 74, 401].

Theo GS.TS Trần Minh Hưởng:
Các tội phạm xâm phạm an toàn, TTCC là những hành vi nguy

hiểm cho xã hội, có lồi, do người có đủ năng lực TNHS thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào những quy định cùa Nhà

nước về an toàn công cộng, TTCC gây ra những thiệt hại về tài sản
Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của

công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường ở những nơi cơng
cộng [18, tr. 439],
Với các quan điểm này, các tác giả thống nhất các tội xâm phạm an

tồn, trật tự cơng cộng có đầy đủ những đặc điểm chung của tội phạm đó là

tính nguy hiểm cho xã hội, tính lồi và trái với luật hình sự. Tuy nhiên, để đưa
ra khái niệm riêng về các tội xâm phạm TTCC thì cần đi sâu hơn nữa về “độ

tuối chịu trách nhiệm hình sự” bởi tội dụ dồ, ép buộc hoặc chứa chấp người
dưới 18 tuồi phạm pháp và tội mua dâm người dưới 18 tuổi được quy định ở

14


các Điêu 325, 327 Bộ luật hình sự 2015 đêu có chủ thê thục hiện tội phạm
phải là người trên 18 tuổi. Cùng quan điểm như vậy, tác giả Triệu Văn Nam

phát biểu như sau:
Các tội xâm phạm TTCC là những hành vi nguy hiểm cho xã hội,

do những người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực

hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào các quy định của Nhà

nước về TTCC, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của

tổ chức, thiệt hại về tính mạng sức khỏe, tài sản của cơng dân đồng
thời cịn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở

những nơi cơng cộng [20, tr. 9-10],

Quan điểm này cũng giống như quan điểm của GS.TS Trần Minh
Hưởng khi đã đều đề cập đến khách thể được BLHS bảo vệ mà các tội xâm


phạm trật tự cơng cộng xâm phạm đó là “hoạt động bình thường, ồn định xã
hội ở những nơi cơng cộng”, nhưng học viên cho rằng khách thế chính bị các
tội xâm phạm TTCC xâm phạm phải là “hoạt động bình thường, ổn định xã
hội ở những nơi công cộng”, những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tính

mạng, sức khỏe, tài sản của công dân chỉ là những khách thế phụ nham phân

biệt giữa các tội trong nhóm tội xâm phạm TTCC.
Đồng thời, qua nghiên cứu tính lỗi của các tội xâm phạm TTCC, học

viên thấy lỗi của các tội này phải là lồi cố ý bởi lẽ người thực hiện hành vi

phạm tội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức, điều

khiển hành vi cùa mình, bàn thân người phạm tội cũng nhận thức rõ hành vi
phạm tội của mình gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả

nhưng mong muốn hậu quà xảy ra hoặc không mong muốn hậu quả xảy ra
nhưng có thái độ để mặc cho hậu quả xảy ra.

Tổng hợp lại, theo quan điềm của học viên, khái niệm cùa các tội xâm
phạm TTCC như sau:

15


Các tội xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi nguy hiêm cho xã

hội, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuối chịu trách nhiệm


hình sự thực hiện một cách cố ỷ trực tiếp, xâm phạm vào các quy định của
Nhà nước về trật tự cơng cộng, xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn

định xã hội ở những nơi công cộng gây thiệt hại về tài sản Nhà nước, thiệt hại

về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân.
Các tội xâm phạm TTCC gồm 12 tội danh được quy định từ Điều 318

đến Điều 329 Bộ luật Hình sự 2015. Dựa theo tiêu chí khách thể trực tiếp bị
xâm hại, có thề phân chia các tội xâm phạm TTCC thành hai nhóm, đó là:

Thứ nhất, nhóm các tội xâm phạm TTCC liên quan đến tệ nạn xã hội:

- Tội hành nghề mê tín, dị đoan (Điều 320);
- Tội đánh bạc (Điều 321);
- Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322);
- Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 326);
- Tội chứa mại dâm (Điều 327);
- Tội môi giới mại dâm (Điều 328);
- Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329).

Thứ hai, nhóm các tội xâm phạm TTCC liên quan đến trật tự xã hội:
- Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318);
- Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt (Điều 319);
- Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
(Điều 323);

- Tội rửa tiền (Điều 324);
- Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuối phạm pháp

(Điều 325).

Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định cấu thành cùa các tội phạm này và

các hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng trường hợp
cụ thể trên cơ sở phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt.

16


Những quy định này của BLHS năm 2015 là các quy phạm vê luật nội dung

mà hoạt động công tố trong giai đoạn điều tra phải chứng minh làm rõ, trên cơ
sở đó xác định tính có càn cứ đế truy tố người phạm tội ra trước tòa án.
1.1.3. Đặc điểm thực hành quyền công tổ trong giai đoạn điều tra các

tội
trật
• xâm Iphạm
t
• tự
• cơng
O cộng
• O

Ở nước ta, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tổ nhằm đảm bảo:

- Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng


tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội

phạm và người phạm tội;
- Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế
quyền con người, quyền công dân trái luật [35, Điều 3, khoản 2],

Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền quyết định việc khởi tố hay
không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can (xét phê chuẩn, hủy bỏ quyết định
khởi tố không, các quyết định này có căn cứ và phù hợp pháp luật của

CQĐT), việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội. Khi
VKSND khơng chấp nhận việc khởi tố thì yêu cầu CQĐT hủy bỏ và ra quyết

định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố, điều tra mà xác định khơng
có tội phạm hoặc khơng có căn cứ truy cứu trách nhiệm đối với bị can thì vụ

án phải đình chi và chấm dứt mọi hoạt động tố tụng.

Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra các tội xâm phạm
trật tự cơng cộng có những đặc điểm chung của thực hành quyền công tố của

Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra đó là:

Một là, trong khi hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ
việc phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả chứng cứ buộc tội và chứng

cứ gỡ tội thì hoạt động cơng tố nhằm thực thi quyền truy cứu trách nhiệm
hình sự, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội; quyết định việc hạn chế các

17



quyên công dân như băt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác;

quyết định việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật.
Hai là, thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra bao gồm hành
vi và các quyết định tố tụng mang tính cơng khai theo trình tự, thủ tục, thấm
quyền tố tụng do pháp luật quy định. Các quyết định công tố thể hiện dưới

dạng văn bản của người có thẩm quyền như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can.
Các quyết định tố tụng của VKSND đều được gửi cho những người có liên

quan theo quy định của pháp luật.
Ba là, các hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra
đều nhân danh nhà nước, chịu sự lãnh đạo tập trung của Viện trưởng VKSND

mỗi cấp và chịu sự lãnh đạo thống nhất cùa Viện trưởng VKSNDTC. VK.SND

cấp trên có quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không có căn cứ và trái
pháp luật của VK.SND cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật.

Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra, CQĐT cấp trên khơng có quyền

rút hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT cấp dưới.

Bốn là, thực hành quyền cơng tố trong hoạt động điều tra có đặc điểm
khác với hoạt động kiểm sát điều tra. Tuy cùng một chù thể tiến hành là VKS

nhưng đối tượng của thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra là sự


việc phạm tội, hành vi phạm tội và người phạm tội, còn đối tượng của hoạt
động kiểm sát điều tra là các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra (Cơ quan

điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra), nếu phát
hiện có hành vi vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ

thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm.
Năm là, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, song

song với việc xem xét đánh giá những tài liệu, chứng cứ để buộc tội, VKS

cũng phải xem xét, đề ra các yêu cầu điều tra đế tìm kiểm, xem xét, đánh giá

18


những tình tiêt gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đôi với người phạm tội.

Đây là đặc trưng của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều
tra với hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử bởi trong

giai đoạn xét xử, khi thực hành quyền công tố, VKS chỉ thực hiện nhiệm vụ
quan trọng nhất là bảo vệ bản cáo trạng và đề nghị mức hình phạt đối với
người phạm tội.
Ngồi những đặc điểm trên, thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra

các các tội xâm phạm trật tự công cộng cịn có những đặc điếm riêng như sau:
Một là, các tội xâm phạm trật tự công cộng thường phức tạp, khó phân
loại hành vi phạm tội của những người thực hiện hành vi phạm tội bởi các vụ

án thường cỏ nhiều đối tượng, cùng thực hiện một hoặc nhiều hành vi vi

phạm pháp luật (tội gây rối trật tự công cộng, tội đánh bạc, tội tổ chức đánh

bạc hoặc gá bạc, tội môi giới mại dâm, tội chứa mại dâm, tội rửa tiền), trong
quá trình điều tra, các đối tượng tìm mọi cách để đổ lỗi cho nhau hoặc che

giấu hành vi phạm tội của người khác. Do đó, khi thực hành quyền công tố,

Kiểm sát viên được phân công trước hết phải phối hợp với cán bộ kiềm sát

việc tạm giữ, tạm giam đảm bảo các đối tượng bị tạm giữ, tạm giam riêng rẽ,

tránh việc các đối tượng thông cung, cản trở hoạt động điều tra. Đồng thời,
Kiểm sát viên phải phối hợp với Điều tra viên hỏi cung các bị can để đánh giá
tính trung thực trong lời khai của các đối tượng, qua đó phân loại mức độ

nguy hiểm, tính chất đồng phạm của các đối tượng. Điều 50 Quy chế công tác

thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành
kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng

Viện kiếm sát nhân dân tối cao quy định về kỹ năng tiến hành hởi cung của

Kiểm sát viên như sau:
Khi nhận được thông báo của Điều tra viên, Cán bộ điều tra về việc

tiến hành hòi cung bị can, nếu xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên trực

19



×