Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

SKKN dạy LỊCH sử THEO HƯỚNG TÍCH cực

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.35 MB, 25 trang )

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 24 tháng 12 năm 2021

BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I. Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Nam/Nữ: Nam
- Ngày tháng năm sinh: 30/10/1981
- Nơi thường trú:
- Đơn vị công tác:
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên dạy lớp
- Lĩnh vực công tác:
II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị :
Trường Tiểu học Trần Phú được thành lập từ năm 1951 nằm bên cạnh quốc lộ 91
thuộc phường Mỹ Thạnh ngoại ô thành phố Long Xuyên, năm 2006 trường được công
nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ I.
Cơ sở vật chất : Trường gồm 27 lớp học từ khối 1 - 5, hiện tại trường còn thiếu 6
phòng học và 4 phòng chức năng, trường được trang bị đầy đủ các thiết bị cần thiết để
phục vụ cho công tác giảng dạy đạt hiệu quả tốt nhất.
Tình hình dạy và học : Giáo viên ln biết cách phát huy tính học tập tích cực, chủ
động trong học tập của các em học sinh, khơi lên được trong các em tính tích cực học
tập, tích cực tham gia xây dựng bài, đóng góp ý kiến, phát biểu xây dựng bài học, học
sinh chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức, có tinh thần tự giác trong học tập, trong q
trình học tập học sinh ln năng động và hiểu biết sâu về kiến thức, tự tin về kỹ năng,
góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy hiệu quả giảng dạy luôn đạt được kết quả tốt
nhất. giáo viên luôn thực hiện tốt công tác chủ nhiệm nhằm vận động học sinh không bỏ
học và đi học đều luôn ra sức giáo dục các em thành người tốt.
Đặc điểm giáo viên :
 Giáo viên luôn không ngừng học hỏi nâng cao tay nghề trình độ chuyên môn


kỹ năng nghiệp vụ để luôn đáp ứng được những nhu cầu về chuyên môn.
 Tăng cường học hỏi các đồng nghiệp để ngày càng hoàn thiện bản thân.
 Tạo mối quan hệ thật tốt giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh để kịp thời
phản ánh và tìm hiều về đặc điểm cá nhận của từng học sinh từ đó có biện pháp giáo dục
các em tốt hơn.

1


Trước những đặc điểm của trường ở gốc độ là một giáo viên chủ nhiệm lớp 5D
tôi xin nêu ra một số thuận lợi và khó khăn trong cơng tác chủ nhiệm ở lớp 5 cụ thể như
sau:
1. Thuận lợi:
+ Luôn được sự quan tâm Ban giám hiệu (BGH), Tổ chuyên môn, sự phối hợp
thuận lợi với bộ phận khác của nhà trường và ngoài xã hội, sự học tập tích cực của học
sinh, và sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh học sinh.
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ dạy và học sinh được trang bị khá đầy
đủ đáp ứng được các nhu cầu dạy và học.
2. Khó khăn:
+ Đầu năm học 2021-2022 được Ban Giám Hiệu nhà trường phân công giảng
dạy và chủ nhiệm lớp NĂM D. GVCN cũ cho biết đây là lớp có nhiều em chưa thật sự
hứng thú học tập, nhiều em học tập chưa tích cực nhất là mơn Lịch sử.
+ Chỉ một số ít các phụ huynh quan tâm đến việc học của các em.
+ Một số phụ huynh phải tất bật lo cho cuộc sống, ít có điều kiện để quan tâm,
chăm sóc con cái (như đi làm xa tận TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương, vài tháng mới
về 1 lần, gởi con ở nhà ngoại, nội, dì, cậu, chú, bác, …)
+ Nhiều em có hồn cảnh khó khăn. Ngồi giờ học cịn phải phụ giúp gia đình,
nhà xa, ít dành thời gian cho việc học.
+ Đa số học sinh chưa ý thức tự học tập ở nhà.
- Tên sáng kiến: “ Dạy học Lịch sử theo hướng tích cực để tạo hứng thú học

tập cho học sinh lớp năm D ở trường Tiểu học Trần Phú”.
- Lĩnh vực: Nghiên cứu phương pháp dạy và công tác chủ nhiệm ở lớp năm.
III.

Mục đích yêu cầu của sáng kiến

1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến.
Để dạy tốt môn Lịch sử ở trường tiểu học đạt hiệu quả cao, đòi hỏi người giáo
viên phải có kiến thức lịch sử, phải nắm chắc nội dung và phương pháp tổ chức quá trình
dạy học. Đây là một hoạt động nhận thức về lịch sử mà nhất là lịch sử nước nhà, nếu
giải quyết được vấn đề này sẽ có tác dụng khơng nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy
học cho mơn Lịch sử nói chung và mơn Lịch sử lớp 5 nói riêng.
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học là cả một vấn đề rất quan trọng,
đây là con đường giúp học sinh tiếp cận với tri thức mới. Nhằm thay đổi phương pháp
học tập của học sinh từ xưa tới nay là: “thầy giảng - trò nghe; thầy đọc - trò chép” và
cách ghi nhớ máy móc. Theo quan niệm dạy học mới, dạy học là quá trình phát triển, là
quá trình học sinh tự khám phá, tự tìm ra chân lý.
Cũng như các môn học khác, phương pháp dạy học lịch sử cũng đổi mới theo
định hướng đó. Tuy vậy, cần xem xét những yếu tố đặc trưng của bộ môn. Mà đặc trưng
2


nổi bật của nhận thức lịch sử là con người khơng thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về
q khứ. Mặt khác, lịch sử là những việc đã diễn ra, là hiện thực đã tồn tại trong quá
khứ, là tồn tại khách quan khơng thể dùng cách phán đốn, suy luận,… để biết lịch sử.
Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của việc dạy lịch sử là tái tạo lịch sử, tức là cho học
sinh tiếp nhận những thông tin từ sử liệu, tiếp xúc với những chứng cứ vật chất, những
dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về
các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Những biểu tượng về con người và hành động của họ
trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Vậy

tái tạo lịch sử bằng những phương thức nào? Trước hết phải kể đến lời nói sinh động,
giàu hình ảnh của giáo viên. Đó là tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của
nhân vật lịch sử.
Trong thời gian qua, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và đi thi đại học có
điểm thi mơn Lịch sử khơng những thấp mà cịn có kiến thức rất mơ hồ về lịch sử. Chứng
tỏ các em không trú trọng việc học môn lịch sử từ những năm học ở tiểu học nên các em
bị hổng kiến thức một cách nghiêm trọng.
Bác Hồ cũng đã từng nhắc nhở: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước
nhà Việt Nam”. Nhưng hầu hết các em khơng thích học mơn Lịch sử, nắm kiến thức lịch
sử còn rất mơ hồ. Điều này rất đáng lo ngại và là một câu hỏi lớn cho những người làm
cơng tác giáo dục.
Chính vì lẽ đó mà tơi đã tìm tịi, học hỏi để tìm ra một số giải pháp dạy học theo
hướng tích cực mơn Lịch sử lớp 5. Nhằm làm cho việc học tập của các em trở nên lí thú,
gắn bó với thực tiễn và phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của các em. Để phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo theo phương pháp đổi mới “lấy học sinh làm trung tâm”,
thay đổi thói quen học tập thụ động theo hình thức bấy lâu nay giáo viên chúng ta thường
áp dụng như: “Thầy giảng trò chép và về nhà học thuộc” nhằm để trả bài lấy điểm, ghi
nhớ máy móc. Đó là “học vẹt”, học xong là quên ngay theo hướng học để lấy điểm mà
các em bị gị ép. Đó cũng là lí do để tơi chọn đề tài: Dạy học Lịch sử theo hướng tích
cực để tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp năm.
Giáo viên cần kích thích và phát huy được tính học tập tích cực, chủ động trong
học tập của các em học sinh, khơi lên được trong các em sự hứng thú khi học, khơi lên
được tính tích cực học tập, tích cực tham gia xây dựng bài, đóng góp ý kiến, phát biểu
xây dựng bài học, chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức, có tinh thần tự giác trong học
tập, khi trên lớp hoặc ở nhà hay bất cứ nơi nào mà các em có thể lĩnh hội kiến thức của
mơn học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy để hiệu quả giảng dạy đạt được một
kết quả tốt nhất.
Trong quá trình giảng dạy và tìm hiểu phương pháp dạy lịch sử của rất nhiều
đồng nghiệp tôi được biết: Đa số giáo viên lên lớp với hình thức thầy truyền thụ kiến
thức có sẵn trong tài liệu, sách giáo khoa với các phương pháp dạy học cũ. Một số trường

có giáo viên lên lớp khơng có đồ dùng dạy học, chỉ có một số rất ít giáo viên có ý thức
nghiên cứu bài dạy trước khi lên lớp và sử dụng hợp lý đồ dùng dạy học, giáo viên rất
3


ít định hướng việc học tập ở nhà của học sinh, cuối tiết học việc dặn dò về nhà củng rất
ít. Nhìn chung các giáo viên chưa đi sâu nghiên cứu để khám phá phương pháp dạy học
cho phù hợp để đạt hiệu quả, hay nói một cách khác là giáo viên dạy lịch sử chưa biết
đổi mới phương pháp dạy học để phát huy khả năng vốn có của học sinh, chưa tạo điều
kiện hoặc động lực để giúp các em tự nâng cao chất lượng học tập của mình. Điều đáng
buồn hơn là đại đa số giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và ngay cả giáo viên chủ
nhiệm hiện vẫn cịn xem nhẹ phân mơn lịch sử vì cho rằng mơn lịch sử chỉ là một môn
phụ không gây ảnh hưởng đến kết quả học lực của học sinh, ít tác động đến chất lượng
giáo dục từ đó bản thân học sinh và một số giáo viên lịch sử còn thật sự chưa hứng thú
với phân mơn của mình chưa thật sự phát huy hết khả năng giảng dạy, chưa đầu tư kĩ
chuyên môn. Một số giáo viên không thật sự quan tâm đến học sinh, khơng tìm hiểu đặc
điểm cá nhân của mỗi học sinh, không hiểu được tâm tư nguyên vọng của học sinh, từ
đó việc dạy và học bị sao lãng. Có thể nói đây là vấn đề bức xúc, là trở ngại lớn để thực
hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cá nhân học sinh.
Để thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về bộ môn lich sử ở trường Tiểu học, tôi đã đi xâm nhập thực tế và dự giờ ở một số
trường có giáo viên , khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh tại trường, từ đó rút ra
một số phương pháp áp dụng giảng dạy nhằm phát huy tính học tập tích cực, chủ động
và sáng tạo của học sinh khi học lịch sử ở bậc Tiểu học.
Ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành thăm lớp, dự giờ nhằm tham khảo quá trình
dạy và học của một số trường và tìm hiểu tình hình học lịch sử, về việc học sinh có thật
sự u thích mơn học này hay không, khảo sát chất lượng của học sinh ở trường và các
trường lân cận bằng hình thức dự giờ, tôi thấy một kết quả thật đáng buồn. Kết quả khảo
sát của tất cả các lớp dự giờ cho thấy chỉ có một số ít em và một ít lớp của các trường là
thực hiện tốt còn lại là khơng đạt. Xét về hứng thú học tập thì các em học sinh đều khơng

thích học mơn này, xét về tính học tập tích cực chủ động thì cịn rất hạn chế các em cịn
lơ là thụ động thậm chí chán nản khơng tích cực học tập đây là một thực trạng rất đáng
lo ngại đối với kết quả học tập của học sinh đối với môn học này . Nếu đội ngũ giáo viên
của chúng ta không biết đổi mới phương pháp dạy học, không tạo điều kiện phương tiện
để giúp đỡ các các em trong việc học tập tích cực chủ động thì sẽ khơng có được kết quả
cao trong việc dạy và học.
Từ những vấn đề trên tơi đã tìm hiểu ra ngun nhân để có hướng khắc phục
những tồn tại trong việc dạy và học.
 Nguyên nhân và các yếu tố tác động:
- Nguyên nhân lớn vẫn là giáo viên chưa biết phối, kết hợp các phương pháp
sao cho hợp lý để áp dụng vào trong bài dạy, truyền thụ kiến thức phải mang tính vừa
sức, phù hợp với lứa tuổi để giúp các em học sinh chưa hồn thành, các em chưa theo
kịp xố bỏ những mặc cảm tự ti .
- Trong quá trình giảng dạy đa số giáo viên vẫn sử dụng các phương pháp cũ
trong tiết dạy không biết sử dụng đồ dùng dạy học, chưa thu hút được sự yêu thích, ham
muốn của học sinh đối với môn học này.
4


- Do học sinh không nắm bắt kiến thức từ lớplớp dưới và không được giúp đỡ
trong việc học ở nhà nên chưa nắm được kiến thức của bài chưa thực hiện theo yêu cầu
của bài đưa ra nên các em cảm thấy chán khơng thích học mơn này nữa do đó chất
lượng dạy và học của mơn học cũng khơng thể có kết quả tốt được.
- Quan trọng là giáo viên thật sự chưa tạo được sự hứng thú ở học sinh khi học
lịch sử nên không phát huy được tính tích cực học tập ở học sinh ngay cả trên lớp học
và ở nhà, học sinh chưa tìm thấy được sự hứng thú khi học vì thế chưa chủ động trong
giờ học nên hiệu quả học tập không cao.
- Ngành giáo dục, nhà trường, giáo viên dạy nhạc, phụ huynh học sinh thật sự chưa
hỗ trợ đầy đủ để giúp cho học sinh có thể phát huy tính học tập tích cực và chủ động
của mình một cách có hiệu quả để các em thích thú với phân môn lịch sử.

- Đa phần giáo viên âm nhạc chưa vận dụng CNTT vào việc giảng dạy và hỗ trợ
giúp đỡ học sinh của mình.
- Giáo viên chưa thực hiện và phát huy vai trò của đồ dùng dạy học tự làm để nâng
cáo chất lượng giảng dạy.
Vậy làm thế nào để có thể kích thích được sự hứng thú ham học tập ở học sinh
khi học môn lịch sử, làm thế nào để học sinh lớp năm thật sự có thể phát huy tính học
tập tích cực chủ động của mình để mạng lại hiệu quả cao trong học tập, làm thế nào để
có thể giúp đỡ các em trong việc tự học hay chủ động học tập khi học lịch sử ở tiểu
học? Điều đó phụ thuộc rất lớn vào phương pháp, cách tổ chức dạy học của giáo viên.
Mỗi chúng ta đều phải biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học và đổi mới
phương pháp giảng dạy thì mới phát huy được hết khả năng của học sinh, tự các em tìm
ra kiến thức cho bản thân mình mới thật sự đạt hiệu quả cao trong học tập.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến.
Bản thân dựa trên các Thông tư, Quyết định, Công văn do Bộ giáo dục và đào
tạo, Sở giáo dục và đào tạo Tỉnh An Giang, Phòng giáo dục và đào tạo Thành phố Long
Xuyên ban hành để làm căn cứ cho công tác hoạt động giáo dục và làm mục tiêu để chất
lượng giáo dục đạt được các kết quả tốt nhất.
Trong tình hình hiện nay, việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm nó địi hỏi ở
học sinh một yêu cầu cao là học sinh phải chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập.
Q trình dạy học này gồm hai mặt quan hệ hữu cơ với nhau: Hoạt động dạy của giáo
viên và hoạt động học của học sinh. Người giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy với
hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức. Điều cần chú ý trong học tập là phải
hoạt động một cách tích cực chủ động có nhận thức sâu sắc. Bằng hoạt động học tập học
sinh tự hình thành và phát triển nhân cách của mình khơng ai có thể làm thay được.
Như vậy, dạy học phải xây dựng trên nhu cầu hứng thú, thói quen, năng lực của
học sinh ở các trình độ khác nhau nhằm làm cho học sinh lĩnh hội được những kiến thức,
kĩ năng, kĩ xảo, thái độ giá trị cần thiết, phát huy được đầy đủ năng lực của các em.Vai
trò của giáo viên là truyền đạt tri thức, là người hướng dẫn, người cố vấn là người hỗ trợ
người định hướng trong việc học tập cho học sinh trong việc học tập tích cực chủ động.
5



Hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin nên việc học sinh tiểu
học được tiếp cận với lịch sử rất thuận lợi, Nên trong các giờ học nếu không tạo được
hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu kiến thức cơ bản sẽ làm cho học sinh nhàm
chán, khơng thích học vì vậy tơi nghĩ, nếu giáo viên phát huy được tính học tập tích cực
và chủ động trong giờ dạy sẽ giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn trong quá trình
học tập và sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn.
Từ những lý do nói trên, bản thân tơi nhận thấy việc học tập tích cực ở học sinh
để nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử ở lớp năm là một trong những giải pháp hết
sức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học . Vì vậy nó là động lực giúp
tơi đi sâu nghiên cứu đề tài này.
Học tập tích cực để thu hút sự hứng thú nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, ni
dưỡng ở các em lịng tự giác học hỏi tính chủ động trong việc không ngừng vươn tới
những đỉnh cao của việc nắm bắt kiến thức, ln tìm tịi học tập cái mới, tích cực sáng
tạo cái đã học vào hoạt động thực tiễn.
Là một giáo viên giảng dạy bản thân tôi nhận thấy việc “ Dạy học Lịch sử theo
hướng tích cực để tạo hứng thú học tập cho học sinh lơp năm nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy ” là một trong những yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết.
3. Nội dung sáng kiến.
Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của việc “ Dạy học tích cực để tạo hứng thú
học tập mơn Lịch sử ở học sinh lớp năm để nâng cao chất lượng dạy học ” tôi đã nghiên
cứu và đổi mới phương pháp dạy bằng cách hướng vào giải quyết những vấn đề sau:
 Bản thân giáo viên không ngừng tự hồn thiện bản thân để ln là người thầy
gương mẫu về đức tính học tập tích cực chủ động và sáng tạo để các em noi theo.
 Giáo viên luôn khơng ngừng học hỏi nâng cao tay nghề trình độ chuyên môn
kỹ năng nghiệp vụ để luôn đáp ứng được những nhu cầu về chuyên môn.
 Cung cấp cho các em đầy đủ các yếu tố cần thiết để các em có thể chủ động
lĩnh hội kiến thức mọi lúc mọi nơi .
 Giúp giáo viên và học sinh chuẩn bị và sử dụng tốt đồ dùng dạy học và một số

phương pháp như sử dụng đồ dùng dạy học, giảng dạy bằng bài giảng điện tử, tổ chức
cnhiều buổi học ngoại khóa….
 Ln tìm hiểu và nghiên cứu để tạo ra nhiều đồ dùng dạy học tự làm để phục
vụ cho tiết dạy đạt hiệu quả cao.
 Cải thiện phương pháp dạy mơn Lịch sử để có phương pháp và hình thức tổ
chức dạy học đạt hiệu quả cao nhất.
Xuất phát từ nhận thức trên, người giáo viên tập trung hết tâm trí, tình cảm của
mình vào cơng việc quan trọng này. Từ đó có thể xây dựng được những phương pháp
giảng dạy có hiệu quả và áp dụng cho bất cứ năm học nào.
Và sau đây là những giải pháp, những kinh nghiệm về công tác giảng dạy mà tôi
đã và đang áp dụng nhằm tạo được sự hứng thú cho học sinh lớp năm khi học môn lịch
sử.
6


3.1. Biện pháp 1: Điều tra, khảo sát để đưa ra các các mơ hình dạy học,
các hình thức dạy học, các giải pháp dạy học tích cực khi dạy lịch sử lớp năm.
Sau khi đi đến quyết định nghiên cứu để tìm hướng đi cho phương pháp dạy học
lịch sử lớp năm theo hướng tích cực, tơi bắt đầu lên phương án, kế hoạch cho việc điều
tra, khảo sát một số giáo viên và học sinh.
- Về phía giáo viên: Khi được hỏi về phương pháp dạy học môn Lịch sử, đa số
giáo viên chỉ trả lời là chủ yếu dùng phương pháp hỏi đáp để học sinh tìm hiểu và rút ra
được nội dung bài học. Còn về kiến thức lịch sử thì chưa được tìm hiểu sâu sắc về ý
nghĩa của sự kiện và nhân vật tiêu biểu của lịch sử từng giai đoạn đó.
- Về phía học sinh: Hầu hết các em được hỏi đều trả lời là khơng thích học mơn
Lịch sử. Tơi hỏi vì sao? Các em đều trả lời là do môn học hơi khô khan và làm sao mà
nhớ hết thời gian và các mốc diễn ra các sự kiện. Hơn nữa khi tơi hỏi thì học sinh tìm
trong SGK để trả lời, song về đến nhà là quên ngay. Trước những vấn đề đó thì tơi đã
đưa ra các tiêu chí giải pháp khi dạy học môn Lịch sử như sau.
3.1.1.


Các tiêu chí chọn giải pháp dạy mơn Lịch sử.

Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường tiểu học là quá trình áp dụng
phương pháp dạy học hiện đại vào nhà trường, trên cơ sở phát huy những yếu tố tích
cực của phương pháp dạy học truyền thống nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học
tập của học sinh: Chuyển từ học tập thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang học tập
tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Để đổi mới phương pháp học tập của học sinh,
tất nhiên phải đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên. Đổi mới phương pháp dạy
học là quá trình:
- Chuyển từ giáo dục truyền thụ một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi
nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng
hình thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên.
- Đổi mới hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học tập của học sinh trở nên
lí thú, gắn với thực tiễn, gắn với cuộc sống; kết hơp dạy học cá nhân với dạy học theo
nhóm nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa học sinh trong quá trình học
tập.
Muốn làm tốt được những vấn đề trên, việc đầu tiên giáo viên phải đưa ra được
một “mô hình dạy học” theo quan điểm đổi mới. Tơi xin đưa ra “mơ hình dạy học theo
quan điểm đổi mới như sau:
3.1.2. Mơ hình dạy học tích cực
- Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập:
Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt, phần nêu vấn
đề của giáo viên phải đạt được các yêu cầu sau:
+ Lời dẫn phải súc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh.
7


+ Phải đề cập tới cốt lõi của bài học.

+

Tạo ấn tượng, gợi trí tị mị của học sinh.

- Tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu:
Việc tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (kênh chữ, kênh hình) trong
SGK, giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, nhân vật lịch sử. Đây là khâu
cực kỳ quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu khơng dựa trên các hình ảnh
của sự kiện thì học sinh khơng thể nhận thức được tư duy. Ở bước này có thể thực hiện
bằng các biện pháp sau:
+ Giáo viên trình bày các sự kiện, nhân vật lịch sử bằng phương pháp tường thuật,
miêu tả, kể chuyện kết hợp với các phương pháp trực quan để học sinh thấy rõ được
hình ảnh quá khứ.
+ Trong tiết học thế này thì đồ dùng dạy học góp phần vơ cùng quan trọng, giáo
viên có thể sử dụng tranh minh họa, video hoặc mơ hình về nhân vật hoặc sự kiện lịch
sử để học sinh có thể tiếp nhận một cách trực quang từ đó học sinh sẽ rất thích thú với
tiết học và lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất.
+ Học sinh làm việc với các sự kiện được trình bày trong SGK.

. Giáo viên sử dụng Tranh và bảng đồ để dạy học trong giờ học Lịch sử
-

Tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập:
+ Bước 1: Giáo viên tồ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ
8


học tập mà bản thân đã nêu ở đầu giờ học hoặc đầu mỗi phần bài học. Ở bước này ta có
thể cho học sinh tự giải quyết vấn đề một mình hoặc có thể tổ chức hoạt động học tập
theo nhóm của lớp để cùng giải quyết vấn đề mà giáo viên đưa ra.


Học sinh báo cáo vấn đề mà giáo viên đưa ra

+ Bước 2: Học sinh có thể trình bày ý kiến cá nhân (viết hoặc nói) cũng có thể trao
đổi, thảo luận trong nhóm để rút ra những ý kiến chung.
-

Kết luận vấn đề:

Giáo viên cho học sinh nhận xét đánh giá những ý kiến cá nhân hoặc nhóm xem
các bạn nói đúng hay sai, cần bổ sung thêm gì khơng? Sau đó giáo viên kết luận:
9


+ Khẳng định những kết quả học tập của những học sinh.
+ Chốt lại những vấn đề cần nắm chắc của bài học.
+ Tuyên dương những học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Dựa vào mơ hình bài học và nội dung bài học, giáo viên sẽ đưa ra được các hình
thức dạy học phù hợp, linh hoạt. Nội dung cụ thể trong SGK môn Lịch sử lớp 5 chủ yếu
đưa ra hai loại bài cơ bản, đó là:
3.1.3. Hình thức dạy học tích cực
+ Loại bài cung cấp kiến thức mới.
+ Loại bài ôn tập tổng kết.
+ Loại bài cung cấp kiến thức mới đề cập tới các nội dung:
+ Tình hình kinh tế - chính trị, văn hố - xã hội...
+ Hoạt dộng của một số nhân vật lịch sử...
+ Các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch, tiến công...
3.1.4.

Các giải pháp dạy học các dạng bài theo hướng tích cực


- Bài học có nội dung về tình hình kinh tế - chính trị, văn hố - xã hội...
+ Trong chương trình lớp 5 là các bài: bài 4; bài 12; bài 13; bài 16; bài 19; bài
21; bài 27 và bài 28.
+ Dạng bài này có nhiều ở phần Lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho học sinh những
hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta sau mỗi thời kỳ (mỗi giai đoạn
nhất định). Để dạy tốt dạng bài này giáo viên cần:
 Phải mơ tả được tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó)
như thế nào? Tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân như thế nào?
 Trong tình cảnh đó, chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm
gì, làm như thế nào?
 Kết quả của việc làm đó ra sao?
+ Vì vậy, khi dạy loại bài này giáo viên triệt đề sử dụng phương tiện trực quan:
tranh ảnh, kênh hình kết hợp với mơ tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh động về sự
kiện, hiện tượng, rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, cảm nhận và liên
hệ để học sinh thấy rõ giá trị văn hoá nghệ thuật trong đời sống tinh thần.

10


Giáo viên cho học sinh xem phim tài liệu về lịch sử trong giờ học lịch sử

+ Ví dụ: Khi dạy bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” giáo viên phải giúp học
sinh nắm được:
 Tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám như thế nào? (Khó khăn
chồng chất: Các đế quốc, các thế lực phản động chống phá cách mạng; lũ lụt, hạn hán,
nơng nghiệp đình đốn dẫn tới nạn đói, nạn dốt...)
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để giải quyết nạn đói, nạn dốt và giặc
ngoại xâm? (Lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”, kêu gọi tăng gia sản xuất
với khẩu hiệu: “Không một tấc đất bỏ hoang!”, “Tấc đất tấc vàng”, phát động “Tuần lễ

vàng”. Phát động phong trào xoá nạn mù chữ; Ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo...).
 Kết quả của những biện pháp đó là gì? (Từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc
dốt và giặc ngoại xâm).
- Dạng bài có nội dung về nhân vật lịch sử:
+ Trong chương trình SGK Lịch sử lớp 5, dạng bài này có ở các bài: bài 1, bài 2,
bài 5, bài 6.
+ Ở dạng bài này, trong chương trình tiểu học lớp 5 không giới thiệu tiểu sử của
các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiệp của các nhân vật để
làm sáng tỏ lịch sử dân tộc. Như vậy, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự kiện

11


lịch sử. Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện lịch sử để làm nổi bật những hoạt
động và công lao to lớn của nhân vật.
+ Khi dạy những bài này, giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:
 Mỗi một bài đều có hình ảnh (tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử
để giúp học sinh nhận biết diện mạo cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật. Giáo
viên cần sử dụng và khai thác tốt những bức ảnh này để phục vụ nội dung bài học.
 Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là
người như thế nào? (Sinh ra khi nào? Ở đâu? Làm gì? Có đặc điểm, tính cách gì nổi
bật?…)
 Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ
sở cho việc đánh giá khách quan cơng lao của các nhân vật đó đối với lịch sử dân tộc.
 Trên cơ sở khai thác những nội dung đó, giáo viên tiến hành giáo dục tư
tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lịng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với
nhân vật lịch sử.
+ Thông thường đối với dạng bài này, giáo viên nên sử dụng các phương pháp
như kể chuyện, sắm vai,… giáo viên có thể vừa là người dẫn truyện, trực tiếp kể chuyện,
có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp học sinh nắm vững cốt truyện. Ngoài ra có thể cho

học sinh sắm vai.
+ Ví dụ: Khi dạy bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” giáo viên có thể dùng
nhiều phương pháp như:
 Phương pháp kể chuyện: Tìm hiểu về quê hương và thời niên thiếu của
Nguyễn Tất Thành.
 Phương pháp sắm vai: Ở cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Tất Thành và anh tư

Lê.

Giáo viên cho học sinh đóng vai các nhân vật lịch sử trong giờ học lịch sử
12


- Dạy học các bài có nội dung đề cập tới các cuộc khỡi nghĩa, kháng chiến,
chiến dịch, tiến công,…
+ Trong sách giáo khoa là các bài: Bài 3, bài 7, bài 8, bài 9, bài 14, bài 15, bài
17, và bài 20.
+ Đây là loại bài có nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Do đó,
giáo viên phải tái hiện sự kiện sinh động cụ thể. Sử dụng câu hỏi về sự phát sinh của sự
kiện: nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh, bối cảnh lịch sử của sự
kiện. Đây là một đặc điểm tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh.
+ Mặt khác, đối với loại bài này phần quan trọng nhất là trình bày diễn biến, phát
triển của sự kiện lịch sử. Vì vậy phải cho học sinh nắm vững mốc thời gian bắt đầu diễn
ra sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, các đường tiến công, diễn biến trận đánh
bằng cách nêu vấn đề, câu hỏi,… sử dụng lược đồ hoặc có trình chiếu bằng ti vi.
+ Sau phần diễn biến là hướng dẫn học sinh tìm hiểu kết quả sự kiện đó và rút ra
ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm. Đối với loại bài này giáo viên giúp học sinh nhận
thức mối quan hệ nhân quả của sự kiện, thắng lợi hay thất bại đều có ảnh hưởng nhất
định đối với lịch sử.
+ Với dạng bài này thì miêu tả, tường thuật kết hợp với trực quan, sử dụng lược

đồ hoặc trình chiếu qua ti vi là chủ đạo. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự tìm
hiểu về tư liệu lịch sử rồi mơ tả, tường thuật lại diễn biến của sự kiện. Giáo viên có vai
trò hỗ trợ, bổ sung, giúp học sinh tái hiện lại lịch sử, xây dựng lại biểu tượng lịch sử một
cách hồn chỉnh hơn.
+ Ví dụ: Khi dạy bài “Chiên thắng lịch sử Điện Biên Phủ”, giáo viên cần kết hợp
trực quan với tường thuật để tái hiện 3 đợt tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ (sử
dụng lược đồ hoặc mơ hình chiến dịch Điện Biên Phủ - giáo viên vừa tường thuật vừa
chỉ trên lược đồ).

- Dạng bài ôn tập, tổng kết:

Giáo viên sử dụng lược đồ và tranh để dạy trong giờ học lịch sử

+ Đây là loại bài học nhằm hệ thống hoá và củng cố lại những kiến thức đã học
13


cho học sinh sau mỗi một thời kỳ (mỗi giai đoạn lịch sử), giúp các em nắm vững kiến
thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn.
+ Đối với loại bài này giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho học sinh, lựa chọn
phương pháp phù hợp đề mang lại hiệu quả tiết dạy cao. Đặc biệt giáo viên dựa vào câu
hỏi trong SGK, thiết kế hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị trước. Trong tiến trình
dạy học, giáo viên phải thu hút học sinh vào cơng việc, phát huy cao nhất tính tích cực
của học sinh trong việc trao đổi những câu hỏi mà giáo viên đặt ra, thực hiện các công
việc như vẽ sơ đồ, lập bảng niên biểu, thống kê tìm các dẫn chứng,... Đây là yêu cầu
quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng rèn luyện bộ môn.
+ Thông thường đối với dạng bài ôn tập, tổng kết, giáo viên vận dụng tổng hợp
nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái qt hố) kết hợp với vấn đáp, tìm tịi, tổ
chức làm việc theo nhóm. Tuỳ từng phần nội dung cụ thể mà giáo viên lựa chọn phương
pháp cho phù hợp. Trong đó, hoạt động nhóm, báo cáo kết quả là những phương pháp

chiếm nhiều thời gian nhất, ngồi ra có thể sử dụng trị chơi lịch sử.
+ Ví dụ: Khi dạy bài ơn tập: “Chín năm kháng chiến, bảo vệ độc lập dân tộc
(1945- 1954). Sau khi vào bài giáo viên có thể nêu hệ thống câu hỏi (dựa vào SGK) để
học sinh suy nghĩ và tập trung giải quyết các vấn đề:
 Tình hình đất nước sau Cách Mạng Tháng 8 thành cơng?
 Chín năm kháng chiến chống Pháp bất đầu năm nào? Kết thúc vào năm
nào?
 Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch thể hiện điều gì?
 Hệ thống một số sự kiện tiêu biểu nhất trong chín năm chống thực dân
Pháp xâm lược. Về hệ thống sự kiện, giáo viên có thể cho học sinh làm theo nhóm để
hoàn thành. Chẳng hạn:
Mốc lịch sử

Sự kiện lịch sử

Đêm 18 rạng sáng
19/12/1946

Trung ương Đảng họp, quyết định phát động toàn quốc
kháng chiến

Sáng 20/12/1946

Đài tiếng nói Việt Nam phát lời kêu gọi tồn quốc kháng
chiến

Tháng 10/1947

Pháp tấn cơng lên Việt Bẳc


Ngày 16/9/1950

Quân ta tấn công cụm cứ điểm Đông Khê

Tháng 2/1951

Đại hội đại biểu toàn Quốc của Đảng lần thứ II

Ngày 01/05/1952

Đai hội chiến sĩ thi đua...

14


* Nếu cịn thời gian, sau phần ơn tập, hệ thống hố, giáo viên có thể cho học sinh
chơi trị chơi “Ơ chữ” đế củng cố kiến thức:
1

N

2

G

À

Y

Đ




N

G

T

Â

M

B

Ì

N

H

D

Â

N

H




C

V



C



M

C

H

Ơ

N

G

N

C



3

4

M



5

C

H

Ơ

N

Đ

Ơ

N

G

K

H

Ê


L

A

V

Ă

Đ



T

G

I

Ĩ

6
7
8

P

H

A


N

Đ

Ì

N

H

U

T

* Dựa vào các gợi ý sau để tìm chữ cái cho mỗi ô chữ:
1.Để đẩy lùi giặc đói, Bác Hồ tổ chức ngày này?
2.Để đẩy lùi giặc dốt Bác Hồ tổ chức lớp học này?
3.Nhân dân Phú Thọ đã làm gì để chống quân Pháp nhảy dù?
4.Thu - Đông 1947, Việt bắc trở thành: “… giặc Pháp”.
5.Ngày 16/09/1950, quân ta nổ súng tấn công cứ điềm này?
6.Tên của người anh hùng “chặt cánh tay phá đồn địch”?
7.Ngày 01/05/1954, ta mở “...” tấn cơng lần thứ 3 đánh chiếm các cứ điểm cịn
lại trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
8.Tên của người anh hùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai?
* Tất cả các chữ cái ở cột dọc ghép lại tạo thành từ “Thắng lợi”.
3.2. Biện pháp 2 : GVCN cần cố gắng đạt được một số yêu cầu sư phạm cơ
bản:
Có thể nói thế kỉ thứ XXI là thế kỉ của khoa học cơng nghệ, con người phải nhanh
chóng trở thành trung tâm của sự phát triển. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực
của sự phát triển. Vì vậy người giáo viên phải không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục

để đào tạo thế hệ trẻ có đầy đủ phẩm chất đáp ứng nhu cầu của xã hội muốn đảm bảo tốt
vai trị ấy thì giáo viên nói chung và GV nói riêng phải có phẩm chất và năng lực phù
hợp trong giai đoạn mới.
15


Thứ nhất, người GV lớp phải có lịng u nghề mến trẻ, phải am hiểu nắm bắt
sâu sắc chủ trương đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thời kì đổi mới, phải
có niềm tin ở các em. Chính niềm tin ấy sẽ tiếp thêm nghị lực để giáo viên hồn thành
tốt nhiệm vụ của mình.
Thứ hai là người GV phải có “chữ tín” với phụ huynh và HS, phải khéo léo đối
xử sư phạm, mà biểu hiện cụ thể là phải tôn trọng và yêu mến HS. Khi u mến và tơn
trọng HS thì ta mới thực sự cảm hóa được các em, bởi con đường tác động đến tình cảm
theo tơi chỉ là con đường tình cảm, chúng ta cho như thế nào thì chúng ta cũng sẽ nhận
được những tình cảm như thế ấy.
Thứ ba, người GV lớp phải là người có chun mơn vững vàng có tay nghề cao.
Có dạy tốt, có kiến thức sâu thì HS mới phục và chấp nhận sự giáo dục của mình. Mỗi
ngày xung quanh chúng ta có bao nhiêu là kiến thức mới lạ nếu chúng ta không “Học,
học nữa, học mãi” thì sẽ khơng theo kịp, khơng đáp ứng được yêu cầu của thời đại cũng
như của HS.
Thứ tư là GV phải là tấm gương sáng cho các em noi theo, phải là ngọn đèn soi
đường dẫn lối cho các em. Vậy muốn làm được điều đó thì từng lời nói cử chỉ, điệu bộ
đến thái độ ứng xử phải có chuẩn mực, đúng đắn tránh để HS “Coi nhẹ, xem thường”.
Thực tế cho thấy giáo viên được sự tơn trọng kính u của HS thì cơng tác giáo dục sẽ
dễ dàng đạt hiệu quả.
Nói tóm lại, GV phải là một cơng dân gương mẫu có lối sống lành mạnh, biết
sống vì mọi người, khơng chỉ cần có cái “tài” mà cịn phải có một cái “tâm” rất lớn. Chỉ
có như thế ta mới đáp ứng và thực hiện tốt yêu cầu giáo dục mà xã hội đã tín nhiệm giao
phó.
3.3. Biện pháp 3 : Xây dựng người giáo viên dạy học tích cực để thu hút sự

hứng thú học tập ở học sinh khi học lịch sử.
Để kích thích và phát huy được tính tích cực chủ động học tập cho học sinh
trước tiên ta cần phải xây dựng một giáo viên là tấm gương tốt về đức tính đó để các em
cảm thấy người thầy người cơ của mình là một thần tượng rồi từ đó học hỏi và làm theo.
Vậy người giáo viên để được như vậy thì một thầy giáo gương mẫu là không thể thiếu.
Và người thầy như thế nào mới là một người thầy giáo gương mẫu? Theo tơi để có được
một người thầy giáo gương mẫu ta cần xây dựng một người thầy có đầy đủ cả hai yếu
tố, đó là yếu tố “ tài và đức” của người thầy giáo trong mơi trường giáo dục.
“Đức” là yếu tố nói đến phẩm chất đạo đức, thái độ tác phong lối sống của
người thầy giáo. Người thầy phải có lối sống trong sáng lành mạnh, tác phong giản dị,
trung thực, hòa đồng với mọi người trong cơ quan, đơn vị, giữ gìn sự đồn kết trong nội
bộ, cơ quan, đồng nghiệp. Ln giữ gìn tư cách đạo đức, gương mẫu của người giáo
viên. Luôn thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh”, vận dụng một cách phù hợp vào công việc và trong cuộc sống. Đấu tranh
chống các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan,
16


đơn vị. Khách quan, trung thực trong nhận xét học sinh. Xây dựng tình thương u tơn
trọng, giúp đỡ bạn bè cùng tiến bộ. Quan hệ nhiệt tình, trách nhiệm, trong sáng đúng
mực với đồng nghiệp, phải gần gũi và tạo cảm giác thân thiện với học sinh, không phân
biệt đối xử với các em có hồn cảnh khó khăn hoặc các em học tập cịn hạn chế, ln
cơng bằng trong nhận xét học sinh, tạo điều kiện giúp đỡ các em vượt qua mặc cảm tự
tin hơn trong học tập. Ln là người thầy có tâm với nghề xem công việc dạy học là một
nghề cao quý, phải biết yêu nghề mến trẻ.
“Tài” là yếu tố nói đến năng lực chuyên môn và kỹ năng sư phạm của người thầy
giáo. Một giáo viên phải là người có năng lực chuyên môn tốt và kỹ năng sư phạm tốt.
3.3.1. Kỹ năng sư phạm
Kỹ năng nghiệp vụ sư phạm là những kỹ năng cần có của người giáo viên. Trong
đó có các kỹ năng cơ bản sau:

3.3.1.1. Kỹ năng phát âm chuẩn
Đặc thù của người giáo viên đó chính là việc nói rất nhiều trong các giờ lên lớp.
“Nói” có một vai trò rất quan trọng trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh nhất là
đối với giáo viên Lịch sử. Vì thế bản thân người giáo viên cần phải rèn luyện cho mình
kỹ năng phát âm chuẩn, phát âm không sai, phát âm truyền cảm thu hút học sinh, từ đó
sẽ cải thiện được chất lượng buổi học.
3.3.1.2. Kỹ năng xử lý tình huống sư phạm
Việc xử lý tình huống sư phạm lại đòi hỏi sự nhạy cảm, khả năng xử lý linh hoạt
trong giao tiếp để đạt tới kết quả giáo dục cao nhất. Thực tế cho thấy giáo viên thường
phải xử lí các tình huống có thể xảy ra giữa các mối quan hệ: giữa học sinh và học sinh,
giáo viên và học sinh, giữa giáo viên và giáo viên và giữa giáo viên và phụ huynh. Tình
huống đó có thể xảy ra ở trong nhà trường hay ngồi xã hội. Có rất nhiều tình huống có
thể xảy ra trong thực tế. Mỗi tình huống địi hỏi cách ứng xử khác nhau mà muốn đạt
hiệu quả cao trong giáo dục, người giáo viên cũng phải là một chuyên gia trong lĩnh vực
này.
3.3.1.3. Kỹ năng trình bày bảng
Bảng phấn chính là những cơng cụ, phương tiện mà người giáo viên sử dụng để
truyền tải kiến thức đến cho HS. Hiện nay, bảng phấn là những công cụ chủ yếu mà giáo
viên thường xun sử dụng. Chính vì vậy kỹ năng viết bảng vẫn là điều hết sức cần thiết
ở mỗi giáo viên. Trong thực tế có nhiều giáo viên đã không biết dùng bảng như một
công cụ trực quan để trình bày bài giảng của mình một cách sinh động. Điều đó làm
giảm rất nhiều chất lượng chuyên môn của bài giảng.Viết bảng như thế nào? Tư thế
đứng ra sao? Kiểu chữ, cỡ chữ viết trên bảng là ra sao? Nội dung kiến thức cô đọng trên
bảng là những gì? Đó là những vấn đề để mỗi giáo viên phải nghiên cứu, rèn luyện, rất
công phu.

17


3.3.1.4. Kỹ năng thuyết trình

Đối với phần giáo viên dạy lịch sử thì phần thuyết trình của giáo viên cũng góp
phần khơng nhỏ trong việc đem lại hiệu quả cho tiết học. Kỹ năng thuyết trình thể hiện
ở kỹ năng nắm bắt vấn đề hay dung lượng kiến thức cần trình bày, khả năng tổ chức,
sắp xếp vấn đề một cách logic, chặt chẽ để khi trình bày có thể thuyết phục được người
nghe. Để làm được điều này bên cạnh những kiến thức chuyên môn vững vàng, người
giáo viên cần có năng khiếu của một diễn viên, thể hiện ở chỗ kết hợp nhuần nhuyễn cử
chỉ, điệu bộ, lời nói… ngay cả nụ cười, cách đi lại trên bục giảng. Đó là những yếu tố
giúp cho bài giảng đạt chất lượng cao.
3.3.2. Năng lực chuyên môn.
Để chất lượng dạy và học môn lịch sử được nâng cao, đối với giáo viên cần đảm
bảo một số năng lực sau :
3.3.2.1. Năng lực truyền thụ kiến thức cho học sinh.
Tiết học có thành cơng và chất lượng hay khơng hồn tồn phụ thuộc vào năng
lực truyền thụ kiến thức cho học sinh, kiến thức phải đảm bảo được truyền thụ đến học
sinh, học sinh phải nắm được cơ bản nhất những yêu cầu cần đạt của bài do chuẩn kiến
thức kỹ năng đề ra.
3.3.2.2. Năng lực thiết kế bài giảng.
Trước khi lên lớp giáo viên cần chuẩn bị tốt bài giảng của mình, bài giảng phải
được thiết kế một cách chu đáo và cần phải có sự đầu tư và làm rõ, cụ thể như sau:
- Mục tiêu cần đạt được của mỗi bài phù hợp với năng lực của học sinh.
- Những hoạt động cụ thể của giáo viên và học sinh trên lớp.
- Thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý và phát huy tư duy, sáng tạo:
+ Câu hỏi kiểm tra kiến thức.
+ Câu hỏi gợi mở phát huy trí tuệ.
+ Câu hỏi luyện tập và củng cố kiến thức.
- Hướng dẫn học sinh học tập ở nhà.
- Phân bố thời gian hợp lý cho mỗi phần việc.
- Thể hiện được sự phân hóa học sinh.
- Có tích hợp đầy đủ những vấn đề giáo dục học sinh do ngành qui định như :
Tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục bảo vệ mơi trường, giáo dục kỹ năng sống..

cần được thể hiện rõ khi thíết kế bài giảng.
- Có phương pháp cụ thể đối với các học sinh chưa đạt yêu cầu.
3.3.2.3. Năng lực sử dụng phương tiện, thiết bị, dồ dùng dạy học.
18


Việc sử dụng phương tiện, thiết bị, đồ dùng dạy học góp phần khơng nhỏ trong
thành cơng của việc dạy – học. Vì vậy, đồ dùng dạy học phải chính xác, đẹp, phù hợp
trọng tâm từng bài dạy; khai thác triệt để tính tích cực của thiết bị, phương tiện dạy học
với tư cách là phương tiện nhận thức mà không đơn thuần chỉ là phương tiện minh họa
đơn giản.
3.3.2.4. Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin.
Sự bùng nổ của cơng nghệ thơng tin nói riêng và khoa học cơng nghệ nói chung
đang tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội.Trong
bối cảnh đó, để giáo dục phổ thơng đáp ứng được địi hỏi cấp thiết của cơng nghiệp hố
- hiện đại hoá đất nước, chúng ta nhất định phải cải cách phương pháp dạy học theo
hướng vận dụng Công nghệ thông tin (CNTT) và các trang thiết bị hiện đại vào dạy học
nhằm phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của
học sinh để nâng cao chất lượng dạy học.
Ứng dụng CNTT trong dạy học Lịch sử là việc làm mang lại hiệu quả cao trong
giảng dạy, giúp cho giáo viên chủ động có được những bài soạn mang tính hiện đại, sinh
động, chuyển tải được nhiều thông tin sống động, hấp dẫn lôi cuốn học sinh vào các
hoạt động học tập lịch sử.
Khi thực hiện những tiết dạy bằng giáo án ứng dụng công nghệ thông tin (lâu nay
thường gọi là giáo án điện tử) Giáo viên phải tự thiết kế, làm chủ trong quá trình trình
chiếu tránh tình trạng lâu nay vẫn thường diễn ra là giáo viên khi dạy bằng giáo án điện
tử khơng tự mình soạn, khơng xử lý được những tình huống kỹ thuật trong khi trình
chiếu làm cho tiết học khơng đạt kết quả như mong muốn.
Ngồi ra, chúng ta nên tìm kiếm thơng tin, tư liệu trên mạng internet. Internet là
nguồn tư liệu vơ tận chúng sẽ giúp ta dễ dàng tìm được những tư liệu cần thiết chính

xác, nhanh chóng và thuận tiện.
3.4. Biện pháp 4 : Phương pháp tạo sự thu hút học sinh bằng bài giảng điện
tử.
Bài giảng điện tử môn Lịch sử là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho giáo viên,
nhằm phát huy hết khả năng truyền thụ kiến thức theo chuẩn kiến thức của Bộ GD &
ĐT, phát huy tính tích cực trong học tập, phát triển khả năng tư duy, nâng cao kiến thức,
phát triển trí tuệ cho học sinh, ngày càng nâng cao trình độ nghiệp vụ của giáo viên.
Việc đưa bài giảng điện tử vào việc giảng dạy môn lịch sử là một bước tiến lớn
của bộ mơn lịch sử vì nó thật sự mới mẻ đối với học sinh và cả giáo viên, hiệu quả mà
nó mang lại thật sự khơng nhỏ trong việc tạo hứng thú mạnh mẽ cho học sinh khi học
lịch sử, mở mang kiến thức cho học sinh, nâng cao tay nghề và tạo sự thuận lợi cho giáo
viên khi giảng dạy.
Học sinh sẽ thật sự bị cuốn hút với bài giảng điện tử vì bài giảng điện tử làm cho
tiết học trở nên sinh động với đầy đủ các hiệu ứng vui mắt, học sinh tiếp thu kiến thức
19


qua nhiều dạng như xem phim, xem hình ảnh, chạy hiệu ứng trình chiếu … những thứ
đó đối với học sinh tiểu học thật mới lạ và sinh động nên nó góp phần thu hút học sinh
hơn vào buổi học làm cho buổi học đạt kết quả cao như mong đợi.
Sau đây là hình ảnh sinh động đầy màu sắc của bài giảng điện tử góp phần thu hút
học sinh.

Giáo viên dạy học bằng bài giảng điện tử trong giờ học lịch sử

IV. Hiệu quả đạt được
Sau khi áp dụng các giải pháp đổi mới vào trong quá trình dạy tôi tiến hành kiểm
tra chất lượng và cho kết quả thu được như sau:
Qua kiểm tra khảo sát lần này đối chiếu với kết quả khảo sát đợt trước tôi thấy
chất lượng học sinh tiến bộ rõ rệt, học sinh đã được trang bị cho mình kiến thức về lĩnh

vực lịch sử các em yêu thích học hơn, chủ động hơn trong việc tự học ở nhà. Song điều
đáng chú ý là đa số học sinh tôi dạy đã chuyển biến tốt về chất lượng và thái độ học tập
tích cực, các em đã hiểu biết khá vững chắc kiến thức lịch sử, một số học sinh chưa hoàn
thành đã có ý thức tự học, tự giác trong việc tự tìm hiểu kiến thức, tự giác trong việc
đống góp xây dựng bài học và thích học mơn lịch sử hơn. Bên cạnh đó vẫn cịn số ít học
sinh vẫn cịn lơ là và chưa nắm kịp kiến thức để khắc phục một số yếu điểm đó của học
sinh tơi tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy, nhằm hạn chế những yếu điểm, từ đó kích
thích và phát huy được tin thần tự học và học tập tích cực ở học sinh để nâng cao chất
lượng học tập môn lịch sử ở tiểu học.
20


Về kết quả học tập đạt được thật đáng kinh ngạc, khi chưa thay đổi phương pháp
đa số thái độ học tập của các em con hạn chế ít hoạt động xây dựng bài, học tập thụ
động, khơng có tin thần tự học ở nhà, ít khám phá tìm tịi kiến thức bên ngồi, các em
cịn xa lạ với cơng nghệ thơng tin, trên lớp học thì các em thực hiện cịn mơ hồ, khơng
tự tin khi trả lời câu hỏi, và đặc biệt là các em chưa thật sự tích cực trong học tập, có
cảm giác chán nản lơ là và không tập trung. Nhưng khi thay đổi phương pháp, tơi nhận
thấy có một sự khác biệt rất lớn, nhất là sự tích cực học tập bộ mơn lịch sử, các em năng
động hơn, từ đó các em hiểu và nắm vững kiến thức và ln hồn thành tốt nhiệm vụ
được giao, bên cạnh đó vẫn cịn một vài bạn chưa thực hiện tốt, nhưng có sự cố gắng
học hỏi và các em cũng dần tiếp thu và dần dần thực hiện được những phần mà giáo
viên giao cho. Cũng nhờ như vậy mà kết quả học tập của các em về bộ môn lịch sử được
cải thiện rõ rệt tôi thật sự rất vui và hãnh diện về điều mà mình đã thực hiện sau đây là
bảng kết quả học tập của các em khi chưa đổi mới phương pháp và sau khi đổi mới
phương pháp.
Bảng kết quả học tập của HS trước và sau khi đổi mới phương pháp dạy
Kết quả cả năm đạt được như sau:



Về Kiến thức, kĩ năng:

Năm học

Tổng
số

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

học
sinh

SL

Nữ

TL %

SL

Nữ

TL %

SL


Nữ

TL %

33/17

25

14

75,6%

8

3

24,4 %

0

0

0

33/17

6

3


18,1 %

27

14

81,9%

0

0

0

2020– 2021
Đã áp dụng
sáng kiến
2019– 2020
Chưa áp
dụng sáng
kiến

21




Về Năng lực, phẩm chất:
Tổng số


Năm học

học
sinh

Đạt

Tốt
SL Nữ

TL %

SL Nữ

Cần cố gắng
TL %

SL

Nữ TL %

2020– 2021

N lực

33/17

25

14


75,6%

8

3

24,4 %

0

0

0

Đã áp dụng
sáng kiến

Ph chất

33/17

25

14

75,6%

8


3

24,4 %

0

0

0

2019– 2020

N lực

33/17

6

3

18,1 %

27

14

81,9%

0


0

0

Trước áp
dụng sáng
kiến

Ph chất

33/17

6

3

18,1 %

27

14

81,9%

0

0

0


V. Mức độ ảnh hưởng:
Đề tài sáng kiến có mức độ ảnh hưởng hầu hết tất cả các em học sinh tiểu học
trường Tiểu học Trần Phú và đối với việc áp dụng phương pháp đổi mới này hầu như
tất cả các trường điều có thể áp dụng được vì đề tài chỉ dựa trên những điều kiện cơ bản
nhất mà người giáo viên nào trường nào cũng có thể lĩnh hội và áp dụng được.
VI. Kết luận.
Ngày nay với nội dung chương trình đổi mới phương pháp dạy học, người giáo
viên phải khơng ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ. Ngồi
những mơn học chính thì môn học lịch sử giúp cho học sinh phát triển kiến thức hiểu
biết về tình hình đất nước Việt Nam, tạo đà cho sự giáo dục và phát triển toàn diện về
nhân cách cho học sinh.
Việc dạy môn lịch sử ở trường tiểu học trong quá trình đổi mới ngày nay là vô
cùng cần thiết. Tất cả các giáo viên đứng lớp, giáo viên chuyên biệt và các cấp chỉ đạo
cần hiểu rõ điều này để môn lịch sử ngày càng phát huy tác dụng, góp phần vào sự
nghiệp đào tạo các mầm non tương lai cho đất nước.
Từ thực trạng dạy học lịch sử ở trường tiểu học. Từ kiến thức được học trong nhà
trường và từ thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy phần lớn các yếu tố làm cho học
sinh hứng thú học tập đều phụ thuộc vào vai trò của giáo viên. Những cách thức, những
cung bậc gây hứng thú cho học sinh trong học tập là hết sức phong phú. Mỗi người có
một phương pháp, biện pháp của riêng mình sao cho phù hợp.
Qua quá trình khảo sát, nghiên cứu đổi mới phương pháp và phương pháp giảng
dạy tôi thấy các em thực hiện rất tốt trong giờ học các em giải quyết các vấn đề học tập
do giáo viên đề ra một cách rất nhẹ nhàng, các em yêu thích lịch sử hơn hơn, học sinh
22


học lịch sử một cách rất hứng thú và rất mong muốn được học bộ môn này. Vậy làm thế
nào để kích thích và phát huy được tin thần học tập tích cực và chủ động của học sinh
đối với mơn lịch sử? Điều đó cịn phụ thuộc phần lớn vào phương pháp, kỹ năng truyền
đạt kiến thức của thầy, đòi hỏi mỗi người giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài dạy, chuẩn bị

đầy đủ đồ dùng dạy học, biết tổng hợp các phương pháp dạy học mới. Trong giờ dạy
cần sử dụng linh hoạt các phương pháp phát huy khả năng sáng tạo của học sinh, thực
sự biết đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng các loại hình hoạt động trong tiết dạy ,
lời giảng của giáo viên cần cơ đọng, ngắn gọn, xúc tích để thu hút sự chú ý của học sinh.
Giáo viên cần tạo thật nhiều điều kiện để hỗ trợ giúp đỡ cho học sinh trong việc tự đi
tìm kiến thức, cung cấp nhiều dữ liệu để các em tự học, thiết kế thật nhiều bài giảng điện
tử, bài giảng trưc tuyến, update nhiều kiến thức lên trang mạng nội bộ để các em truy
cập và học tập.
Qua q trình giảng dạy, tơi nhận thấy kết quả đạt được như trên là rất khả quan.
Tuy nhiên để đạt được những kết quả này không phải trong một vài tiết học là được.
Giáo viên phải có sự kiên trì bền bỉ nhận xét, động viên, luyện tập. Có những em cần
phải động viên khích lệ các em để các em cảm thấy tự tin hơn chủ động hơn và thích
thú hơn tích cực hơn khi học. và sau đây là một số kinh nghiệm của bản thân.
 Bài học kinh nghiệm:
Bản thân tôi nhận thấy qua quá trình nghiên cứu đổi mới phương pháp và đi
vào vận dụng nơi mình dạy đến giờ này đây đã rút ra cho mình những bài học bổ
ích.
Để giúp nâng cao chất lượng học tập khi học môn lịch sử ở tiểu học” ta nên
đổi mới phương pháp dạy lịch sử bằng cách hướng vào giải quyết những vấn đề sau:
 Bản thân giáo viên khơng ngừng tự hồn thiện bản thân để luôn là một
người thầy giỏi để các em nôi theo.
 Giáo viên luôn không ngừng học hỏi nâng cao tay nghề trình độ chun
mơn kỹ năng nghiệp vụ để luôn đáp ứng được những nhu cầu về chuyên môn.
 Tăng cường các hoạt động học tập trong lớp, trong trường bằng hình thức
tổ chức đa dạng các hình thức học tập như hoạt động nhóm, sắm vai, ngoại khóa…
 Giúp giáo viên và học sinh chuẩn bị và sử dụng tốt đồ dùng dạy học, cụ
thể như: bản đồ , tranh minh họa, mơ hình sự kiện, video phóng sự về lịch sử….
 Cải thiện phương pháp dạy mơn Lịch sử để có phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học đạt hiệu quả cao nhất.
 Muốn dạy học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của

Đảng và Nhà nước. Đòi hỏi người giáo viên phải nổ lực ,sáng tạo, không ngừng cải tiến
phương pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.
- Về công tác giảng dạy:
Nghiên cứu kỹ kế hoạch bài học, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .
Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.
Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiệu quả.
23


Sử dụng tối đa đồ dùng học tập và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng
môn học.
Giáo viên phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội nhất là CNTT.
Giáo viên cần tạo điều kiện đầy đủ nhằm giúp đỡ học sinh để phát huy tính
học tập tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức.
Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tôi ngay từ bây giờ tôi xác định
rằng muốn trở thành một người giáo viên gương mẫu thực sự thì trước hết phải có lịng
u nghề, mến trẻ, lịng say mê nghề nghiệp và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức trách
nhiệm đối với bản thân, đối với nghề nghiệp và xã hội.
Để chuẩn bị cho một giờ lên lớp, giáo viên cần phải chuẩn bị rất chu đáo về
mọi công việc như: Đồ dùng dạy học, kế hoạch bài học và thâm nhập kế hoạch bài học
một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ
truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng dẫn học sinh cho hiểu nội dung bài một cách dễ
dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo của học sinh.
Với những cách thức hướng dẫn như trên nên tiết học nào cũng vậy, học sinh
trong lớp đều tham gia học tập rất tích cực. Rất ít học sinh còn rụt rè do sợ hát và gõ
đệm sai. Học sinh trong lớp đều được cuốn hút vào tiết học, điều đó đã tạo niềm vui cho
tơi khi bước vào lớp.
Trên đây tôi mới chỉ đề cập phần nào đến kinh nghiệm của bản thân tôi đã được
chắc lọc qua thực tế tham gia giảng dạy nhiều năm học. Nó được áp dụng đi vào từng
tiết dạy và thấy có chiều hướng tốt, học sinh học tốt hơn và có nhiều hứng thú hơn với

mơn học. Rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cơ cùng các bạn đồng nghiệp, Hội đồng
sư phạm bổ sung chỉnh sửa nhằm hoàn thiện hơn những ý tưởng tôi vừa nêu trên để tơi
có thêm hành trang phục vụ chun mơn của mình ngày càng tốt hơn trong những năm
học tới.
 Kiến nghị:
Để làm tốt cơng tác dạy học, ln địi hỏi nhiều yếu tố quan trọng. Nhưng trong
đó, quan trọng nhất là phương pháp và là tâm huyết của giáo viên , chứ bản thân tơi
khơng địi hỏi hay kiến nghị các cấp Lãnh đạo, Ban giám hiệu nhà trường cũng như các
tổ chức, cá nhân hay gia đình học sinh phải làm như thế này, như thế khác. Mà điều tôi
luôn mong muốn đó là sẽ ln nhận được giúp đỡ, phối hợp để cơng tác chủ nhiệm của
mình sẽ ln đạt kết quả cao hơn.
Tóm lại, để làm tốt cơng tác dạy học, địi hỏi người giáo viên khơng chỉ là một
giáo viên dạy tốt văn hóa mà cịn phải quan tâm đến sự phát triển ở học sinh cả những
giá trị đạo đức, thể chất, thẩm mĩ… Vì vậy, theo tôi, hai yếu tố cốt lõi không thể thiếu
đối với giáo viên là cái tài của một nhà tâm lí và cái tâm của một nhà giáo dục. Khi làm
tốt hai yếu tố này thì người giáo viên đều có thể làm tốt trách nhiệm của mình trong thời
đại mới ngày nay và luôn để lại ấn tượng tốt trong lịng mỗi thế hệ học trị u dấu.
Tơi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.

24


Long Xuyên, ngày 24 tháng 12 năm 2022

Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến

Người viết sáng kiến

…………………………………………………….
……………………………………………………

……………………………………………………
…………………………………………………..
……………………………………………………
Lê Chí Trung

25


×