ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HUYỀN NGA
BIÖN PHáP NGĂN CHặN TạM GIAM
TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2022
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HUYỀN NGA
BIÖN PHáP NGĂN CHặN TạM GIAM
TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN ĐỘ
HÀ NỘI - 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tơi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong
bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã
hồn thành tất cả các mơn học và đã thanh tốn tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Huyền Nga
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠM GIAM TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .................................................. 7
1.1.
Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố
tụng hình sự ..................................................................................... 7
1.1.1.
Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự............. 7
1.1.2. Khái niệm tạm giam......................................................................... 12
1.1.3. Đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam ......................................... 14
1.1.4. Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.... 16
1.2.
Các nguyên tắc quy định và áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn tạm giam ............................................................. 20
1.2.1. Nguyên tắc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm đấu
tranh, phịng chống tội phạm có hiệu quả ......................................... 21
1.2.2. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa ............................... 22
1.2.3. Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tôn trọng, bảo đảm và
bảo vệ quyền con ngƣời ................................................................... 23
Tiểu kết Chương 1 ...................................................................................... 26
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2015
VỀ TẠM GIAM ............................................................................. 27
2.1.
Quy định về đối tượng tạm giam .................................................. 27
2.2.
Quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ..... 30
2.3.
Quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam..... 32
2.4.
Quy định về thủ tục tạm giam ....................................................... 33
2.5.
Quy định về thời hạn tạm giam..................................................... 34
2.5.1. Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra ................... 35
2.5.2. Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố .................... 38
2.5.3. Quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử ..................... 39
2.5.4. Thời hạn tạm giam trong trƣờng hợp đặc biệt .................................. 41
2.5.5. Cách tính thời hạn tạm giam ............................................................ 42
Tiểu kết Chương 2 ...................................................................................... 46
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TẠM GIAM TRONG VIỆC XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐẮK LẮK VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG ....................................................................................... 47
3.1.
Đặc điểm của tỉnh Đắk Lắk có ảnh hưởng đến việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giam trong hoạt động giải quyết
các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. .............................. 47
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ................................................... 47
3.1.2. Những tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội
đến hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk ............................................................................. 47
3.2.
Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong xét
xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (2016-2020) ................................... 49
3.2.1. Tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (2016-2020) ............................................ 49
3.2.2. Những thiếu sót, vi phạm trong áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giam .......................................................................................... 54
3.2.3. Nguyên nhân của những thiếu sót, vi phạm ..................................... 58
3.3.
Hồn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ............................................ 62
3.3.1. Sự cần thiết và định hƣớng hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ............................. 62
3.3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giam .......................................................................................... 64
Tiểu kết Chương 3 ...................................................................................... 72
KẾT LUẬN ................................................................................................. 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 75
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
BPNC:
Biện pháp ngăn chặn
CQĐT:
Cơ quan điều tra
CQTHTT:
Cơ quan tiến hành tố tụng
TANDTC:
Tịa án nhân dân tối cao
TTHS:
Tố tụng hình sự
VKS:
Viện kiểm sát
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Bảng 3.1
Tổng số các vụ án hình sự tịa án tỉnh Đắk Lắk thụ lý
Bảng 3.2
Trang
(2016-2020)
53
Tổng số bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm
giam trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (2016-2020)
53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế ở nƣớc ta hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự
phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói
riêng có nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Đảng và Nhà nƣớc ta đang từng bƣớc
cải cách, đổi mới hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển xã hội một cách toàn diện, bảo vệ quyền con ngƣời, bảo đảm trật tự, an
toàn xã hội; bảo đảm để các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn một cách
triệt để và đƣợc thực thi một cách nghiêm túc. Trong đó, việc hồn thiện các
quy định trong tố tụng hình sự ln đƣợc chú trọng, từng bƣớc khắc phục
những bất cập, yếu kém trong các quy định pháp luật trƣớc đó, nâng cao và
hoàn thiện dần những quy định trong pháp luật tố tụng hình sự đảm bảo phù
hợp với thực tiễn.
Pháp luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử để đấu tranh, phòng chống tội phạm nhằm bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Để đạt đƣợc điều đó, Luật tố tụng
hình sự quy định nhiều biện pháp mang tính cƣỡng chế, trong đó có những
biện pháp ngăn chặn để đảm bảo việc thực thi pháp luật đƣợc thực hiện theo
khuôn khổ nhất định.
Trong hệ thống các biện pháp cƣỡng chế tố tụng hình sự, các biện pháp
ngăn chặn, đặt biệt là biện pháp ngăn chặn tạm giam, chiếm vị trí đặc biệt
quan trọng. Việc sử dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam trong quá trình
tố tụng hình sự là điều cần thiết, có ảnh hƣởng lớn đến quá trình giải quyết vụ
án hình sự và hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên,
việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam luôn luôn gắn liền với những
1
hạn chế quyền con ngƣời đƣợc ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm trong
Hiến pháp. Với quy định: “Khơng ai bị bắt nếu khơng có quyết định của Tòa
án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ
trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định” (Điều
20), Hiến pháp năm 2013 của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm
bảo mọi công dân không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn một cách tuỳ tiện,
trái pháp luật, đặc biệt là biện pháp ngăn chặn tạm giam.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về các biện pháp ngăn chặn
về cơ bản đã khắc phục đƣợc những hạn chế của BLTTHS 2003, nhƣng trong
quá trình thực hiện vẫn cịn những khó khăn vƣớng mắc nhất định, địi hỏi
phải tiếp tục nghiên cứu để có quy định phù hợp thực tế, đảm bảo cho công
tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự đạt hiệu quả.
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian qua trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk cho thấy, tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phổ biến
phức tạp, đòi hỏi phải đặt ra những yêu cầu mới cho cơng tác đấu tranh phịng
chống tội phạm nói chung và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Thực tiễn áp dụng các biện pháp
ngăn tạm giam đối với bị can, bị cáo hiện nay vẫn còn tuỳ tiện, khơng đúng
pháp luật. Ngun nhân của tình hình trên có nhiều yếu tố khác nhau, nhƣng
chủ yếu là do những quy định của pháp luật tố tụng hình sự cịn những hạn
chế, ảnh hƣởng không nhỏ đến kết quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm; xâm
phạm các quyền con ngƣời, gây dƣ luận xấu trong nhân dân ảnh hƣởng đến
uy tín của Đảng, Nhà nƣớc.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống lý luận về tạm giam,
đánh giá một cách tồn diện, chính xác khách quan thực tiễn áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết. Với mong
muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc hồn thiện pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xét
2
xử sơ thẩm, bản thân chọn đề tài "Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố
tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”, làm
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua có một số cơng trình khoa học đã nghiên cứu việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn. Nhìn chung, các cơng trình khoa học trên chủ
yếu tập trung phân tích phƣơng diện lý luận quy định của pháp luật về biện
pháp ngăn chặn và những vƣớng mắc trong thực tế.
Qua quá trình tìm hiểu và sƣu tầm tài liệu cho thấy, đã có một số cơng
trình nghiên cứu khoa học về vấn đề biện pháp ngăn chặn. Có thể kể tên
những cơng trình đƣợc thực hiện đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến nhƣ:
Về tài liệu nghiên cứu là sách giáo trình, sách chuyên khảo và các
bài viết đăng trên tạp chí
- Tác giả Hồng Thị Minh Sơn (chủ biên), “Giáo trình Luật tố tụng
hình sự Việt Nam”, NXB Công an nhân dân, năm 2018;
- Tác giả Nguyễn Tất Viễn,“Bảo đảm quyền con người trong hoạt
động tư pháp”, NXB Tƣ pháp, năm 2020;
- Hoàng Tám Phi, “Một số kiến nghị hoàn thiện quy định về thời hạn tạm
giam trong Bộ luật TTHS năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 03/2019;
- Vũ Minh Phƣơng, “Tiếp tục hồn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp”, Tạp
chí An ninh nhân dân, số 98 (7/2020);
- Nguyễn Ngọc Kiện – Phạm Xuân Minh, “Bảo đảm quyền của người
bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp số 14, tháng 7/2020.
- Nguyễn Phƣơng Thảo, Tăng Trần Quỳnh Phƣơng, “Pháp luật tố
tụng hình sự Đức về biện pháp tạm giam và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp số 02, tháng 1/2021.
3
Tài liệu nghiên cứu là luận văn, luận án tiến sĩ luật học
Triệu Văn Mẫn “Biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam (Trên
cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Bắc Kạn)”, Luận văn thạc sĩ luật học, 2015;
Nguyễn Thị Thu Hoài “Biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành
niên phạm tội”, Luận văn thạc sỹ luật học, 2015.
Trần Mạnh Hà “Áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự từ
thực tiễn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương - Luận văn thạc sĩ luật học, 2021;
Trong các cơng trình nghiên cứu của các tác giả nói trên chỉ mới đề cập
đến những vấn đề lý luận chung về biện pháp ngăn chặn hoặc phân tích các
quy định của pháp luật thực định về các biện pháp đó. Một số luận án tiến sĩ,
luận văn thạc sĩ gần đây cũng đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến biện
pháp ngăn chặn. Trong đó có luận án tiến sĩ nghiên cứu chung về việc áp
dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ án hình sự của lực lƣợng Cảnh sát
nhân dân. Một số luận văn thạc sĩ khác nghiên cứu về tình hình áp dụng biện
pháp ngăn chặn ở một số địa phƣơng đối với đối tƣợng là ngƣời chƣa thành
niên hoặc luận văn áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các đối tƣợng đặc
biệt … Cho đến nay vẫn chƣa có cơng trình nào nghiên cứu về thực tiễn áp
dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm ở các địa phƣơng
nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý
luận, các quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn cũng nhƣ thực tiễn
áp dụng các biện pháp này trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự tại Toà
án, bản thân mong muốn đƣa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về “Biện pháp ngăn chặn tạm giam
theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Đắk Lắk”
là mang tính cấp thiết và phù hợp với yêu cầu đấu tranh phịng, chống tội
phạm của địa phƣơng trong tình hình hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và
4
thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong các giai đoạn tố tụng
hình sự tại tỉnh Đắc Lắc, đƣa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.
- Để đạt đƣợc mục đích trên, những nhiệm vụ nghiên cứu đƣợc đặt ra
nhƣ sau:
+ Nghiên cứu các vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn nói chung,
biện pháp ngăn chặn tạm giam nói riêng;
+ Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp
ngăn chặn tạm giam;
+ Đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với
các bị cáo trong giai đoạn xét xử ở tỉnh Đắk Lắk trong 5 năm (từ năm 2016
đến năm 2020) nhằm tìm ra những kinh nghiệm hay, những khó khăn vƣớng
mắc, những điều bất hợp lý khi áp dụng trên thực tế các biện pháp ngăn chặn
tạm giam đối với các bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, những nguyên
nhân, điều kiện dẫn đến những vấn đề cịn tồn tại đó.
+ Đƣa ra các dự báo về tình hình tội phạm, những yếu tố tác động
đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và các giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam trong giai đoạn xét xử
vụ án hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là lý luận, quy định của pháp luật
về biện pháp ngăn chặn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực
tiễn áp dụng trong xét xử tại tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi nghiên cứu: Bản thân cơng tác tại Tịa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk và do phạm vi áp dụng biện pháp ngăn chặn rộng, cho nên nghiên cứu
biện pháp ngăn chặn trong Đề tài này chỉ đƣợc giới hạn trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm đối với địa phƣơng tỉnh Đắk Lắk từ năm 2016 đến năm 2020 để đƣa
5
ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn
chặn tạm giam trong giai đoạn xét xử.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa
duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh,
đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta về Nhà nƣớc
pháp quyền.
Đồng thời, việc nghiên cứu sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa
học cụ thể: nhƣ phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp
tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, đánh giá và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn,
suy diễn logic để thực hiện đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài đƣợc nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về biện pháp ngăn chặn tạm giam đƣợc quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự
đƣợc áp dụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm mà còn nhằm tổng kết thực tiễn,
nghiên cứu những vƣớng mắc, bất cập từ đó đề xuất những giải pháp có giá trị
nhằm hồn thiện chế định về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự,
nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích
hợp pháp của các bị can, bị cáo trong việc giải quyết các vụ án hình sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 03 chƣơng:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tạm giam trong tố tụng hình sự
Việt Nam.
Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về tạm giam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong việc
xét xử tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TẠM GIAM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố
tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, biện pháp ngăn
chặn đƣợc quy định cụ thể tại mục 1, chƣơng VII Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015. Tuy nhiên Bộ luật Tố tụng hình sự không đƣa ra khái niệm cụ thể về
biện pháp ngăn chặn. Bộ luật chỉ đƣa ra mục đích của việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn. Theo đó, biện pháp ngăn chặn đƣợc áp dụng nhằm để kịp
thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ ngƣời bị buộc tội sẽ gây
khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để
bảo đảm thi hành án, cơ quan, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong
phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ ngƣời trong
trƣờng hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm,
cấm đi khỏi nơi cƣ trú, tạm hoãn xuất cảnh [18].
Bàn về khái niệm biện pháp ngăn chặn, trong khoa học luật TTHS đã
có nhiều tài liệu nghiên cứu đƣa ra các khái niệm khác nhau về biện pháp
ngăn chặn.
Trong từ điển Luật học, biện pháp ngăn chặn đƣợc giải thích nhƣ sau:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cƣỡng chế về mặt tố tụng hình sự
áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc ngƣời chƣa bị
khởi tố trong trƣờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn
chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục
phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho
việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [35, tr. 69].
7
Tiến sĩ Nguyễn Văn Điệp cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cƣỡng chế cần thiết về
mặt tố tụng hình sự, do các cơ quan và những ngƣời có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc
ngƣời chƣa bị khởi tố khi có căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quy
định nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án. Các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt ngƣời,
tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài
sản có giá trị để bảo đảm [3, tr. 26].
Thạc sĩ Đào Minh Dũng cho rằng:
Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cƣỡng chế TTHS đƣợc
quy định trong BLTTHS do ngƣời có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với ngƣời
phạm tội quả tang hoặc ngƣời bị nghi là phạm tội khi có căn cứ do
pháp luật quy định nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn
hoặc gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án hình sự [4, tr. 12].
Trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trƣờng Đại học
luật Hà Nội đã đƣa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn nhƣ sau:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cƣỡng chế trong tố tụng hình sự
đƣợc áp dụng đối với bị can, bị cáo ngƣời bị truy nã hoặc đối với
những ngƣời chƣa bị khởi tố (trong trƣờng hợp khẩn cấp hoặc phạm
tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội
của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có
hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố xét xử và thi hành án
hình sự [34, tr. 227].
8
Theo đó, các tác giả đã chia các biện pháp ngăn chặn thành ba nhóm
đối tƣợng:
- Nhóm 1 gồm những biện pháp nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn
ngừa ngƣời có hành vi phạm tội bỏ trốn hoặc có hành vi gây khó khăn cho
q trình giải quyết vụ án nhƣ giữ ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp, bắt,
tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cƣ trú,
tạm hỗn xuất cảnh.
- Nhóm 2 gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ
nhƣ khám xét, khám nghiệm hiện trƣờng, xem xét dấu vết trên thân thể …
- Nhóm 3 gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi cho hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhƣ kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm
đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân có liên quan đến hành vi phạm
tội của pháp nhân, buộc pháp nhân nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành
án, áp giải bị can, bị cáo, ngƣời bị kết án, dẫn giải ngƣời làm chứng, những
biện pháp xử lý do chủ tọa phiên tịa áp dụng đối với ngƣời có hành vi vi
phạm nội quy phiên tịa.
Có thể nói, các tác giả đã đƣa ra nhiều khái niệm về biện pháp ngăn
chặn ở những góc độ khác nhau, nhƣng nhìn chung đều có những điểm chung.
Theo các định nghĩa trên thì biện pháp ngăn chặn trong TTHS có những yếu
tố nội hàm sau:
Thứ nhất, biện pháp ngăn chặn trong TTHS là một trong các biện pháp
cƣỡng chế của TTHS. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan
tiến hành tố tụng đƣợc áp dụng nhiều biện pháp cƣỡng chế trong đó có biện
pháp ngăn chặn. Tuy nhiên, biện pháp ngăn chặn có mục đích, căn cứ, thẩm
quyền và thủ tục khác với các biện pháp cƣỡng chế khác. Nếu nhƣ biện pháp
điều tra, có mục đích thu thập chứng cứ để chứng minh làm rõ các tình tiết
9
của vụ án thì biện pháp ngăn chặn lại có mục đích ngăn chặn khơng cho tội
phạm xảy ra và tạo điều kiện để các Cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành giải
quyết vụ án. Vì vậy, căn cứ áp dụng, thẩm quyền và thủ tục tiến hành cũng
khác nhau. Mặc dù khác nhau nhƣng tất cả các biện pháp cƣỡng chế là một
thể thống nhất, có mối liên hệ với nhau và cùng các chế định khác của TTHS
hƣớng tới thực hiện có hiệu quả mục đích của tố tụng hình sự.
Thứ hai, các biện pháp ngăn chặn đƣợc áp dụng với mục đích ngăn
chặn khơng cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để
ngƣời phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Đồng thời, việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn còn nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để
các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án nhƣ khơng để ngƣời phạm tội
có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu huỷ chứng cứ, làm giả chứng cứ, thông
cung giữa những ngƣời phạm tội hoặc với ngƣời làm chứng, đảm bảo sự có
mặt của bị can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố
tụng...Với mục đích nhƣ vậy, biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự khác
với biện pháp cƣỡng chế khác và với hình phạt trong Luật hình sự.
Thứ ba, biện pháp cƣỡng chế của Luật TTHS là những biện pháp đảm
bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự nhanh
chóng, khách quan theo quy định của pháp Luật tố tụng hình sự. Biện pháp
cƣỡng chế mà Luật TTHS quy định bao gồm: Các biện pháp ngăn chặn; Các
biện pháp thu thập chứng cứ nhƣ: khám xét nhà, đồ vật, thƣ tín; xét hỏi bị
can; lấy lời khai ngƣời làm chứng; nhận dạng, đối chất ... những biện pháp
đảm bảo cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhƣ: Kê
biên tài sản, áp giải bị can...Nhƣ vậy, biện pháp cƣỡng chế trong TTHS có nội
dung và phạm vi rộng hơn so với biện pháp ngăn chặn và không chỉ nhằm
10
mục đích ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ
án của các cơ quan tiến hành tố tụng mà cịn nhằm mục đích răn đe ...
Thứ tư, đối tƣợng bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn là bị can, bị cáo,
ngƣời phạm tội quả tang hoặc ngƣời mà cơ quan tiến hành tố tụng có tài liệu,
chứng cứ nghi là họ phạm tội. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn các cơ quan
có thẩm quyền chỉ đƣợc tiến hành trong phạm vi, giới hạn cũng nhƣ thủ tục
mà Luật tố tụng hình sự quy định. Ngồi các đối tƣợng kể trên, khơng ai có
thể bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, mọi hành vi áp dụng biện pháp ngăn
chặn không đúng đối tƣợng, thẩm quyền, căn cứ cũng nhƣ thủ tục đều bị coi
là vi phạm pháp luật, ngƣời có hành vi vi phạm tùy theo tính chất và mức độ
có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ năm, thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là những ngƣời
tiến hành tố tụng có thẩm quyền của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án hoặc những ngƣời có thẩm quyền trong các cơ quan khác đƣợc giao
thực hiện một số hoạt động tố tụng, công dân tham gia vào việc bắt ngƣời
phạm tội quả tang, bắt ngƣời theo lệnh truy nã. Tùy theo tính chất, đặc điểm
của từng giai đoạn tố tụng, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan, Luật tố
tụng hình sự quy định cho cơ quan đó đƣợc áp dụng tất cả hay một số các
biện pháp ngăn chặn và trong phạm vi, giới hạn cũng nhƣ theo thủ tục của
luật tố tụng hình sự.
Trên cơ sở những quy định của BLTTHS về các BPNC và những khái
niệm nghiên cứu nêu trên, tác giả đƣa ra khái niệm về BPNC nhƣ sau:
Biện pháp ngăn chặn là một trong những biện pháp cưỡng chế Nhà
nước được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự, do cơ quan hoặc người có
thẩm quyền theo qui định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo, người
bị truy nã hoặc có thể đối với người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do pháp
luật quy định nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc các hành vi khác gây nguy hiểm
11
khác cho xã hội, gây khó khăn cho cơng tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo
đảm thi hành án.
Quy định về các biện pháp ngăn chặn đƣợc xem là một trong những
công cụ nhằm đảm bảo hoạt động tƣ pháp đƣợc thực hiện thuận lợi, đảm bảo
kết quả trong tồn bộ q trình tố tụng, góp phần nâng cao hiệu quả trong
cơng tác đấu tranh, phịng chống tội phạm. Đảm bảo việc thực thi pháp luật
một cách toàn diện, các quyền, lợi ích hợp pháp của của cơng dân đƣợc đảm
bảo và các quan hệ xã hội đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ tối ƣu nhất.
1.1.2. Khái niệm tạm giam
Tạm giam đƣợc hiểu là biện pháp cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong
một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở
việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo,
bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử đƣợc diễn ra thuận lợi.
Trong giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả đã đƣa ra khái
niệm tạm giam nhƣ sau: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự do cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo về
tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay bị can, bị cáo
phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của pháp luật [34, tr. 253].
Đây là biện pháp ngăn chặn mang tính chất cƣỡng chế nghiêm khắc
nhất trong số các biện pháp ngăn chặn đƣợc quy định trong Bộ luật tố tụng
hình sự, nhằm tƣớc bỏ quyền tự do thân thể của một ngƣời và hạn chế một số
quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Nếu nhƣ các biện pháp ngăn chặn khác nhƣ:
Cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm,
việc giám sát đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội chỉ hạn chế một số
quyền của ngƣời bị áp dụng biện pháp thì đối với biện pháp ngăn chặn tạm
giam, hình thức này hạn chế quyền của ngƣời bị áp dụng ở mức cao hơn. Việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ,
12
trình tự, thủ tục theo pháp luật, do ngƣời có thẩm quyền quyết định và thuộc
các trƣờng hợp do pháp luật quy định. Do vậy, việc áp dụng BPNC tạm giam
trong pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nƣớc ta từ trƣớc cho đến nay luôn
luôn đƣợc xây dựng theo hƣớng kế thừa có chọn lọc và từng bƣớc hoàn thiện.
Theo Điều 119 của BLTTHS năm 2015 những đối tƣợng có thể bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam gồm:
- Bị can, bị cáo là về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật
hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định ngƣời đó
thuộc một trong các trƣờng hợp: Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác
nhƣng vi phạm;Khơng có nơi cƣ trú rõ ràng hoặc không xác định đƣợc lý lịch
của bị can;Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ
trốn;Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;Có hành vi mua
chuộc, cƣỡng ép, xúi giục ngƣời khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai
sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản
liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù ngƣời làm chứng, bị hại,
ngƣời tố giác tội phạm và ngƣời thân thích của những ngƣời này.
- Bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình
phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết
định truy nã.
Nhƣ vậy, trong những trƣờng hợp trên, bị can, bị cáo có thể bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giam. Tuy nhiên, pháp luật loại trừ một số đối tƣợng
mặc dù có đủ điều kiện để áp dụng nhƣng không đƣợc áp dụng biện pháp
ngăn chặn tạm giam đối với họ. Đó là những bị can, bị cáo là phụ nữ có thai
hoặc đang ni con dƣới 36 tháng tuổi, là ngƣời già yếu, ngƣời bị bệnh nặng
mà có nơi cƣ trú và lý lịch rõ ràng. Pháp luật dành cho những đối tƣợng trên
sự ƣu tiên, tuy nhiên, trong một số trƣờng hợp do pháp luật quy định thì họ
vẫn bị áp dụng BPNC tạm giam theo quy định của pháp luật.
13
Nhƣ vậy, biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Biện pháp ngăn chặn tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn
cách ly người được áp dụng trong thời hạn nhất định được quy định trong Bộ
luật tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm
trọng, ít nghiêm trọng những thuộc một trong các trường hợp được quy định
trong luật tố tụng hình sự, nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh
pháp luật hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án.
1.1.3. Đặc điểm biện pháp ngăn chặn tạm giam
1.1.3.1. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất
Tạm giam là một trong các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất
đƣợc quy định trong BLTTHS. Ngƣời bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm
giam bị hạn chế quyền tự do trong một thời hạn chất định nhằm mục đích
ngăn chặn tội phạm, khơng để ngƣời bị áp dụng phạm tội mới hoặc cản trở
điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm để bản án, quyết định có hiệu lực của
Tồ án đƣợc thi hành nghiêm chỉnh.
Cùng với việc hạn chế quyền tự do, ngƣời bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn tạm giam cũng bị những hạn chế nhất định trong việc thực hiện các
quyền tố tụng của mình nhƣ quyền bào chữa; các quyền con ngƣời khác phái
sinh từ quyền tự do nhƣ quyền đƣợc thăm nuôi, quyền gặp gỡ ngƣời thân ...
Thực tế, chế độ giam giữ của ngƣời bị tạm giam nghiêm khắc hơn nhiều so
với chế độ chấp hành hình phạt tù.
1.1.3.2. Tạm giam có căn cứ, thời hạn áp dụng chặt chẽ
Do là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, BLTTHS quy định căn
cứ, thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam rất chặt chẽ để một mặt
bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự khơng bị cản trở; mặt khác không dẫn
đến vi phạm quyền con ngƣời của ngƣời bị áp dụng.
14
Tạm giam chỉ có thể đƣợc áp dụng khi có các căn cứ thực tế rằng
ngƣời bị áp dụng sẽ tiếp tục phạm tội hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét
xử hoặc thi hành án. Theo nguyên tắc suy đốn vơ tội, ngƣời bị tạm giam
chƣa phải là ngƣời phạm tội, nên về nguyên tắc không nên lấy tình nghiêm
trọng của tội phạm đƣợc thực hiện để làm căn cứ tạm giam. nên chăng,
ngƣời áp dụng cần căn cứ tính nghiêm trọng của tội phạm để đánh giá khả
năng phạm tội tiếp, khả năng cản trở tố tụng nhƣ là căn cứ để áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam.
Tạm giam tƣớc quyền tự do - một quyền con ngƣời cơ bản rất quan
trọng của ngƣời bị áp dụng. Vì vậy, thơng thƣờng pháp luật tố tụng quy
định chặt chẽ thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam; theo đó,
trong tố tụng hình sự, tạm giam chỉ đƣợc áp dụng với thời hạn ngắn nhất có
thể, cần và đủ để giải quyết vụ án hình sự.
1.1.3.3. Đối tượng, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giam được thu hẹp
Cũng do là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình
sự, tạm giam chỉ áp dụng đối với các đối tƣợng trong phạm vi hẹp. Tạm giam
chỉ áp dụng đối với ngƣời đã chính thức bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
bị kết án là bị can, bị cáo và ngƣời bị kết án trong những trƣờng hợp luật định.
Những ngƣời khác chƣa bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhƣ ngƣời vị giữ
khẩn cấp, ngƣời bị tạm giữ, ngƣời tuy đã bị khởi tố nhƣng không cản trở hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì khơng bị tạm giam.
Đồng thời, để bảo đảm thận trọng và kiểm soát chặt chẽ biện pháp ngăn
chặn tạm giam, pháp luật tố tụng thu hẹp phạm vi ngƣời có thẩm quyền áp
dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Đó là Thủ trƣởng, Phó thủ trƣởng Cơ
quan điều tra, Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó
Chánh án Toà án các cấp và Hội đồng xét xử các vụ án (Ở nhiều quốc gia, chỉ
15
có Tồ án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giam). Thậm chí, Thủ trƣởng, Phó Thủ trƣởng Cơ quan điều tra khơng có
thẩm quyền đầy đủ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam; quyết định của họ
phải đƣợc Viện kiểm sát phê chuẩn...
1.1.4. Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn
tạm giam
1.1.4.1. Mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
Biện pháp ngăn chặn tạm giam có thể đƣợc áp dụng trong suốt q
trình TTHS và do ngƣời có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (Thủ
trƣởng, Phó Thủ trƣởng Cơ quan điều tra các cấp, Viện trƣởng, Phó Viện
trƣởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng Viện kiểm
sát quân sự các cấp, Chánh án, Phó Chánh án Tịa án nhân dân và Chánh án,
Phó Chánh án Tịa án quân sự các cấp …) áp dụng khi thỏa mãn các căn cứ,
điều kiện do pháp luật quy định. Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cái mà
ngƣời áp dụng mong muốn đạt đƣợc trong công tác đấu tranh, ngăn ngừa và
phòng chống tội phạm, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân không
bị xâm hại chính là mục đích cần hƣớng đến của việc áp dụng BPNC tạm
giam. Bộ Luật tố tụng hình sự quy định áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm
giam nhằm mục đích sau:
Thứ nhất, để kịp thời ngăn chặn tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ
luật Hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân
thƣơng mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phịng, an ninh, trật tự, an tồn xã hội,
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con ngƣời, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
16
pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý
hình sự [20, Điều 8].
Xuất phát từ tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm nên để bảo vệ
các quan hệ xã hội có nguy cơ bị tội phạm xâm phạm, biện pháp ngăn chặn
tạm giam đƣợc áp dụng khi có hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc đang xảy ra
xâm hại đến những quan hệ xã hội đƣợc Luật hình sự bảo vệ là thực sự cần
thiết. Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm đấu tranh khơng cho tội
phạm tiếp tục xảy ra, hạn chế thiệt hại về vật chất, tinh thần gây ảnh hƣởng
xấu về an ninh quốc gia, trật tự an tồn xã hội. Vì vậy, Luật tố tụng hình sự
quy định áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giam để kịp thời ngăn chặn
hành vi phạm tội có thể xảy ra hoặc đang thực hiện xâm hại đến các quan hệ
xã hội đƣợc Luật hình sự bảo vệ. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam
không những nhằm ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục
phạm tội mà cịn tạo tiền đề góp phần mang lại hiệu quả cho các hoạt động tố
tụng sau này.
Thứ hai, đảm bảo để người bị áp dụng không cản trở điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án
Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong suốt quá trình tố
tụng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan chức năng thực hiện tốt vai
trị, nhiệm vụ của mình. Trong giai đoạn điều tra, tạm giam bị can, giúp cho
cơ quan điều tra thuận lợi trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung, tống đạt các
văn bản tố tụng cho bị can kịp thời và thực hiện các hoạt động phục vụ công
tác điều tra đƣợc đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Trong giai đoạn xét
xử, việc tạm giam bị cáo đảm bảo bị cáo đƣợc trích xuất đến phiên tòa đúng
thời điểm, việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án đúng theo quy định
của pháp luật, giúp tịa án hồn thành việc xét xử đối với bị cáo. Tóm lại, việc
17