Báo cáo phân
tích cổ phiếu
Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
Hoàng Thái Sơn
Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
Techcombank
Khuyến nghị: MUA
Giá mục tiêu: 75,200 VND
Ngày định giá: 02/06/2021
Mã cổ phiếu: TCB (HSX)
Thông tin cơ bản
Giá đóng cửa
Vốn hố
Cao nhất 52 tuần
Thấp nhất 52 tuần
Số cổ phiếu lưu hành
Vốn điều lệ
EPS
P/E
BVPS
P/B
52,800 VNĐ
185,001 tỷ
54,300 VNĐ
17,500 VNĐ
3,504,906,320
35,049 tỷ
3,430
15.39
22,566
2.34
Chỉ số nổi bật
CASA
NIM
CIR
ROA
ROE
CAR
NPL
LDR
TCB
46.1%
4.9%
31.9%
3.1%
18.3%
16.1%
0.5%
78.1%
TỔNG QUAN DOANH NGHIỆP
Ngành
17.7%
3.5%
39.2%
1.5%
18.2%
10.5%
1,6%
76.5%
Định giá
Giá đóng cửa
Vốn hố
Vốn chủ sở hữu
LNST 4 q gần nhất
LNST 4 quý tiếp theo
VCSH 4 quý tiếp theo
BVPS dự phóng
P/B dự phóng
Giá mục tiêu
52,800 VNĐ
185,001 tỷ
79,093 tỷ
14,296 tỷ
18,585 tỷ
97,678 tỷ
27,868 VNĐ
2.7
75,200 VNĐ
Diễn biến giá cổ phiếu
Thành lập năm 1993, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ
Thương Việt Nam Techcombank nay đã trở thành Ngân
hàng hàng đầu trong khối tư nhân. Techcombank nổi tiếng
với sự năng động, liên tục thay đổi và phát triển đã giúp
Ngân hàng đạt được những kết quả ấn tượng. Cùng với đó là
sự tiên phong, sáng tạo khiến Techcombank khác biệt hoàn
toàn so với những Ngân hàng khác trong hệ thống
TRIỂN VỌNG NGÀNH NGÂN HÀNG
(1) Kinh tế hồi phục thúc đẩy mở rộng bảng cân đối kế toán
và ổn định chất lượng tài sản
(2) Tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ trở lại
LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ
Tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận khác biệt.
Techcombank là ngân hàng duy nhất tạo ra được lợi nhuận
từ việc cải thiện cả 2 vế của bảng cân đối kế toán dựa vào 2
yếu tố. Đầu tiên là chi phí huy động đầu vào được tối ưu nhờ
tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn CASA liên tục gia tăng. Tiếp theo
là đầu ra với việc là Ngân hàng duy nhất ở Việt nam có thể
linh hoạt cân đối tăng trưởng tín dụng thơng qua Trái phiếu
Doanh nghiệp và cho vay. Ngồi ra thì TCB cũng tiếp tục
tích cực tăng trưởng thu nhập ngồi lãi thơng qua các giải
pháp dịch vụ tài chính.
Chiến lược chuyển từ ngân hàng bán bn sang bán lẻ.
Tầm nhìn của Techcombank là trở thành ngân hàng bán lẻ
hàng đầu Việt Nam với chiến lược "khách hàng là trọng tâm".
Để hiện thực hoá chiến lược này, Techcombank đã xây dựng
một mơ hình về hệ sinh thái của khách hàng để từ đó có thể
tập trung vào nghiên cứu những ngành hàng và Doanh
Nghiệp lớn với chuỗi giá trị có end-users là khách hàng cá
nhân, có thu nhập cao.
Ban Lãnh Đạo tài năng với tầm nhìn đi trước thời đại.
Để có được những kết quả ấn tượng như hơm nay thì không
thể không nhắc đến tài năng của Ban Lãnh Đạo TCB, thể
hiện qua những gì mà họ đã làm được trong quá khứ. Liên
tục đi đầu trên thị trường với những chiến lược tiên phong
như việc quyết định gia nhập thị trường bán lẻ mới đây nhất
thì Ban Lãnh Đạo sẽ là yếu tố quan trọng nhất quyết định
đến thành công của TCB trong tương lai
Rủi ro đầu tư
(1) Rủi ro về lãi suất
(2) Rủi ro thị trường Bất Động Sản
I.TỔNG QUAN DOANH NGHIỆP
1. Lịch sử
Được thành lập năm 1993 – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương
Techcombank, với số vốn điều lệ chỉ 20 tỷ đồng cách đây 27 năm hôm nay đã trở
thành một trong những ngân hàng lớn nhất về vốn điều lệ. Techcombank là một Ngân
hàng thương mại cổ phần tư nhân với cổ đông lớn nhất là Cơng ty cổ phần tập đồn
Masan
2. Hoạt động
Các mảng hoạt đơng chính của Ngân hàng bao gồm (1) Huy động và nhận tiền gửi
ngắn, trung và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân (2) Cung cấp tín dụng ngắn, trung và
dài hạn dựa trên tính chất và khả năng cung ứng nguồn vốn của ngân hàng (3) Thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán và ngân quỹ và các dịch vụ ngân hàng khác được
NHNNVN cho phép (4) Thực hiện góp vốn, mua cổ phần, đầu tư trái phiếu và kinh
doanh ngoại tệ theo quy định của pháp luật.
3. Cơ cấu thu nhập
Cơ cấu thu nhập hoạt động tiếp tục thể hiện sự
thay đổi lành mạnh giữa thu nhập lãi thuần và thu
nhập ngoài lãi .Thu nhập từ hoạt động kinh doanh
năm 2020 của Techcombank đạt mức tăng trưởng
28.4% so với năm trước, tương đương mức doanh
thu là 27,0 nghìn tỷ đồng.Trong đó thu nhập lãi
thuần đến từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn
nhất với 69% tổng thu nhập hoạt động, thu nhập từ
hoạt động dịch vụ chiếm 16% và thu nhập ngoài lãi
khác chiếm 15%. Techcombank là ngân hàng có tỷ lệ
thu nhập ngồi lãi cao nhất trong hệ thống. Bên
cạnh đó, TCB cịn đứng thứ 3 trong danh sách những
ngân hàng có lợi nhuận trước thuế cao nhất 2020 với
Hình 1: Cơ cấu thu nhập hoạt động 2019-2020
15,800 tỷ đồng.
Nguồn: BCTN
4. Cơ cấu khách hàng
Khách hàng của TCB hiện được chia thành 3 nhóm chính là nhóm khách hàng cá
nhân (PFS), nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và nhóm doanh nghiệp lớn
(WB). Trong đó phân khúc khách hàng chiến lược mà TCB tập trung chính là nhóm
khách hàng cá nhân. Nguồn vốn huy động của TCB hiện nay chủ yếu đến từ nhóm
PFS với lượng tiền gửi từ nhóm này chiếm tới 80% lượng tiền gửi có kỳ hạn và 59.4%
lượng tiền gửi khơng kỳ hạn của tồn ngân hàng trong năm vừa qua. Việc khai thác
tập trung vào nhóm khách hàng cá nhân cùng với việc liên tục cải tiến, đưa ra các giải
pháp mới để đẩy mạnh phát triển các nền tảng kỹ thuật số nhằm đáp ứng các nhu cầu
ngày càng cao từ khách hàng đã giúp cho tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn CASA của
Techcombank đạt mức 46.1% trong năm vừa qua. Đây cũng chính là tỷ lệ CASA cao
nhất của một ngân hàng trong hệ thống từ trước đến nay.
Hình 2: Cơ cấu tiền gửi theo loại khách hàng 2019-2020
5. Cơ cấu tín dụng
Hình 3: Cơ cấu tiền gửi khách hàng 2019-2020
Nguồn: BCTN
Cơ cấu tín dụng của Techcombank bao gồm cho vay khách hàng và Trái phiếu
Doanh Nghiệp. Cho vay khách hàng bao gồm khách hàng cá nhân, khách hàng Doanh
nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng Doanh nghiệp lớn. Như đã đề cập ở trên thì phân
khúc khách hàng chiến lược mà TCB hướng đến là khách hàng cá nhân, thể hiện qua
tỷ lệ cho vay khách hàng của mảng này trong năm 2018, 2019 luôn đạt mức 45-46%
tổng cho vay ra.Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tỷ lệ cho vay khách
hàng cá nhân đã giảm nhẹ về mức 40% tổng cho vay, tuy nhiên đây vẫn mảng khách
hàng chiến lược mà Techcombank nhắm đến, đặc biệt là khi nền kinh tế đang trên đà
hồi phục trở lại. Trong cơ cấu cho vay khách hàng cá nhân thì cho vay mua nhà để ở
là hoạt động chủ yếu của Techcombank khi chiếm tới khoảng 80%. Techcombank
nhiều lần được nhận giải “sản phẩm cho vay mua nhà tốt nhất” trong mảng ngân hàng
bán lẻ do tạp chí Asian Banker bình chọn.
Hình 4: Cơ cấu cho vay khách hàng
6. Cơ cấu hoạt động
Hình 5: Cơ cấu cho vay khách hàng cá nhân
Nguồn: Tự tổng hợp
Về cơ cấu hoạt động, Ngân hàng Techcombank có 3 cơng ty con bao gồm:
1. Cơng ty Cổ phần Chứng khốn Kỹ Thương (TCBS) tập trung chủ yếu vào mảng tư
vấn, bảo lãnh phát hành và phân phối trái phiếu với thị phần giao dịch trái phiếu tại
HoSE lên tới 68%.
2. Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ Kỹ Thương (Techcom Capital – TCC) chuyên quản lỹ
các Quỹ trái phiếu và cổ phiếu, hiện đang quản lý Quỹ trái phiếu TCBF với tổng giá trị
tài sản ròng (NAV) đạt 24.130 tỷ đồng, chiếm 63% thị phần các quỹ nội địa về trái
phiếu và cổ phiếu tại Việt Nam
3. Công ty TNHH một thành viên Quản lý nợ và khai thác tài sản (Techcombank AMC)
là một trong những công ty xử lý nợ và khai thác tài sản dẫn đầu trên thị trường.
Trong năm 2020, Techcombank AMC đã thu hồi sợ tổng số tiền 2830 tỷ đồng, trong
đó đóng góp trực tiếp 1260 tỷ đồng vào lợi nhuận của Techcombank thơng qua thu nợ
nhóm khách hàng đã xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro.
7. Cơ cấu cổ đông
Hiện tại Công ty Cổ phần tập đồn Masan
hiện đang là cổ đơng lớn nhất tại
Techcombank với 15% cổ phần nắm giữ. Chủ
tịch Techcombank là ông Hồ Hùng Anh và
những người liên quan nắm giữ gần 15% cổ
phần của Ngân hàng này. Tỷ lệ nhà đầu tư
nước ngồi sở hữu Techcombank là 22.49%,
cịn lại là nhà đầu tư trong nước. Trong thành
phần BLĐ của Techcombank có sự hiện diện
của những gương mặt đến từ Tập đoàn Masan,
đáng chú ý trong số đó là Phó Chủ tịch HĐQT
thứ nhất, ông Nguyễn Đăng Quang, hiện đang
là Chủ tịch HĐQT Cơng ty Cổ phần Tập đồn
Masan. Với cổ đơng chiến lược là Tập đoàn
Masan, đây được xem như là một “bàn đạp”
cho Techcombank trong kế hoạch mở rộng và
phát triển sang thị trường bán lẻ và hàng tiêu
dùng nhanh FCMG thời gian tới
Hình 6: Cơ cấu cổ đơng
Nguồn: Tự tổng hợp
8. Đối tác chiến lược
Khi nhắc đến Techcombank chúng ta không thể không nhắc đến mối quan hệ với
đối tác chiến lược là Vingroup. Sự hơp tác này giúp Techcombank khơng chỉ có cho
mình một khách hàng doanh nghiệp “lớn”, mà còn là cơ hội để Ngân hàng khai thác
các tập khách hàng khác trong chuỗi giá trị xung quanh Tập đồn này, đó mới chính
là điều mà Techcombank hướng tới. Đối tượng khách hàng cá nhân chính của
Techcombank là cho vay mua nhà để ở, phần lớn trong số này là khách hàng của
những dự án Bất Động Sản thuộc Vinhomes. Khơng chỉ cho vay mua nhà,
Techcombank cịn cung cấp những giải pháp tài chính cho những khách hàng này.
Việc có cổ đơng như Masan hay có mối quan hệ chiến lược với 1 ông lớn như
Vingroup giúp cho Techcombank có thể tập trung vào khai thác sâu các tập khách
hàng trong chuỗi giá trị của các Tập đồn này thay vì dàn trải trên nhiều lĩnh vực
khác nhau.
Chuẩn bị nhân sự cho chiến lược mở rộng sang thị trường FCMG. Mới đây thì
Techcombank cũng vừa bầu ơng Hồ Anh Ngọc – em trai Chủ tịch Hồ Hùng Anh vào
HĐQT của Ngân hàng. Ông Ngọc trước đây từng đảm nhiệm nhiều vị trí tại
Techcombank và hiện đang là chủ tịch của One Mount Group – đối tác chiến thược
gần nhất của Techcombank với mục tiêu mở rộng qua thị trường bán lẻ và hàng tiêu
dùng nhanh FCMG
II. TRIỂN VỌNG NGÀNH NGÂN HÀNG
1. Kinh tế hồi phục thúc đẩy mở rộng bảng cân đối kế toán và
ổn định chất lượng tài sản
a. Tốc độ mở rộng bảng cân đối kế toán trở lại mức trước Covid. Kỳ vọng tăng trưởng
tín dụng năm 2021 trong khoảng 13% đến 14% dựa trên những yếu tố sau:
(1) Phục hồi bắt đầu từ việc điều chế vaccine Covide thành công. Do vaccine Covid
đang bước vào giai đoạn thử nghiệm, được kỳ vọng sẽ tạo ra một cú hích cho nền
kinh tế vào năm 2021 và dần phục hồi vào nửa cuối năm. Theo đó, thương mại quốc
tế, sản xuất và tiêu dùng có thể khơi phục và giúp hoạt động cho vay tăng trở lại. Cho
vay bán lẻ ước tính quay lại quỹ đạo tăng trưởng như trước đây sau khi gián đoạn
trong năm 2020. Tỷ lệ CAGR đối với cho vay bán lẻ là 28.5% trong giai đoạn 2016-2019
và giảm tốc còn 8.3% so với đầu năm trong 9 tháng năm 2020. Nhu cầu nợ vay có thể
được hỗ trợ phần nào bởi lãi suất cho vay thấp và việc các ngân hàng có thể cân nhắc
tới lỏng tiêu chuẩn cho vay về tương đương mức trước Covid khi nhận thấy những
dấu hiệu phục hồi rõ rệt hơn của nền kinh tế
(2) Tái khởi động tài chính tiêu dùng. Tài chính tiêu dùng chiếm khoảng 1.6% tổng dư
nợ cho vay trong năm 2020, đây là thời điểm các công ty đầu ngành tập trung thu hồi
nợ và thắt chặt các tiêu chí cho vay. Các tiêu chuẩn cho vay đối với các khoản tiêu
dùng được kỳ vọng có thể quay trở lại mức trước Covid vào nửa cuối năm 2021, thúc
đẩy tăng trưởng tín dụng chung.
b. Cấu trúc vốn được cải thiện, cho phép các ngân hàng có bộ đêm vốn hợp lý cho rủi ro
tín dụng. Hệ thống ngân hàng đang ở vị thế tốt hơn so với chu kỳ tín dụng trước đây,
khi hầu hết các ngân hàng đã giải quyết hết hoặc gần hết tài sản có vấn đề. Theo ước
tính, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản có vấn đề đã cải thiện từ 2.48 lần và 2.30 lần
trong năm 2015 và 2016, lên 6.67 lần vào năm 2020. Nếu coi nợ tái cấu trúc là tài sản
có vấn đề, tỷ lệ này giảm cịn 2.6 lần, tương đương năm 2017. Tình hình này không quá
nghiêm trọng do (1) một phần các khoản vay tái cấu trúc có thể thu hồi và (2) ngoại
trừ BID , các ngân hàng vẫn còn nhiều dư địa để phát hành trái phiếu cấp 2 vào năm
2021. Do đó khả năng cần bơm vốn ngay lập tức của các ngân hàng trong phạm vi
nghiên cứu là thấp. Trong dài hạn, những thách thức về vốn hoá vẫn tồn tại, vì tồn
bộ hệ thống đang nỗ lực tn thủ các tiêu chỉ quốc tế.
VCSH/Tài sản có vấn đề
VCSH/Tài sản có vấn đề (gồm nợ tái cấu trúc)
VCSH/Tài sản có vấn đề
VCSH/Tài sản có vấn đề (gồm nợ tái cấu trúc)
Hình 7: Cấu trúc vốn dần cải thiện
Hình 8: Tỷ lệ vốn/ tài sản có vấn đề các ngân hàng cuối năm 2020
Nguồn: SSI
2. Tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ trở lại
Năm 2021, ước tính LNTT trung bình của nhóm cổ phiếu ngân hàng sẽ tăng trưởng
+21% so với cùng kỳ. Các NHTM quốc doanh ước tính đạt tăng trưởng LNTT cao hơn
(+30%) so với NHTM cổ phần (+17.2%) do LNTT 2020 của các NHTM quốc doanh ở mức
thấp (-6% so với 2019). Các động lực tăng trưởng LNTT chính trong năm 2021 bao gồm:
a. Tăng trưởng thu nhập lãi thuần mạnh mẽ hơn, nhờ mở rộng tín dụng và NIM cải
thiện nhẹ
Năm 2021, ước tính thu nhập lãi thuần sẽ tăng 15% trong khi tăng trưởng tín dụng là
13-14% so với cùng kỳ. NIM tại nhiều ngân hàng sẽ cải thiện. NIM trung bình năm
2021 của các ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu sẽ tăng 10 điểm cơ bản lên 3.55%,
nhưng vẫn thấp hơn -3 điểm cơ bản so với trung bình năm 2019.
(1) Chi phí vốn giảm. Lãi suất huy động giảm từ 2-2.5% vào năm 2020 và mức giảm
mạnh diễn ra trong nửa cuối năm 2020. Theo đó, lãi suất huy động bình quân năm
2020 thấp hơn năm 2019 từ 1.0-1.35%. Lãi suất huy động được cho rằng sẽ dao động
trong biên độ hẹp trong nửa đầu năm 2021 và tăng nhẹ (30-50bps) trong nửa cuối
năm 2021 do tín dụng tốt hơn. Do đó, lãi suất huy động trung bình năm 2021 có thể
thấp hơn năm 2021 từ 75 đến 85 bps. Môi trừng lãi suất huy động thấp này sẽ tiếp tục
giúp các ngân hàng tiết kiệm chi phí vốn
(2) Cịn khả năng tối ưu hố tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR). Năm 2020, tỷ lệ LDR
của toàn hệ thống giảm từ mức 87-89%(2019) xuống mức 72-75%. Theo số liệu của
NHNN, tại thời điểm cuối tháng 10/2020, tỷ lệ LDR của các ngân hàng TMCP nhà
nước và tư nhân lần lượt là khoảng 82% và 72%, vẫn còn xa mức trần 85%. Nhờ vậy,
các ngân hàng có khả năng gia tăng tỷ lệ này để tối ưu hố NIM.
(3) Hầu như khơng có trở ngại từ việc thắt chặt tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay
trung và dài hạn. Thông tư 08/2020/TT-NHNN đưa ra lộ trình giảm mức trần vốn
ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn, từ 40% xuống còn 37% (từ ngày
01/10/2021); 34% (từ ngày 1/10/2022); và 30% (từ ngày 1/10/2023). Chỉ có một số ít
ngân hàng sẽ cần chú ý và điều chỉnh cơ cấu huy động và kỳ hạn cho vay để đáp ứng
quy định này, vì tỷ lệ hiện tại của hầu hết các ngân hàng đã ở dưới mức trần. Theo số
liệu của NHNN, tại thời điểm cuối tháng 10/2020, tỷ lệ này trung bình ở mức 29.8%
đối với ngân hàng TMCP quốc doanh và 27.7% đối với ngân hàng TMCP tư nhân.
(4) Gói hỗ trợ Covid hết hạn. Năm 2020, hệ thống ngân hàng đã miễn/ giảm lãi suất
cho vay đối với 590.000 khách hàng với tổng dư nợ cho vay là 1 triệu tỷ đồng (11%
tổng dư nợ toàn hệ thống), giảm lãi suất cho vay từ 0.5% -2.5%/ năm cho gần 2.3
triệu tỷ đồng dư nợ cho vay mới của 359.000 khách hàng. Khoảng 80% các gói hỗ trợ
được thực hiện trong khoảng thời gian từ 23/1 đến 30/6/2020 và đã dần hết hạn vào
Quý 3/2020. Phần còn lại sẽ hết hạn vào Quý 4/2020 và Quý 1/2021.
Hình 9: NIM các ngân hàng
Hình 10: Lãi suất huy động 12 tháng
Nguồn: SSI
b. Thu nhập ngoài lãi tiếp tục tăng trưởng bền vững (+8.7% so với cùng kỳ), do thu nhập
từ phí phục hồi (+19.2% so với cùng kỳ)
(1) Dịch vụ thanh toán hồi phục nhờ cả hoạt động thanh toán trong nước và quốc tế.
Hoạt động ngoại thương phục hồi mạnh mẽ sau Covid, ước tính tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu năm 2021 sẽ tăng 13,3% so với cùng kỳ (so với mức tăng 4% của năm 2020).
Do đó, thu nhập từ thanh tốn quốc tế và dịch vụ L/C có thể sẽ tăng. Thanh tốn
trong nước cũng tăng trưởng mạnh mẽ từ năm 2019. So với cùng kỳ, tổng giá trị
thanh toán trong nước tăng +27,2% năm 2019 và +22,3% trong 9 tháng đầu năm 2020.
Hoạt động kinh tế trong nước sôi động và sự phát triển của ngân hàng điện tử sẽ mở
rộng hơn nữa quy mơ giao dịch thanh tốn nội địa.
(2) Bancassurance có vị trí vững chắc hơn trong thu nhập tài chính rịng của các
ngân hàng. Các hợp đồng bancassurance độc quyền lớn (ACB - SunLife, CTG Manulife) đã hoàn tất vào cuối năm 2020, cho phép các ngân hàng ghi nhận phí upfront trong vài năm tới. Năm 2021, MSB cũng ước tính tìm kiếm đối tác
bancassurance độc quyền. Lãi suất tiền gửi thấp hỗ trợ tăng thu nhập từ phí bảo
hiểm, đặc biệt là các sản phẩm liên kết đầu tư.
c. Hiệu quả hoạt động sẽ dần thay đổi
Tăng trưởng số lượng nhân viên hàng năm của các ngân hàng trong phạm vi nghiên
cứu giảm từ 15,4% (2016) xuống 4,5% (2019), tương ứng số nhân viên mới giảm từ hơn
17.000 trong năm 2016 xuống còn khoảng 7.000 vào năm 2019. Điều này khiến hệ số
CIR giảm liên tục từ 47,3% (2016) xuống 40% (2019). Trong 9T2020, số lượng nhân
viên chỉ tăng 1,3% so với đầu năm (2.000 nhân viên) và hệ số CIR năm 2020 đạt 37,6%.
Năm 2021, hệ số CIR dự kiến sẽ quay trở lại mức 38,3%, vì mức lương thưởng có thể
tăng trở lại mức trước Covid và các ngân hàng tiếp tục đầu tư dài hạn vào các dự án
CNTT. Cần lưu ý rằng con số này vẫn thấp hơn đáng kể so với CIR năm 2019 là 39,9%,
vì tăng trưởng doanh thu có thể vượt tăng trưởng chi phí.
III. LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ
1. Tiềm năm tăng trưởng lợi nhuận khác biệt
a. Techcombank là ngân hàng duy nhất tạo ra được lợi nhuận từ
việc cải thiện cả 2 vế của bảng cân đối kế toán dựa vào 2 yếu tố:
Chi phí huy động đầu vào được tối ưu nhờ tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn CASA liên tục
gia tăng. Cuối năm 2016, Techcombank ra mắt chương trình “Zero Fee” – Miễn phí
dịch vụ chuyển tiền qua ngân hàng điện tử dành cho khách hàng. Chương trình
nhanh chóng thu hút được sự chú ý của rất nhiều khách hàng, đặc biệt là khách hàng
sử dụng dịch vụ E-Banking. Dẫn chứng cho điều này là khối lượng giao dịch của
khách hàng qua E-banking tăng lên 2.5 lần nhờ chương trình Zero Fee tính đến hết
năm 2019. Tiếp nối sự thành cơng của chương trình Zero-Fee, giữa năm 2018
Techcombank tiếp tục ra mắt chương trình “Hồn tiền 1% khơng giới hạn” cho thẻ ghi
nợ nhằm góp phần thay đổi thói quen thanh toán bằng tiền mặt của người dân. Hiệu
quả cả những chương trình này nhanh chóng được phát huy thể hiện qua tỷ lệ tiền
gửi không kỳ hạn CASA của TCB liên tục tăng từ năm 2016 và đạt mức 46.1% trong
năm 2020, cao nhất các ngân hàng trong hệ thống và gấp hơn 2 lần so với trung bình
ngành. Việc gia tăng tỷ lệ CASA giúp cho Techcombank giảm giá vốn huy động đầu
vào qua đó giúp tăng biên lợi nhuận cho vay ra của Ngân hàng. Năm vừa qua, giá vốn
huy động của Techcombank chỉ ở mức 2.99%, mức thấp nhất từ trước đến nay của
Ngân hàng này. Đây cũng là tỷ lệ thấp thứ 2 trong hệ thống chỉ đứng sau
Vietcombank, một Ngân hàng có lợi thế về huy động giá rẻ thông qua tập khách hàng
Doanh nghiệp lớn từ lâu.
Hình 11: Tỷ lệ CASA và giá vốn huy động
Hình 12: Tỷ lệ CASA và giá vốn huy động ngân hàng 2020
Nguồn: Tự tổng hợp
Ngân hàng duy nhất ở Việt Nam có thể linh hoạt cân đối tăng trưởng tín dụng qua
Trái phiếu Doanh nghiệp và cho vay. Techcombank bao gồm 1 hệ sinh thái khép kín
bao gồm Ngân hàng mẹ, Cơng ty Chứng khốn TCBS và Cơng ty quản lý Quỹ
Techcom Capital. Trong đó TCBS tập trung chủ yếu vào mảng tư vấn, bảo lãnh phát
hành và phân phối trái phiếu với thị phần giao dịch trái phiếu tại HoSE lên tới 68%
còn Techcom Capital hiện đang quản lý quỹ quỹ trái phiếu TCBF với tổng giá trị tài
sản ròng (NAV) đạt 24.130 tỷ đồng, chiếm 63% thị phần các quỹ nội địa về trái phiếu
và cổ phiếu tại Việt Nam. Việc có thế mạnh ở mảng trái nhiều từ các công ty con giúp
Techcombank chủ động trong việc tăng trưởng tín dụng thông qua việc cho vay và
Trái phiếu Doanh nghiệp, đặc biệt trong những thời kỳ khó khăn về tăng trưởng tín
dụng thơng qua cho vay ra như nửa đầu năm 2020 do dịch Covid-19. Lợi ích đến từ
mảng trái phiếu khổng chỉ là đảm bảo đầu ra cho Ngân hàng mẹ mà còn giúp
Techcombank dễ dàng hơn trong việc lựa chọn khách hàng có chất lượng tín dụng
tốt, từ đó giảm thiểu được nguy cơ và tỷ lệ nợ xấu trong cơ cấu của mình.
Hình 13: Cơ cấu tín dụng
Nguồn: Tự tổng hợp
b. Tích cực tăng trưởng thu nhập ngồi lãi thơng qua các giải pháp
dịch vụ tài chính.
Techcombank là ngân hàng có
tỷ lệ thu nhập ngồi lãi cao nhất
trong hệ thống, chiếm 31%
trong tổng thu nhập hoạt động
năm 2020. Trong đó thu nhập từ
mảng hoạt động dịch vụ được
xác định là một trong những
mục tiêu trọng tâm nhằm duy trì
sự tăng trưởng bền vững của
tồn Ngân hàng.
Hình 14: Cơ cấu thu nhập
Nguồn: Tự tổng hợp
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của toàn Ngân hàng đã tăng 28.8% từ 3253 nghìn tỷ
lên đến 4189 nghìn tỷ trong năm 2020 với sự gia tăng trọng yếu đến từ phí tư vấn
phát hành, đại lý phân phối trái phiếu và các dịch vụ khác liên quan đến trái phiếu.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn của phân khúc khách hàng lớn ngày càng tăng đồng thời
phân khúc khách hàng cá nhân có xu hướng tìm kiếm các kênh đầu tư mới do tiền gửi
có kỳ hạn giảm sức hấp dẫn do lãi suất liên tục điều chỉnh xuống, Techcombank đã
tiếp tục đẩy mạnh các dịch vụ liên quan đến trái phiếu với những sản phẩm đa dạng
phù hợp với nhu cầu của từng phân khúc thể hiện ở giá trị phát hành trái phiếu 66,8
nghìn tỷ (khơng bao gồm các trái phiếu của tổ chức tín dụng), tăng 31% so với năm
2019 và khối lượng trái phiếu phân phối qua các kênh đạt 78,9 nghìn tỷ, tăng 32,2% so
với năm trước. Kết quả thu được là sự tăng trưởng ấn tượng 46% doanh thu từ phí của
các dịch vụ liên quan đến trái phiếu (bao gồm bảo lãnh phát hành, phí ủy thác và đại
lý, phí mơi giới và quản lý quỹ) – mức tăng trưởng cao nhất trong các sản phẩm phí,
qua đó tiếp tục nâng tỷ trọng đóng góp của hoạt động này tăng từ mức 45,5% năm
2019 lên 51,6% năm 2020
Hình 15: Cơ cấu doanh thu từ hoạt động dịch vụ
Hình 16: Phí và các dịch vụ liên quan đến Trái Phiếu
Nguồn: BCTN
Tỷ lệ và số lượng giao dịch qua các kênh
trực tuyến tăng cao trong bối cảnh dịch
Covid-19. Bên cạnh những mặt tiêu cực,
Covid-19 và giãn cách xã hội cũng mang lại
những tác động tích cực lên lối sống và
quản lý tài chính của người Việt Nam, đặc
biệt phải kể đến xu hướng dịch chuyển sang
các
kênh
giao
dịch
trực
tuyến.
Techcombank là ngân hàng đi đầu trong xu
hướng chuyển đổi số, nâng cao trải nghiệm
của khách hàng bên cạnh những chiến lược
tiên phong như “Zero Fee” hay “Hoàn tiền Hình 17: Tỷ trọng giao dịch của khách hàng cá nhân qua các kênh
không giới hạn 1%” như đã nêu ở trên. Với
Nguồn: BCTN
những lợi thế vượt trội, Techcombank đã tận dụng cơ hội về xu hướng tiêu dùng mới
này để đem lại những kết quả ấn tượng thể hiện qua những con số ấn tượng về tăng
trưởng số lượng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ (39,7%), số lượng và giá trị giao dịch qua thẻ
cũng tăng mạnh, đạt mức 43,2% và 56,2% so với năm 2019. Năm 2020 cũng ghi nhận
sự chuyển dịch rõ rệt từ các kênh giao dịch truyền thống sang kênh điện tử (từ 68,2%
năm 2019 lên 77,5% năm 2020). Nhờ đó, Techcombank tiếp tục vững vàng duy trì vị trí
số 1 tồn thị trường về khối lượng và giá trị giao dịch qua thẻ VISA và mang lại mức
tăng trưởng 28,3% từ doanh thu phí thẻ và dịch vụ thanh tốn, đóng góp 29,6% trong
tổng doanh thu dịch vụ toàn Ngân hàng.
2. Chiến lược chuyển từ ngân hàng bán bn sang bán lẻ
Tầm nhìn của Techcombank là trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam với
chiến lược “khách hàng là trọng tâm”, đặt chất lượng của khách hàng lên hàng đầu
thay vì tập trung vào số lượng. Chiến lược khách hàng là trọng tâm được phát triển
dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về nhu cầu khách hàng, với các kênh bán hàng, quy trình
và sản phẩm được thiết kế phù hợp với các phân khúc khách hàng khác nhau. Nói
cách khác, theo chiến lược này, ngân hàng sẽ thiết kế và bán nhiều sản phẩm cho một
khách hàng dựa trên hiểu biết về nhu cầu của khách hàng đó. Trong khi với chiến lược
sản phẩm là trọng tâm trước đây, ngân hàng sẽ tìm cách bán một sản phẩm cho nhiều
khách hàng nhất có thể và gia tăng lịng trung thành của khách hàng thơng qua các
chương trình khuyến mãi, tích điểm thưởng vv.
Hình 18: Mơ hình "khách hàng là trọng tâm"
Nguồn: Tự tổng hợp
Để hiện thực hoá chiến lược này, Techcombank đã xây dựng một mơ hình riêng về
hệ sinh thái của khách hàng. Trong mơ hình hệ sinh thái của Techcombank, dựa trên
phân tích top-down, ngân hàng nhìn theo các chuỗi giá trị và chọn lọc những chuỗi
có giá trị cao, sau đó thiết lập quan hệ cho tồn bộ chuỗi giá trị. Ưu điểm của mơ hình
này là (1) doanh nghiệp khó tách ra khỏi Techcombank khi tồn bộ các doanh nghiệp
khác trong chuỗi đều đang sử dụng các dịch vụ của Techcombank (2) gia tăng nguồn
thu từ phí dịch vụ (3) có được thu nhập ổn định trong khi rủi ro ở mức thấp (4) quản
trị rủi ro tốt hơn do trong q trình phân tích ngành ngân hàng hiểu được rủi ro của
từng ngành và khi nào những rủi ro đó có khả năng xảy ra (5) định hướng các doanh
nghiệp vào các khoản vay ngắn hạn, vay tài trợ vốn lưu động, trong khi các khoản vay
dài hạn tập trung vào end-user, qua đó phân tán rủi ro đối với những khoản vay dài
hạn và (6) tiền trong chuỗi giá trị ln ở lại trong Techcombank giúp Techcombank
có được lượng vốn giá rẻ tương đối cạnh tranh
Hình 19: Mơ hình hệ sinh thái khách hàng
Nguồn: Tự tổng hợp
Techcombank có thể tập trung vào nghiên cứu những ngành hàng và Doanh
Nghiệp lớn với chuỗi giá trị có end-users là khách hàng cá nhân, có thu nhập cao từ
mơ hình và những ưu điểm có được kể trên. Việc xác định đối tượng và phân khúc
khách hàng đúng và phù hợp với tiêu chí đề ra taọ ra nguồn thu nhập chính cho Ngân
hàng trong tương lai. Đây cũng là cách mà Techcombank chuyển mình từ Ngân hàng
bán bn sang Ngân hàng bán lẻ như tầm nhìn đề ra
Ví dụ minh hoạ điển hình về mơ hình hệ sinh thái này của Techcombank dựa trên
mối quan hệ với đối tác chiến lược với Vingroup. Không chỉ cung cấp nhu cầu về tài
chính cho Vingroup, TCB cịn hướng đến những doanh nghiệp xây dựng thực hiện các
dự án cho Vingroup, rồi cả những doanh nghiệp cung cấp nguyên vật liệu cho những
công ty xây dựng nêu trêu. Về mảng đầu ra, Techcombank là ngân hàng chính cho
vay mua nhà những khách hàng của Vinhomes. Đây cũng là lí do mà mảng khách hàng
cá nhân của TCB chủ yếu đến từ khách cho vay mua nhà. Từ việc cho vay mua với
khách hàng chính đến từ tầng lớp thu nhập cao, TCB tiếp tục khai thác và cung cấp
những gói giải pháp tài chính cho tập khách hàng này, giúp gia tăng lợi nhuận về
mảng dịch vụ.
Vừa qua Techcombank đã thể hiện ý định thâm nhập vào thị trường bán lẻ và hàng
tiêu dùng nhanh(FCMG) thông qua việc trở thành đối tác chiến lược của One Mount
Group – có chủ tịch là ông Hồ Anh Ngọc, người vừa được bầu vào HĐQT của
Techcombank. Đây là một đơn vị về công nghệ thuộc tập đoàn Vingroup và hiện đang
sở hữu nền tảng ứng dụng Vinshop. Nền tảng giúp kết nối chuỗi cung ứng từ các nhà
sản xuất tới các cửa hàng tạp hố với mơ hình B2B2C, trong đó Vinshop đóng vai trò
B2B kết nối nhà sản xuất tới cửa hàng, cịn VinID đóng vai trị B2C kết nối cửa hàng
tới khách hàng. Trong chuỗi giá trị này thì Techcombank sẽ đóng vai trị là nhà cung
cấp cho các cửa hàng bán lẻ những gói giải pháp tài chính như vốn, quản lý vốn lưu
động, các hình thức thanh tốn chậm hay là thanh tốn khơng dùng tiền mặt vv. Cịn
VinShop cung cấp các công cụ lên kế hoạch và quản lí hàng tồn kho, cung ứng hàng
hóa và các dịch vụ đi kèm. Một lợi thế của Vinshop là có thể tận dụng thông tin từ tập
dữ liệu hơn 10 triệu khách hàng của VinID để nắm bắt xu hướng tiêu dùng, từ đó đưa
ra những giải pháp chiến lược tối ưu nhất. Thông qua VinShop, Techcombank được kỳ
vọng sẽ thu hút được khách hàng với chi phí thấp hơn so với ngân hàng truyền thống,
tạo cơ hội bán thêm sản phẩm. Đồng thời, giúp Ngân hàng quản trị rủi ro tốt hơn và
tăng sự gắn kết với khách hàng.
Việc quyết định gia nhập vào ngành hàng FCMG được cho là bước đi khá táo bạo
của Techcombank nhưng cũng mang đến nhiều cơ hội vì (1) đây là một thị trường
tiềm năng với số lượng cửa hàng tạp hoá dự kiến khoảng 1.6 – 1.7 triệu vào năm 2025,
với tổng giá trị giao dịch ước đạt 50 tỉ USD (2) ngành hàng FCMG là ngày hàng thiết
yếu không bị ảnh hưởng bởi tính chu kỳ như mảng cho vay mua nhà (3) mối quan hệ
với các đối tác có kinh nghiệm về mảng Công nghệ như Vingroup hay mảng Bán lẻ
như Tập đoàn Masan giúp Techcombank dễ dàng tiếp cận hơn với phân khúc mới
này. Dù chỉ mới ở những bước đầu trong kế hoạch dài hạn này, nhưng với những tiềm
năng kể trên của ngành FCMG thì nếu như thành cơng thì đây sẽ được coi là một
bước tiến dài trên hành trình trở thành Ngân hàng số 1 Việt Nam của Techcombank.
3. Ban Lãnh Đạo tài năng với tầm nhìn đi trước thời đại
Để có được những thành tích ấn tượng như hơm nay thì khơng thể khơng nhắc đến
Ban Lãnh Đạo của Techcombank với những tầm nhìn và chiến lược đi trước thời đại.
Tôi cho rằng Ban Lãnh Đạo mới là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định đến
sự phát triển dài hạn của Ngân hàng này trong tương lai. Chúng ta có thể điểm qua
một số chiến lược đã đem lại sự khác biệt cho Techcombank trong những năm gần
đây:
Đầu tiên là việc xây dựng và tận dụng quan hệ đối tác chiến lược với những Doanh
nghiệp hàng đầu ở Việt Nam để phát triển cũng và khai thác tập khách hàng trong
chuỗi giá trị của những Doanh Nghiệp này theo mơ hình hệ sinh thái đã đề cập ở trên.
Trong quá khứ thì TCB đã từng hợp tác với VietNam Airlines, từ đó tiếp cận những
khách hàng phân khác cao cấp của hãng hàng không này. Tới năm 2018 thì đã có
khoảng 37 nghìn khách hàng sử dụng thẻ đồng thương hiệu Vietnam Airlines tại
Techcombank. Đồng thời những khách hàng này có tổng dư nợ cho vay mua nhà
khoảng 6500 tỷ, chiếm 15% tổng danh mua cho vay mua Bất Động Sản, đóng góp 8%
vào CASA và 7% vào thu nhập dịch vụ thời điểm đó. Bên cạnh VietNam Airlines thì
ngân hàng HSBC trước khi thối vốn khỏi TCB đã có những hỗ trợ kỹ thuật đối với
TCB, nhờ đó việc đầu tư vào hệ thống, quy trình hiện đại cũng như quản trị và mơ
hình tổ chức giúp TCB có thể linh hoạt chuyển đổi theo các chiến lược mới (theo hệ
sinh thái khách hàng và chuỗi giá trị kể từ 2014) giúp TCB kịp thời nắm bắt được cơ
hội tăng trưởng trong giai đoạn 2015-2017 . Hiện nay thì cổ đơng và đối tác chiến lược
chính của Techcombank là Cơng ty Tập đồn Masan và Tập đồn Vingroup. Đây là 2
doanh nghiệp có chuỗi giá trị trong 2 ngành tiềm năng nhất thị trường hiện nay là
Bán lẻ và Bất động sản. Nếu như ở mảng Bất động sản thì Techcombank đã khẳng
định được vị thế của mình trong hoạt động cho vay mua nhà để ở nhờ sự hợp tác với
Vingroup thì Ngân hàng vẫn đang từng bước nghiên cứu và thâm nhập vào thị trường
bán lẻ và tiêu dùng nhanh, tận dụng kinh nghiệm của cổ đơng lớn là Tập đồn Masan.
Tiếp theo là câu chuyện Techcombank triển khai chương trình “Zero-Fee” vào cuối
năm 2016. Ở thời điểm mà các Ngân hàng đang đẩy mạnh việc “Giảm lợi nhuận từ lãi,
tăng thu nhập từ phí” thì đây được xem là một quyết định táo bạo của Ban Lãnh Đạo
TCB. Chiến lược khác biệt này nhằm thu hút khách hàng cá nhân, từ đó tăng tỷ lệ tiền
gửi khơng kỳ hạn CASA của Ngân hàng, và kết quả thì như đã đề cập ở trên khi tỉ lệ
CASA của TCB năm qua đạt mức 46.1%, cao nhất trong các Ngân hàng trong hệ
thống.
Cuối cùng là việc đi tiên phong trong mảng Trái phiếu Doanh nghiệp của
Techcombank trên thị trường thể hiện qua những con số sau đây. Techcombank nổi
tiếng là ngân hàng sở hữu giá trị chứng khoán nợ của tổ chức kinh tế phát hành lớn
nhất. Tính đến hết năm 2020, lượng Trái phiếu Doanh nghiệp mà Ngân hàng này nắm
giữ là 46.500 tỷ đồng, chiếm 14.4% tổng tín dụng. Trong năm 2018, con số này thậm
chí chiếm tới 27.2% tổng tín dụng của tồn Ngân hàng Techcombank. Techcombank
sở hữu 2 công ty con bao gồm TCBS là công ty chứng khốn nhưng nghiệp vụ chính
lại là tư vấn và bảo lãnh phát hành trái phiếu, với thị phần lên tới 68% trái phiếu giao
dịch tại HoSE. Bên cạnh đó là Công ty Quản lý Quỹ TechcomCapital chuyên về quản
lỹ các quỹ trái phiếu và cổ phiếu, trong đó chiếm phần lớn là quỹ Trái phiếu TCBF với
tổng giá trị tài sản ròng (NAV) lên tới 24.130 tỷ đồng, chiến 63% tổng giá trị của các
quỹ mở nội địa trên thị trường hiện nay.
Việc tập trung phát triển vào mảng Trái phiếu là chiến lược ngay từ đầu của
Techcombank và được ngân hàng này thực hiện một cách bài bản. Và như đã đề cập
ở luận điểm đầu tiên, Trái phiếu đem lại những lợi ích cho ngân hàng khơng những
thơng qua những khoản phí thu tư vấn và bảo lãnh đến từ cơng ty chứng khốn, nó
cịn đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng mẹ trong việc tăng trưởng tín dụng một
cách linh hoạt, đặc biệt là trong thời gian cho vay ra gặp nhiều khó khăn. Trái phiếu là
nhân tố quan trọng trong sự vận hành của những nền kinh tế phát triển trên thế giới.
Và ở Việt Nam thì đây đang là một thị trường khá mới, với tiềm năng phát triển lớn.
Gần đây chính phủ đã ban hành nghị định 81 để kiếm soát những dấu hiệu của sự
tăng “nóng” của thị trường Trái phiếu, khiến cho tăng trưởng của mảng này trong
ngắn hạn được dự báo là sẽ chậm lại. Nhưng theo quan điểm cá nhân tơi, đây lại là
một tín hiệu tính cực khi giúp cho thị trường này có thể định hình lại một cách chính
xác, qua đó tăng trưởng một cách bền vững trong dài hạn, mà ở đó với kinh nghiệm
và vị thế dẫn đầu của mình, Techcombank chắc chắn là Ngân hàng được hưởng lợi
nhiều nhất.
Hình 20: Dư nợ thị trường TPDN
Hình 21: Quy mơ TPDN các nước trong khu vực 2020
Nguồn: Fiin Ratings
Tầm nhìn dài hạn của Ban Lãnh Đạo với chiến lược gia nhập ngành tiêu dùng nhanh
FCMG. Những câu chuyện nêu trên đã minh chứng cho sự tiên phong đi trước thời
đại của Ban Lãnh Đạo Techcombank trong hành trình đưa Ngân hàng tư nhân này trở
thành một trong những Ngân hàng có hiệu quả kinh doanh tốt nhất hệ thống như
hiện tại và còn tiềm năng tiến xa hơn nữa trong tương lai. Cùng với những câu chuyện
và chiến lược đã thực hiện được trong quá khứ thì như đã đề cập ở luận điểm thứ 2 thì
hiện nay Techcombank đang thực hiện kế hoạch thâm nhập vào thị trường bán lẻ và
tiêu dùng nhanh FCMG. Ở phần trên tơi đã phân tích về những cơ hội của TCB khi gia
nhập vào thị trường này. Tuy nhiên vẫn còn những rủi ro hay khó khăn cần phải đề
cập đến và xem xét kỹ, ví dụ như việc số lượng khách hàng mảng tài chính tiêu dùng
có thể là rất nhiều nhưng quy mơ mỗi khoản vay rất nhỏ, vì vậy chi phí hoạt động sẽ
là nhược điểm lớn cần phải phân tích kỹ. Với tiêu chí “low risk, high return”,
Techcombank luôn ưu tiên những hoạt động mà Ngân hàng đã hiểu rõ và quản trị rủi
ro tốt, từ đó tạo ra lợi nhuận một cách an toàn nhất. Với một mảng mới dù có nhiều
cơ hội nhưng cũng khơng ít thách thức như FCMG thì Techcombank vẫn sẽ theo
chiến lược đã đề ra là tiên phong nhưng không vội vàng, Ngân hàng sẽ tìm hiểu và
phân tích thật kỹ càng trước khi đi sâu hơn vào những quyết định quan trọng. Và với
một chiến lược mang tính tiên phong, đột phá nhưng vẫn còn quá nhiều điều để phải
xem xét như vậy, thì điều mà chúng ta – những nhà đầu tư có thể tin tưởng nhất vào
sự thành cơng của nó có thể chỉ là tài năng của Ban Lãnh Đạo của Ngân hàng, những
người đã thể hiện được năng lực và tầm nhìn đi trước thời đại qua những gì mà họ đã
làm được như tơi đã kể trên.
IV.PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
1.Bảng cân đối kế tốn tiếp tục mở rộng
Trong năm 2020, tổng tín dụng của tồn ngân hàng đạt mức 324.253 tỷ động, tăng
24% so với 2019. Trong đó tỷ lệ cho vay khách hàng chiếm 85.6% với số dư 277.458 tỷ
đồng. Số dư tiền gửi khách hàng cũng đạt mức 277.458 tỷ đồng, tăng gần 20% so với
năm 2019. Kết thúc năm 2020, tổng tài sản của Techcombank đạt mức 439.602 tỷ
đồng, tăng gần gấp đôi so với tổng tài sản năm 2016. Ngân hàng tiếp tục không chia
cổ tức trong năm vừa rồi, nâng giá trị của vốn chủ sở hữu lên mức 74.614 tỷ đồng,
tăng 20% so với 2019 và tăng gần gấp 4 lần so với thời điểm 2016
Hình 22: Cơ cấu tín dụng
Hình 23: Tiền gửi khách hàng
Nguồn: BCTN, Tự tổng hợp
Hình 24: Tổng tài sản
Hình 25: Tổng vốn chủ sở hữu
Nguồn: BCTN
2..Kết quả hoạt động kinh doanh ấn tượng
Techcombank vững vàng giữ vị trí thứ 3
trong danh sách những ngân hàng có lợi
nhuận cao nhất năm 2020. Trong năm vừa
qua, lợi nhuận trước thuế đạt 15.8 nghìn tỷ
đồng (tăng trưởng 23.1%) với tổng thu nhập
hoạt động đạt 27.0 nghìn tỷ đồng(tăng
trưởng 28,4%). Đây là quý 21 liên tiếp mà
Ngân hàng ghi nhận doanh thu tăng trưởng
so với quý trước đó cho thấy hiệu quả hoạt
động của Techcombank ngày càng được
nâng cao. Trong cơ cấu nhập từ hoạt động,
thu nhập từ lãi thuần vẫn đóng góp chính,
chiếm 69% tổng thu nhập. Trong khi đó
thu nhập ngồi lãi và dịch vụ tiếp tục tăng
trưởng so với năm trước (17% và 28% yoy)
tiếp tục cho thấy sự cân đối đa dạng đến từ
các khoản thu của Techcombank – đi đúng
với chiến lược đẩy mảnh tăng trưởng thu
nhập ngồi lãi của Ngân hàng
Hình 27: Lợi nhuận trước thuế
Hình 26: Tổng thu nhập hoạt động
Hình 28: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ
3.Khả năng sinh lời hiệu quả nhất hệ thống
Nguồn: BCTN
Để đạt được kết quả hoạt động kinh doanh ấn tượng như năm vừa rồi thì khơng thể kể
đến khả năng sinh lời hiệu quả tốt nhất hệ thống của Tecombank. Đầu tiên có thể kể
đến là tiền gửi không kỳ hạn CASA với số dư năm 2020 lên tới 128.039 tỷ đồng (tăng tới
60% yoy) trong khi tỷ lệ CASA chiếm tới 46.1% tổng huy động, đây là tỷ lệ cao nhất so
với các ngân hàng trong hệ thống. Tỷ lệ CASA cao làm giảm giá vốn huy động của ngân
hàng, qua đó giúp NIM tăng mạnh lên mức 4.9% so với 4.2% năm 2019. Tỷ lệ ROA năm
vừa qua của Techcombank đạt mức 3.1%, dẫn đầu so với các ngân hàng trong hệ thống,
thể hiện vị thế só 1 ngành Ngân hàng về hiệu quả hoạt động. Bên cạnh các chỉ số về
hiệu quả hoạt động ấn tượng, chi phí của Techcombank cũng được sử dụng một cách
tối ưu thể hiện cho tỷ lệ chi phí trên thu nhập CIR ở mức 31.9% (giảm 2.8% yoy), đứng
thứ 2 trong hệ thống sau VP Bank.
Hình 29: Số dư và tỷ lệ CASA
Hình 31: ROA
Hình 30: NIM
Hình 32: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập hoạt động CIR
Nguồn: BCTN, Tự tổng hợp
4.Tỷ lệ an toàn vốn và chất lượng tài sản tốt nhất hệ thống
Techcombank là ngân hàng có tỷ lệ an
tồn vốn và tỷ lệ nợ xấu tốt nhất trong
hệ thống. Hệ số CAR an toàn vốn của
TCB năm 2020 đạt mức 16.1%, đứng số
1 trong các Ngân hàng lớn về tỷ lệ an
toàn vốn. Con số này cũng vượt xa
tiêu chuẩn 8% đề ra, tạo tiền đề cho
Ngân hàng tiếp tục tăng trưởng về tín
dụng và lợi nhuận trong những năm
tới. Bên cạnh đó, dù cho vay khách
hàng tiếp tục tăng mạnh trong năm
vừa qua nhưng tỷ lệ nớ của
Hình 33: Hệ số CAR và tỷ lệ nợ xấu
Techcombank chỉ ở mức 0.5%, thấp
Nguồn: BCTN, Tự tổng hợp
nhất từ trước đến nay và cũng là tỷ lệ nợ xấu tốt nhất trên thị trường. Đây là một tín
hiệu cho thấy việc quản trị rủi ro các khoản cho vay ra của Ngân hàng này ngày càng
được cải thiện. Với tỷ lệ an toàn vốn cao và chất lượng tài sản tổt, TCB được đánh giá là
sẽ còn dư địa tăng trưởng khá lớn so với các Ngân hàng khác cùng hệ thống.
V.ĐỊNH GIÁ
Sử dụng phương pháp P/B để
định giá, tôi khuyến nghị mua cổ
phiếu TCB với giá mục tiêu
75,200 VNĐ một cổ phiếu trong
12 tháng tới, upside 43% so với
giá đóng cửa ngày 2/6/2020.
Trong mơ hình định giá này, tơi
sử dụng phương pháp so sánh
P/B của 10 ngân hàng có lợi
nhuận cao nhất trong hệ thống
Trong danh sách này tôi loại bỏ
VIB vì cho rằng chỉ số P/B hiện
tại đang khơng thể hiện đúng cơ
bản của Ngân hàng này cịn
Hình 34: P/B các ngân hàng có lợi nhuận cao nhất
Agribank khơng được tính vì là
Ngân hàng chưa niêm yết. Tại giá
Nguồn: Tự tổng hợp
đóng cửa ngày 2/6/2021, P/B
trung bình của 8 ngân hàng xem xét 2.58. Với vị thế là ngân hàng tư nhân hàng đầu hệ
thống cùng với những chiến lược tiên phong và lợi thế cạnh tranh kể trên, tôi cho rằng
mức P/B forward hợp lý của Techcombank trong 12 tháng tới là 2.7, cao hơn mức trung
bình của các Ngân hàng được so sánh.
Về lợi nhuận sau thuế, tơi dự phóng lợi
nhuận 12 tháng tiếp theo sẽ tăng trưởng
30% yoy. Tốc độ tăng trưởng này dựa
trên những lợi thế mà Techcombank đang
sở hữu như tỷ lệ CASA tiếp tục tăng giúp
giá vốn đầu vào liên tục được cải thiện
cùng với việc chất lượng tài sản tốt giúp
Ngân hàng được cân nhắc cấp phép hạn
mức tăng trưởng tín dụng cao hơn mức
trung bình Ngành, điều này giúp thu nhập
Giá đóng cửa
Vốn hố
Vốn chủ sở hữu
LNST 4 q gần nhất
LNST 4 quý tiếp theo
VCSH 4 quý tiếp theo
BVPS dự phóng
P/B dự phóng
Giá mục tiêu
52,800 VNĐ
185,001 tỷ
79,093 tỷ
14,296 tỷ
18,585 tỷ
97,678 tỷ
27,868 VNĐ
2.7
75,200 VNĐ
Hình 35: Dự phóng 12 tháng tới
Nguồn: Tự tổng hợp
lãi thuận được đẩy mạnh bên cạnh việc
thu nhập từ hoạt động dich tụ tiếp tục được gia tăng. Thêm vào đó là việc backtest vào
chỉ tiêu đề ra của Ban Lãnh Đạo trong các năm vừa qua. Trong năm 2021 thì Ban Lãnh
Đạo Techcombank đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng lợi nhuận 25% so với năm 2020.
Backtest lại trong quá khứ thì nhận thấy rằng kết quả kinh doanh của Techcombank
những năm vừa qua luôn vượt mức đề ra so với chỉ tiêu, vậy nên tôi cho rằng mức tăng
trưởng lợi nhuận 30% trong 12 tháng tới là một tỷ lệ hợp lý.
VI.RỦI RO
1. Rủi ro về lãi suất
Hiện nay mặt bằng lãi suất huy động chung của tất cả các kỳ hạn đã giảm từ 200 –
300 bps so với cùng kỳ do chính sách của NHNN giúp kích thích nền kinh tế sau
Covid-19. Điều này giúp cho giá vốn huy động của các Ngân hàng nói chung và
Techcombank nói riêng giảm đi đáng kể, giúp Ngân hàng tăng biên lợi nhuận NIM.
Nhưng khi nền kinh tế đã đi hồi phục thì rủi ro về việc NHNN tăng lãi suất huy động
là có, điều khiến có thể khiến biên lợi nhuận từ cho vay ra của các Ngân hàng giảm
xuống. Tuy nhiên với Techcombank, tôi đánh giá đây không phải rủi ro quá lớn khi
Ngân hàng có lợi thế về tỷ lệ CASA cao giúp cho giá vốn đầu vào liên tục được cải
thiện ở mức tối ưu nhất vì thế rủi ro về lãi suất là quá phải lo ngại.
2. Rủi ro thị trường Bất Động Sản.
Như đã nêu trên thì phân khúc khách hàng chiến lược mà Techcombank hướng tới
là khách hàng cá nhân, trong đó cho vay mua nhà để ở chiếm tỷ trọng chủ yếu
trong phân khúc này. Điều này có thể dẫn đến rủi ro phụ thuộc vào Bất Động Sản
trong khi đây là một ngành theo chu kỳ và có độ rủi ro khá lớn. Đơn cử như năm
2020 vừa qua do ảnh hưởng của dịch Covid-19 thì tỷ lệ số căn hộ mở bán và bàn
giao thấp nhất nhất trong 10 năm trở lại đây khiến cho tín dụng mảng cho vay mua
nhà của Techcombank có ảnh hưởng. Tuy nhiên Techcombank ln tập trung vào
phân khúc khách hàng cá nhân có thu nhập cao, chất lượng tín dụng tốt và được
ngân hàng thẩm định kỹ càng, cùng với việc Ngân hàng đánh giá lĩnh vực này với hệ
số rủi ro cao theo quy định của NHNN để kiểm sốt thì tơi cho rằng rủi ro về thị
trường này cũng là không đáng kể với Techcombank. Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng
đang triển khai kế hoạch mở rộng qua ngành bán lẻ và tiêu dùng nhanh FCMG như
đã nêu trên, điều này giúp Techcombank trong dài hạn khơng cịn q phụ thuộc
vào mảng Bất Động Sản quá nhiều.