HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA CHÍNH TRỊ HỌC
-------------------------
TIỂU LUẬN
MƠN: CHÍNH TRỊ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Đề tài:
Khắc họa chân dung thủ lĩnh chính trị mà em ngưỡng mộ.
Có nhận xét và đánh giá.
Giảng viên hướng dẫn: Dương Thị Thục Anh
Sinh viên: Vũ Phương Thuỳ
Mã số sinh viên: 2151070047
Lớp: Truyền Thông Quốc Tế K41
2
Hà Nội, tháng 03 năm 2022.
MỤC LỤC
MỞ
ĐẦU..........................................................................................................................3
1.
Lý
do
chọn
đề
tài.......................................................................................................3
2.
Mục
đích
và
nhiệm
vụ
nghiên
phạm
vi
nghiên
cứu............................................................................3
3.
Đối
tượng
và
cứu.............................................................................3
4.
Phương
pháp
nghiên
cứu..........................................................................................3
5.
Kết
cấu
tiểu
luận.......................................................................................................3
NỘI
DUNG......................................................................................................................4
CHƯƠNG
1.
THỦ
TRỊ.....................................................................4
LĨNH
1.
Khái
niệm
thủ
trị...................................................................................4
2.
Phẩm
chất
của
người
trị..................................................................6
3.
Vai
trị
của
thủ
thủ
trị..................................................................................7
CHÍNH
lĩnh
chính
lĩnh
lĩnh
chính
chính
3
CHƯƠNG 2. TẬP CẬN BÌNH – VỊ THỦ LĨNH CHÍNH TRỊ TÀI GIỎI CỦA
TRUNG QUỐC..........................................................................................................4
1.
Bối
cảnh
Trung
Quốc
giữa
thế
kỷ
XX
và
đầu
thế
kỷ
XXI...................................10
1.1. Kinh tế........................................................................................................7
1.2.
Chính
trị
-
xã
hội.........................................................................................7
1.3. Đối ngoại....................................................................................................7
2.
Con
đường
đến
quyền
lực....................................................................................11
2.1.
Gia
đình,
q
hương....................................................................................7
2.2.
Thời
niên
thiếu............................................................................................7
2.3.
Sự
nghiệp
chính
trị......................................................................................7
3.
Vai
trị
đối
với
quốc
gia,
dân
tộc..........................................................................12
CHƯƠNG
3.
LIÊN
HỆ,
BÀI
HỌC............................................................................4
KẾT
LUẬN .....................................................................................................................19
TÀI
LIỆU
KHẢO..............................................................................................20
THAM
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài.
Từ thời xa xưa cho đến tận ngày nay, ở bất cứ đâu khi xuất hiện sự tồn tại nhóm
người với những hoạt động mang tính tập thể đều xuất hiện thủ lĩnh. Thủ lĩnh là một
trong những dấu hiệu cơ bản của một tổ chức, của hoạt động chung. Chính trị học
nghiên cứu thủ lĩnh chính trị như một hiện tượng đặc biệt của quyền lực, nghiên cứu
5
bản chất, cơ chế hoạt động, sự ảnh hưởng đến các q trình, hoạt động chính trị, cũng
như nghiên cứu các phương pháp và các khuyến nghị thực tiễn về đào luyện thủ lĩnh
chính trị có hiệu quả.
Chính trị liên quan đến số đông con người, là hoạt động tập thể của những tập
đồn người. Hoạt động tập thể đó đòi hỏi sự phân chia vai trò, chức năng quản lý có
tính nghiệp vụ và sự phục tùng, do đó cần phải thể chế hố, định hình chính thức các
thủ lĩnh chính trị, xác định vị thế của họ bởi quyền hành mang tính quyền lực nhất
định. Cố Tổng thống Pháp De Gaulle cịn nói: “Con người khơng thể thiếu thủ lĩnh,
cũng như không thể thiếu thức ăn và nước uống. Những động vật chính trị này cần phải
trong tổ chức, tức là trong trật tự và các thủ lĩnh”. Tầm quan trọng của thủ lĩnh nói
chung hay thủ lĩnh chính trị nói riêng là điều khơng thể phủ nhận trong bất kì thời kì
nào. Đây chính là lý do vì sao em lại chọn đề tài tiểu luận này.
Ngồi ra, nhận thấy Chủ tịch Tập Cận Bình và những chính sách, thành tựu trong
nhiều lĩnh vực của ơng cũng là một đề tài đáng nghiên cứu, bởi vậy em đã chọn chân
dung của chủ tịch Tập Cận Bình để từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài được thực hiện với mục đích làm rõ những khái niệm, lý luận về vấn đề thủ
lĩnh chính trị. Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu về chân dung Chủ tịch Tập Cận Bình
trên phương diện chính trị, quản lý đất nước. Từ những cơ sở đó, đề tài cũng sẽ đưa ra
một hệ thống các quan điểm, chính sách đúng đắn, khoa học có ý nghĩa phương pháp
luận đối với việc đào tạo và quản lý thủ lĩnh của những thế hệ sau này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề lý luận về thủ lĩnh chính trị và hình ảnh, bản lĩnh
chính trị của Chủ tịch Tập Cận Bình – vị thủ lĩnh tài giỏi của Trung Quốc.
Phạm vi nghiên cứu:
6
Trong khuôn khổ của một tiểu luận, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội
dung cơ bản của vấn đề thủ lĩnh chính trị như khái niệm, vai trị, đặc điểm,...Bên cạnh
đó, đề tài cũng sẽ đưa ra quan điểm, cái nhìn về những thành tựu cũng như một số vấn
đề gây tranh cãi trong chính sách ngoại giao của Chủ tịch Tập Cận Bình.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở tham khảo các tài liệu nghiên cứu về vấn đề này, việc nghiên cứu đề
tài áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử, phương pháp phân tích tổng hợp so sánh, quy nạp diễn dịch, thống kê, logic.
Về mặt hệ tư tưởng, quá trình nghiên cứu phải đứng trên lập trường quan điểm tư
tưởng của nho giáo và quan điểm của C. Mác,. V.I.Lênin trong việc xây dựng xã hội,
đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế, vừa xuất phát từ tình hình thực tiễn của đất
nước để có những nhận thức vừa đúng đắn vừa khoa học và thời đại.
5. Kết cấu tiểu luận.
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, kết cấu của tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Thủ lĩnh chính trị
Chương 2: Tập Cận Bình – Vị thủ lĩnh chính trị tài giỏi cuả Trung Quốc.
Chương 3: Liên hệ, bài học.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. THỦ LĨNH CHÍNH TRỊ
Trong xã hội có giai cấp được tổ chức thành nhà nước, hệ thống tổ chức quyền
lực có vai trị quyết định trong việc thực thi quyền lực chính trị của giai cấp thống trị.
Trong đó, vai trị của thủ lĩnh chính trị - người đứng đầu của hệ thống, của mỗi tổ chức
trong hệ thống quyền lực đó - là đặc biệt quan trọng, thậm chí quy định cả tính chất,
nội dung, chiều hướng vận động của quyền lực chính trị.
7
1. Khái niệm thủ lĩnh chính trị
Nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại Xênôphôn là người đầu tiên đưa ra quan niệm về thủ
lĩnh chính trị. Theo ơng, việc làm chủ nghệ thuật chính trị là trình độ cao hơn cả mà
con người có thể đạt tới; cai trị nhà nước trong đời sống nhân loại là công việc quan
trọng nhất. Thủ lĩnh chính trị - người cai trị tối cao - là người phải biết chỉ huy. Như
vậy, thủ lĩnh chính trị (người cai trị), theo Xenơphơn, phải là người thơng minh, nhận
thức được chính trị; là một nhà tâm lý biết lôi kéo, tập hợp và tác động đến nhiều người
khác; là người biết bảo vệ lợi ích chung, người đó phải do tự rèn luyện mà nên; anh ta
là người biểu hiện ý chí của thần linh (trong thời cổ đại, thân linh ln đứng về phía
người chiến thắng).
Nhà tư tưởng La Mã cổ đại Xixeron lại quan niệm: thủ lĩnh chính trị phải là nhà
thơng thái. Ông đặc biệt đề cao phẩm chất thông thái của người thủ lĩnh. Nhờ thơng
thái, người thủ lĩnh có thể tập hợp được mọi người, cai trị được họ và thể hiện đầy đủ ý
chí của thần linh.
Theo quan điểm của các nhà triết học duy tâm, xã hội phải trải qua những giai
đoạn “thăng trầm điên đảo”, những cảnh trái ngược bất cơng, kẻ giàu sang, người
nghèo đói, những cuộc “chém giết tương tàn” là vì chưa xuất hiện những vĩ nhân hiểu
được ý trời hay chân lý vĩnh cửu. Những vĩ nhân xuất hiện sớm chừng nào thì sẽ xây
dựng được xã hội “tự do, bình đẳng, bác ái” sớm chừng ấy, và tránh cho nhân loại
những đau thương và những điều xấu xa.
Hiện nay, trong các tài liệu khác nhau, người ta có sử dụng những thuật ngữ khác
nhau: thủ lĩnh chính trị, lãnh tụ chính trị, người lãnh đạo chính trị... Về thực chất,
những thuật ngữ này là những từ đồng nghĩa. Có thể quan niệm về thủ lĩnh chính trị
như sau: Đó là nhân vật xuất sắc trong lĩnh vực hoạt động chính trị, xuất hiện trong
những điều kiện lịch sử nhất định, có sự giác ngộ lợi ích, mục tiêu, lý tưởng giai
cấp, có khả năng nắm bắt và vận dụng quy luật khách quan, có năng lực tổ chức và
tập hợp quần chúng để giải quyết những nhiệm vụ chính trị do lịch sử đặt ra.
8
2. Phẩm chất của người thủ lĩnh chính trị
Là thủ lĩnh chính trị thì dù ở bất cứ chế độ xã hội nào và trong bất cứ thời đại nào
cũng đều phải có những phẩm chất nhất định, như: có trí tuệ, có năng lực đạt tới mục
tiêu chính trị đề ra, có khả năng cai trị... Tuy nhiên, trong mỗi chế độ chính trị, ở mỗi
giai đoạn phát triển của lịch sử, người thủ lĩnh chính trị cũng có những phẩm chất
riêng. Bởi vậy, khi xem xét về phẩm chất của thủ lĩnh chính trị cân có quan điểm khách
quan, toàn diện, dựa vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể và đặc biệt phải có quan điểm giai
cấp rõ ràng vì chính trị là đấu tranh cho lợi ích giai cấp, thủ lĩnh chính trị ln là người
thể hiện tập trung, tiêu biểu cho lợi ích giai cấp.
Có thể khái quát về phẩm chất của người thủ lĩnh chính trị như sau:
Thứ nhất, về trình độ hiểu biết: người thủ lĩnh chính trị nhất thiết phải là người
thơng minh, có trình độ hiểu, biết sâu rộng các lĩnh vực; có trình độ trí tuệ, có tư duy
khoa học; nắm vững được quy luật phát triển theo hướng vận động của q trình chính
trị; có khả năng dự báo, tiên đốn tình hình, làm chủ được khoa học và nghệ thuật lãnh
đạo, quản lý.
Thứ hai, về phẩm chất chính trị: thủ lĩnh chính trị phải là người giác ngộ lợi ích
giai cấp, thể hiện tập trung, tiêu biểu cho lợi ích giai cấp; trung thành với mục tiêu lý
tưởng đã chọn; dũng cảm đấu tranh bảo vệ lợi ích giai cấp, có bản lĩnh chính trị vững
vàng trước những bước phát triển phức tạp, quanh co của lịch sử.
Thứ ba, về năng lực tổ chức: thủ lĩnh chính trị là người có khả năng về cơng tác
tổ chức, nghĩa là, biết đề ra mục tiêu đúng; phân công đúng chức năng cho cấp dưới và
cho từng người, biết tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; có khả năng động viên, cổ
vũ, khích lệ mọi người hoạt động; có khả năng kiểm sốt, kiểm tra cơng việc...
Thứ tư, về đạo đức, tác phong: thủ lĩnh chính trị phải là người có tính trung thực,
cơng bằng, khơng tham lam, vụ lợi; cởi mở và cương quyết; có lối sống giản dị, có khả
năng giao tiếp và tạo mối quan hệ tốt với mọi người; biết lắng nghe ý kiến của người
khác, có lịng tin vào chính bản thân mình; có khả năng tự kiểm tra bản thân, khả năng
9
giữ gìn và bảo vệ uy tín của mình; có chính kiến và dám bảo vệ chính kiến; có lịng say
mê cơng việc và lịng tin vào cấp dưới.
Thứ năm, về khả năng làm việc: có sức khỏe tốt, khả năng làm việc cao, có khả
năng giải quyết mọi vấn đề một cách sáng tạo, nhạy cảm và năng động, biết cảm nhận
cái mới và đấu tranh vì cái mới.
3. Vai trị của thủ lĩnh chính trị
Là những nhân vật xuất sắc trong lĩnh vực hoạt động chính trị, khác với những
con người chính trị khác (người cơng dân, người hoạt động chính trị chun nghiệp),
thủ lĩnh chính trị có vai trị to lớn đối với tiến trình phát triển của lịch sử. Tuy nhiên,
tùy theo những điều kiện lịch sử, vị thế của giai cấp hay tầng lớp sản sinh ra người cầm
đầu mà vai trò của thủ lĩnh chính trị có thể là tích cực hay tiêu cực.
a. Vai trị tích cực của thủ lĩnh chính trị
Vai trị tích cực của thủ lĩnh chính trị chỉ xuất hiện khi giai cấp sản sinh ra thủ
lĩnh là tiến bộ, hoạt động của thủ lĩnh phù hợp với quy luật khách quan, với tiến trình
phát triển của lịch sử, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của quần chúng. Đó chính là
lãnh tụ của quần chúng. Chỉ như vậy, họ mới tập hợp, động viên được quần chúng và
được quần chúng ủng hộ. Sức mạnh của họ là sức mạnh của quần chúng.
Vai trị tích cực của thủ lĩnh chính trị được thể hiện ở những điểm sau:
- Do nhận thức đúng yêu cầu phát triển của xã hội và khả năng hiện có, thủ lĩnh
chính trị có vai trị quyết định trong việc xây dựng, hồn thiện hệ thống tổ chức quyền
lực mà chính họ là linh hồn của hệ thống đó, hướng hệ thống quyền lực phục vụ việc
thỏa mãn nhu cầu của xã hội, của giai cấp, góp phần tạo động lực thúc đẩy xã hội phát
triển.
- Cùng đội tiên phong của giai cấp, thủ lĩnh chính trị lơi kéo, tập hợp quần chúng,
thuyết phục, giáo dục và phát huy sức mạnh của quần chúng trong đấu tranh chính trị
10
nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, phù hợp với nhu cầu xã hội và lợi ích
giai cấp.
- Thủ lĩnh chính trị của giai cấp cơng nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp, của
dân tộc, do có khả năng nhìn xa, trơng rộng cho nên khơng những có khả năng tổ chức,
tập hợp lực lượng, lãnh đạo phong trào mà cịn có khả năng đưa phong trào vượt qua
những khúc quanh co của lịch sử, thực hiện thắng lợi mục tiêu chính trị đã đề ra. Trong
thực tiễn lịch sử, Lênin cùng Đảng Bìnsevich Nga đã đưa nước Nga thốt khỏi cuộc
bao vây, tấn cơng của 14 nước đế quốc, thốt khỏi tình trạng kiệt quệ của thời kỳ nội
chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam đưa cách mạng nước ta đi
đúng quỹ đạo cách mạng vô sản, vượt qua hiểm nghèo “nghìn cân treo sợi tóc” (1946),
để giành thắng lợi trong chiến tranh chống thực dân Pháp...
- Thủ lĩnh chính trị có vai trị thúc đẩy nhanh tiến trình cách mạng, mang lại hiệu
quả cao cho phong trào cách mạng, cho hoạt động của quần chúng. Sau khi hoàn thành
nhiệm vụ của thời đại đặt ra, thủ lĩnh chính trị đi vào lịch sử, sống trong tâm tưởng của
thời đại sau.
b. Vai trị tiêu cực của thủ lĩnh chính trị
Thơng thường, vai trị tiêu cực của thủ lĩnh chính trị là do vị thế của giai cấp sản
sinh ra thủ lĩnh quy định. Giai cấp tiến bộ đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ thì
thủ lĩnh của giai cấp ấy có vai trị tích cực; ngược lại, thủ lĩnh của giai cấp phản động
tất yếu sẽ có vai trị tiêu cực, kìm hãm sự phát triển. Tuy nhiên, ở giai cấp tiến bộ cũng
có trường hợp, do người thủ lĩnh thiếu tài, kém đức, hoặc có tài nhưng kém đức, cá
nhân chủ nghĩa, chuyển quyền độc đoán, nên khơng có khả năng nhận thức đúng đắn
và vận dụng sáng tạo quy luật khách quan; hoặc nhận thức đúng mà hoạt động trái với
quy luật khách quan, trái với lợi ích của quần chúng, đi ngược với xu thế của thời đại.
Trong trường hợp này, vai trò người thủ lĩnh kìm hãm sự phát triển của lịch sử.
Vai trị tiêu cực của thủ lĩnh chính trị thể hiện ở những điểm sau:
11
- Do thiếu tài, kém đức nên khơng có khả năng lãnh đạo phong trào, không biết
“chớp thời cơ, vượt thử thách”. để hoàn thành nhiệm vụ do lịch sử đặt ra, đặc biệt,
trước những bước ngoặt của lịch sử thường tỏ ra bối rối, dao động, thậm chí trở nên
phản động, lái phong trào đi ngược lại lợi ích của quần chúng. Sự phản bội của
Gcbachấp khơng chỉ có hại đối với cách mạng Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xơ,
nhân dân Xơviết, mà cịn khiến chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, con đường tiến lên
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của nhân loại trở nên quanh co, phức tạp.
- Người thủ lĩnh không xuất phát từ lợi ích chung mà vì quyền lợi riêng, động cơ
không trong sáng nên thường gây bè phái, chia rẽ, mất đoàn kết trong hệ thống tổ chức
quyền lực, làm suy giảm vai trò, sức mạnh của tổ chức, hạn chế, ngăn trở khả năng của
mỗi cá nhân, làm giảm hiệu quả việc giải quyết những nhiệm vụ, mục tiêu chính trị đã
đề ra.
- Do phong cách làm việc độc đoán chuyển quyền, hoặc do năng lực hạn chế của
người thủ lĩnh mà nguyên tắc dân chủ trong tổ chức và hoạt động bị tước bỏ, nhân
quyền thường bị vi phạm, phong trào cách mạng thiếu động lực và sinh khí để phát
triển.
- Trong điều kiện thế giới đầy biến động phức tạp như hiện nay, quyết định sai
trái của “những cái đầu nóng" của các vị thủ lĩnh khiến nhân loại phải trả giá đắt, đôi
khi không thể lường trước được.
CHƯƠNG 2. TẬP CẬN BÌNH – VỊ THỦ LĨNH CHÍNH TRỊ
TÀI GIỎI CỦA TRUNG QUỐC
1. Bối cảnh Trung Quốc giữa thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI
12
Ngày 1 - 10 - 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức thành lập,
đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông. Thắng lợi này đã chấm dứt hơn 100 năm nơ
dịch của đế quốc, xóa bỏ tàn dư phong kiến, đưa nước Trung Hoa bước vào kỉ nguyên
độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự kiện này đã tạo điều kiện nối liền chủ
nghĩa xã hội từ Âu sang Á và ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào giải phóng dân tộc thế
giới. Lên nắm quyền Chủ tịch Tập Cận Bình là nhà lãnh đạo tối cao thuộc thế hệ lãnh
đạo thứ 5 của nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy. Trung Quốc sau bốn thập kỷ tăng
trưởng liên tục, đến thời Chủ tịch Tập Cận Bình, đã vượt lên nổi nhục bị tác đế quốc
xâu xé cuối thời Mãn Thanh, sự nội chiến Quốc Cộng hơn 20 năm, sự xâm lược và
chiếm đóng của Nhật Bản, sự xáo động dữ dội của thời kỳ “đại loạn” đại cách mạng
văn hóa, sự hiểm họa cực kỳ do tham nhũng, tranh chấp quyền lực, lũng đoạn kinh tế,
suy thối mơi trường, phân hóa giàu nghèo và phát triển nóng.
1.1. Kinh tế
Có thể nói, thuận lợi của Tập Cận Bình khi lên nắm quyền là sau 34 năm tiến
hành cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã giành được những thành tựu hết sức rực
rỡ, khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ. Từ một nền kinh tế ít được thế giới quan tâm,
vào năm 2012, Trung Quốc đã có tổng lượng GDP đứng thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ).
Có thể nói rằng, trong lịch sử 5.000 năm phát triển nền văn minh nhân loại, chưa có
một quốc gia nào có sự phát triển thần kỳ như Trung Quốc về lĩnh vực kinh tế; về quân
sự: Trung Quốc hiện nay là 1 trong 3 cường quốc quân sự hàng đầu trên thế giới (sau
Mỹ và Nga); về khoa học - công nghệ: hiện Trung Quốc là 1 trong 3 quốc gia đưa
người lên vũ trụ (cùng với Mỹ và Nga). Chính vì những thành tựu đó, Trung Quốc
được cả thế giới vị nể.
Sau khi hoàn thành các mạng dân tộc dân chủ, nhiệm vụ trọng tâm của nhân dân
Trung Quốc là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, phát triển kinh tế - xã hội,
văn hóa và giáo dục.
Từ năm 1950, nhân dân Trung Quốc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, tiến
hành những cải cách quan trọng: cải cách ruộng đất và hợp tác hóa nơng nghiệp, cải tạo
13
công - thương nghiệp tư bản tư doanh, tiến hành cơng nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa,
phát triển văn hóa, giáo dục,... Đến cuối năm 1952, công cuộc khôi phục kinh tế đã kết
thúc thắng lợi. Từ năm 1953, Trung Quốc thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên (1953 1957). Nhờ nỗ lực lao động của toàn dân và sự giúp đỡ của Liên Xô, kế hoạch 5 năm
đã thu được những thành tựu to lớn. Bộ mặt Trung Quốc có nhiều thay đổi rõ rệt.
Trong những năm 1953-1957, 246 cơng trình đã được xây dựng và đưa vào sản xuất;
đến năm 1957, sản lượng công nghiệp tăng 140 %, sản lượng nông nghiệp tăng 25 %
(so với năm 1952). Các nghành công nghiệp nặng như chế tạo cơ khí, luyện kim, điện
lực, khai thác than,... phát triển nhanh. Trung Quốc đã tự sản xuất được 60 % máy móc
cần thiết. Trong mười năm đầu xây dựng chế độ mới, tổng sản lượng công - nông
nghiệp tăng 11,8 lần; riêng cơng nghiệp tăng 10,7 lần. Nền văn hóa - giáo dục cũng đạt
được những bước tiến vượt bậc. Đời sống nhân dân được cải thiện.
Công cuộc cải cách mở cửa 1978 - 2000
Tháng 12 - 1978, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vạch ra đường lối mới,
mở đầu cho công cuộc cải cách kinh tế - xã hội. Đường lối này được nâng lên thành
đường lối chung qua Đại hội XII (9 - 1982), đặc biệt là đại hội XIII của Đảng (10 –
1987): lấy phát triển kinh tế làm trọng tâm.
Kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản: Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa. Kiên trì
chuyên chính dân chủ nhân dân. Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sán Trung Quốc.
Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Đông.
Tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang
nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn nhằm hiện đại hóa và xây dựng
chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc
gia giàu mạnh, dân chủ và văn minh.
Sau 20 năm (1979 - 1998), nền kinh tế Trung Quốc có bước tiến nhanh chóng, đạt
tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Tổng sản phẩm trong nước ( GDP) tăng trung
bình hàng năm trên 8 %, đạt giá trị 7.974 tỉ nhân dân tệ, đứng thứ 3 thế giới. Năm
14
2000, GDP của Trung Quốc vượt ngưỡng nghìn tỉ đơla Mỹ (USD), tức là đạt 1.072 tỉ
USD (ương đương 8.900 tỉ nhân dân tệ).
Tổng giá trị xuất khẩu năm 1997 lên tới 325,06 tỉ USD (gấp 15 lần so với năm
1978 là 20,6 tỉ USD), riêng năm 2001 đạt 326 tỉ USD chiếm 5 % tổng giá trị hàng hóa
xuất khẩu của thế giới. Cơ cấu tổng thu nhập trong nước theo khu vực có sự thay đổi
lớn, từ chỗ lấy nơng nghiệp làm chủ yếu, thì đến năm 1999 thu nhập nơng nghiệp chỉ
chiếm 15 %, trong khi đó công nghiệp tăng lên 35%, dịch vụ 50 %. Đời sống nhân dân
được cải thiện rõ rệt: từ năm 1978 đến năm 1997 thu nhập bình quân đầu người ở nông
thôn đã tăng từ 133,6 lên 2 090,1 nhân dân tệ, ở thành thị từ 343,4 lên 5 160,3 nhân dân
tệ.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là “mặt phải của tấm huy chương”, bởi những thách thức
trong nước là không hề nhỏ. Như chúng ta đã biết, sau 34 năm, với phương châm “đuổi
kịp Pháp vượt Pháp, đuổi kịp Anh vượt Anh, đuổi kịp Đức vượt Đức... Tất cả đều phát
triển theo số lượng, thế nên nền kinh tế Trung Quốc đã tích tụ những vấn đề “bệnh tật”
khơng thể tránh khỏi. Cịn nhớ, Thủ tướng Ơn Gia Bảo từng phát biểu ngay trước thềm
Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc vào đầu năm 2012 rằng: “Nền kinh tế
Trung Quốc hiện đang mất cân bằng, không hợp lý và không bền vững...”. Điều ơng
Ơn Gia Bảo nói cho đến nay vẫn hoàn toàn đúng, một nền kinh tế phát triển theo chiều
rộng, quảng canh, chạy theo số lượng nhưng chất lượng rất thấp. Đơn cử, để sản xuất
ra 1 USD hàng hóa, dịch vụ, Trung Quốc tiêu tốn hơn Nhật Bản 3 lần năng lượng, hơn
Đức 2,8 lần và hơn Mỹ 3 lần. Điều này chứng tỏ nền kinh tế này hiệu quả rất thấp, lãng
phí tài nguyên và đây chính là “cục u nhọt” lớn nhất của nền kinh tế Trung Quốc sau
34 năm cải cách. Một điều đáng nói nữa là nợ cơng và bong bóng bất động sản, nợ
công của Trung Quốc hiện đã vượt qua 100% GDP.
1.2. Chính trị - xã hội
Về xã hội, theo các con số thống kê, sự phân hóa giàu nghèo ở Trung Quốc hiện
nay rất lớn và là một trong những quốc gia phân hóa giàu nghèo nhất thế giới. Đơn cử,
chỉ 0,4% dân số thuộc nhóm triệu phú (khoảng dưới 500.000 người) nắm giữ tới 70%
15
tài sản của tồn Trung Quốc. Sự phân hóa giàu nghèo lớn ấy đã tích tụ nhiềau vấn đề
xã hội, thêm vào đó là tầng lớp quan chức tha hóa, quan liêu, tham nhũng làm cho
người dân bất bình. Mỗi năm ở Trung Quốc diễn ra hàng trăm cuộc biểu tình với quy
mơ trên 100 người trở lên.
Về vấn đề môi trường, mặc dù là một trong những nước đang phát triển, bình
quân đầu người chỉ mới khoảng 5 - 6 ngàn USD, nhưng Trung Quốc lại là một trong
những quốc gia ô nhiễm môi trường nhất thế giới. Cụ thể, trong 20 thành phố có mức
độ ơ nhiễm mơi trường lớn thì riêng Trung Quốc đã có tới 15 thành phố nằm trong
danh sách này. Như vậy, bối cảnh trong nước cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môi
trường khi ông Tập lên nắm quyền là hết sức khó khăn.
Cịn về bối cảnh quốc tế, ơng Tập Cận Bình lên nắm quyền trong điều kiện Mỹ
thực hiện chiến lược xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương, đấy là bước chuyển
chiến lược cực kỳ quan trọng tác động trực tiếp đến Trung Quốc. Vì vậy, muốn hay
khơng muốn Trung Quốc vẫn phải đối phó. Vấn đề thứ 2 mà ông Tập gặp phải là chủ
nghĩa khủng bố và chủ nghĩa ấy đã lan đến Trung Quốc, thậm chí cịn diễn ra ngay ở
Thiên An Mơn chứ khơng chỉ là vùng Tây Tạng, Tân Cương...
Như vậy có thể nhận định, ông Tập lên nắm quyền trong bối cảnh xã hội Trung
Quốc và thế giới đặt trên vai ông rất nhiều vấn đề trọng đại mà những người tiền nhiệm
chưa từng phải chịu đựng.
1.3. Đối ngoại
Trong những năm 1949 1959, Trung Quốc thi hành chính sách ngoại giao tích
cực nhằm củng cố hịa bình và thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng thế
giới. Địa vị quốc tế của Trung Quốc ngày càng được nâng cao.
Ngày 14 - 2 - 1950, Trung Quốc kí với Liên Xô Hiệp ước hữu nghị, đồng minh và
tương trợ Trung - Xơ và nhiều hiệp ước kinh tế, tài chính khác; phái quân chí nguyện
sang giúp nhân dân Triều Tiên chống Mĩ (1950 -1953); tham gia Hội nghị các nước Á Phi tại Băng-đung (1955); giúp đỡ nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp, ủng hộ
16
các nước Á, Phi và Mĩ Latinh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong thập niên
đầu sau khi cách mạng thắng lợi, địa vị của Trung Quốc đã được nâng cao trên trường
quốc tế.
Năm 1964, Trung Quốc thử thành cơng bom ngun tử. Từ năm 1922, chương
trình thám hiểm không gian được thực hiện. Từ tháng 11 - 1999 đến tháng 3 - 2003,
Trung Quốc đã phóng với chế độ tự động 4 con tàu Thần Châu và ngày 15 - 10 - 2003,
tàu Thần Châu 5 cùng nhà du hành Dương Vĩ Lợi đã bay vào không gian vũ trụ. Với sự
kiện này, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới (sau Nga và Mĩ) có tàu
cùng với người bay vào vũ trụ.
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ với
Liên Xơ, Việt Nam, Mơng Cổ, Lào, In-đô-nê-xi-a; khôi phục quan hệ ngoại giao với
In-đô-nê-xi-a; thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước, mở rộng quan hệ hữu nghị,
hợp tác với các nước trên thế giới, có nhiều đóng góp trong cơng việc giải quyết các
tranh chấp quốc tế.
2. Con đường đến quyền lực
2.1. Gia đình, q hương
Ơng Tập Cận Bình sinh ngày 1 tháng 6 năm 1953 tại Bắc Kinh là con trai trong
gia đình có 5 anh chị em của ngun Phó thủ tướng Tập Trọng Huân, người từng bị
bức hại trong thời kỳ Đại cách mạng văn hóa. Tên gọi khi mới sinh của ông Tập Trọng
Huân là Tập Trung Huân, tự Tương Cận.
Ông Tập Trọng Huân (15-10-1913 – 24-5-2002) sinh ra trong một trang trại ở
huyện Phú Bình, tỉnh Thiểm Tây. Nhưng tổ phụ của ông Tập Trọng Huân lại ở hai nơi,
một là thành phố Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam, hai là thành phố Cát An, tỉnh Giang Tây.
Cuối đời nhà Thanh, chiến tranh li tán, gia đình họ Tập phải chuyển tới huyện
Phú Bình, tỉnh Thiểm Tây. Trong thời kỳ đó, ơng Tập Trọng Hn là một trong những
nhà lãnh đạo của khu Thiểm Bắc, là người sáng lập chính căn cứ địa cách mạng khu
vực Thiểm Cam.
17
Trước khi gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1928), ông Tập Trọng Huân gia
nhập Liên đoàn Thanh niên Cộng sản (tháng 5-1926).
Trong thập niên 30 của thế kỷ trước, ông Tập Trọng Huân hoạt động tích cực tại
khu vực Tây Bắc, Thiểm Bắc, Thiểm Cam và được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng.
Tới tháng 10-1935, ông Tập Trọng Huân hội quân với Chủ tịch Mao Trạch Đông.
Ngày 28-4-1944, ông Tập Trọng Huân kết hôn với bà Tề Tâm và sinh được 5
người con, trong đó có Phó chủ tịch nước Tập Cận Bình (15-6-1953). Tháng 6-1945,
ơng Tập Trọng Huân được bầu làm Ủy viên dự khuyết Trung ương (bổ sung). Chỉ 2
tháng sau (tháng 8-1945), ông Tập Trọng Hn được cử làm Phó trưởng ban Tổ chức
Trung ương.
Ơng Tập được coi là một trong những người thuộc thế hệ lãnh đạo đầu tiên của
Trung Quốc nên sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập (1-101949), được cử làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương (tháng 9-1952), Phó chủ tịch Ủy
ban Văn hóa - Giáo dục Trung ương. Vì được đánh giá là người có khả năng nên tháng
4-1959, ơng Tập được cử làm Phó thủ tướng, phụ trách cơng tác hàng ngày của chính
phủ kiêm Tổng thư ký Quốc vụ viện.
Ông Tập Trọng Huân giữ chức Phó Thủ tướng Trung Quốc từ năm 1959 đến năm
1962, và là Bí thư tỉnh Quảng Đơng từ 1979 đến 1981. Ơng là người có đóng góp lớn
cho Trung Quốc, đầu tiên là dẫn dắt các nhà lãnh đạo tương lai của Trung Quốc như
Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo.
Năm 1962, Tập Trọng Huân mất dần ảnh hưởng của mình tại Đảng Cộng sản
Trung Quốc vì được xem là khơng theo phe Mao Trạch Đơng. Sau đó ơng ít khi xuất
hiện trước cơng chúng. Ơng mất ngày 24/5/2002.
2.2. Thời học sinh, sinh viên
Lúc mới sinh, cậu bé Tập Cận Bình được sống trong điều kiện nhung lụa như mọi
con cái các lãnh tụ Trung Quốc. Ông được gửi vào nhà trẻ nội trú sang trọng dành cho
18
con cái các cán bộ lãnh đạo cao cấp. Khi ơng Tập Cận Bình lên 10, cuộc Cách mạng
văn hóa nổ ra ở Trung Quốc, giông tố nổi lên trong gia đình họ Tập. Ơng Tập Trọng
Hn khơng chỉ bị bãi miễn các chức vụ mà cịn phải làm cơng nhân tại một xí nghiệp
ở Luoyang.
Vào tháng 12/1966, giai đoạn cao trào của cuộc “Đại cách mạng Văn hóa vơ sản”,
chàng thiếu niên Tập Cận Bình bị cuốn hút bởi nhiệt huyết tuổi trẻ, đã quyết định gia
nhập lực lượng Hồng Vệ Binh của trường. Nhưng chẳng bao lâu, cậu bị cho là khơng
trung thực vì thuộc thành phần “băng nhóm phản động”, một cách gọi để chỉ những
thành viên của các gia đình “kẻ thù của Mao Chủ tịch” cần phải thanh trừng.
Tuy không bị xử bắn, nhưng cậu thiếu niên 13 tuổi đã bị thẩm vấn nhiều lần, bị
nhốt vào nhà giam, bị đưa đi “trại giáo dưỡng” dành cho những trẻ em vị thành niên.
Cậu thường bị bỏ đói, đi lang thang ngồi phố như kẻ ăn mày. Cuối cùng cậu bé gầy gò
đã bỏ trốn thành cơng về nhà bà nội tại làng Phú Bình, tỉnh Thiểm Tây. Hàng ngày cậu
được bà cho uống sữa dê và nhờ đó mà cậu được cứu sống.
Vào tháng 12/1968, theo chỉ thị của Mao Chủ tịch, các thanh niên trí thức cần
phải về nơng thơn để giúp đỡ những người nơng dân nghèo khó. Chỉ ít tháng sau,
chàng thanh niên Tập Cận Bình cùng hàng nghìn thanh niên trí thức Bắc Kinh được cử
tới những làng xóm hẻo lánh của một trong những tỉnh nghèo nhất Trung Quốc, Thiểm
Tây.
Người dân địa phương tỏ ra khơng có thiện cảm với những trí thức thành thị, dù
rằng họ cũng phải làm việc cật lực trên cánh đồng. Trong một cơn thất vọng, Tập Cận
Bình đã bỏ trốn về Bắc Kinh với mẹ. Nhưng một lần nữa cậu lại bị bắt vào trại giáo
dưỡng. Sau nửa năm, cậu được tha bổng và đưa trở lại Thiểm Tây.
Làng Lương Gia Hạ, một ngôi làng ở miền núi, nhiều năm đã trở thành ngôi nhà
của Tập Cận Bình. Tại đây, cậu được học cách cày ruộng, mang vác rơm rạ, than củi,
đắp đê. Cậu được rèn luyện, trở thành một người đàn ông thực thụ, cao lớn và khỏe
mạnh, có thể mang vác cả một tải thóc nặng 50-100kg đi trên đường núi gập ghềnh.
Một chàng trai chịu khó, chăm chỉ và có văn hóa đã dần dần chiếm được tình cảm của
19
người dân địa phương. Chính cuộc sống nghèo khó ở nông thôn đã rèn luyện chàng
thanh niên trở thành một con người có đầy đủ những phẩm chất mạnh mẽ cả bên trong
lẫn bên ngồi.
Cậu thanh niên Tập Cận Bình đã có những kinh nghiệm quý báu trong những
tháng ngày không thể nào quên ở Lương Gia Hà, một miền quê hẻo lánh với những gia
đình sống túm tụm trong những cái hang đào thẳng vào các quả đồi khô cằn, những
bức tường “nhà” chỉ là bùn khơ.
Ơng Tập Cận Bình ở Lương Gia Hà đến tận năm 1975, khi ông 22 tuổi mới trở lại
Bắc Kinh, nhờ ông Tập Trọng Huân được phục hồi vị trí trong Đảng và chính quyền.
Sau này, được hỏi về thuở thiếu thời gian nan ấy, ơng Tập Cận Bình nói: “Trong tơi là
những cảm xúc lẫn lộn. Những lý tưởng của cuộc Cách mạng văn hóa đã được chứng
minh chỉ là ảo ảnh. Nhưng, nhờ cuộc sống đầy khó khăn ở đó mà tôi trưởng thành”.
Trong thời gian “lao động” ở Thiểm Tây, ông Tập Cận Bình luôn nung nấu lý
tưởng trở thành người cộng sản. Ơng đã chín lần nộp đơn vào Đảng nhưng lần nào
cũng bị bác. Không phải mọi người không thấy được sự phấn đấu của ông, nhưng
những “sự cố” trong sự nghiệp chính trị của người cha đã ảnh hưởng đến việc ơng có
thể bước vào hàng ngũ của Đảng sớm hơn. Mãi đến năm 1974, khi những ảnh hưởng
sót lại của cuộc Cách mạng văn hóa được xóa hồn tồn, các vị “ngun lão đại thần”
được phục hồi về mặt chính trị, đơn xin vào Đảng của ơng Tập Cận Bình mới được
chấp thuận. Ơng trở thành bí thư chi bộ của một phân xưởng sản xuất đặt tại làng
Lương Gia Hà. Đó chính là chức vụ đầu tiên trong Đảng của ông. Vài tháng sau, ông
trở về Bắc Kinh, tương lai rộng mở trước mắt.
Thời gian ông Tập Cận Bình sống ở thôn Lương Gia Hà là những thơng tin ít ỏi
người ta biết về thời niên thiếu của ông. Ở tuổi 13, chắc chắn ông khó có thể tự nguyện
đến Thiểm Tây để “tự rèn luyện bản thân”. Nhưng, nghịch cảnh đã dạy ông biết học
cách chịu đựng trong lúc chờ cơ hội vươn lên. Trong một lần hiếm hoi đề cập đến thời
gian sống ở Lương Gia Hà, ơng Tập Cận Bình nói với một tạp chí Trung Quốc vào
năm 2001: “Dao bén là nhờ đá mài. Con người trở nên tốt hơn là nhờ gian khổ. Mỗi
20
khi phải đối mặt với khó khăn, tơi lại nghĩ đến những vất vả mình từng trải qua thời
gian đó và mọi việc trở nên dễ dàng với tôi ngay lập tức”.
Sau khi trở về Bắc Kinh, ông Tập Cận Bình theo học ngành cơng nghiệp hóa chất
ở trường đại học danh tiếng Thanh Hoa. Tốt nghiệp, ơng có cơ hội tiếp cận với công
việc của một nhà lãnh đạo khi trở thành thư ký của Bộ trưởng Quốc phòng Geng Bao,
một đồng chí thời Vạn lý trường chinh của bố ơng. Lúc đó, ơng Geng Bao cịn là Phó
Thủ tướng và Tổng thư ký Ủy ban Quân ủy Trung ương nên ơng Tập Cận Bình đã
được làm quen với những phần việc của Đảng cũng như những vấn đề trong lĩnh vực
qn sự. Đó là những trải nghiệm vơ cùng quý giá cho giai đoạn chấp chính sau này
của ông.
Trong khi dư luận cho rằng ông Tập Cận Bình sẽ từng bước thăng tiến trên đường
công danh ngay tại Bắc Kinh thì ơng lại có một quyết định khiến nhiều người bất ngờ:
nhận một chức vụ không lớn lắm ở tỉnh Hà Bắc - Phó Bí thư huyện Chính Định, nơi
cuộc sống của người dân vẫn cịn rất khó khăn, thiếu thốn. Ơng nói với một người bạn:
“Tơi muốn làm được điều gì đó đáng nhớ cho nơi này”. Và, ơng đã làm được điều đó,
được người dân ở đây đánh giá là: “Ơng ấy có tầm nhìn xa hơn hẳn mọi người”.
Việc trở về công tác ở vùng quê cũng thể hiện tầm nhìn đi trước thời đại của ơng
Tập Cận Bình. Làm như vậy, ơng sẽ tránh được dư luận là thăng tiến nhờ ảnh hưởng
của bố ông và mang lại cho ông danh tiếng một “công bộc” thấu hiểu được sự thống
khổ của người dân nông thôn cũng như của những người muốn làm giàu một cách chân
chính.
Người dân ở huyện Chính Định vẫn cịn nhớ hình ảnh ơng Tập Cận Bình ngày ấy.
Ơng thường đạp xe quanh thị trấn, ăn vận như một người bình thường. “Ơng nói
chuyện, thăm hỏi những người ơng tình cờ gặp mặt, không bao giờ tiết lộ “thân phận”,
truyền thống gia đình. Khi mua thức ăn, ơng trả tiền một cách sịng phẳng và khơng
chấp nhận người ta đối xử đặc biệt với mình chỉ vì ơng có “chức vụ”, Wang Youhui,
một đồng sự của ơng lúc đó kể.
21
Thời gian công tác ở nông thôn của ông Tập Cận Bình kéo dài 17 năm, ơng đã có
mặt ở nhiều tỉnh, giữ nhiều cương vị khác nhau. Với bất kỳ nhiệm vụ nào, mọi dự án
phát triển kinh tế địa phương của ơng đều được chính quyền trung ương hết lịng hỗ
trợ. Có thể vì mọi dự án của ơng đều đúng đắn, cũng có thể vì ảnh hưởng của ơng Tập
Trọng Hn vẫn cịn q lớn. Trong 10 năm đó, ơng đã xây dựng được cho mình hình
ảnh của một người lãnh đạo có khả năng thu hút đầu tư về cho địa phương. Thành công
đáng kể nhất của ông trong thời gian này là khi ông giữ chức vụ Phó Thị trưởng thành
phố Hạ Mơn (tỉnh Phúc Kiến), nơi đang là lá cờ đầu trong việc cải cách kinh tế ở Trung
Quốc con đường quan lộ của đương kim Chủ tịch vốn thăng tiến tuần tự từ thấp lên
cao. Ơng Tập Cận Bình từng làm bí thư chi bộ, bí thư đảng bộ cơ sở, bí thư tập đồn, bí
thư tỉnh ủy... và lên đến chức vụ như hiện nay.
2.3. Sự nghiệp chính trị
Tốt nghiệp ĐH Thanh Hoa, chàng kỹ sư trẻ được bố trí vào làm việc tại một trong
những cơ quan quyền lực nhất Trung Quốc, Văn phịng Qn ủy Trung ương. Đặng
Tiểu Bình là Chủ tịch Quân ủy Trung ương từ năm 1980 đến năm 1989, kể cả khi
khơng ơng ta cịn giữ chức vụ nào trong chính quyền và Đảng. Ơng Tập Trọng Hn
khơng nằm trong nhóm “8 ngun lão” thân tín và đầy quyền lực của Đặng Tiểu Bình.
Năm 1978, sau khi đã được phục hồi hồn tồn danh dự, ơng trở thành người lãnh
đạo Đảng, chính quyền và quân sự của Quảng Đông, một tỉnh duyên hải quan trọng.
Tại đây ông đã cho thử nghiệm thành cơng mơ hình các khu kinh tế tự do. Tập Cận
Bình từng tham gia chuyến đi thực tế đầu tiên tại các khu kinh tế tự do ở đây.
Sau ba năm làm việc tại Văn phịng Qn ủy Trung ương, Tập Cận Bình đã
khẳng định được phẩm chất cán bộ. Tương lai đã rộng mở đối với anh ta. Nhưng một
sự kiện đã xảy ra.
Tháng 3/1982, Tập Cận Bình trở thành phó Bí thư Huyện ủy Chính Định thuộc
tỉnh Hà Bắc. Một lần nữa Tập Cận Bình lại “gặp may”; đây là một trong số những
huyện nghèo nhất TQ. Trong một tài liệu viết về tiểu sử Tập Cận Bình có đoạn: “Ban
đầu, ít ai trong huyện tin vào năng lực của anh Phó Bí thư Huyện ủy trẻ tuổi này,
22
nhưng Tập Cận Bình đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của bà con nhờ tài năng và
sự khiêm nhường. Giản dị và chân thực, ông sống trong một căn hộ tập thể, cũng đứng
xếp hàng lấy thức ăn tại nhà bếp như mọi người, rồi ngồi xuống ghế, lấy đũa, vừa ăn
vừa nói chuyện với những người xung quanh. Ơng thích đi lại trong huyện bằng xe đạp
và trị chuyện với nhân dân địa phương. Chẳng bao lâu người dân địa phương đã coi
ông như người nhà”.
Trong thời gian 6 năm làm việc tại Hà Bắc, tình hình đất nước đã có nhiều thay
đổi. Chiến lược “đổi mới và mở cửa” đã tạo điều kiện cho lãnh đạo địa phương phát
huy năng lực. Những nhân tố tích cực được khuyến khích và bắt đầu một số thử
nghiệm với việc giảm thuế nơng nghiệp cho người dân. Sau đó, ơng cho áp dụng hệ
thống kích thích kinh tế do ơng nghĩ ra và những phương pháp quản lý tiên tiến của các
địa phương mà ông đã học được qua các chuyến công tác thực tế.
Đây là một trong số những sáng kiến của Tập Cận Bình; đồn làm phim truyền
hình nhiều tập “Hồng lâu mộng”, bộ phim rất được công chúng Trung Quốc u thích,
đi tìm địa điểm quay những cảnh ngồi trời. Tập Cận Bình đã giúp đỡ đạo diễn chọn
địa điểm ưng ý; ông đạo diễn hứa sẽ thanh tốn cho địa phương những chi phí để dựng
những cảnh hiện trường cần thiết. Kết thúc công việc, Tập Cận Bình đề nghị giữ
ngun những cơng trình được xây dựng phục vụ cho các cảnh quay đồng thời cho xây
mới một số hạ tầng cơ sở du lịch nhằm thu hút khách tới tham quan.
Trong nhiều năm, tại phim trường “Hollywood Hà Bắc” đã có tới 170 bộ phim
được quay và thu hút nửa triệu khách du lịch hàng năm. Thành tích của Tập Cận Bình
được báo chí địa phương ca ngợi, thậm chí một nhà văn cịn lấy anh làm một trong số
các nhân vật chính trong một cuốn tiểu thuyết. Nhưng điều quan trọng là Tập Cận Bình
đã được Ban tổ chức Trung ương Đảng chọn làm cán bộ lãnh đạo nguồn cấp trung
ương.
Ngày 15/6/1985, chàng thanh niên 32 tuổi được bầu làm Bí thư Thành ủy Hạ
Mơn, tỉnh Phúc Kiến. Tập Cận Bình được điều tới Phúc Kiến công tác (tháng 6/1985),
đặc khu kinh tế Hạ Mơn đã hồn thành được nhiều cơng việc. Nhưng vị lãnh đạo trẻ
23
đầy nhiệt huyết và ý tưởng táo bạo muốn làm nhiều hơn nữa. Với tầm nhìn xa, Tập Cận
Bình đã chỉ đạo xây dựng “Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Hạ Mơn giai đoạn
1985-2000”. Ơng đã thành cơng trong việc đưa Hạ Môn trở thành đô thị tầm cỡ trung
ương. Hạ Mơn lọt vào tốp 15 thành phố có qui chế đặc biệt trực thuộc Chính phủ.
Năm 1988, Tập Cận Bình được điều tới cơng tác tại Ninh Đức, một vùng núi
tương đối nghèo phía Bắc Phúc Kiến. Cũng có ý kiến cho rằng việc
Mặc dù khơng cơng khai nhưng trong vòng hơn 30 năm trở lại đây, trên chính
trường Trung Quốc ln tồn tại 3 phái chính trị chính như sau: Phái “thái tử” – nghĩa là
con của những vị khai quốc công thần; phái Thượng Hải do ông Giang Trạch Dân làm
chủ và phái Đoàn Thanh niên, gồm những người xuất thân từ cán bộ Đoàn. Trong 3
phái thì ơng Tập Cận Bình thuộc phái “thái tử”, bởi Tập Cận Bình là con của Tập
Trọng Huân – là một trong những vị khai quốc công thần lập nên nhà nước Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa, là bạn chiến đấu với Mao Trạch Đông từ thời xây dựng Đảng
cho tới thời kỳ xây dựng đất nước. Trong khi đó, ơng Giang Trạch Dân – thuộc phái
Thượng Hải và ông Hồ Cẩm Đào thuộc phái Đoàn Thanh niên.
Sau hơn 20 năm lăn lộn ở nông thôn và địa phương, Tập Cận Bình – được bầu
làm Tổng bí thư thay Hồ Cẩm Đào. Từ khi lên nắm quyền, Tập Cận Bình đã tiến hành
điều chỉnh lại hầu như tồn bộ đường lối thời Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân, tạo
nên dấu ấn “Thời đại Tập Cận Bình”.
3. Vai trị đối với quốc gia, dân tộc
Tại Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ XIX của Đảng Cộng sản Trung
Quốc năm 2017, Tập Cận Bình đã phát biểu: “Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc đã
bước sang một thời đại mới; mâu thuẫn chính trong xã hội của chúng ta đã chuyển hóa
thành mâu thuẫn giữa nhu cầu ngày càng cao của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp
hơn và sự phát triển thiếu tương xứng, thiếu cân bằng”. Lần đầu tiên sau 40 năm, quan
điểm cốt lõi của Đảng Cộng sản Trung Quốc về mâu thuẫn cơ bản đã được điều chỉnh.
Sự điều chỉnh về xác định mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Trung Quốc cho thấy Tập
24
Cận Bình đã xác lập được hình ảnh của lãnh tụ tối cao - sánh ngang với cố Chủ tịch
Mao Trạch Đông và “nhà cải cách vĩ đại” Đặng Tiểu Bình.
Xây dựng nhà nước Trung ương tập quyền là một trong những đặc điểm chính trị
quan trọng nhất trong văn hóa chính trị, văn hóa cầm quyền của Trung Quốc. Đây
không phải là ngoại lệ trong thời đại Tập Cận Bình và cũng là cơ sở khiến Tập Cận
Bình tin tưởng vào khả năng sánh ngang với Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình về
tầm vóc lịch sử. Dưới thời đại của mình, Mao Trạch Đơng đã nắm giữ quyền lực lớn
chưa từng có; Đặng Tiểu Bình đã dựa vào sức mạnh quân đội để áp đảo các thế lực bảo
thủ trong Đảng nhằm thúc đẩy cải cách, mở cửa. Quyền lực tối cao của Đặng Tiểu
Bình được duy trì ngay cả khi ơng khơng cịn nắm quyền lực. Trong những năm cuối
đời, chính Đặng Tiểu Bình là người cân nhắc và đề bạt Chu Dung Cơ làm Thủ tướng –
người sau đó tiến hành một loạt cải cách tài khóa và hệ thống thuế, đã đảm bảo nguồn
thu ngân sách cho chính quyền Trung ương. Vì vậy, nếu muốn sánh ngang với Mao
Trạch Đơng và Đặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình phải tập trung củng cố quyền lực của
chính quyền Trung ương.
Từ khi lên nắm quyền vào năm 2012, Tập Cận Bình đã phát động chiến dịch
chống tham nhũng trên quy mô lớn trong nội bộ Đảng. Những quan chức từng nắm
giữ nhiều quyền lực như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Cốc Tuấn Sơn, Từ Tài Hậu,
Quách Bá Hùng, Lệnh Kế Hoạch… đều “ngã ngựa”. Theo các nhà bình luận quốc tế,
điều này đã cho phép Tập Cận Bình thiết lập quyền lực trong Đảng và nhân dân. Sau
đó, việc giám sát dư luận trên mạng Internet được tăng cường, những người theo chủ
nghĩa tự do bị thanh trừng, chủ nghĩa dân tộc được củng cố, đặc biệt là trong giai đoạn
tranh chấp thương mại với Mỹ, tranh chấp biên giới với Ấn Độ và chiến đấu chống đại
dịch COVID-19. Tập Cận Bình đã giành được sự ủng hộ của đơng đảo nhân dân thơng
qua việc “tự mình chỉ huy, tự mình bố trí”.
Tháng 03.2018, Hiến pháp Trung Quốc được sửa đổi để loại bỏ các hạn chế về
việc tái cử đối với vị trí Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước.Theo đó, dư luận quốc tế cho
rằng đây là dấu hiệu mở đường cho Tập Cận Bình có thể tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba,
25
tạo cột mốc để Tập Cận Bình cần có để dẫn dắt Trung Quốc trong thời đại của mình Thời đại phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa.
Trước sự kiện Trung Quốc xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ Chủ tịch nước, xuất hiện
nhiều ý kiến quốc tế cho rằng, Tập Cận Bình đang đánh cược tương lai của đất nước và
các quỹ đạo quốc tế, vào một điều - chính bản thân ơng. Thực hiện các bước đi nhằm
củng cố quyền kiểm soát cá nhân đối với quyền lực có thể có tác dụng như một cơ chế
tạo sự ổn định trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, nó có thể làm trầm trọng thêm
những căng thẳng, mà sau cùng có thể làm xói mịn quyền cai trị của chính mình. Tạo
dịng nước lũ cuốn phăng mọi vật cản trên đường, nhưng chính dịng lũ cũng vơ tình
làm xói lở chân đê - bức tường tạo nên dòng lũ. Ơng Tập Cận Bình có thể phải đối mặt
với những thách thức, trở ngại lớn về quyền lực trong nội bộ.
Trong vấn đề nhân sự, các quan chức Thượng Hải, Chiết Giang và Phúc Kiến những nơi Tập Cận Bình từng công tác - đã được tái bổ nhiệm. Trong quân đội, do ảnh
hưởng từ các vụ án liên quan đến các cựu Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương như Từ
Tài Hậu, Quách Bá Hùng và nhiều nhân vật khác.Cải cách đã làm suy yếu đáng kể
quyền lực của các tướng lĩnh và củng cố quyền lực của Chủ tịch Quân ủy Trung ương.
Đồng thời, lực lượng cảnh sát vũ trang cũng bị tách khỏi chính quyền địa phương; Đại
hội đại biểu nhân dân toàn quốc, Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân và Quốc vụ
viện phải báo cáo lên Ban Chấp Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc hàng năm.
Từ năm 1949, Đài Loan luôn là vấn đề nổi bật trên diễn đàn chính trị của Trung
Quốc. Các nhà lãnh đạo tiền nhiệm đều muốn giải quyết vấn đề Đài Loan nhằm thu
phục và thống nhất Trung Quốc. Dưới thời Mao Trạch Đơng, chính Thủ tướng Chu Ân
Lai đã nói với Tổng thống Mỹ Nixon trong chuyến công du Trung Quốc năm 1972 là
chưa thu phục được Đài Loan thì cách mạng Trung Quốc chưa thể coi là trọn vẹn. Tuy
nhiên, với nhiều lý do, hơn 7 thập niên trôi qua sự nghiệp thu phục Đài Loan, thống
nhất Trung Quốc chưa thể thực hiện.
Giới nghiên cứu quốc tế nhận định, có lẽ uy tín của Chủ tịch Tập Cận Bình chưa
thể lên cao đến như vậy nếu không thể hiện một lập trường hết sức cứng rắn với Đài