CHƯƠNG 6
Bệnh truyền nhiễm đường hơ hấp ở chó
Richard B. Ford
Để biết thêm thông tin, truy cập địa chỉ về tài liệu
tham khảo, hình ánh, bảng biểu và các phụ lục
TÁC NHÂN GÂY BỆNH
Bệnh truyền nhiễm đường hô hấp ở chó (CIRD), cũng có các tên gọi khác là bệnh viêm khí
quản phế quản truyền nhiễm ở chó (canine infectious tracheobronchitis), bệnh “ho chuồng –
kennel cough”, bệnh “ho chó – canine cough”, bệnh “bạch hầu chó – canine croup”, bệnh hơ hấp
truyền nhiễm cấp tính (acute contagious respiratory disease), và phức hợp bệnh truyền nhiễm
đường hơ hấp ở chó (canine contagious respiratory disease complex). CIRD mô tả mọi bệnh
truyền lây, xuất hiện cấp tính ở đường hơ hấp ở chó, điển hình liên quan đến đường hơ hấp trên.
Tác nhân gây bệnh là một phức hợp bao gồm một số mầm bệnh là virus và vi khuẩn gây bệnh
đơn lẻ hay hợp lực.15
Bảng 6-1 và Bảng Trang mạng 6-1 tóm tắt các mầm bệnh đã biết và có liên quan đến CIRD.
Mặc dù bất kỳ mầm bệnh nào được mơ tả trong đó đều có thể gây ra các dấu hiệu lâm sàng của
CIRD, tuy nhiên thường thấy nhiễm cùng lúc bao gồm hai hay nhiều mầm bệnh cùng lúc ở
đường hơ hấp trên. Chó ni trại có thể đặc biệt có mẫn cảm đối với bệnh nhiễm cùng lúc. Có
hai virus mới, là virus cúm chó (canine influenza virus – CIV, xem Chương 23) và coronavirus ở
đường hô hấp của chó (canine respiratory coronavirus – CRCoV), đã nổi lên từ năm 2000, cả hai
virus này được biết là nhiễm đến đường hơ hấp của chó. Chỉ CIV là có thể hiện các dấu hiệu lâm
sàng của CIRD. Trong khi Bordetella bronchiseptica và virus bệnh phó cúm ở chó (canine
parainfluenza virus – CPIV) thường được mô tả là các mầm bệnh chủ yếu tìm thấy ở chó có liên
quan đến các ổ dịch CIRD, thì CIV và CRCoV có nguy cơ tương đối về gây nhiễm ở chó có mẫn
cảm, nhất là những chó được ni trong các mơi trường mật độ cao. Nguy cơ về CIRD tiếp tục
mở rộng theo danh sách các mầm bệnh và các hậu quả của tổng tỷ lệ mắc bệnh, mà chưa được
nghiên cứu kỹ, đã trở thành thực tế. Khả năng về nhiễm cùng lúc là cao, làm cho việc chẩn đốn,
điều trị và phịng ngừa trở nên khó khăn hơn trong điều kiện lâm sàng. Mặc dù các virus và vi
khuẩn khác đã phát hiện thấy từ những chó bị CIRD, vai trò của chúng trong sinh bệnh học là
chưa rõ.
Các viruses
CPIV là một virus RNA kết sợi đơn thuộc họ Paramyxoviridae và có liên quan gần với simian
virus 5 ở loài khỉ (xem Chương 7).7 Trong những virus được biết có liên quan đến CIRD, CPIV
có thể là được quan tâm nhiều nhất như là mầm bệnh chính ở đường hơ hấp. CPIV thấy ở chó
trên khắp thế giới và được biết là gây ra bệnh ho xảy ra đột ngột, thời gian ngắn, nhưng truyền
lây mạnh; chó ni trại có nguy cơ phơi nhiễm cao nhất. Mặc dù bệnh nhiễm tự nhiên có thể dẫn
đến hình thành kháng thể phát hiện được trong huyết thanh trong thời gian đến 3 tuần, nhưng
bảo hộ miễn dịch thường được xác định bằng các hàm lượng của IgA ở màng nhày đường hơ
hấp. Hiệu giá kháng thể dương tính đối với CPIV không nhất thiết liên quan đến bảo hộ đối với
bệnh.108,109 Một số virus khác cũng có liên quan đến CIRD.
Canine adenovirus (CAV) type 2 (CAV-2), là virus DNA thuộc họ Adenoviridae (xem
Chương 4), có thể gây viêm hầu họng khí quản truyền nhiễm cấp tính (acute infectious laryngotracheitis) ở chó, có đặc điểm là xuất hiện ho cấp tính; các dấu hiệu lâm sàng có thể khơng thể
hiện đến nhẹ trong bệnh nhiễm không biến chứng. Không giống như CAV-1, mà lồi hoang dã
khơng phải chó có thể đóng vai trị là nguồn tàng trữ trong mơi trường, phổ ký chủ của CAV-2 là
chưa rõ, ngồi chó. Những chó khơng có miễn dịch đối với CAV-1 (ngun nhân bệnh viêm gan
truyền nhiễm ở chó – infectious canine hepatitis) hay miễn dịch đối với CAV-2, thì đặc biệt có
mẫn cảm đối với CIRD.
CIV là một dịng virus đã thích nghi với chó, có nguồn gốc từ các biến đổi gen của virus
H3N8 lưu hành trong ngựa (xem Chương 23). Năm 2003, CIV đã phân lập được từ một số trại
nuôi chó săn ở Florida bị một trận dịch có các dấu hiệu cấp tính đường hơ hấp trên, nhất là chảy
nước mũi và ho.27 Với phát hiện trong các ổ dịch ở ít nhất 30 bang và ở District of Columbia của
Mỹ, CIV đã được cho là mầm bệnh hàng đầu của CIRD.
Coronaviruses (CoV) hiện nay được chia thành ít nhất ba nhóm lớn.45 Một nhóm thứ tư có
khả năng được chia ra và bao gồm mầm bệnh gây hội chứng hơ hấp cấp tính nặng nề ở người
(severe acute respiratory syndrome – SARS) là virus SARS-CoV. Các chủng chủ yéu của ba
nhóm CoVs đã phân lập được từ chó và được xếp vào CoVs nhóm I hay II. Năm 2003, một CoV
nhóm II, có liên quan với Cov của bò, nhưng khác về gen di truyền, đã phân lập được từ những
chó được ni trong một trung tâm tái tập trung ở Anh Quốc.44,47,48 Virus này phải được phân biệt
với nhóm I các coronavirus đường ruột ở chó (group of type I enteric canine coronaviruses –
CCoV; xem Chương 8). CRCoV đã phân lập được sau đó từ đường hơ hấp trên của chó nhà tại
Nhật Bản.93,131 Bằng chứng về dịch tễ học huyết thanh (seroepidemiologic) và gen di truyền của
CRCoV nhiễm ở chó đã được báo cáo ở Italy, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Mỹ, New Zealand,
và Thổ Nhĩ Kỳ.* Một nghiên cứu truy nguyên cho thấy khả năng là CRCoV đã gây bệnh cho
chó tại Bắc Mỹ từ năm 1996.42 Bệnh cho thấy xảy ra theo mùa, với nguy cơ bệnh cao nhất trong
những tháng mùa đông, so với mùa hè. CRCoV có khả năng phát hiện được nhiều hơn từ đường
hơ hấp của chó trên 1 năm tuổi.101 Mặc dù CRCoV được cho là truyền lây mạnh và có thể phân
lập từ những chó bị CIRD trong tự nhiên, những chó bị bệnh khơng biến chứng thì có bệnh nhẹ
hay cận lâm sàng. Bệnh lâm sàng không thể hiện thực chất trong thực nghiệm gây nhiễm virus
cho chó có mẫn cảm. Tương tự, CoV ở bò, là nguyên gốc của CRCoV, chỉ gây ra bệnh nhiễm
cận lâm sàng ở chó con.74 Trong các điều kiện tự nhiên, nhiễm cùng lúc hay các yếu tố của ký
chủ có thể chịu trách nhiệm cho khả năng của CRCoV gây thành bệnh lâm sàng; tuy nhiên, cần
có nghiên cứu thêm để chứng minh khả năng này. Cho đến khi chứng minh được các dấu hiệu
hơ hấp của chó có mẫn cảm trong tự nhiên và thực nghiệm là của CRCoV, hiện nay virus này
vẫn không được cho là mầm bệnh chủ yếu của CIRD.
*Các tài liệu tham khảo 1b, 15, 16, 32, 74, 82, 87, 101.
BẢNG 6-1
Các vi sinh vật có liên quan đến bệnh nhiễm đường hơ hấp ở chó
Vi sinh vật
Xem các chương
VIRUSES
Canine parainfluenza virus
7
Canine adenovirus 2
4
Canine distemper virus
3
Canine herpesvirus
5
Canine reovirus
—
Canine respiratory coronavirus
—
Pantropic strain of canine coronavirus
8
Canine influenza virus
23
VI KHUẨN
Bordetella bronchiseptica
87
Mycoplasmas (Mycoplasma, Ureaplasma,
32, 87
Acholeplasma)
Streptococcus equi subsp. zooepidemicus
33, 87
Các vi khuẩn khác
87
Một ổ dịch đơn lẻ của một dòng độc lực cao của CCoV thuộc nhóm II đã được ghi nhận ở bảy
chó con được ni trong một cửa hàng thú cưng ở Ý.15 Chó bị nhiễm phát triển các dấu hiệu
nặng nề ở đường dạ dày ruột, thần kinh và hô hấp; có báo cáo chết trong vịng 2 ngày sau khi
xuất huyết các dấu hiệu. Các CoV thuộc chủng I và II phát hiện thần trong chất chứa đường ruột;
tuy nhiên, chỉ phát hiện thấy virus chủng II trong các cơ quan có liên quan đến bệnh tích, bao
gồm phổi. Bệnh lâm sàng này rất giống với bệnh SARS ở người do nhiễm CoV nhóm IV. Hiện
tại, CcoV có độc lực gây bệnh ngoài vùng dịch tễ (virulent pantropic CcoV) thì khơng được cho
là mầm bệnh thực chất của phức hợp CIRD.
Canine distemper virus (CDV, virus bệnh sài sốt chó), bệnh nhiễm có thể gây ra ho cấp tính,
xuất dịch đường mũi và miệng, liên quan đến nhiều mầm bệnh trong phức hợp CIRD. Tuy nhiên,
bệnh nhiễm CDV về đặc điểm không giới hạn ở đường hô hấp mà thường viêm phổi là do phụ
nhiễm vi khuẩn (xem Chương 3). Bệnh sài sốt chó tiến triển nhanh chóng, liên quan đến nhiều
hệ thống cơ quan, nhất là hệ thần kinh trung ương, mắt, da và xương. Mặc dù CDV có thể đóng
vai trị là hiệp lực với CPIV và B. bronchiseptica và có thể dẫn đến bệnh hơ hấp nặng nề và tử
vong, nhưng CDV không được cho là mầm bệnh chính trong sinh bệnh học của hội chứng bệnh
tồn thân tự khỏi được định nghĩa là CIRD (cũng xem Chương 3).
Canine herpesvirus (CHV) thường có liên quan nhiều nhất đến bệnh nhiễm nặng nề, gây chết
ở chó con dưới 2 tuần tuổi (xem Chương 5). Ở chó trưởng thành, bệnh nhiễm thường là cận lâm
sàng hay tiềm ẩn. Tuy nhiên, nhiễm CHV cấp tính hay tái phát có thể gây ra các dấu hiệu lâm
sàng của viêm mũi và viêm hầu họng. CHV đã phát hiện thấy trong các mẫu qt tăm bơng với
tỷ lệ cao ở những chó bị viêm màng tiếp hợp, so với chó khơng bị viêm màng tiếp hợp .84 Bằng
chứng về nhiễm CHV đã thấy ở các mẫu của phổi và khí quản thu thập được từ chó ni tại một
trung tâm thu gom chó thả rông.47 Các nghiên cứu về huyết thanh học đối với chó ni trại và
ni gia đình cho thấy virus lưu hành tương đối cao.44 Tuy nhiên, bùng phát của CHV nhiễm âm
ỉ có thể dẫn đến thải tiết virus gián đoạn sau khi bị căng thẳng về tâm sinh lý hay do thuốc men.
Do đó, vai trị của CHV trong CIRD trở thành vấn đề tranh luận. Tuy nhiên, một ổ dịch do nhiễm
“bệnh nhà thương” (nosocomial outbreak) của CIRD, đã xảy ra chỉ do nhiễm CHV, trong một
phòng thí nghiệm thú y, trong đó hầu hết các con thú được sử dụng các điều trị khác nhau gây ức
chế miễn dịch, bao gồm glucocorticoids, hóa trị liệu, giải phẩu hay chiếu xạ.74b
Reoviruses đã phân lập được từ đường hơ hấp của chó. Cả ba chủng huyết thanh (serotypes)
của orthoreoviruses (T1, T2, và T3) ở thú có vú đã phát hiện thấy trong cả chó và mèo. Các virus
khơng có vỏ bao, RNA kết sợi kép này thường có mặt ở khắp nơi và đã phát hiện thấy ở nhiều
lồi ký chủ là thú có vú, bao gồm người. Mặc dù canine reovirus đã phát hiện thấy ở những chó
bị viêm mắt và chảy nước mũi, nhưng các cố gắng để gây nhiễm thực nghiệm cho chó sạch bệnh
chỉ thu được các kết quả trái ngược. Mặc dù phơi nhiễm với canine reovirus có thể tương đối
phổ biến ở chó sống trong các quần thể mật độ cao, nhưng khơng có bằng chứng để kết luận là
phân nhóm bất kỳ nào đó của virus gây ra CIRD một cách đơn lẻ hay hiệp lực.
Pneumovirus, liên quan gần với penumovirus ở chuột, đã nuôi cấy được từ các mẫu đường
mũi và hầu họng của chó có bệnh hơ hấp cấp tính trong một trại ni. 107a Các virus khác, chủ yếu
là CPIV và CIV cũng đã phân lập được. Các vấn đề củ ký chủ như bệnh nhiễm cùng lúc hay bị
tổn hại miễn dịch có thể dẫn đến bệnh lâm sàng tiềm tàng do virus này. Tuy nhiên, các kháng thể
kháng pneumovirus đã phát hiện thấy ở cả chó bệnh lẫn chó khỏe mạnh trong lâm sàng ni tại
một trại, cho thấy phơi nhiễm rộng rãi và vấn đề về khả năng gây bệnh của virus này (xem Phụ
lục Trang mạng 5).
Vi khuẩn và Mycoplasmas
Phổ các vi khuẩn có khả năng gây bệnh phát hiện thấy trong đường hô hấp trên của chó đã
làm tăng thêm tính phức tạp của các mầm bệnh và hậu quả lâm sàng của CIRD. Tuy nhiên,
khơng có lồi vi khuẩn nào trong số các vi khuẩn gây bệnh hơ hấp ở chó, mà có vai trị quan
trọng bằng B. bronchiseptica. Có chín lồi Bordetella đã được nhận dạng. Ba lồi trong đó được
biết là có khả năng gây bệnh đường hơ hấp. Khơng giống như Bordetella pertussis chỉ giới hạn ở
ký chủ là người, mà gây bệnh ho khúc khắc (whooping cough), và bệnh nhiễm do Bordetella
parapertussis, bệnh nhiễm B. bronchiseptica thấy có ở nhiều loại thú có vú, bao gồm người. Qua
hàng thập kỷ, các nghiên cứu đã cho thấy mức độ phức tạp của các mơ hình độc lực duy nhất chỉ
có ở Bordetellae và giải thích vì sao các vi khuẩn này có khả năng thể hiện như là vi sinh cộng
sinh trong đường hô hấp trên và như là mầm bệnh độc lực cao (xem phần Sinh bệnh học). Các
phát hiện này chứng minh vai trò của B. bronchiseptica là một yếu tố kết hợp quan trọng trong
khả năng gây bệnh của CIRD.
Các vi khuẩn khác phát hiện thấy trong đường hô hấp của chó bị CIRD bao gồm
Streptococcus spp., Pasteurella spp., Pseudomonas, và các dạng coliforms.104,119 Vai trò của
chúng là các mầm bệnh nguyên phát hay thứ phát thì chưa rõ. Một ngoại lệ có thể là
Streptococcus equi subsp. zooepidemicus, đã nhận diện được là nguyên nhân tiên phát của viêm
phế quản phổi (bronchopneumonia) xuất hiện đột ngột, truyền lây, và thường gây tử vong ở chó
ni trại và ni thí nghiệm (xem Chương 33).21 Vi khuẩn này cũng được cho là một mầm bệnh
kết hợp trong các ổ dịch CIV gây tử vong ở chó săn (xem Chương 23).
Ở đây có các báo cáo giới hạn mơ tả vai trị của các mycoplasmas là các mầm bệnh hàng đầu
ở đường hơ hấp của chó. Mycoplasmas là vi sinh ngun thủy khơng nhân (prokaryote), khó
phân lập, khác với vi khuẩn về cấu tạo được bọc trong một màng bao tương nhưng khơng có lớp
vỏ bao (cell wall) rõ ràng.11,80,105 Các mycoplasma không hướng gây bệnh đường máu
(nonhemotropic mycoplasmas), như acholeplasmas và ureaplasmas, đả phân lập được từ màng
nhày mũi họng và thanh quản của chó và mèo khỏe mạnh về lâm sàng. Mycoplasma spp. đã
phân lập được từ đường hô hấp dưới của chó (nhất là Mycoplasma cynos) và mèo (Mycoplasma
felis) bị viêm phổi.11,105,111 Ở đây có các vấn đề về vai trị chính xác của các vi sinh vật đối với
CIRD. Xem các chương 32 và 87 để biết thêm thông tin về vấn đề này.
DỊCH TỄ HỌC
CIRD là một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh hô hấp xuất hiện cấp tính ở
chó. Mặc dù có áp dụng các chương trình chủng ngừa vaccin đối với các mầm bệnh chủ yếu gây
CIRD, các ổ dịch tiếp tục được báo cáo trên khắp thế giới. Miễn dịch tạo được bởi vaccin không
cho ra được bảo hộ đầy đủ đối với bệnh nhiễm, bệnh lâm sàng hay thải tiết mầm bệnh. Mặc dù
có nhiều mầm bệnh liên quan đến, nhưng CIRD thường là các hậu quả từ bệnh nhiễm bởi một
trong bốn mầm bệnh chính (B. bronchiseptica, CPIV, CIV, CAV-2). Nhiễm cùng lúc bởi hai hay
nhiều mầm bệnh chính này có khả năng gây ra tỷ lệ bệnh cao trong chó có mẫn cảm. Những chó
ni trong các trại tư nhân hay thương mại, cửa hàng thú cưng, và các trung tâm thu gom (bao
gồm phòng khám điều trị) có nguy cơ cao về phơi nhiễm và bị bệnh, so với chó ni gia
đình.8,1140,56,104 Hơn nữa, nguy cơ bệnh nhiễm nặng nề, với hai hay nhiều mầm bệnh cùng lúc ở
chó trong một quần thể, có thể là cao nhất ở chó ni trại.
Mặc dù có tính đa dạng của các mầm bệnh liên quan đến CIRD, hầu hết virus và B.
bronchiseptica truyền lây được một cách hiệu quả theo cùng phương cách đến chó có mẫn cảm,
là từ chó bệnh, qua đường tiếp xúc mũi miệng, theo khí dung của chất tiết đường hơ hấp. Ở
những chó được nuôi trong các quần thể mật độ cao, truyền lây thường có khả năng xảy ra sau
khi tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp qua đĩa ăn, tay người và các vật dụng khác. Với những virus
chính có liên quan, sự xuất hiện của các dấu hiệu và thời gian thải tiết virus là như nhau. Các
dấu hiệu lâm sàng (thường bắt đầu là ho) có thể phát triển trong vòng 1 đến 3 ngày sau khi phơi
nhiễm. Thải tiết virus bắt đầu lúc vài ngày sau khi bị nhiễm, trong khi thời gian thải tiết virus
tường từ 6 đến 10 ngày, sau đó số lượng virus giảm đai rõ rệt. Mặt khác, B. bronchiseptica, là vi
khuẩn ngoại bào bắt buộc, cùng với các mycoplasmas, có khả năng lảng tránh nhận biết và tiêu
diệt của miễn dịch đến hàng tuần hay hàng tháng sau.7,8 Do đó, các số lượng cao của vi khuẩn
thường có khả năng tiết ra theo các chất tiết đường hơ hấp của chó thể hiện khỏe mạnh trong
thời gian dài. Do khả năng sống sót trong mơi trường, B. bronchiseptica có thể truyền lây từ chó
sang mèo. B. bronchiseptica tồn tại được trong nước hồ ao mà không cần pha thêm dưỡng chất,
đến 24 tuần và sinh sơi trong nước ngồi mơi trường ít nhất 3 tuần ở 37°C.99
Mặc dù các virus có khả năng truyền lây cao và tốc độ lây nhiễm nhanh, nhất là ở chó ni
trại, nhưng phát triển của các dấu hiệu đường hô hấp thường khác nhau. Khi các mầm bệnh có
liên quan đến CIRD mà chỉ tác động riêng lẻ, chúng thường gây bệnh nhẹ hay không thể hiện
triệu chứng, mặc dù ảnh hưởng nặng nề hơn ở phổi có thể dẫn đến bệnh thấy rõ hoặc tử vong.
Chó ở mọi lứa tuổi đều có khả năng mẫn cảm với bệnh nhiễm, tuy nhiên chó con có thể đặc biệt
mẫn cảm đối với bệnh nhiễm vi khuẩn cơ hội. Miễn dịch tự nhiên sau khi khỏi bệnh nhiễm khó
đạt được do CIRD là hậu quả của phơi nhiễm và bệnh bởi một loạt các mầm bệnh tác động riêng
lẻ hay kết hợp trong một cá thể bệnh.
SINH BỆNH HỌC
Các Viruses
Trong nhiều năm, các mầm bệnh virus chính có liên quan đến CIRD là CPIV và CAV-2. CIV
và CRCoV là các mầm bệnh được chú ý thêm. Phần dưới đây trình bày tóm tắt về sinh bệnh học
cùa từng virus. Tuy nhiên, trong điều kiện lâm sàng, có lý do để cho rằng thường thấy nhiễm
cùng lúc trong một cá thể, bao gồm hai hay nhiều mầm bệnh. Không may là thông tin về sinh
bệnh học và gây bệnh kết hợp trong CIRD ở là ít ỏi.
Virus bệnh phó cúm ở chó (Canine Parainfluenza Virus)
CPIV là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh ho truyền lây xuất hiện cấp tính ở chó (highly
contagious acuteonset cough) trên khắp thế giới. Được xếp vào họ Paramyxoviridae, virus RNA
kết sợi đơn (single-stranded RNA) này chứa 7 đoạn gen mã hóa cho 8 protein. Nguy cơ nhiễm
bệnh có liên quan đến mật độ quần thể cao của chó. Các thử thách thực nghiệm cho thấy CPIV
nhạn sao chủ yếu trong biểu bì của màng nhày mũi, hầu họng, thanh quản, khí quản và phế quản.
Ở đây, quá trình nhân sao gây dung giải tế bào (cytolytic replication) dẫn đến bong tróc biểu bì
đường hơ hấp (Hình 6-1). Nhiễm virus huyết là tình trạng ít thấy, mặc dù CPIV đã phát hiện thấy
trong lách, gan và thận của chó bị nhiễm nhiều mầm bệnh. Thải tiế virus chỉ kéo dài 8 đến 10
ngày sau khi bị nhiễm, trong thời gian này, chất tiết đường hơ hấp theo khí dung có thể truyền
virus đến chó có mẫn cảm. Bệnh nhiễm CPIV có đặc điểm là ho tự khỏi, với ho có giọng cao
như “ngỗng kêu – honking” liên quan đến dây thanh quản bị sưng. Viêm thanh quản và khí quản
có thể có liên quan đến ho từng cơn và khạc đờm. Chó có thể thể hiện chảy nhiều nước mũi,
viêm hạch hạnh nhân, có hay khơng viêm thanh quản. Nếu khơng bị biến chứng do phụ nhiễm,
các dấu hiệu lâm sàng sẽ giảm đi rõ rệt trong 6 đến 14 ngày sau. Tuy nhiên, bệnh nhiễm cùng lúc
với B. bronchiseptica hay virus khác đường hơ hấp, nhất là ở chó con, thường nặng nề và kéo
dài.
HÌNH. 6-1 A, Hình chụp qua kính hiển vi điện tử (electron microscopic – EM) ở biểu khí quản của chó bình
thường. B. Hình chụp qua kính hiển vi điện tử cho thấy vùng tiết dịch và biểu bì ở khí quản bị bong tróc hồn tồn
lớp nhung mao chỉ trong vòng 72 giờ sau khi gây nhiễm thực nghiệm bằng CPIV. (Tài liệu của Pfizer Laboratories,
Madison, NJ.)
Virus bệnh cúm chó (Canine Influenza Virus)
CIV gây bệnh đường hơ hấp và sốt ở chó gây nhiễm thực nghiệm, có liên quan đến nhân sao
của virus và chuyển hóa huyết thanh.27 Các dấu hiệu lâm sàng từ khơng thể hiện đến có các dấu
hiệu hô hấp nhẹ (ho), kéo dài 2 đến 3 tuần; một số chó bị nhiễm tử nhiên phát triển bệnh nặng nề
ở đường hô hấp dưới, gây chết. Đường hơ hấp và hạch lâm ba kiểm sốt vùng bị viêm thấy có ở
hầu hết chó được gây nhiễm thực nghiệm, tuy nhiên, một số chó phát triển các bệnh tích phổi
điển hình của sưng phổi (pneumonic consolidation).35,36 Nhân sao và thải tiết virus ở mức tương
đối thấp, hầu hết thường xảy ra trong vòng 4 ngày sau khi bị nhiễm, và thường không kéo dài
quá 10 ngày. Thải tiết virus cũng đã quan phát hiện thấy ở chó bị nhiễm cận lâm sàng. Lây lan
nhanh chóng của mầm bệnh xảy ra khi virus xâm nhập vào chó ni chung trong trại.
Xem chương 23 đề biết thêm chi tiết về sinh bệnh học của nhiễm virus bệnh cúm chó.
Canine Adenovirus Type 2
CAV-2 và CAV-1 đều được biết là nhiễm đến biểu bì đường hơ hấp và gây ra các dấu hiệu
lâm sàng, nhất là ho. Tuy nhiên, CAV-2 là adenovirus chủ yếu tìm thấy ở những chó bị CIRD và
ghi nhận được ở chó trên khắp thế giới, trong những chó đã được chủng ngừa vaccin đối với cả
CAV-1 lẫn CAV-2. Mặc dù có chủng ngừa vaccin cho chó ni, nhưng chó hoang dã đóng vai trị
là nguồn tàng trữ tạo phơi nhiễm cho chó ni. Sau khi lây qua đường mũi miệng, virus nhân
sao trên bề mặt biểu bì của xoang mũi, thanh quản, các nếp gấp của hạch hạnh nhân và các tế
bào hình cốc (goblet cells) trong khí quản. CAV-2 khơng chỉ giới hạn ở đường hơ hấp trên, do
chúng có thể nhiễm đến các tế bào khơng có nhung mao trong phế quản và biểu bì dạng 2 của
phế nang (type 2 alveolar epithelium). Virus cũng đã tìm thấy trong các hạch lâm ba phế quản và
sau hầu họng. Đỉnh điểm nhân sao của virus lúc 3 đến 6 ngày sau khi bị nhiễm và suy giảm theo
phát triển gia tăng của kháng thể cục bộ. Đến ngày 9 sau khi bị nhiễm, virus không thể phân lập
được. Hầu hết các bệnh tích rõ rệt ở đường hơ hấp có liên quan đến các trung tâm nhiễm CAV-2
trong các đường thơng khí sâu trong phổi. Viêm phế quản (bronchitis) và viêm phổi kẽ
(interstitial pneumonia) đã được báo cáo ở chó được thử thách thực nghiệm bằng CAV-2, mặc dù
bệnh lâm sàng do gây nhiễm là không thể hiện hay bệnh nhẹ. Tỷ lệ tử vong liên quan đến viêm
phổi nặng nề đã quan sát thấy ở chó con bị nhiễm tự nhiên lúc 4 tuần tuổi hay nhỏ hơn .1 Các thể
hiện lâm sàng có liên quan đến nhiễm CAV-2 trở nên xấu hơn khi xảy ra nhiễm thêm vi khuẩn
hay nhiễm cùng lúc với virus khác.12,26,110 CAV-2 đã nhận diện thấy với tỷ lệ cao hơn ở những
chó bị viêm màng tiếp hợp trong tự nhiên, so với chó đối chứng khỏe mạnh bình thường.84 Xem
Chương 4 để biết thêm thơng tin về sinh bệnh học của bệnh nhiễm canine adenovirus.
Virus bệnh sài sốt chó (Canine Distemper Virus)
Bệnh nhiễm CDV có thể gây ra các dấu hiệu hô hấp không phân biệt được với các nguyên
nhân khác của CIRD, nhất là trong các giai đoạn đầu của bệnh nhiễm. Tuy nhiên, đường hơ hấp
khơng phải là mục tiêu chính của CDV. Bệnh nhiễm ở chó có mẫn cảm cao tiến triển tồn thân,
dẫn đến tử vong. Mặc dù CDV có thể coi là mầm bệnh quan trọng trong sinh bệnh học của
CIRD, nhưng vorus khơng được cho là mầm bệnh chính. Sinh bệnh học của CDV được mô tả
chi tiết trong Chương 3.
Coronavirus gây bệnh hơ hấp ở chó (Canine Respiratory Coronavirus)
Chó có huyết thanh dương tính với CRCoV đã được phát hiện thấy ở một số quốc gia, và việc
phân lập virus đã xác nhận.2,74,87,131 Tuy nhiên, huyết thanh dương tính ở chó khơng liên quan
thực chất đến các dấu hiệu lâm sàng của bệnh hơ hấp. Khơng có tai tài liệu nào đề cập đến thử
thách thực nghiệm lẫn bệnh nhiễm tự nhiên của CRCoV. Ở đây có khả năng là bệnh nhiễm
CRCoV, giống như nhiễm CPIV và CAV-2, là thường xảy ra sau khi tiếp xúc trực tiếp với các
chất tiết đường hô hấp. Sau thời gian nung bệnh ngắn, các dấu hiệu lâm sàng, nếu có, có đặc
điểm của CIRD và bao gồm ho, chảy nước mũi và đôi khi không thể hiện. Trong một nghiên cứu
lâm sàng ở chó ni trại có các dấu hiệu bệnh hơ hấp, CRCoV tìm thấy nhiều nhất ở những chó
bị ho nhẹ.48 Ở chó bị nhiễm tự nhiên, virus thường nhận diện được trong xoang mũi, hạch hạnh
nhâ và khí quản, ít có khả năng tìm thấy trong phổi và các hạch lâm ba phế quản. Các nghiên
cứu về tác nhân gây bệnh của CIRD cũng đã nhận diện được CRCoV trong những chó bị nhiễm
cùng lúc với các mầm bệnh hô hấp khác, nhất là B. bronchiseptica và CPIV45
Canine Herpesvirus
Bệnh nhiễm CHV có đặc điểm là bệnh tồn thân, gây tử vong ở chó con dưới 2 tuần tuổi mà
lứa đẻ của nó có liên quan đến chết phơi. Tuy nhiên, thực nghiệm gây nhiễm ở chó bằng
herpesvirus đã được báo cáo là gây viêm mũi (rhinitis) và viêm hầu họng (pharyngitis) cũng như
có các dấu hiệu của CIRD. Mặc dù virus đã phân lập được từ những chó có các dấu hiệu đường
hơ hấp trên, nhưng vai trị của CHV trong CIRD vẫn chưa được rõ. Xem Chương 5 để biết thêm
thông tin về sinh bệnh học của bệnh này.
Canine Reovirus
Các reoviruses ở thú có vú nhiễm đến tất cả các lồi thú có vú, bao gồm người. Tất cả ba
chủng huyết thanh (serotypes), 1, 2, và 3, đã phân lập được từ những chó bị bệnh hơ hấp hay
viêm ruột. Mặc dù phân lập được từ đường hơ hấp trên của chó, vai trị của reovirus là mầm
bệnh chính trong CIRD là chưa rõ. Các nghiên cứu thử thách bằng reovirus đã được thực hiện ở
chó khỏe mạnh, đã không cho ra được kết luận. Người ta đã cho rằng CRV đóng vai trị hiệp lực
với các mầm bệnh khác để gây ra các dấu hiệu thuộc về CIRD.16
Vi khuẩn và Mycoplasmas
B. bronchiseptica, một trực khuẩn đầu trịn (coccobacillus) gram âm, hiếu khí, đã được ghi
nhận chủ yếu gây bệnh đường hơ hấp của chó từ đầu những năm 1970. Hiện nay, vi khuẩn được
cho là một trong những tác nhân gây bệnh chính của of CIRD và có thể có một yếu tố phức hợp
quan trọng trong những chó được gây nhiễm cùng lúc với một mầm bệnh là virus. B.
bronchiseptica thường xuyên phân lập được ở đường hơ hấp trên của chó và mèo khỏe mạnh về
lâm sàng và của những chó và mèo có các dấu hiệu lâm sàng của bệnh, nhất là ho và chảy nước
mũi. Mức độ phức tạp về sinh bệnh học của bordetellae giúp giải thích vì sao các thể hiện lâm
sàng của bệnh nhiễm có thể trong giới hạn từ các dấu hiệu hô hấp nhẹ đường hô hấp trong những
chó được cho là khỏe mạnh, đến xuất dịch nặng nề với đặc điểm là viêm phổi và chết. Đặc biệt
quan trọng, dù chưa được nghiên cứu kỹ, là các hậu quả của tỷ lệ tử vong kết hợp với mọi mầm
bệnh khác được cho là có liên quan đến CIRD. Trong một nghiên cứu ở những chó bị viêm phổi
kết hợp nhiều mầm bệnh, những chó bị viêm phổi có tham gia của B. bronchiseptica thì thường
có nguồn gốc ở những cơ sở ni thú cưng và chó được điều trị lâu dài ở phòng khám, so với
những chó bị nhiễm các vi khuẩn khác.104
Hậu quả của nhiễm B. bronchiseptica thường khác nhau và khó chỉ ra chính xác trong điều
kiện lâm sàng. Mức độ phức tạp của tương tác vi khuẩn-ký chủ này có thể có góp phần của một
hệ thống kiểm soát độc lực, gần giống với phát hiện ở B. pertussis và B. parapertussis, được mã
hóa bởi đoạn gen (locus) bvgAS. BvgA và BvgS (các gen độc lực A và S của Bordetella) là các
cấu thành chính của hệ thống chuyển giao hai thành phần (two-component transduction system)
mà điều chỉnh các protein chịu trách nhiệm cho thể hiện các yếu tố độc lực. BvgAS kiểm sốt ít
nhất ba giai đoạn kiểu hình (phenotypic phases) khác nhau của B. bronchiseptica, Bvg+, Bvgi và
Bvg- mà được cho là có tham gia lần lượt trong trú đóng, truyền lây và sống sót (tồn tại dai
dẳng). Thú vị là, thể hiện của từng giai đoạn bị ảnh hưởng bởi biến đổi của các điều kiện mơi
trường trong tiến trình bệnh nhiễm. Các tín hiệu ảnh hưởng đến điều chỉnh các đoạn locus bvgAS
là chưa xác định được. Với khả năng của B. bronchiseptica trong điều chỉnh độc lực và khả năng
mà chó bị nhiễm cùng lúc thường thể hiện lâm sàng nặng nề hơn so với chỉ nhiễm một tác nhân
gây bệnh, bệnh nhiễm biết được có kết hợp với virus (như CPIV hay CIV), có thể ảnh hưởng đến
độc lực của B. bronchiseptica và thể hiện lâm sàng của CIRD trong một cá thể chó. Các yếu tố
độc lực của B. bronchiseptica và chức năng của các yếu tố này được tóm tắt trong Bảng Trang
mạng 6-2.
HÌNH. 6-2 Hình chụp của kính hiển vi qt điện tử (transmission EM scan) của màng nhày khí quản cho thấy
các tế bào nhung mao của biểu bì bị B. bronchiseptica bám vào (mũi tên). (Hình chụp của Electron Microscopy Lab,
College of Veterinary Medicine © 2004, University of Georgia Research Foundation Inc.)
Các nghiên cứu đã cung cấp hiểu biết về sinh bệnh học của B. bronchiseptica và cách thức mà
vi sinh vật duy nhất này có khả năng trú ngụ trong đường hơ hấp của chó (và mèo) khỏe mạnh,
mà sau đó, dưới các tác động chưa được biết rõ, đã phát hiện được các thụ thể trên biểu bì nhung
mao đường hô hấp, đã tấn công vào và trú đóng trong các tế bào này, né tránh được miễn dịch
tiêu diệt, và sau đó gây tổn thương mơ.* Tấn cơng của vi khuẩn đến biểu bì nhung mao của
đường hô hấp thể hiện là giai đoạn đầu tiên quan trọng của bệnh nhiễm B. bronchiseptica (Hình
6-2). Dưới kiểm sốt của hệ thống hai thành phần của BvgAS, tua nhung mao được cho là làm
trung gian cho kết bám của Bordetella đến biểu bì đường hơ hấp 17 và thực tế là cần thiết cho tồn
tại dai dẳng của vi khuẩn trong khí quản. Một yếu tố bám dính khác, là ngưng huyết tố dạng sợi
(filamentous hemagglutinin), là yêu tố bám dính chính cho Bordetella và có thể có vai trị trong
hóa giải tác động qt sạch của nhung mao màng nhày. Lúc đầu trong tiến trình của bệnh nhiễm,
và trước khi biểu bì bị tổn thương hay sản sinh chất nhày, B. bronchiseptica gây ngưng trệ nhu
động nhung mao (ciliostasis), là một sự kiện quan trọng trong sinh bệnh học của bệnh nhiễm, mà
không chỉ cản trở việc quét sạch mà cịn làm gia tăng khả năng trú đóng của vi khuẩn.3 Sau khi
trú đóng, B. bronchiseptica sử dụng một số cơ chế phức hợp cơ bản để thể hiện một chuỗi các
ngoại độc tố và nội độc tố, cũng gọi là các yếu tố độc lực hay xác định độc lực. Các yếu tố độc
lực này không chỉ dẫn đến tổn thương trực tiếp tế bào mà còn làm tổn hại khả năng nhận biết và
làm sạch vi khuẩn.6,40,56,103,132
* Các tài liệu tham khảo 6, 18, 52, 53, 95, 126
Bảo hộ bẩm sinh đối với B. bronchiseptica thể hiện trong dạng các yếu tố phòng vệ β (βdefensins, các peptide điện tích dương (cationic peptides) trong đường hơ hấp và các chất tiết. 46a
Trú đóng ở biểu bì đường hô hấp cũng dẫn đến sản sinh các kháng thể cục bộ (local antibodies)
đối với một số kháng nguyên của B. bronchiseptica. Tuy nhiên, một số yếu tố độc lực giúp cho
Bordetella lảng tránh tiêu diệt của miễn dịch. Thể hiện của độc tố adenylate cyclase (CyaA), là
tối đa trong giai đoạn Bvg +, đã cho thấy là “gây ngộ độc” các bạch cầu trung tính và xúc tác sản
sinh quá mức cyclic adenosine monophosphate. Tầm quan trọng của CyaA trong sinh bệnh học
của B. bronchiseptica là khả năng tạo dễ dàng cho vi khuẩn đề kháng với các cơ chế phòng vệ
của ký chủ. Kết quả là làm thỏa hiệp quá trình thực bào và tiêu diệt vi khuẩn. Hơn nữa,
lipopolysaccharide (LPS), một nội độc tố có trên bề mặt của B. bronchiseptica, tương tác với tế
bào ký chủ, tạo bảo vệ cho vi khuẩn khỏi bị ảnh hưởng bới phản ứng viêm về sau. Kháng nguyên
O, là một cấu thành của LPS, gây cản trở phản ứng của kháng thể với B. bronchiseptica và có
thể có vai trị quan trọng trong tồn tại dai dẳng của vi khuẩn.
Việc gây ngưng nhu động nhung mao, có thể bằng cách gây độc khí quản, là sự kiện đầu tiên
trong q trình trú đóng và sinh bệnh học của B. bronchiseptica, xảy ra trước khi biểu bì bị tổn
thương và xuất tiết chất nhày. Mất điều hòa và mất phương hướng nhu động của nhung mao biểu
bì hơ hấp là thể hiện quan trọng của thất bại của hoạt động quét sạch vi khuẩn, mà có thể cho ra
cơ hội xâm nhiễm đến đường hô hấp dưới. Tổn thương mô ở đường hô hấp xảy ra sau khi bị trú
đóng. Tổn thương mơ cục bộ dẫn đến tác động độc trực tiếp của các chất tiết khác nhau từ B.
bronchiseptica trú đóng tại đó. Các tác động của các yếu tố độc lực chính, độc tố gây nhiễm độc
hoại tử bề mặt (dermatonecrotic toxin), LPS, hệ thống chất tiết dạng III (type III secretion
system), và periactin, được nêu tóm tắt trong Bảng Trang mạng 6-2.
Ngoài B. bronchiseptica, phần lớn vi khuẩn phân lập được từ chó với các dấu hiệu của CIRD
được cho là bị nhiễm cơ hội, liên quan đến một hay một kết hợp của các vi khuẩn cộng sinh
(commensal organisms). Pseudomonas spp., Pasteurella spp., và các coliforms thường phân lập
được tại chỗ ở chó có thể hiện lâm sàng của bệnh nhiễm đường hơ hấp. Một số ít báo cáo đã mơ
tả dạng bệnh hơ hấp xuất hiện cấp tính trong chó ni trại do S. equi subsp. zooepidemicus (xem
Chương 33).19,21,79,97 Các phát hiện lâm sàng bao gồm ho ướt (moist cough), chảy nước mũi, sốt,
khó thở, bỏ ăn và lờ đờ. Một số tử vong đã được báo cáo. Khám tử phát hiện trong ổ dịch này có
ghi nhận thấy viêm phổi phế nang xuất huyết (hemorrhagic bronchopneumonia) và bại huyết
(sepsis). S. equi subsp. zooepidemicus đã phát hiện thấy trong máu, phổi và nhiều cơ quan khác
của chó bệnh. Khơng có trường hợp nào trong đó có dương tính với CPIV, CAV-1, CAV-2, và
CRCoV. Khơng có báo cáo về nhiễm cùng lúc với B. bronchiseptica. Mặc dù sinh bệnh học của
bệnh nhiễm được mô tả trong các ổ dịch này là không đặc trưng, những phát hiện này đã tạo nên
vấn đề về tầm quan trọng của S. equi subsp. zooepidemicus trong phổ của các mầm bệnh liên
quan đến CIRD.
Vai trò của mycoplasmas trong CIRD là chưa biết rõ. Vai trị của mycoplasma là các mầm
bệnh hơ hấp là chưa chắc chắn, do các vi sinh này đã phát hiện thấy trong đường hơ hấp của
những chó bị viêm phổi11,80,105,111 và những chó có lâm sàng khỏe mạnh.18,39,43,61 Khơng giống như
B. bronchiseptica, các mycoplasmas trú đóng trong cả biểu bì có nung mao và biểu bì khơng có
nhung mao, và dễ thấy hơn ở đường hơ hấp dưới (khơng có nhung mao), với có hay khơng có
bệnh lâm sàng. Các bệnh nhiễm tự nhiên và thực nghiệm, có đặc điểm là viêm phế quản sinh mủ
(purulent bronchitis) và viêm vi phế quản (bronchiolitis). Triển dưỡng biểu bì (epithelial
hyperplasia), triển dưỡng lâm ba (lymphoid hyperplasia) và viêm phổi kẽ (interstitial
pneumonia) có thể phát triển. Bệnh nhiễm toàn thân là hiếm. Một khi đã trú đóng trong biểu bì
đường hơ hấp, mycoplasma có thể được thải tiết mãn tính kéo dài đến hàng tháng.11 Ở đây có lý
do để cho rằng, trong bệnh do B. bronchiseptica, nhiễm cùng lúc với bất kỳ dạng mycoplasmas
nào cũng dẫn đến bệnh lâm sàng nặng nề hơn trong các thú bệnh không được điều trị.
CÁC PHÁT HIỆN TRONG LÂM SÀNG
CIRD lưu hành cao trong chó trên khắp thế giới, nhất là trong các quần thể có mật độ cao.
Các cá thể chó bị nhiễm điển hình có bệnh sử tiếp xúc rộng rãi hay bị phơi nhiễm với chó bệnh.
Trong các quần thể đã bị nhiễm, tỷ lệ mắc bệnh thường cao, trong khi tỷ lệ tử vong là thấp. Các
thể hiện lâm sàng của CIRD trở nên càng khó xác định. Phần lớn các nghiên cứu đã cơng bố đối
với CIRD thường có hướng chỉ nêu đến bệnh nhiễm do một tác nhân gây bệnh trong các ổ dịch.
Tuy nhiên, các bệnh nhiễm tự nhiên, nhất là ở chó ni trang trại, thường do kết hợp các virus
và/hoặc vi khuẩn hợp lực.16 Một yếu tố khác làm phức tạp cho cấu thành của một mô tả lâm sàng
đối với CIRD là các mầm bệnh thêm vào liên quan đến sinh bệnh học. Thể hiện làm sàng ban
đầu của một chó bị CIRD là xuất hiện ho cấp tính từng cơn (paroxysmal cough). Các giai đoạn
ho có thể nặng nề thêm theo mức độ vận động cơ thể. Nếu có viêm thanh quản, nếp gấp thanh
quản sưng có thể làm cản trở thêm trong lưu thơng khơng khí trong khi ho, dẫn đến ho khàn
(hoarse) hay ho rít (high-pitched “honking” coughing). Nếu có viêm khí quản, ho có thể xảy ra
do khám khí quản, nhất là khi sờ nắn ở phần cửa vào xoang ngực, hay ho có thể phát ra khi ép
nhẹ vào cổ chó. Việc gây ho bằng sờ nắn khí quản là phát hiện khơng thực chất, mà khơng nên
áp dụng cho chẩn đốn lâm sàng đối với CIRD. Nếu có bệnh, sự gia tăng hàm lượng của chất
nhày sinh ra trong khí quản và đường hơ hấp dưới có thể rất nhiều gây ra tình trạng ho. Tuy
nhiên, chó thường nuốt chất nhày được đẩy lên đến hầu họng mà khơng nhận biết được. Những
chó có thể hiện nhả chất nhày ra thường có động tác giống như ói mửa, ra dịch trong hay dịch
mủ. Xuất dịch trong, nhày hay mủ ở xoang mũi và mắt có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào trong
tiến trình bệnh. Đơi khi có ghi nhận hắt hơi. Ở những chó khơng bị biến chứng, bị nhiễm một tác
nhân gây bệnh, thường có cải thiện nhanh chóng (hàng ngày), với có hay khơng điều trị bằng các
chất kháng sinh, tình trạng sức khỏe ở những chó bị nhiễm cùng lúc có thể cạn kiệt theo thời
gian. Sốt, lờ đờ và bỏ ăn có thể phát triển nhưng ít được mô tả và thường là dấu hiệu phụ nhiễm
vi khuẩn ở đường hô hấp dưới. Mặc dù viêm phổi là biến chứng khơng thường thấy ở những chó
bị CIRD, những chó phát triển khó thở ở bất kỳ thời điểm nào trong tiến trình bệnh đều là quan
trọng và phải tích cực chăm sóc. Các phát hiện lâm sàng có thể nặng nề hơn ở chó con và ở chó
khơng được chủng ngừa. Chó ở mọi lứa tuổi, bất kể lịch sử tiêm phịng vaccin, đều vẫn có khả
năng mẫn cảm.
Thời gian từ khi phơi nhiễm đến khi xuất hiện các dấu hiệu của CIRD thường từ 3 đến 10
ngày.8,16 Lịch sử về phơi nhiễm đến các chó khác, nhất là trong các điều kiện nuôi trại hay
chuồng chung, đặc biệt có nguy cơ. Ở chó ni trại, các dấu hiệu lâm sàng có thể phát ra một
cách ngẫu nhiên trong một con chó, sau đó lan tràn nhanh chóng đến các chó khác trong trại, dù
cho đã hạn chế hay khơng có tiếp xúc trực tiếp với nhau. Khơng thấy có báo cáo về nguy cơ
CIRD có liên quan đến phơi nhiễm đến hay tiếp xúc với các chó khác, như chó chơi chung trong
cơng viên hay các cửa hàng chó cảnh. Thời gian bệnh thường biến thiên và tùy thuộc vào dạng
phơi nhiễm (thực sự hay tạm thời), mật độ quần thể, tình trạng sức khỏe trước đó của cá thể chó,
số lượng mầm bệnh đường hơ hấp có liên quan... Trong hầu hết các trường hợp, các dấu hiệu
lâm sàng là nhẹ và có thể tự khỏi (khơng biến chứng) trong vài ngày. Chó khỏe mạnh bị CIRD
có thể được cách ly để tránh phơi nhiễm thêm có khuynh hướng hồi phục trong vịng 2 tuần.
Trong một số trường hợp, các dấu hiệu lâm sàng (ho) có thể kéo dài đến vài tuần. Một số trường
hợp khác, bệnh có thể tiến triển, đơi khi rất nhanh, đến bệnh nặng nề ở đường hô hấp dưới (biến
chứng) mà nếu khơng điều trị kịp thời có thể bệnh nặng nề đến tử vong.29 Không thể quét sạch
được B. bronchiseptica lẫn Mycoplasma ra khỏi đường hơ hấp của chó bị nhiễm; do đó, thải tiết
mầm bệnh có thể kéo dài đến vài tuần. Nguy cơ thải tiết virus là tối thiểu lúc 10 đến 14 ngày sau
khi gây nhiễm.
Các nghiên cứu giới hạn về các phát hiện lâm sàng ở chó bị nhiễm những bệnh đã được mơ tả
gần đây hơn bởi CIV hay CRCoV đã làm nổi bật một số khác biệt quan trong mà cần được quan
tâm trong đánh giá bất kỳ thú bệnh nào có các dấu hiệu bệnh hơ hấp cấp tính. Ho là dấu hiệu rõ
nhất trong các nghiên cứu thử thách thực nghiệm bằng CIV ở chó con 14 đến 15 tuần tuổi.35
Chảy nước mắt và nước mũi, hắt hơi, khó thở và ủ rũ đã thấy phát triển ở một số chó trong vịng
1 đến 4 ngày sau thử thách. Sốt ít thấy và nếu có thì tạm thời. Điều này ngược lại với các nghiên
cứu ở trại ni chó săn trưởng thành bị nhiễm CIV tự nhiên, được mô tả có hai nhóm thể hiện
lâm sàng khác nhau. Hầu hết chó bị nhiễm ban đầu phát triển sốt sau đó là các dấu hiệu lâm sàng
nhẹ của bệnh hô hấp (nhất là ho và chảy nước mắt nước mũi). Một số ít chó phát triển sốt cao
(40°C đến 41°C [104°F đến 105°F]) tương ứng với các dấu hiệu hô hấp nặng nề bao gồm khó
thở. Chết, mặc dù ít thấy, đã được báo cáo ở chó con được thử thách thực nghiệm (phải gây chết
nhân đạo do các dấu hiệu hơ hấp nặng nề) và chó ni trại bị nhiễm tự nhiên. Khám tử cho thấy
mô phổi sưng cứng (phổi hóa gan) và viêm phổi. Các hậu quả lâm sàng của bệnh nhiễm khơng
thấy có nghiên cứu nào ở chó bị nhiễm CIV. Để biết thêm thông tin về các đặc điểm lâm sàng
của bệnh nhiễm CIV, xem Chương 23.
CRCoV có khả năng phân lập được nhiều nhất từ xoang mũi và khí quản của chó thể hiện lâm
sàng các dấu hiệu bệnh đường hô hấp trên, như bị “ho nhẹ”. Thú vị là, CRCoV thường ít phân
lập được từ chó thể hiện các dấu hiệu lâm sàng nặng nề. Ở đây quan trọng là khơng có nghiên
cứu nào mơ tả các phát hiện lâm sàng của những chó bị thử thách trong thực nghiệm cũng như
lâm sàng bởi CRCoV. Mặc dù các nghiên cứu về lưu hành huyết thanh cho thấy rằng CRCoV có
tính lây lan cao và có khả năng truyền lây qua khí dung, phơi nhiễm với virus đã xảy ra ở chó tại
nhiều quốc gia, nhưng vẫn thiếu các mô tả về thể hiện lâm sàng do bị nhiễm CRCoV. Cho đến
khi có những nghiên cứu này, CRCoV hiện vẫn chưa được cho là mầm bệnh chủ yếu trong phức
hợp CIRD, nhưng sẽ được xem xét về vai trị của nó trong gây bệnh hay gây bệnh kết hợp.
CHẨN ĐỐN
Chẩn đốn lâm sàng dựa vào lịch sử phơi nhiễm gần đây với các chó khác, các dấu hiệu và
đáp ứng với điều trị theo kinh nghiệm. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, tiến triển nhanh
chóng của bệnh lâm sàng, thời gian cần thiết cho phân lập nhận diện vi sinh, và khả năng bị
nhiễm cùng lúc làm thất bại mọi cố gắng nhận diện (các) mầm bệnh liên quan. Do đó, các phát
hiện lâm sàng đã nêu trên, nhất là ở một hay nhiều chó được biết là đã bị phơi nhiễm gần đây, là
cơ sở cho thiết lập một chẩn đoán lâm sàng về CIRD và quyết định về điều trị đối với cá thể chó
bị nhiễm. Sự xuất hiện cùng lúc các dấu hiệu thực chất với CIRD ở những chó khác cùng đàn là
thể hiện của ổ dịch và cảnh tỉnh cho việc áp dụng ngay các chiến thuật quản lý chăm sóc để giới
hạn hay khu trú mầm bệnh trong quần thể có nguy cơ.
Mặc dù biết được tình trạng chủng ngừa vaccin trước kia có thể giúp ích cho xác định khả
năng mẫn cảm đối với CIRD, nhưng lịch sử chủng ngừa vaccin trong một chó với đặc điểm của
các dấu hiệu hô hấp không loại trừ một chẩn đốn. Thủ tục huyết thanh học và các cấu hình sinh
hóa khơng phải là chẩn đốn mà chỉ cho biết được các tình trạng sức khỏe của chó bị nhiễm.
Cơng thức bạch cầu (leukogram) với các đặc điểm gia tăng bạch cầu trung tính (neutrophilia),
giảm tế bào lâm ba (lymphopenia), và giảm bạch cầu ưa acid (eosinopenia) sẽ là phát hiện phù
hợp với nghi ngờ về chó bị CIRD. Cơng thức bạch cầu của tình trạng viêm với gia tăng rõ rệt
bạch cầu huyết (leukocytosis) hoặc công thức bạch cầu “nghiêng bên trái” (leukogram left shift)
và kèm theo sốt, sẽ là nghi ngờ ở chó bị phụ nhiễm vi khuẩn và viêm phổi.
Vi khuẩn phân lập được từ miệng và mũi, hầu họng và thanh quản chủ yếu thể hiện tình trạng
cộng sinh của hệ vi sinh đường hô hấp. Những vi khuẩn này thường không xác định là các mầm
bệnh nguyên phát. Mặc dù các cố gắng cho phân lập vi khuẩn từ cá thể chó thể hiện CIRD
thường khơng cho ra các kết quả có ý nghĩa, nhưng sự xuất hiện dịch hơ hấp trong chó ni có
thể cần phải thực hiện điều này. Nếu thường phát hiện thấy cùng một vi khuẩn, thí dụ, B.
bronchiseptica hay S. equi subsp. zooepidemicus, từ nhiều chó có cùng các dấu hiệu lâm sàng
giống nhau, thì các ghi nhận về các mơ hình về khả năng mẫn cảm có thể giúp ích cho việc điều
trị và can thiệp trong tương lai.
Soi X quang xoang ngực (thoracic radiographs) là khơng rõ ràng ở những chó bị CIRD khơng
biến chứng. Những chó bị biến chứng có liên quan đến CIRD có thể có những dấu hiệu trong soi
X quang, thuộc về căng phồng quá mức (pulmonary hyperinflation) và xẹp từng mảng phổi (segmental atelectasis). Bằng chứng của soi X quang về sưng thùy phổi đã được báo cáo ở chó viêm
phổi có liên quan đến CIV và ở chó bị nhiễm cùng lúc B. bronchiseptica và CPIV.
Nội soi khí quản (tracheoscopy) và súc rửa khí quản (transtracheal wash) là các phương pháp
chẩn đốn xâm nhập khơng chủ yếu chỉ định ở chó bị CIRD; tuy nhiên, các phương pháp này đơi
khi được thực hiện ở những chó có nghi ngờ bị một rối loạn khác cùng lúc. Mặc dù nội soi cho
phép thấy được biểu bì khí quản bị viêm và các vệt nhày trong khí quản, nhưng các phát hiện này
khơng phải là chẩn đốn của CIRD. Các mẫu dịch chất thu thập được trong súc rửa khí quản có
thể chứng minh tế bào và vi khuẩn trong tình trạng viêm; tuy nhiên, các phát hiện này chỉ có giá
trị giới hạn và khơng giúp xác định được là có hay khơng CIRD. Ni cấy vi khuẩn từ các xuất
dịch hay dịch chất thu thập từ đường hơ hấp có thể phát hiện thấy nhiều dạng vi khuẩn, mà
thường là thể hiện của nhiễm cơ hội, chứ không phải mầm bệnh nguyên phát.
Mặc dù không thường thực hiện đối với các cá thể, việc nhận diện các mầm bệnh virus có thể
thực hiện bằng ni cấy mơ (phân lập virus) hay bằng xét nghiệm huyết thanh học (nhận diện
trước khi phơi nhiễm hay do chùng chủng ngừa vaccin). Các kỹ thuật phản ứng chuỗi phân tử
nhanh chóng phát triển trong thương mại, sẵn có cho các thú y viêm áp dụng để phát hiện DNA
hay RNA của các mầm bệnh. Do càng nhiều phịng xét nghiệm có khả năng áp dụng xét nghiệm
PCR, có khả năng là các chẩn đốn viên sẽ có khả năng nhận diện được một cách chính xác các
mầm bệnh vi khuẩn và virus trong các cá thể có dấu hiệu của CIRD (cũng xem Chương 1). Các
trại ni chó mà có dịch CIRD hay có nguy cơ bị nhiễm và phát dịch CIRD sẽ có được lợi ích từ
áp dụng các xét nghiệm chẩn đốn để nhanh chóng nhận diện nguồn gốc hay nhận định phương
hướng phát triển của dịch CIRD. Hiện nay có một số hạn chế liên quan đến xác nhận các mầm
bệnh trong các trường hợp CIRD riêng lẻ, như: tiếp cận đến phịng xét nghiệm có khả năng thực
hiện những xét nghiệm theo yêu cầu, sự cần thiết thực hiện các xét nghiệm đơn lẻ cho từng mầm
bệnh có liên quan, thời gian thải tiết virus ngắn, và sự cần thiết có được kết quả nhanh chóng.
ĐIỀU TRỊ
Các chất kháng sinh
Trong các trường hợp không biến chứng của CIRD, giá trị của các điều trị kháng sinh thường
có giới hạn. Tuy nhiên, việc chỉ định cấp các kháng sinh đường uống cho chó bệnh có các dấu
hiệu của CIRD là khơng hợp lý, vì thực tế là có nguy cơ phát triển của vi khuẩn phụ nhiễm cơ
hội ở đường hô hấp. Việc điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm chỉ nên áp dụng khi bệnh nhiễm
không biến chứng trong viêm phổi rõ ràng do vi khuẩn. Các gợi ý về chọn lựa kháng sinh theo
kinh nghiệm được liệt kê trong Bảng 6-2. Trong nhiều loại kháng sinh được liệt kê, doxycycline
là thích hợp vì có hiệu quả đối với B. bronchiseptica, với chi phí thấp (các dạng viên nén, viên
nang, dung dịch) và dễ dàng sử dụng (một liều/ngày).9 Mặc dù doxycycline hiếm khi gây ố màu
răng ở chó con (xem Cơng thức thuốc trong Phụ lục), giới hạn thời gian sử dụng dưới 10 ngày
liên tục sẽ giảm được nguy cơ này. Điều trị bằng tiêm mạch máu được chỉ định nếu bị nhiễm
đường hô hấp dưới (viêm phế quản phổi – bronchopneumonia hay viêm phổi kẽ – interstitial
pneumonia) hay khi có nghi ngờ bại huyết (sepsis). Lý tưởng là các chất kháng sinh được liệt kê
phải sử dụng theo các kết quả nuôi cấy vi khuẩn và các kết quả mẫn cảm của vi khuẩn; tuy
nhiên, trong điều kiện lâm sàng, điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm có thể thích hợp nhất.53,124
BẢNG 6-2
Các chọn lựa điều trị đối với bệnh truyền nhiễm đường hơ hấp của chó (CIRD)
Thuốca
Liều lượng (mg/kg)b Đường cấp Khoảng cách thời gian (giờ) Liệu trình (ngày)
c
ANTIMICROBIALS
Amoxicillin-clavulanate
12.5-25
PO
12
10-14 (tối thiểu)
Azithromycin
5.0
PO
24
5-7
Doxycycline
2.5-5.0
PO
12
10 (tối thiểu)
Enrofloxacin
5.0
PO
24
10
Trimethoprim-sulfonamide
15
PO
12
10-14 (tối thiểu)
ANTITUSSIVES
Hydrocodone
0.22
PO
8-12
prn
Butorphanol
0.55
PO, SC
8-12
prn
GLUCOCORTICOIDS
Prednisolone
0.25-0.5
PO
12
3-5
BRONCHODILATORS
Aminophylline
10
PO
8-12
prn
Terbutaline
2.5
PO, SC
8-12
prn
PO, Cấp đường uống; prn, theo cần thiết; SC, tiêm dưới da.
a
Để biết thêm thông tin về các thuốc kháng sinh, xem phần Công thức thuốc trong Phụ lục.
b
Liều lượng cấp trong khoảng thời gia chỉ định.
c
Các tài liệu tham khảo:
Schwarz S, Alesik E, Grobel M, et al. 2007. Khả năng mẫm cảm với chất kháng sinh của Pasteurella multocida
và Bordetella bronchiseptica ở chó và mèo, theo xác định của chương trình khảo sát thú y BfT-germ năm 2004-2006
(Antimicrobial susceptibility of Pasteurella multocida and Bordetella bronchiseptica from dogs and cats as
determined in the BfT-germ vet monitoring program 2004-2006).
Berl Munch Tierarztl Wochenschr 120:423-430. Phân tích 42 dịng phân lập được từ chó và mèo; có đề kháng
tương đối cao (cao hơn các hàm lượng ức chế trung bình của penicillin G, oxacillin, cefazolin, ceftiofur,
sulfamethoxazole, và trimethoprim sulfamethoxazole. (Forty-two canine and feline isolates were tested; relatively
high resistance [higher mean inhibitory concentrations were observed for penicillin G, oxacillin, cefazolin, ceftiofur,
sulfamethoxazole, and trimethoprim sulfamethoxazole]).
Speakman AJ, Dawson S, Corkill JE, et al. 2000. Khả năng mẫn cảm của các dòng phân lập của Bordetella
bronchiseptica ở chó. (Antibiotic susceptibility of canine Bordetella bronchiseptica isolates).
Vet Microbiol 71:193-200. 78 dịng phân lập từ chó: 100% có mẫn cảm đối với tetracyclines, enrofloxacin and
amoxicillin-clavulanate; đề kháng cao hơn (cao hơn các hàm lượng ức chế trung bình) đã được ghi nhận ở một số
dịng phân lập đối với ampicillin, trimethoprim, và các sulfonamides. (Seventy-eight canine isolates: 100%
susceptible to tetracyclines, enrofloxacin and amoxicillin-clavulanate; more resistance (higher mean inhibitory
concentrations) noted for some isolates to ampicillin, trimethoprim, and sulfonamides).
Radhakrishnan A, Drobatz KJ, Culp WTN, et al. 2007. Viêm phổi truyền nhiễm kết hợp mầm bệnh ở chó con:
65 trường hợp (1993-2002). (Community-acquired infectious pneumonia in puppies: 65 cases [1993-2002]).
J Am Vet Med Assoc 230:1493-1497. Các dòng phân lập từ chó: >90% có mẫn cảm với amoxicillin-clavulanate,
ticarcillin, amikacin, gentamicin, enrofloxacin, doxycycline, và chloramphenicol. Chỉ có 29% dịng phân lập có mẫn
cảm với các trimethoprim-sulfonamides. (Canine isolates: >90% were susceptible to amoxicillin-clavulanate,
ticarcillin, amikacin, gentamicin, enrofloxacin, doxycycline, and chloramphenicol. Only 29% of isolates were
susceptible to trimethoprim-sulfonamides).
Các Glucocorticoids
Các glucocorticoids thường dành cho điều trị các bệnh viêm đường hơ hấp mãn tính khơng
truyền nhiễm ở chó.14 Tuy nhiên, các liều lượng kháng viêm (xem Bảng 6-2) cấp đường miệng
của glucocorticoids có hiệu quả trong giảm ho và mức độ nặng nề của các trường hợp CIRD
không biến chứng. Ở những cá thể, điều trị có thể kéo dài đến 5 ngày mà khơng gây hại hay làm
cho bệnh nhiễm nặng nề thêm. Không nên áp dụng glucocorticoid kết hợp với điều trị kháng
sinh thoekinh nghiệm, bằng các chất tinh khuẩn (bacteriostatic antibacterials), như doxycycline.
Khi có thể, nên chọn lựa amoxicillin-clavulanate hay fluoroquinolone. Ở đây có các hạn chế sử
dụng các glucocorticoids do làm rút ngắn tiến trình lâm sàng, và ngược lại với nêu trên, sẽ
khơng có lợi ích liên quan đến sử dụng các glucocorticoids cấp đường thẳng vào khí quản qua
đường miệng.
Các thuốc ho (Antitussives)
Các thuốc ho, sử dụng đơn lẻ hay kết hợp với các thuốc giãn phế quản, đã được khuyên sử
dụng trong điều trị CIRD. Về mục đích, các thuốc này có hướng cắt đứt chu kỳ ho; tuy nhiên, có
một số hạn chế cần lưu ý trong điều trị ho. Việc sử dụng các thuốc ức chế ho ngồi toa thuốc
(over-the-counter – OTC) chỉ có hiệu quả ít hay khơng có hiệu quả đối với ho có liên quan đến
CIRD không biến chứng. Các chất ức chế ho thuộc narcotic, như hydrocodone, thường có hiệu
quả trong ức chế tần suất và mức độ nặng nề của ho. Tuy nhiên, việc sử dụng quá mức hay kéo
dài các thuốc này có thể dẫn đến tổn hại thơng khí phổi và giảm hiệu quả của thuốc, mà sau đó
gây tồn đọng các chất tiết đường hô hấp và giảm khả năng quét sạch vi khuẩn.120 Không nên cấp
các thuốc ho nhóm narcotic cho thú bệnh có phụ nhiễm đường hô hấp.
Các chất gây giãn phế quản (Bronchodilators)
Các chất gây giãn phế quản nhóm methylxanthine, theophylline và aminophylline
(theophylline-ethylenediamine) ngăn ngừa phế quản co giật và do đó có thể là các chất ức chế ho
có hiệu quả trong các điều kiện chọn lọc. Ít có quan sát ở chó bị CIRD cho thấy rằng các chất
gây giãn phế quản nhóm methylxanthine là khơng có lợi ích hay có lợi ích giới hạn.
Điều trị bằng khí dung (Aerosol Therapy)
Điều trị bằng khí dung (hay phun sương – nebulization) là việc tạo ra một huyễn dịch dạng
đặc biệt trong một hỗn hợp khí, thường là oxygen. Thú bệnh CIRD được hưởng lợi nhiều nhất từ
điều trị bằng khí dung, do chúng thường bị tích tụ các chất tiết của khí quản và phế quản, bị phụ
nhiễm ở phế quản hay phổi, nhất là do B. bronchiseptica. Các ống bơm nhỏ, cầm tay, dùng một
lần để tạo khí dung thường là rẻ tiền và sẵn có trong các nhà thuốc. Khoảng 6 đến 10 mL nước
muối sinh lý có thể phun khí dụng trong 15 đến 20 phút, áp dụng 1 đến 4 lần mỗi ngày. Oxygen
được cấp ở các tỷ lệ thấp từ 3 đến 5 L/phút để tạo khí dung cho dung dịch nước muối sinh lý
này. Điều trị bằng khí dung phải được thực hiện trong mơi trường bệnh viện. Hầu hết chó bệnh
đáp ứng tốt với điều trị khí dung và thường không cần cầm cột sau lần điều trị đầu tiên.
Ở đây khơng thấy có hiệu quả đối với việc tạo khí dung cho các chất dung giải chất nhày
(mucolytic agents), như acetylcysteine, mà có thể gây kích ứng và kích thích co thắt phế quản.
Hơn nữa, việc gây tan chảy các chất tiết đặc dính của đường hơ hấp có thể không phải là phương
cách hiệu quả cho dễ dànglàm sạch đường thơng khí. Khí dung của các dung dịch glucocorticoid, như methylprednisolone sodium succinate, chưa được nghiên cứu kỹ trong dược thú
y. Tuy nhiên, trong cơn ho cực điểm mà có thể dẫn đến tắc ngẽn đường thơng khí, điều trị này có
thể cho hiệu quả ngắn hạn.
Những chó khơng có đáp ứng với các chất kháng sinh cấp đường miệng hay nhu mơ có thể
đáp ứng với các chất kháng sinh theo đường khí dung. Tạo khí dung cho các chất kháng sinh bề
mặt không bị hấp thụ, như kanamycin, gentamicin, và polymyxin B, đã cho thấy có hiệu quả
giảm quần thể B. bronchiseptica trong khí quản và phế quản của chó bị nhiễm đến 3 ngày sau
khi ngưng điều trị.11 Mặc dù các dấu hiệu lâm sàng không bị triệu tiêu, nhưng mức độ nặng nề
của các dấu hiệu đã giảm rõ rệt.
Chăm sóc hỗ trợ (Supportive Care)
Điều trị hỗ trợ cho cá thể chó bị CIRD là hướng đến duy trì đủ năng lượng và dịch chất trong
q trình bệnh nhiễm cấp tính; ngăn ngừa phụ nhiễm hay nhiễm cơ hội của vi khuẩn, nhất là
mầm bệnh gây viêm phổi; ức chế ho; và giảm phơi nhiễm với các chó khác. Khi có thể, điều trị
này thực hiện tốt nhất tại nhà, so với tại chuồng nuôi hay bệnh viện. Điều này làm giảm khả
năng phát tán bệnh, cách ly chó bệnh với chó có mẫn cảm.
CÁC ĐIỀU TRỊ KHÔNG KHUYÊN ÁP DỤNG
Trên thực tế là CIRD chiếm tỷ lệ cao trong tổng các trường hợp bệnh ở đường hơ hấp trên của
chó, và ở đây thường có các phương thức điều trị với mục đích rút ngắn tiến trình của bệnh và
giảm thiểu các dấu hiệu lâm sàng. Các điều trị nêu dưới đây phần lớn là theo kinh nghiệm, chưa
trải qua nghiên cứu khoa học, và ở thời điểm này không được khuyên áp dụng trong điều trị
CIRD.
Điều trị kháng virus (Antiviral Therapy)
Ở đây khơng có thuốc kháng virus nào được chấp thuận sử dụng cho chó. Tuy nhiên, hiện sẵn
có hai thuốc ức chế neuraminidase (neuraminidase inhibitors: là oseltamivir phosphate [Tamiflu
—Roche, Palo Alto, CA] và zanamivin [Relenza—GlaxoSmithKline, Research Triangle Park,
NC]) đã được chấp thuận sử dụng điều trị cho người bị nhiễm virus cúm, đã làm phát sinh câu
hỏi có hay khơng lợi ích sử dụng cho chó được biết hay nghi ngờ nhiễm CIV. Mặc dù
oseltamivir phosphate được chế tạo cấp đường uống cho người, nhưng khơng có các hướng dẫn
liều lượng cho chó. Hơn nữa, khơng có nghiên cứu nào về tính an tồn hay hiệu quả của các
thuốc này ở chó. Khơng có thuốc kháng virus đặc trưng nào ở người mà được chứng nhận sử
dụng cho chó để điều trị nhiễm CPIV, CAV-2, hay CRCoV.
Chủng ngừa vaccin đường mũi (Intranasal Vaccination)
Các ghi nhận không công bố và kinh nghiệm của các thú y viên cho thấy một số chó bị CIRD
có thể hưởng lợi từ điều trị bằng một liều vaccin đường mũi. Hiện nay, có hai dạng vaccin đường
mũi sử dụng cho chó: một vaccin nhị giá (bivalent vaccine: B. bronchiseptica + CPIV) và một
vaccin tam giá (trivalent vaccine: B. bronchiseptica + CPIV + CAV-2). Kinh nghiệm trong
phương thức sử dụng các vaccin này trong các ổ dịch CIRD của chó ni trại, cho thấy khơng
giảm được mức độ nặng nề của các dấu hiệu lâm sàng hay rút ngắn được tiến trình bệnh. Người
ta cũng thấy là những chó bị ho mãn tính hay dai dẳng sau khi bị CIRD cấp tính thì có thể hưởng
lợi được từ “điều trị” bằng vaccin. Nhưng hiện nay khơng có nghiên cứu nào chứng minh được
điều này.
Các thuốc long đờm (Expectorants)
Có nhiều loại thuốc long đờm ngồi toa thuốc (OTC expectorants) đã được sử dụng cho chó
bị CIRD để tạo dễ dàng quét sạch các chất nhày tiết ra trong khí quản và phế quản. Các chất long
đờm dạng muối (saline expectorants) và guaifenesin (thành phần hoạt tính của hầu hết các
OTCs) được sử dụng với mục đích tạo dễ dàng cho làm sạch các chất tiết nhày nhớt của đường
hô hấp. Tuy nhiên, hiệu quả của điều trị bằng thuốc long đờm ở chó bị CIRD là chưa được rõ, và
hiện nay không khuyên áp dụng. Nhiều dược phẩm ức chế ho dạng OTC hiện sẵn có và đơi khi
được cấp cho chó bị ho. Kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu đối với các chế phẩm này cho thấy
ít hay khơng có tác dụng trong giảm nhẹ các dấu hiệu lâm sàng của CIRD.
PHÒNG BỆNH
Miễn dịch mẹ truyền
Kháng thể mẹ truyền (maternally derived antibody – MDA) kháng với các virus gây CIRD
cho ra các mức độ bảo hộ khác nhau. MDA đối với CPIV không thể hiện cản trở việc chủng
ngừa vaccin đường nhu mô cho chó 6 tuần tuổi và già tuổi hơn.7 Ngược lại, MDA gây cản trở
việc chủng ngừa CAV-2 đường nhu mô, thường tồn tại 12 đến 16 tuần, nhưng không cho ra được
bảo hộ đối với bệnh nhiễm.6
Miễn dịch tự nhiên (Natural Immunity)
Thời gian miễn dịch (duration of immunity – DOI) sau khi khỏi bệnh nhiễm CPIV và CAV-2
vẫn chưa được nghiên cứu, mặc dù có một nghiên cứu khơng cơng bố đã ghi nhận kháng thể
trung hòa đối với CPIV lúc 2 năm sau khi khỏi bệnh ở những chó khơng bị tái phơi nhiễm với
virus.8 Những chó đã khỏi bệnh nhiễm B. bronchiseptica có đề kháng cao với tái nhiễm trong
thời gian ít nhất 6 tháng.11 Lưu ý rằng mức độ bảo hộ có được từ bệnh nhiễm sẽ khác nhau tùy
thuộc vào lứa tuổi và sức khỏe của cá thể thú, virus và vi khuẩn có liên quan, và cơ hội tái phơi
nhiễm.
Chủng ngừa vaccin (Vaccination)
Mặc dù các vaccin hiện sẵn có cho các mầm bệnh chính liên quan đến CIRD, nhưng thủ tục
chủng ngừa vaccin không cho ra “miễn dịch quét sạch – sterile immunity,” mà gồm bảo hộ đầy
đủ đối với bệnh nhiễm, thải tiết hay truyền lây của các mầm bệnh. Cả vaccin vi khuẩn và virus
đều sẵn có đối với hầu hết các tác nhân gây bệnh có vai trò gây bệnh trong CIRD (Bảng 6-3).
Các vaccin CDV, CAV-2, và CPIV thường được kết hợp vào các giao thức chủng ngừa được
khuyên cho tất cả chó. Vi khuẩn tố (baterins) của B. bronchiseptica đã được sử dụng rộng rãi. Ở
Mỹ, có hai dạng vaccin hiện nay sẵn có: một chiết xuất kháng nguyên, đã được cấp phép sử dụng
đường tiêm nhu mô, và một vaccin vi khuẩn sống không độc lực dùng cấp bề mặt (đường mũi).
Hầu như tất cả các vaccin cấp bề mặt trên thị trường hiện nay là các vaccin tam giá có B.
bronchiseptica and CPIV, kèm theo CPIV sống đã làm biến đổi và CAV-2. Hiện nay khơng có
vaccin thương mại tạo bảo hộ đối với Mycoplasma spp. hay canine respiratory coronavirus.
BẢNG 6-3
Các dạng vaccin được cấp phép chủng ngừa cho chó đối với Bordetella Bronchiseptica, Canine Parainfluenza
Virus, Canine Adenovirus-2, và Canine Influenza Virus
Vaccinea
B. bronchiseptica (kháng
nguyên chiết xuất từ tế bào killed-extracted cellular
antigens)
B. bronchiseptica (mẻ cấy
sống không độc lực –
avirulent live culture) PLUS
CPIV (MLV)
PLUS
CAV-2 (MLV; kết hợp với
CDV)
B. bronchiseptica (mẻ cấy
sống không độc lực)
PLUS
CPIV (MLV)
B. bronchiseptica (mẻ cấy
sống không độc lực)
PLUS
CPIV (MLV)
PLUS
CAV-2 (MLV)
Liều lượng/Đường cấpb
Lứa tuổi tối
thiểu ở liều đầu
tiên
Chủng ngừa ban đầu
8 tuần
2 liều, cách nhau 2-4 tuần
1 mL, nhu mô (chỉ SC)
1 mL, nhu mô (SC hay IM) Không quy định 2 liều, cách nhau 2-4 tuần. Chó được
(khuyên áp dụng chủng ngừa trước 4 tháng tuổi sẽ được
lúc 8 tuần tuổi) nhận một liều lúc đến 4 tháng tuổi.
0,4 hay 1,0 mL
(theo hướng dẫn của nhà
sản xuất), chỉ sử dụng bề
mặt (IN)
0,4 hay 1,0 mL (theo hướng
dẫn của nhà sản xuấtt) chỉ
sử dụng bề mặt (IN)
2 hay 3 tuần, theo 1 liều (Lưu ý: một số nhà sản xuất yêu
hướng dẫn của
cầu liều thứ nhì lúc 6 tuần tuổi ở chó
nhà sản xuất
con đã được cấp liều đầu tiên trong
khoảng 3 đến 6 tuần tuổi).
3 hay 8 tuần, theo 1liều
hướng dẫn của
nhà sản xuất
1,0 mL tiêm nhu mô
8 tuần
2 liều, cách nhau 2-4 tuần
(parenteral)
CAV-2, canine adenovirus-2; CDV, canine distemper virus; CIV, canine influenza virus; CPIV, canine
parainfluenza virus; IM, intramuscular (tiêm bắp thịt); IN, intranasal (nhỏ mũi); MLV, modified live virus (virus sống
đã làm biến đổi); SC, subcutaneous (dưới da).
a
Tham khảo Phụ lục Trang mạng 3 để biết danh sách đầy đủ các vaccin hiện có trong thương mại.
b
Khi nhà sản xuất vaccin quy định đường cấp cho một vaccin, khơng có chỉ định chọn lựa về đường cấp khác.
CIV (vaccin chết - killed)
Sự sẵn có của cả các vaccin nhỏ mũi và tiêm nhu mơ phịng bệnh do B. bronchiseptica đã tạo
nên vấn đề chọn lựa vaccin hiệu quả nhất trong điều kiện lâm sàng. Một số nghiên cứu đã nêu ra
phươn hướng so sánh các chủng loại vaccin này và ủng hộ vai trò của miễn dịch màng nhày
trong bảo hộ đối với chó. Ở đây có thống nhất chung rằng cả các vaccin B. bronchiseptica cấp
đường nhu mô và bề mặt đều giảm nhẹ được mức độ nặng nề của bệnh và mức độ nhân sao của
vi khuẩn sau khi chó được chùng ngừa (Hình 6-3 so sánh).40 Tuy nhiên, một nghiên cứu thử
thách đã chứng minh rằng chủng ngừa bằng vaccin bề mặt sẽ ngăn ngừa được thải tiết vi khuẩn.
Ở những chó được chủng ngừa đường nhu mơ, các dấu hiệu lâm sàng là tối thiểu, tuy nhiên thải
tiết vi khuẩn vẫn ở các mức độ cao (truyền lây) vẫn cịn thấy ở những chó đối chứng được tiêm
nước muối sinh lý.30 Ngồi ra, ở chó con được chủng ngừa một lần bằng vaccin B.
bronchiseptica sống không độc lực, sử dụng bề mặt, đã gây được một đáp ứng miễn dịch đối với
thử thách khí dung vi khuẩn lúc 72 giờ sau khi chủng ngừa vaccin.61 Theo so sánh, việc chủng
ngừa ban đầu đối với B. bronchiseptica, theo đường nhu mô, cần áp dụng hai liều cách nhau tối
thiểu 2 tuần.40 Bảo hộ đạt được ít nhất 7 đến 10 ngày sau khi chủng ngừa liều thứ nhì. Ở những
chó có nguy cơ cao phơi nhiễm với B. bronchiseptica, chủng ngừa bằng vaccin bề mặt không chỉ
cho ưu điểm nhanh chóng tạo miễn dịch mà cịn thể hiện ngăn ngừa được thải tiết và truyền lây
vi khuẩn. Trước kia, DOI của các vaccin B. bronchiseptica được cho là dưới 12 tháng tuổi; các
thú y viên thường khuyên tái chủng ngừa cách nhau 2 năm. Điều này có thể do bản chất tạm thời
của IgA đặc hiệu trong các chất tiết đường hơ hấp và do khơng có các nghiên cứu thử thách lâu
dài. Tuy nhiên, có hai nghiên cứu thử thách đã chứng minh rằng DOI sau một liều vaccin sống
không độc lực, sử dụng bề mặt kéo dài ít nhất 12 đến 13 tháng.71,85 Các nghiên cứu này đã cung
cấp thông tin quan trọng về hiệu quả của vaccin cấp bề mặt và được chứng minh bằng các
nghiên cứu thực nghiệm đối với vai trò của miễn dịch màng nhày trong tạo bảo hộ kháng bệnh
do B. bronchiseptica.128
Việc sử dụng vaccin kháng nguyên CAV-1 sử dụng bề mặt là không nên áp dụng trong các
hướng dẫn sử dụng vaccin hiện tại. 109 Lời khuyên này dựa vào thực tế là tạo miễn dịch đối với
CAV-2 để nhằm ngăn ngừa các hậu quả của nhiễm CAV-1 (virus viêm gan truyền nhiễm ở chó).
Vaccin CAV-2 cấp đường nhu mơ được cho là tạo được đáp ứng miễn dịch toàn thân tuyệt hảo.
Hơn nữa, tác dụng của vaccin nhỏ mũi CAV-2 là khơng thực chất khi cấp cho chó nhập vào trại
nuôi mà đã bị nhiễm đường hô hấp. Việc sử dụng vaccin CAV-2 không làm giảm được tỷ lệ bệnh
nhiễm đến mức độ chấp nhận được so với các vaccin cấp đường nhỏ mũi chỉ bằng B.
bronchiseptica và CPIV58; tuy nhiên, trong một nghiên cứu tiếp theo, không thấy có khác biệt rõ
rệt giữa tỷ lệ ảnh hưởng của bệnh hơ hấp giữa có và khơng sử dụng vaccin CAV-2.37 Trong một
nghiên cứu ở trại ni, khi chó đang bệnh hô hấp được chủng ngừa trước khi đưa vào trại ni,
bằng vaccin CAV-2 có kết hợp, khơng phát hiện thấy chó bị phát bệnh hơ hấp do CAV-2 sau khi
nhập trại, mặc dù các mầm bệnh hô hấp khác đã được nhận diện.47 Các kết quả của những nghiên
cứu này là tương đương với bảo hộ có được bởi vaccin cấp đường nhu mô.
HÌNH. 6-3 A. Hình chụp mẫu khí quản của một chó được chủng ngừa đường nhỏ mũi bằng vaccin sống đã làm
biến đổi, và chủng ngừa đường tiêm bắp thịt bằng vaccin B. bronchiseptica bất hoạt, lấy mẫu lúc 10 ngày sau. Ghi
nhận khơng thấy trú đóng của vi khuẩn trên biểu bì. Thước đo = 100 μm. (Hình của Ellis JA, Haines DM, West KH,
et al. 2001. Hiệu quả của chủng ngừa vaccin trong thực nghiệm gây nhiễm Bordetella bronchiseptica ở chó – Effect
of vaccination on experimental infection Bordetella bronchiseptica in dogs, J Am Vet Med Assoc 218:367-375). B.
Hình chụp một mẫu khíquản của chó con đối chứng khơng chủng ngừa vaccin, lấy mẫu lúc 10 ngày sau khi thử
thách phơi nhiễm với B. bronchiseptica. Nhiều khuẩn lạc vi khuẩn bắt màu nâu thấy trên biểu bì. Nhuộm màu hóa
miễn dịch mơ bào – immunohistochemical stain; thước đo = 100 μm. (Hình của Ellis JA, Haines DM, West LK et al.
2001. Hiệu quả của chủng ngừa vaccin trong thực nghiệm gây nhiễm Bordetella bronchiseptica ở chó – Effect of
vaccination on experimental infection Bordetella bronchiseptica in dogs, JAm Vet Med Assoc 218:367-375).
Các nghiên cứu về chủng ngừa cùng lúc vaccin kết hợp (CPV, CDV, CAV-2) cấp đường nhu
mô với vaccin nhị giá CIRD đường nhỏ mũi (CPIV + B. bronchiseptica) ở chó con khơng thấy
phản ứng tương kỵ với đáp ứng miễn dịch trong thử thách bằng CPIV và B. bronchiseptica, so
với từng sản phẩm được cấp riêng.70 Tái chủng ngừa hàng năm được khuyên cho những chó
được cho là có nguy cơ phơi nhiễm. Trước khi chó được biết hay có nguy cơ phơi nhiễm (như
vận chuyển, tham gia triển lãm), khuyên áp dụng một liều vaccin nhắc lại được cấp theo đường
mũi, lúc 72 ngày trước khi bị phơi nhiễm, cho những chó chưa được chủng ngừa trước đó 12
tháng.11,41 Để biết thêm về các vấn đề chủng ngừa vaccin đối với CIRD, xem Chương 100; Các
phản ứng bất lợi sau khi chủng ngừa đường nhu mô vaccin phịng bệnh CIRD chủ yếu giới hạn ở
kích ứng cục bộ tại nơi tiêm và hình thành các nốt u (u hạt – granulomas), mà tự động lành lặn.
Ngược lại, các vaccin đường nhỏ mũi đơi khi có liên quan đến phát triển ho, hay xuất dịch mũi,
hay cả hai, lúc 2 đến 5 ngày sau khi chủng ngừa và kéo dài đến 3 ngày. Các phản ứng bất lợi của
các vaccin cấp đường nhỏ mũi có thể nặng nề nhất ở chó con; tuy nhiên, các dấu hiệu này
thường rất nhẹ.67 Hiếm thấy là các dấu hiệu sau chủng ngừa đủ nặng nề hay tồn tại dai dẳng, mà
cần phải điều trị bằng kháng sinh. Sự xuất hiện ho ở những chó được chủng ngừa đường nhỏ mũi
có thể liên quan đến chó ni trại, do khó phân biệt được chó đã chủng ngừa vaccin với chó bị
bệnh. Việc chủng ngừa nhầm đường tiêm dưới da của vaccin nhỏ mũi phịng bệnh do B.
bronchiseptica có thể dẫn đến viêm cục bộ cả ở người lẫn chó, và gây thối hóa cấp tính tế bào
gan (acute hepatocellular degeneration) và các hoại tử gan ở chó (xem phần Biến chứng sau
chủng ngừa vaccin, Chương 100).74a,121
Có hai vaccin CIV bất hoạt, cấp đường nhu mơ, hiện sẵn có sử dụng cho chó ở Mỹ (xem
Chương 23, Phụ lục Trang mạng 3). Các nhà sản xuất khuyên áp dụng hai liều ban đầu cách
nhau ít nhất 2 đến 3 tuần cho chó con lúc 8 tuần tuổi. Tái chủng ngừa hàng năm được khuyên
cho những chó có nguy cơ bị phơi nhiễm, mặc dù chưa biết rõ DOI sau hai mũi chủng ngừa ban
đầu. Không giống như các vaccin nhỏ mũi mà tạo được miễn dịch nhanh chóng sau 72 giờ, cần
có thời gian dài hơn để tạo bảo hộ cho chó trước khi nhập đàn. Các kết quả nghiên cứu cho thấy
rằng 38% chó được chủng ngừa vaccin có được đáp ứng miễn dịch (“bảo hộ – protective”, với
hiệu giá cao hơn 40 trong xét nghiệm ức chế ngưng kết hồng cầu – hemagglutination inhibition)
sau một liều vaccin.35 Mặc dù vaccin CIV bất hoạt cho thấy làm giảm nhẹ mức độ nặng nề ở chó
được thử thách và giảm thời gian thải tiết virus sau khi phơi nhiễm, nhưng việc sử dụng vaccin
không ngăn ngừa được bệnh nhiễm, cũng không ngăn ngừa được thải tiết mầm bệnh (tức là miễn
dịch “không quét sạch – nonsterile”). Mặc dù không ngăn ngừa được hồn tồn, các bệnh lâm
sàng thường ít nặng nề hơn ở chó được chủng ngừa, so với chó khơng được chủng ngừa. 35 Hầu
hết các trường hợp bệnh lâm sàng được báo cáo ở chó ni trại. Tuy nhiên, các chuồng chó để
trống trên 2 tuần thường khơng giúp ích trong ngăn ngừa mầm bệnh phát tán. Xem các Chương
23 và 100 và Phụ lục Trang mạng 1 và 3 để biết thêm thông tin về vaccin này.
Quản lý các ổ dịch
Các mơi trường mà chó được ni nhốt tạm thời trong các chuồng nuôi liên thông thường tạo
khả năng truyền lây nhanh chóng các mầm bệnh của CIRD. Mặc dù quan trọng trong phịng
bệnh, việc chủng ngừa vaccin có thể không đảm bảo bảo hộ đối với phát triển của các dấu hiệu
bệnh, nhất là trong các quần thể có mật độ cao. Do thường truyền lây theo đường khơng khí, chó
có nghi ngờ bệnh hơ hấp truyền lây phải được cách ly, khi phát triển các dấu hiệu ban đầu, để
hạn chế phơi nhiễm cho các chó cịn lại có mẫn cảm. Thủ tục vệ sinh áp dụng đều khắp chuồng
trại, thích hợp là sử dụng các dung dịch mới pha của sodium hypochlorite, chlorhexidine, hay
benzalkonium, có thể ngăn ngừa được CIRD các vi sinh phát tán qua khơng khí. Thơng khí đầy
đủ, khoảng 10 đến 12 lần thể tích khơng gian mỗi giờ,8,65 được khun áp dụng ở các trại ni.
Khơng có bằng chứng về hiệu quả của chủng ngừa vaccin đường nhỏ mũi khi các dấu hiệu bệnh
đã thể hiện. Một khi ổ dịch đã xảy ra, cách ly hay giảm đàn trong vòng 2 tuần có thể là phương
cách hiệu quả và hợp lý nhất để khu trú mầm bệnh. Ngoài tăng cường vệ sinh khử trùng, chó cần
được điều trị đối với các dấu hiệu lâm sàng. Để biết thêm thông tin về vệ sinh khử trùng, xem
Chương 93.
Các trại nuôi số lượng lớn chó, nhất là trại tập trung tạm thời, có nguy cơ đáng kể về phát
dịch CIRD. Đã quan sát thấy giảm ảnh hưởng của CIRD ở những chó đã được chủng ngừa
vaccin trong vòng vài năm trước. Chủng ngừa vaccin đường nhỏ mũi được khun áp dụng cho
chó ni trại và phải thực hiện vào thời điểm nhập vào trại. Tuy nhiên, các cố gắng trong ngăn
ngừa bệnh qua thủ tục sử dụng vaccin đường mũi có thể khơng có hiệu quả nếu xảy ra phơi
nhiễm trong vòng 3 ngày sau khi chủng ngừa vaccin. Để biết thêm thơng tin về kiểm sốt bệnh
nhiễm trong các quần thể chó phân nhóm, xem Chương 96.
MỐI QUAN TÂM ĐẾN SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
Đã có báo cáo về bệnh lây lan từ thú vật qua người của B. bronchiseptica.41,51,57a,59,129,130 Các
báo cáo về bệnh hô hấp ở người do B. bronchiseptica liên tục xuất hiện trong tin tức. Có nguy cơ
cao cho những cá nhân bị ức chế miễn dịch do các tình trạng có liên quan đến kém chuyển hóa
chất cồn (alcoholic malnutrition), bệnh ác tính đường máu (hematologic malignancy), điều trị
glucocorticoid kéo dài, ghép mô (transplantation), nhiễm cùng lúc với virus gây tổn hại miễn
dịch (human immunodeficiency virus infection), phẫu thuật lách (splenectomy), lọc máu qua
phúc mạc (peritoneal dialysis), và mang thai (xem Chương 99). Những người được phẫu thật
thơng khí quản (tracheostomy) hay được đặt ống thơng khí quản cũng có nguy cơ nhiễm bệnh.
Những người bị bệnh hơ hấp trước đó, như viêm phế quản mãn tính (chronic bronchitis), giãn
phế quản (bronchiectasis), và viêm phổi đặc biệt có mẫn cảm. Mặc dù bệnh nhiễm bordetella ở
người có liên quan đến nhiều lồi động vật thuần dưỡng và hoang dã khác, nhưng truyền lây từ
thú cưng chiếm tỷ lệ cao. Trong một trường hợp, bệnh nhiễm có liên quan đến phơi nhiễm với
thỏ và thấy là dai dẳng ở một người bị viêm phế quản phổi (bronchopneumonia) kéo dài đến 2,5
năm.62
Người ta đã ước tính có đến 40% người lớn bị thỏa hiệp miễn dịch hiện nay sống ở Mỹ có
ni thú cưng.4 Do đó có lý do để cho rằng các cá nhân này, là chủ thú ni, có thể có nguy cơ
cao về mắc bệnh nhiễm cơ hội truyền lây tử thú vật sang người. 1a,34,83,89,90 Nguy cơ ở trẻ con hay
người lớn bị thỏa hiệp miễn dịch trở nên bị nhiễm B. bronchiseptica có liên quan đến thú cưng
thường là thấp, nhất là khi phơi nhiễm với số lượng lớn chó trong chuồng ni có thể tránh
được. Để biết thêm thơng tin về nguy cơ của người đối với vaccin chủng ngừa đường mũi, xem
Chương 100.106 Để biết thêm thông tin về nguy cơ của bệnh do virus cúm ở chó truyền lây theo
dạng từ thú vật qua người, xem phần Mối quan tâm về sức khỏe cộng đồng, trong Chương 23.