Tải bản đầy đủ (.docx) (514 trang)

Giáo án dạy thêm ngữ văn 12 theo chuyên đề (cả năm)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 514 trang )

Ngày soạn : 01/09/2022
TIẾT 1.
CHUYÊN ĐỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (1)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Về kiến thức, kĩ năng, thái độ
a. Kiến thức
- Giúp học sinh củng cố một số kiến thức trọng tâm để làm được bài tập đọc hiểu văn bản.
b. Kĩ năng
- Luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản và tiếp nhận văn bản bằng việc luyện đề đọc hiểu văn
bản.
c. Tư duy, thái độ, phẩm chất
- Tư duy tổng hợp, vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học về văn bản; chăm chỉ và nỗ
lực làm bài tập.
2. Các năng lực cần hình thành cho học sinh
- Năng lực tự học.
- Năng lực thẩm mĩ.
- Năng lực giải quyết vấn đề.
- Năng lực hợp tác, giao tiếp.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
- Năng lực tổng hợp, so sánh.
II. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
1. Giáo viên: Giáo án, tài liệu tham khảo, đề đọc hiểu.
2. Học sinh: Vở ghi.
III. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp nêu vấn đề, gợi mở, đàm thoại, kết
hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi, thực hành. GV phối hợp các
phương pháp dạy học tích cực trong giờ dạy. HS thực hành, thảo luận nhóm, GV hướng
dẫn, chốt đáp án, khắc sâu những kiến thức quan trọng.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức


1


Lớp

Ngày dạy

Sĩ số

HS vắng

12A6
2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra sách vở của hs.
3. Bài mới
A. Hoạt động khởi động
Phần thi đọc hiểu là phần thi bắt buộc trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn
2016, chiếm 3/10 điểm tồn bài và có 1 phần đọc cùng 4 câu hỏi. Năng lực đọc hiểu của
học sinh đang được coi trọng, nhất là từ năm học 2013 – 2014, các đề thi cấp quốc gia (tốt
nghiệp, đại học) đều có một phần bài tập kiểm tra đánh giá năng lực này. Xu hướng kiểm
tra đánh giá mới là thay vì kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh (kiến
thức do giáo viên đọc hộ, hiểu hộ, cảm hộ), thì các đề thi kể từ năm học 2013 – 2015
chuyển sang kiểm tra năng lực đọc hiểu của học sinh, năng lực tự mình cảm thụ, tìm hiểu,
khám phá văn bản. Phần kiểm tra đánh giá này chiếm 30% tổng số điểm trong đề thi THPT
quốc gia với 1 văn bản và 4 câu hỏi nên chúng ta phải có sự chuẩn bị tốt về kiến thức và kĩ
năng để có thể đạt điểm cao.
Bài học hơm nay giúp các em có được kĩ năng, phương pháp làm bài đọc – hiểu, rèn luyện
kỹ năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập.
B. Hoạt động hình thành kiến thức mới
I.KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt

Phương thức biểu đạt

Nhận diện qua mục đích giao tiếp

1

Tự sự

Trình bày diễn biến sự việc

2

Miêu tả

Tái hiện trạng thái, sự vật, con người

3

Biểu cảm

Bày tỏ tình cảm, cảm xúc

4

Nghị luận

Trình bày ý kiến đánh giá, bàn luận…

5


Thuyết minh

Trình bày đặc điểm, tính chất, phương pháp…

6

Hành chính – cơng vụ

Trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể hiện
2


quyền hạn, trách nhiệm giữa người với người

2- Yêu cầu nhận diện phong cách chức năng ngôn ngữ:

1

2

3

4

5

6

Phong cách ngôn ngữ


Đặc điểm nhận diện

Phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt

– Sử dụng ngơn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, mang
tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt…
Trao đổi thơng tin, tư tưởng, tình cảm trong giao tiếp
với

cách

nhân
– Gồm các dạng chuyện trị/ nhật kí/ thư từ…

Phong cách ngơn ngữ
báo chí (thơng tấn)

-Kiểu diễn đạt dùng trong các loại văn bản thuộc lĩnh
vực truyền thông của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự
(thông tấn = thu thập và biên tập tin tức để cung cấp
cho các nơi)

Phong cách ngơn ngữ
chính luận

Dùng trong lĩnh vực chính trị – xã hội, ; người giao tiếp
thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ cơng khai quan điểm
tư tưởng, tình cảm của mình với những vấn đề thời sự
nóng hổi của xã hội


Phong cách ngôn ngữ
nghệ thuật

-Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương, khơng chỉ
có chức năng thơng tin mà cịn thỏa mãn nhu cầu thẩm
mĩ của con người; từ ngữ trau chuốt, tinh luyện…

Phong cách ngôn ngữ
khoa học

Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực nghiên cứu,
học tập và phổ biến khoa học, đặc trưng cho các mục
đích diễn đạt chun mơn sâu

Phong cách ngơn ngữ
hành chính

-Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực giao tiếp điều
hành và quản lí xã hội ( giao tiếp giữa Nhà nước với
nhân dân, Nhân dân với các cơ quan Nhà nước, giữa cơ
quan với cơ quan…)

3. Yêu cầu nhận diện và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) của các biện pháp tu từ:
– Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu)
– Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hốn dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói
3


giảm, nói tránh, thậm xưng,…

– Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…
Biện pháp tu từ

Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật)

So sánh

Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động
đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc

Ẩn dụ

Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cơ đọng, giá trị biểu đạt
cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc.

Nhân hóa

Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng
và có hồn hơn.

Hốn dụ

Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng
ý vị, sâu sắc

Điệp từ/ngữ/cấu trúc

Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cẳm

Nói giảm


Làm giảm nhẹ đi ý đau thương, mất mát nhằm thể hiện sự trân
trọng

Thậm xưng (phóng
đại)

Tơ đậm ấn tượng về…

Câu hỏi tu từ

Bộc lộ cảm xúc

Đảo ngữ

Nhấn mạnh, gây ấn tượng về

Đối

Tạo sự cân đối

Im lặng (…)

Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc

Liệt kê

Diễn tả cụ thể, toàn điện

II. BÀI TẬP VẬN DỤNG

ĐỀ 1.
Đọc văn bản dưới đây:
Cá lớn cũng chỉ thích sống ở đại dương. Chúng không thể trở nên lớn nếu chỉ quẩn quanh
trong vùng nước nông chật hẹp thiếu dưỡng khí. Điều này vừa là thực tế vừa như một ẩn
dụ cho con người. Con người muốn trở nên lớn, phải sống trong không gian rộng lớn để
khuấy nước chọc trời. Khi ta là cá bé, ta dễ thành mồi ngon cho cá lớn. Một quốc gia “cá
bé” thì khó vẫy vùng trước sự bủa vây của trật tự làm ăn do những quốc gia cá lớn áp đặt.
4


Một cá nhân cho dù thân xác to lớn mà có lá gan bé và tầm nhìn khơng vượt chân trời thì
cái lưỡi dễ thụt sâu xuống họng khi gặp phải kẻ quen dùng cách thị uy.
Khi tôi gặp em, em nói: Có thể em chỉ là rong, là rêu nhưng nhất định em phải là rong rêu
của đại dương. Em phải là người của thế giới chứ không phải chỉ quẩn quanh với quê nhà.
Tôi chợt nhớ đêm câu cá và những con cá lớn trên biển năm nào. Biết trong em âm ỉ một
khát vọng trở thành con cá lớn hít thở bằng bóng nước đại dương chứ không cam chịu dập
dềnh may rủi nơi cửa bể.
…Quốc gia mạnh giàu chỉ khi nơi đó có những con người mạnh mẽ, những cá thể như con
cá lớn vẫy vùng với chuyện chọc trời khuấy nước. Một quốc gia có tương lai chỉ khi có cá
nhân vượt lên với tầm nhìn tồn cầu. Cho dù bị đánh giá là lùn, thì văn hóa khí chất vẫn
phải cao chất ngất. Cho dù bị xem là vóc dáng thấp bé hơn nhiều dân tộc thì tầm nhìn phải
vượt lên cao rộng, vượt lên ngoài cái vỏ vật chất là thân xác hữu hạn này.
Em có đang ni khát vọng trở thành con cá lớn để hít thở bóng nước đại dương đấy
khơng?
(Hà Nhân, Sống như cây rừng, NXB Văn học, 2016, tr 204- 206)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo tác giả, hình ảnh con cá lớn “thích sống ở đại dương”, “không thể lớn nếu ở
vùng nước nông chật hẹp” trong văn bản trên là ẩn dụ chỉ điều gì?
Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản.
Câu 3. Câu nói của nhân vật em (một nhân vật vơ hình mà tác giả dùng để chia sẻ suy

nghĩ): “Có thể em chỉ là rong, là rêu nhưng nhất định em phải là rong rêu của đại
dương” mang ý nghĩa gì?
Câu 4. Anh/chị hãy trả lời câu hỏi của tác giả đặt ra trong phần kết của văn bản: “Em có
đang ni khát vọng trở thành con cá lớn để hít thở bóng nước đại dương khơng?” Vì sao?
Gợi ý:
Câu 1 Theo tác giả, hình ảnh con cá lớn thích sống ở đại dương… là ẩn dụ chỉ “Con người
muốn trở nên lớn, phải sống trong không gian rộng lớn để khuấy nước chọc trời”.
Câu 2 Học sinh diễn đạt bằng những cách khác nhau nhưng cần hướng đến nội dung trọng
tâm:
– Con người cần vượt qua tầm nhìn hạn hẹp, ni khát vọng lớn lao và có tầm nhìn xa rộng
để đón lấy những cơ hội, phát triển tiềm năng, làm nên những thành cơng lớn, sống một
cuộc đời có ý nghĩa;
– Tầm nhìn của một cá nhân có mối quan hệ tác động đến sự phát triển của một quốc gia,
một quốc gia giàu mạnh khi có những cá nhân có tầm nhìn tồn cầu.
5


Câu 3.
Câu nói: Có thể em chỉ là rong, là rêu nhưng nhất định em phải là rong rêu
của đại dương” mang ý nghĩa:
– rong, rêu mang ý nghĩa chỉ những con người nhỏ bé, bình dị…; đại dương chỉ khơng gian
rộng lớn, là thế giới tồn cầu;
– Từ đó rút ra ý nghĩa cả câu: cho dù làm một con người bình thường, nhỏ bé thì cũng cần
chủ động vươn ra một không gian rộng lớn với những thách thức và cơ hội để trưởng thành
và tiến xa hơn.
Câu 4 .– Hs trình bày theo suy nghĩ chân thành: có thể đang ni/hoặc khơng ni khát
vọng vẫy vùng trong khơng gian rộng lớn cùng với phẩm chất và trí tuệ của mình để làm
nên những cơng việc lớn lao.
– Hs cắt nghĩa cho câu trả lời của mình với những lí lẽ và dẫn chứng có căn cứ, thuyết
phục, sau đây chỉ là gợi ý:

+ Khát vọng vươn ra thế giới giúp con người chủ động đón đầu những cơ hội khám phá,
dám chấp nhận thử thách, dám sáng tạo để thành cơng bằng khí chất và trí tuệ của mình.
+ Khi ni khát vọng vươn ra thế giới nhưng chưa chuẩn bị cho mình những hành trang
cần thiết, con người sẽ thất bại và dẫn đến tâm lí tự ti, lo sợ, vì thế tồn tại trong khơng gian
quen thuộc là sự lựa chọn an toàn.
ĐỀ 2.
Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi:
Khi tâm trí có mục tiêu rõ ràng, nó có thể tập trung và định hướng, rồi tái tập trung và
tái định hướng cho đến khi ta đạt được mục tiêu mong muốn. Nếu khơng thì năng lượng
của tâm trí sẽ bị lãng phí. Chính mục tiêu là điều tạo nên sự khác biệt ở khả năng tận dụng
triệt để nguồn lực của mỗi người. Một nghiên cứu với sự tham gia của những sinh viên tốt
nghiệp năm 1953 của Đại học Yale đã thể hiện rõ điều này. Người ta phỏng vấn những
sinh viên tốt nghiệp để biết xem họ có mục tiêu rõ ràng và cụ thể hay khơng, có viết chúng
ra và có kế hoạch hành động cụ thể hay không. Chỉ 3% số lượng sinh viên viết ra mục tiêu
cụ thể cho mình. 20 năm sau, năm 1973, các nhà nghiên cứu lại phỏng vấn những sinh
viên ngày trước. Họ phát hiện thấy nhóm 3% sinh viên kia hiện có tổng tài sản cao hơn
tổng tài sản của tồn bộ sinh viên trong nhóm 97% cộng lại. Dĩ nhiên, nghiên cứu này chỉ
đánh giá phương diện vượt trội về tài chính. Tuy nhiên, những người phỏng vấn cũng phát
hiện ra rằng với những tiêu chí khó đo lường và mang tính chủ quan (như mức độ hạnh
phúc), kết quả của nhóm 3% vẫn hồn tồn vượt trội. Đây là sức mạnh của việc xác lập
mục tiêu.
(Trích Đánh thức năng lực vô hạn, Anthony Robbins, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh,
2018, tr.157-158)
6


1. Theo tác giả, việc xác định mục tiêu có tác dụng gì đối với tâm trí mỗi người?
2. Theo anh/chị điều quan trọng khi xác lập mục tiêu là gì?
3. Việc tác giả trích dẫn các số liệu cụ thể có tác dụng như thế nào?
4. Anh/chị có cho rằng lập mục tiêu là đủ để thành công không? Vì sao?

Gợi ý:
1
Theo tác giả, việc xác định mục tiêu giúp tâm trí: có thể tập trung và định hướng, rồi
tái tập trung và tái định hướng cho đến khi ta đạt được mục tiêu mong muốn.
2
Điều quan trọng khi xác lập mục tiêu là: biết mình muốn gì, mục tiêu phải mang tính
tích cực, đo lường được, có mốc thời gian hồn thành, …
3

Việc tác giả trích dẫn các số liệu cụ thể có tác dụng:

– Tăng tính xác thực, sức thuyết phục, tính khách quan cho lập luận của mình.
– Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đặt ra mục tiêu và cách thức thức thực hiện nó: mục
tiêu phải rõ ràng, chi tiết; phải được viết ra giấy, có kế hoạch hành động cụ thể để biến điều
đó thành hiện thực.
4
Thí sinh có thể bày tỏ ý kiến của mình theo những cách khác nhau nhưng phải kiến
giải lựa chọn của mình một cách hợp lý và thuyết phục.
III. BÀI TẬP VỀ NHÀ
Đọc đoạn văn bản sau đây và thực hiện các yêu cầu:
Rất nhiều người đều có tâm lí ăn may. Ở người mắc bệnh trì hỗn thì dạng tâm lí này càng
phổ biến. Họ ln cho rằng trì hỗn cơng việc chẳng có gì là ghê gớm, mà khơng biết rằng
rất có khả năng tới cuối cùng sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường.
Tại sao mọi người lại ln có tâm lí ăn may?
Về mặt lí thuyết, tâm lí ăn may là một dạng phản ứng bản năng của con người. Khi người
ta gặp phải các loại thiên tai hoặc nguy hiểm, nếu họ có ý thức một cách rõ ràng rằng khả
năng sống sót của mình là bằng khơng thì trong trạng thái ấy hệ thống tinh thần của con
người sẽ sụp đổ. Vì vậy, những lúc như thế này hệ thống tự bảo vệ của con người sẽ khởi
động. Đại não sẽ phát ra mệnh lệnh “Nhất định sẽ có cơ hội thốt ra ngồi, nhất định sẽ
sống sót” giúp người ta dựa vào sức mạnh để kiên trì, từ đó có cơ hội sống sót…

Rất nhiều người khi qua đường rõ ràng thấy đèn đỏ nhưng vẫn sải bước về phía trước.
Thứ dung túng cho họ thực hiện hành vi vượt đèn đỏ chính là tâm lí ăn may. Họ cho rằng
vượt đèn đỏ cũng không xui xẻo đến mức bị tai nạn giao thông. Nhưng thực tế hầu như
những người bị tai nạn giao thơng khi ấy đều có suy nghĩ như vậy.
7


Không chỉ chuyện qua đường, những hậu quả nặng nề hoặc thậm chí ươm mầm đại họa do
tâm lí ăn may gây ra trong cuộc sống của chúng ta nhiều không kể xiết.
Con người luôn dễ dàng tin rằng, bi kịch chỉ xảy ra với người khác, cách mình cịn rất xa.
Chính tâm lí ấy khiến người ta coi thường dù chỉ là 1% khả năng xảy ra của bi kịch,
nhưng đối với người mang tâm lí đó thì 1% cũng đồng nghĩa với 100%.
Vì vậy, các bạn mắc bệnh trì hỗn, muốn thốt khỏi trì hỗn, ngàn vạn lần đừng mang tâm
lí ăn may.
(Trích Tuổi trẻ khơng trì hỗn trang 234, Thần Cách)
1.Theo tác giả, trong trường hợp cấp bách, hệ thống tự bảo vệ của con người khởi động có
tác dụng gì?
2.Anh, chị hiểu thế nào là tâm lí ăn may?
3.Theo anh, chị tại sao mọi người lại ln có tâm lí ăn may?
4.Anh, chị có đồng ý với quan điểm của tác giả: Không chỉ chuyện qua đường, những hậu
quả nặng nề hoặc thậm chí ươm mầm đại họa do tâm lí ăn may gây ra trong cuộc sống của
chúng ta nhiều khơng kể xiết. Vì sao? Hãy kể một số việc cụ thể để chứng minh cho ý kiến
của anh chị.
Gợi ý:
1
Theo tác giả, trong trường hợp cấp bách, hệ thống tự bảo vệ của con người khởi
động có tác dụng tạo ra sức mạnh tinh thần để kiên trì, con người có cơ hội sống sót.
2

HS có thể trả lời theo nhiều cách khác miễn là hợp lí.


Tâm lí ăn may là tâm lí/thói quen ln nghĩ đến/trơng chờ sự may mắn chứ khơng có sự
nỗ lực của bản thân.
3. Mọi người ln có tâm lí ăn may bởi vì:
– Để hóa giải những lo âu của bản thân/để an ủi bản thân khi gặp phải những áp lực, nguy
hiểm, khó khăn …
– Bao biện cho những hành vi/thái độ/ hành động sai trái …
– Trơng chờ, ỷ lại, khơng có sự nỗ lực, chủ động của bản thân…
4
Học sinh có thể đồng tình/ khơng đồng tình/ đồng tình một phần với quan điểm:
Khơng chỉ chuyện qua đường, những hậu quả nặng nề hoặc thậm chí ươm mầm đại họa do
tâm lí ăn may gây ra trong cuộc sống của chúng ta nhiều không kể xiết.
(có sự lí giải, dẫn chứng hợp lí)

8


C. Hoạt động củng cố, dặn dò
1. Củng cố
- HS cần nắm vững một số kiến thức lí thuyết cơ bản để làm được bài tập đọc hiểu văn bản.
2. Dặn dị
- Ơn tập những kiến thức lý thuyết phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản. Tự luyện tập thêm ở
nhà.
- Chuẩn bị tiết tiếp theo của bài này.

Ngày soạn : 02/09/2022
TIẾT 2.
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (2)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Về kiến thức, kĩ năng, thái độ

a. Kiến thức
- Giúp học sinh củng cố một số kiến thức trọng tâm để làm được bài tập đọc hiểu văn bản.
b. Kĩ năng
- Luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản và tiếp nhận văn bản bằng việc luyện đề đọc hiểu văn
bản.
c. Tư duy, thái độ, phẩm chất
- Tư duy tổng hợp, vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học về văn bản; chăm chỉ và nỗ
lực làm bài tập.
9


2. Các năng lực cần hình thành cho học sinh
- Năng lực tự học.
- Năng lực thẩm mĩ.
- Năng lực giải quyết vấn đề.
- Năng lực hợp tác, giao tiếp.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
- Năng lực tổng hợp, so sánh.
II. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
1. Giáo viên: Giáo án, tài liệu tham khảo, đề đọc hiểu.
2. Học sinh: Vở ghi.
III. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp nêu vấn đề, gợi mở, đàm thoại, kết
hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi, thực hành. GV phối hợp các
phương pháp dạy học tích cực trong giờ dạy. HS thực hành, thảo luận nhóm, GV hướng
dẫn, chốt đáp án, khắc sâu những kiến thức quan trọng.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức
Lớp


Ngày dạy

Sĩ số

HS vắng

12A6
2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra bài tập về nhà của HS
3. Bài mới
A. Hoạt động khởi động
Ở tiết trước, chúng ta đã ôn tập một số kiến thức phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản .
Trong bài học hôm nay, chúng ta hãy tiếp tục ôn luyện kiến thức lí thuyết đọc hiểu và
luyện tập một số bài tập đọc hiểu văn bản để thuần thục hơn với kiểu bài tập này.
B. Hoạt động hình thành kiến thức mới
I.KIẾN THỨC CƠ BẢN
4. Yêu cầu nhận diện các phép liên kết ( liên kết các câu trong văn bản)
10


Các phép liên kết

Đặc điểm nhận diện

Phép lặp từ ngữ

Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước

Phép liên tưởng (đồng
nghĩa / trái nghĩa)


Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/ trái
nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu
trước

Phép thế

Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các
từ ngữ đã có ở câu trước

Phép nối

Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối kết)với
câu trước

5. Nhận diện các thao tác lập luận

TT
1

2

3

4

5

Các
tác
luận


thao
lập
Nhận diện

Giải thích

Giải thích là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận một cách
rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý của mình.

Phân tích

Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ
phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên
hệ bên trong của đối tượng.

Chứng
minh

Chứng minh là đưa ra những cứ liệu – dẫn chứng xác đáng để làm
sáng tỏ một lí lẽ một ý kiến để thuyết phục người đọc người nghe
tin tưởng vào vấn đề. ( Đưa lí lẽ trước – Chọn dẫn chứng và đưa
dẫn chứng. Cần thiết phải phân tích dẫn chứng để lập luận CM
thuyết phục hơn. Đơi khi thuyết minh trước rồi trích dẫn chứng
sau.)

Bác bỏ

Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra
nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường đúng đắn của

mình.

Bình luận

Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng… đúng
hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại…; để nhận thức đối tượng,
cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động đúng.
11


6

So sánh

So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự
vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những nét
giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật
hoặc
một
sự
vật

mình
quan
tâm.
Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh
tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh tương
phản.

II. BÀI TẬP VẬN DỤNG

ĐỀ 1.
Đọc đoạn trích dưới đây:
Có thể lâu nay chúng ta vẫn nghĩ về từ “hạnh phúc” như một từ sáo rỗng, bởi không thể
xác định được một cách cụ thể nó bao hàm điều gì. Là thành đạt, giàu có? Là được tơn
vinh? Là được hưởng thụ bất kỳ điều gì ta muốn? Là chia sẻ và được chia sẻ? Là đem đến
niềm vui cho người khác? Hay chính là sự hài lịng của riêng bản thân mình?
(2) Có thể, chúng ta vẫn nghĩ hạnh phúc là vấn đề “riêng tư” và “cá nhân”. Nhưng không
phải vậy. Nếu bạn lo buồn hay gặp bất trắc thì ít nhất, thầy cơ, cha mẹ, bạn bè đều cảm
thấy xót xa, lo lắng cho bạn. Cịn nếu bạn vui tươi, hạnh phúc thì ít nhất cũng làm cho
chừng đó người cảm thấy n lịng, lạc quan và vui vẻ khi nghĩ về bạn.
(3) Mỗi con người là một mắt xích, dù rất nhỏ nhưng đều gắn kết và ảnh hưởng nhất định
đến người khác. Và người khác ấy lại có ảnh hưởng đến những người khác nữa. Tơi thích
nghĩ về mối quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc đời như mạng tinh thể kim
cương. Mỗi người là một nguyên tử cacbon trong cấu trúc đó, có vai trị như nhau và ảnh
hưởng lẫn nhau trong một mối liên kết chặt chẽ. Một nguyên tử bị tổn thương sẽ ảnh
hưởng đến bốn nguyên tử khác, và cứ thế mà nhân rộng ra. Chúng ta cũng có thể vơ tình
tác động đến cuộc đời một người hồn tồn xa lạ theo kiểu như vậy.
(Trích Đơn giản chỉ là hạnh phúc, Sách Nếu biết trăm năm là hữu hạn…, Phạm Lữ
Ân, NXB Hội nhà văn, năm 2016, trang 40-41)
Câu 1. Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn lo buồn hay gặp bất trắc, cảm thấy không hạnh phúc?
Câu 2. Theo anh/Chị hạnh phúc được hiểu như thế nào trong đoạn trích trên?
Câu 3. Việc tác giả liên tục đặt ra sáu câu hỏi liên tục trong đoạn văn 1 có tác dụng gì?
Câu 4. Anh/Chị có đồng ý rằng: “Mỗi con người là một mắt xích, dù rất nhỏ nhưng đều
gắn kết và ảnh hưởng nhất định đến người khác”khơng? Vì sao?
Gợi ý:
12


1
Nếu bạn lo buồn hay gặp bất trắc thì ít nhất, thầy cơ, cha mẹ, bạn bè đều cảm thấy

xót xa, lo lắng cho bạn.
2
Hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân, riêng tư mà còn ảnh hưởng, tác động đến
nhiều người khác, từ cha mẹ, thầy cô, bạn bè tới cả những người xa lạ.
3

Tác dụng:

– Nhấn mạnh những quan niệm khác nhau về hạnh phúc của con người
– Nhắn nhủ con người phải biết hài hòa hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc tập thể để có
hạnh phuc trọn vẹn.
4

HS nêu ra quan điểm của mình có thể đồng ý hoặc không đồng ý.

– Đồng ý: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” nên mỗi con người là một mắt
xích, dù rất nhỏ nhưng đều gắn kết và ảnh hưởng nhất định đến người khác.
– Khơng đồng ý: HS phải lí giải được quan điểm của mình
ĐỀ 2.
Đọc đoạn trích dưới đây:
Trên thế giới này có quá nhiều sách dạy con người tương tác và giao tiếp, dạy chúng ta
làm thế nào để trở thành một “cao thủ thuyết phục”, chuyên gia đàm phán, nhưng lại
khơng có sách nào dạy chúng ta làm thế nào để đối thoại với chính mình. Khi bạn bắt đầu
hiểu được tất cả những thứ bên trong của bản thân, bạn sẽ nhận được sự tín nhiệm và yêu
mến của người khác một cách rất tự nhiên. Nếu như khơng hiểu được chính mình, bạn sẽ
khiến nội tâm bị nhiễu loạn, làm nguy hại đến môi trường giao tiếp với mọi người. Sự
tương tác giả dối với người khác sẽ là mầm họa lớn nhất khiến cho bạn tự trách mình và
trách người, nó cũng là mầm mống tạo ra những giơng bão cả phía bên trong và bên
ngoài của bạn.
Sự đối nhân xử thế rất quan trọng! Nhưng bạn bắt buộc phải hiểu được chính mình,

giao tiếp với chính mình, thì lúc đó bạn mới hiểu và tương tác lành mạnh với người khác.
Biết được bản thân cần gì, bạn mới biết được người khác cần gì. Điều này sẽ giúp ích cho
hành trình xuất phát lại từ đầu của sự nghiệp cũng như sự điều chỉnh lại trong gia đình,
tất cả đều bắt đầu từ việc bạn buộc phải hiểu được chính mình!
(Lư Tơ Vỹ, Con không ngốc, con chỉ thông minh theo một cách khác, NXB Dân Trí,
2017, tr. 206 và tr. 207)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo tác giả, trên thế giới có quá nhiều loại sách nào và còn thiếu loại sách nào?
Câu 2. Vì sao tác giả cho rằng : “Biết được bản thân cần gì, bạn mới biết người khác cần
gì.”?
13


Câu 3. Trong đoạn trích trên, tác giả đề cao việc “ làm thế nào để đối thoại với chính
mình”, vì từ “đối thoại với chính mình” mới hiểu được mình để có cách ứng xử và hành
động hợp lí.
Theo anh/chị, có thể coi đoạn văn sau (trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao) là lời “ đối
thoại với chính mình” của Chí Phèo khơng? Sau những lời này,Chí Phèo có thực sự “hiểu
được chính mình” khơng?
Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng [ … ]. Thị Nở giục hắn ăn nóng. Hắn cầm
lấy bát cháo đưa lên mồm. Trời ơi cháo mới thơm làm sao! Chỉ khói xơng vào mũi cũng đủ
làm người nhẹ nhõm. Hắn húp một húp và nhận ra rằng : những người suốt đời không ăn
cháo hành không biết rằng cháo hành ăn rất ngon. Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn
mới nếm mùi vị cháo?
Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời : Có ai nấu cho mà ăn đâu? Mà còn ai nấu cho mà ăn nữa!
(Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục,2007, tr.150)
Câu 4. Từ đoạn trích trong phần Đọc hiểu, anh/chị hãy rút ra cho mình thơng điệp có ý
nghĩa sâu sắc. Bình luận ngắn gọn về thông điệp ấy.
Gợi ý:
1

Theo tác giả, trên thế giới này có quá nhiều sách dạy con người tương tác và giao
tiếp nhưng lại thiếu loại sách dạy chúng ta làm thế nào để đối thoại với chính mình.
2
Tác giả cho rằng, biết được bản thân cần gì, bạn mới biết được người khác cần gì vì
phải hiểu rõ nhu cầu của bản thân mới đủ sâu sắc để hiểu được nhu cầu của người khác.
Không hiểu rõ bản thân mình cần gì sẽ khó có được sự cảm thơng để hiểu nhu cầu của
người khác.
3
-Đoạn văn được trích viết về những lời độc thoại nội tâm, cũng là đối thoại với chính
mình của Chí Phèo.
-Sau những lời ấy, Chí Phèo bắt đầu tỉnh táo, ý thức sâu sắc về những buồn tủi, cay cực
trong cuộc đời mình.
4
-Học sinh có thể tự rút ra cho mình thơng điệp ý nghĩa sâu sắc phù hợp và bình luận
ngắn gọn về thông điệp ấy. Sau đây là một số gợi ý:
+Hãy cố gắng hiểu mình sâu sắc để biết thêm yêu bản thân và mọi người xung quanh
+Đừng sống thờ ơ, vô cảm mà hãy biết cảm thông, yêu thương và thấu hiểu người khác.
III. BÀI TẬP VỀ NHÀ
Đọc đoạn trích dưới đây:
SỨC MẠNH CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG
14


(1) Hãy nói lời u thương một cách thật lịng với mọi người xung quanh, đặc biệt là với
người thân. Vì tình thương u có sức mạnh rất lớn, nó giúp người khác vững tin hơn
trong cuộc sống, giúp người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay đổi những
người sống chưa tốt… Tình yêu thương đưa ta vượt lên trên những điều tầm thường. Tình
yêu thương là điều quý giá nhất trên đời mà người với người có thể trao tặng nhau. Rất
nhiều người hối hận vì chưa kịp nói lời u thương với người thân khi người thân của họ
cịn sống. Vì vậy đừng ngại nói lời yêu thương với những người mà ta quý mến họ…

(2) Tất cả mọi người đều cần có tình u thương. Muốn có tình u thương thì trước hết, ta
phải trao tặng tình yêu thương cho thế giới. Một đứa trẻ cần rất nhiều tình thương, mà
người đời khơng phải ai cũng có đủ tình thương dành cho chúng. Có những đứa trẻ trở
nên hư hỏng cũng vì thiếu tình thương. Con người ngày nay có rất nhiều thứ, song có hai
thứ mà họ khơng có đó là sự bình an và tình yêu thương. Bình an cũng cần thiết như khơng
khí để thở, nước để uống và thức ăn hàng ngày. Phải sống sao cho lương tâm của mình
khơng bị cắn rứt.
(Nguyễn Hữu Hiếu, Sức mạnh của tình yêu thương, NXB Trẻ, 2014, tr.92)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Tình u thương có sức mạnh như thế nào?
Câu 2. Anh/chị hiểu như thế nào về câu: “tình yêu thương đưa ta vượt lên trên những điều
tầm thường”?
Câu 3. Nêu tác dụng của phép lặp trong đoạn (1).
Câu 4. Anh/chị có đồng ý với ý kiến: “Tình u thương là điều quý giá nhất trên đời mà
người với người có thể trao tặng nhau” khơng? Vì sao?
Gợi ý:
1. Sức mạnh của tình yêu thương: giúp người khác vững tin hơn trong cuộc sống, giúp
người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay đổi những người sống chưa tốt…
2. Tình yêu thương đưa ta vượt lên trên những điều tầm thường
– Có tình thương, con người sẽ khơng ích kỷ, đố kị, tranh giành, giẫm đạp lên nhau để
sống.
– Con người sẽ sống bao dung, vị tha hơn, nhân ái hơn.
3.– Lặp: Tình yêu thương
– Tác dụng: vừa tạo ra sự liên kết vừa nhấn mạnh ý nghĩa của tình u thương trong cuộc
sống.
4.– HS có thể trả lời “có” hoặc “khơng”.
– Lý giải thuyết phục
15



C. Hoạt động củng cố, dặn dò
1. Củng cố
- HS cần nắm vững một số kiến thức lí thuyết cơ bản để làm được bài tập đọc hiểu văn bản.
2. Dặn dị
- Ơn tập những kiến thức lý thuyết phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản. Tự luyện tập thêm ở
nhà.
- Chuẩn bị tiết tiếp theo của bài này.

Ngày soạn : 03/09/2022
TIẾT 3.
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (3)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Về kiến thức, kĩ năng, thái độ
a. Kiến thức
- Giúp học sinh củng cố một số kiến thức trọng tâm để làm được bài tập đọc hiểu văn bản.
16


b. Kĩ năng
- Luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản và tiếp nhận văn bản bằng việc luyện đề đọc hiểu văn
bản.
c. Tư duy, thái độ, phẩm chất
- Tư duy tổng hợp, vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học về văn bản; chăm chỉ và nỗ
lực làm bài tập.
2. Các năng lực cần hình thành cho học sinh
- Năng lực tự học.
- Năng lực thẩm mĩ.
- Năng lực giải quyết vấn đề.
- Năng lực hợp tác, giao tiếp.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ.

- Năng lực tổng hợp, so sánh.
II. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
1. Giáo viên: Giáo án, tài liệu tham khảo, đề đọc hiểu.
2. Học sinh: Vở ghi.
III. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp nêu vấn đề, gợi mở, đàm thoại, kết
hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi, thực hành. GV phối hợp các
phương pháp dạy học tích cực trong giờ dạy. HS thực hành, thảo luận nhóm, GV hướng
dẫn, chốt đáp án, khắc sâu những kiến thức quan trọng.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức
Lớp

Ngày dạy

Sĩ số

12A6
2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra bài tập về nhà của HS
3. Bài mới
A. Hoạt động khởi động

17

HS vắng


Ở tiết trước, chúng ta đã ôn tập một số kiến thức phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản .
Trong bài học hôm nay, chúng ta hãy tiếp tục ôn luyện kiến thức lí thuyết đọc hiểu và
luyện tập một số bài tập đọc hiểu văn bản để thuần thục hơn với kiểu bài tập này.

B. Hoạt động hình thành kiến thức mới
I.KIẾN THỨC CƠ BẢN
6. Yêu cầu nhận diện các hình thức nghị luận (hoặc cách thức trình bày của đoạn
văn/ Kết cấu đoạn văn)
– Diễn dịch
– Qui nạp
– Tổng – Phân – Hợp
7. Yêu cầu nhận diện thể thơ:
Đặc trưng của các thể loại thơ: Lục bát; Song thất lục bát; Thất ngôn; Thơ tự do; Thơ ngũ
ngôn, Thơ 8 chữ…
II. BÀI TẬP VẬN DỤNG
ĐỀ 1.
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
[…] Thay đổi là chuyện đương nhiên, vì thế hãy ngưng than vãn để nhìn nhận mọi chuyện
theo hướng tích cực. Phần lớn chúng ta đều được nuôi dưỡng để lớn lên là những người
biết suy tính cẩn thận. Trước khi nói phải nhớ “uốn lưỡi 7 lần”. Làm việc gì cũng phải
“nhìn trước ngó sau”, phải “nghĩ cho chín”. Nhưng điều gì cũng có hai mặt. Chính thói
quen suy nghĩ q nhiều, cẩn thận quá mức đã cướp đi sự tự tin, khiến ta nhìn đâu cũng
thấy người xấu, ngồi đâu cũng nghe chuyện xấu. Như vậy, khi hoàn cảnh biến chuyển và
khó khăn hiện hữu, ta sẽ chỉ thêm sợ hãi và lo lắng bởi chỉ biết suy nghĩ tiêu cực.
Bên cạnh đó, đặc điểm chung của những người thành cơng là không ngủ quên trên chiến
thắng. Kể cả khi đã có những chiến tích lớn, họ vẫn khơng ngừng làm mới mình. Tờ báo
lừng danh Washington Post có lẽ đã sớm lụn bại trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của
truyền thông hiện đại nếu ông chủ Jeff Bezos không nhanh chóng cải tổ lại bộ máy “già
nua”. Ơng cho xây hẳn một tịa soạn mới theo mơ hình tân tiến nhất, lắp đặt các thiết bị
hiện đại để hỗ trợ phân tích số liệu, nhu cầu đọc của độc giả… và đẩy mạnh sản xuất các
tác phẩm báo chí mới mẻ bắt kịp xu hướng. Hay gần gũi hơn với chúng ta là sự thay đổi
không ngừng của Facebook. Mặc dù đã có hơn 1 tỷ người dùng tồn cầu, Mark
Zuckerberg và các cộng sự vẫn liên tục cập nhật các tính năng mới để tối đa thời gian
chúng ta “lang thang” trên mạng xã hội này.

18


Cuộc sống không ngừng biến chuyển, và chúng ta cần phải biết thích ứng linh hoạt trong
mọi hồn cảnh. Hãy nhớ rằng, bất cứ ai trên đời cũng phải thay đổi nếu khơng muốn bị tụt
hậu.
(Chàng tí hon, miếng pho mát và bài học về sự thay đổi, VÂN ANH SPIDERUM, theo Trí
thức trẻ 20:55 05/04/2017)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2. Theo tác giả, đặc điểm chung của những người thành công là gì?
Câu 3. Anh chị hiểu như thế nào về ý kiến Trong quá trình đối mặt với những biến động
trong cuộc đời, rào cản lớn nhất của mỗi người suy cho cùng đều là chính mình?
Câu 4. Anh, chị có đồng tình với quan niệm Chính thói quen suy nghĩ quá nhiều, cẩn thận
quá mức đã cướp đi sự tự tin, khiến ta nhìn đâu cũng thấy người xấu, ngồi đâu cũng nghe
chuyện xấu? Vì sao?
Gợi ý:
1. Phương thức biểu đạt chính là: Nghị luận
2.Theo tác giả, đặc điểm chung của những người thành công là:
– Không ngủ quên trên chiến thắng
– Khơng ngừng làm mới mình
3.Ý kiến Trong q trình đối mặt với những biến động trong cuộc đời, rào cản lớn nhất của
mỗi người suy cho cùng đều là chính mình có ý nghĩa như sau:
– Câu nói đó đã khẳng định yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của mỗi người
không phải là yếu tố đến từ bên ngồi, khơng phải là từ ai khác mà chính là bản thân mỗi
người.
– Khơng ai có thể giúp bạn thành công ngoại trừ sự tự tin và nỗ lực của chính bạn. Bạn hãy
tin vào suy nghĩ của bản thân và cố gắng nỗ lực không ngừng để đạt được những điều
mong muốn, để vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống. Cuộc sống của bạn là do
bạn tự quyết định.
4. HS trình bày được suy nghĩ riêng của mình theo hướng làm rõ và khẳng định hoặc phủ

định ý kiến:
– Nếu lập luận theo hướng khẳng định ý kiến trên là đúng, học sinh cần nhấn mạnh: Cuộc
sống vốn dĩ mn hình vạn trạng, luôn thay đổi. Nếu con người suy nghĩ quá nhiều, cẩn
thận quá mức, sẽ không theo kịp được xu thế phát triển, khiến con người càng ngày càng
lạc hậu, trì trệ, khơng tự tin vào khả năng của mình khiến ta nhìn đâu cũng thấy người xấu,
ngồi đâu cũng nghe chuyện xấu. Như vậy, khi hoàn cảnh biến chuyển và khó khăn hiện
hữu, ta sẽ chỉ thêm sợ hãi và lo lắng bởi chỉ biết suy nghĩ tiêu cực. Cơ hội chỉ đến một lần
nếu suy nghĩ quá kĩ, không nhanh chóng nắm lấy thì sẽ khơng bao giờ có được nó.
19


– Nếu lập luận theo hướng phủ định ý kiến trên, cần nhấn mạnh:làm việc gì mà khơng chịu
suy nghĩ sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường cho nên làm bất cứ việc gì cũng phải cẩn
thận, suy nghĩ kĩ càng, tính tốn tỉ mỉ mới khơng bị rủi ro.
– Nếu lập luận cả theo hướng vừa khẳng định vừa phủ định ý kiến thì cần kết hợp cả hai
nội dung trên.
ĐỀ 2.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các u cầu:
…Tơi nhớ có một câu danh ngơn, đại ý rằng: “Bạn sẽ có được con gà con lơng vàng
mũm mĩm bằng cách ấp trứng, chứ không phải bằng cách đập vỡ cái trứng ra”. Vậy thì đó
là lý do tại sao con sâu phải nằm trong kén đủ ngày rồi mới được hóa thân. Cũng như con
người phải chín tháng mười ngày mới nên rời lịng mẹ. Đó cũng là lý do của ba mươi chín
giây đèn đỏ, của mười hai năm miệt mài trên ghế nhà trường, của một mối tình tha thiết
cịn chưa chịu hé lộ. Và của rất nhiều khoảnh khắc chờ đợi trong cuộc đời.
Mọi vật có thời điểm của nó. Em đừng cố rút ngắn thời gian. Nếu trái chưa chín thì đừng
nên hái. Nếu nhộng chưa chín thì đừng phá vỡ kén tằm. Nếu chưa gặp được một tâm hồn
đồng điệu thì đừng trao gửi trái tim. Đừng để thế giới này tác động.
Xuân qua hè tới. Đông sang thu về.
Đừng nôn nóng khi nhìn thấy những lồi cây đã khoe lá khoe hoa. Hãy cứ bình tâm. Hãy
đợi thời điểm của mình, em nhé. Hãy tận dụng khoảng lặng này để bồi đắp cho chính mình

và học cách khám phá điều sẽ xảy ra. Nếu em biết suy tư, khoảng thời gian chờ đợi khơng
bao giờ là vơ nghĩa…
(Trích “Nếu biết trăm năm là hữu hạn”- Phạm Lữ Ân)
Câu 1(0,5 điểm):Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản? Nêu ngắn gọn nội
dung của đoạn trích?
Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra và nêu hiệu quả của các phép tu từ được sử dụng trong những
câu văn sau: Vậy thì đó là lý do tại sao con sâu phải nằm trong kén đủ ngày rồi mới được
hóa thân. Cũng như con người phải chín tháng mười ngày mới nên rời lịng mẹ. Đó cũng
là lý do của ba mươi chín giây đèn đỏ, của mười hai năm miệt mài trên ghế nhà trường,
của một mối tình tha thiết cịn chưa chịu hé lộ. Và của rất nhiều khoảnh khắc chờ đợi
trong
cuộc
đời.
Câu 3 (1,0 điểm):Anh/ chị hiểu thế nào về câu nói: Hãy tận dụng khoảng lặng này để bồi
đắp cho chính mình và học cách khám phá điều sẽ xảy ra.
Câu 4 (1,0 điểm):Anh/ chị có đồng tình với ý kiến Mọi vật có thời điểm của nó. Em đừng
cố rút ngắn thời giankhơng? Vì sao?
Gợi ý:
1

– Phương thức biểu đạt chính là nghị luận
20


– Nội dung chính của đoạn trích: Bàn về ý nghĩa của sự chờ đợi trong cuộc sống của con
người.
2

– Các phép tu từ: điệp từ, điệp ngữ; liệt kê.


– Hiệu quả của các phép tu từ trên: nêu những ví dụ sinh động và nhấn mạnh vai trị của sự
chờ đợi trong cuộc sống.
3
Nội dung, ý nghĩa của câu nói: Mỗi con người cần dành cho mình một khoảng thời
gian (tận dụng khoảng lặng) để học tập, hoàn thiện bản thân và tích lũy những kinh nghiệm
trong cuộc sống.
4
– HS có thể khẳng định thái độ đồng tình hoặc khơng đồng tình theo quan điểm
riêng của bản thân.
– Nêu lí do thuyết phục để khẳng định sự lựa chọn.
– Hình thức: đoạn văn 10 dịng, khúc chiết, mạch lạc, có cảm xúc.
III. BÀI TẬP VỀ NHÀ
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 3
[…] Tôi nhớ lúc nhỏ tuổi, bố hay phàn nàn em trai và tôi “Hôm nay thời tiết đẹp lắm, sao
lại ngồi xem phim hoạt hình cả buổi sáng?”. Lúc đó tơi khơng hiểu tại sao bố lại ghét tivi
trong khi tất cả mọi người đều có ít nhất một cái trong nhà. Sau này tôi mới hiểu, xem tivi
nhiều bạn sẽ hệt như một zombie (xác sống), một phần não mình bị tắt do sóng não chùng
xuống.
Chúng ta tự tạo ra cho mình và cho lẫn nhau những chiếc bẫy, tự sa vào đó và tự hỏi tại
sao cuộc sống không thoải mái. Nhưng điều nực cười là sống lâu trong cái bẫy đó thì lại
thành quen, họ đều thấy bình thường. Tơi khơng nghĩ sống theo tiêu chuẩn của người khác
đã thiết kế ra như các chương trình truyền hình, thói quen nạp đường, bia rượu, game,
truyền thông xã hội, chạy theo mốt mới… là một cuộc sống ý nghĩa. Tôi nghĩ đã đến lúc ta
phải sống với sự tỉnh thức nhiều hơn. Dành thời gian và sự tập trung cho những gì thực sự
quan trọng với cuộc đời mình, như sức khỏe, cơng việc cần thiết, người thân, việc làm ý
nghĩa… Đó là cách từ từ để kéo mình ra khỏi đầm lầy.
Bộ não con người cũng là một loại cơ bắp. Vùng vỏ não ở trán trước là chỗ kiểm sốt sự
tập trung của mình, đó cũng là chỗ bị tấn cơng bởi tivi, game… Nhưng mình có thể giành
lại nó bằng cách chỉ cần dùng nó nhiều hơn, từ bỏ tất cả những thứ thơi miên mình bằng
một ý chí mạnh mẽ.

(Nguồn: vnexpress.net, ngày 29/6/2018)
Câu 1 (1,0 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2 (1,0 điểm). Theo tác giả, làm thế nào “để kéo mình ra khỏi đầm lầy”?
21


Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra biện pháp tu từ và hiệu quả nghệ thuật trong câu văn : “Đó là
cách từ từ để kéo mình ra khỏi đầm lầy”.
Gợi ý:
1

Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận.

2

Theo tác giả, “để kéo mình ra khỏi đầm lầy” cần:

+ “phải sống với sự tỉnh thức nhiều hơn”.
+ “Dành thời gian và sự tập trung cho những gì thực sự quan trọng với cuộc đời mình, như
sức khỏe, cơng việc cần thiết, người thân, việc làm ý nghĩa…”.
3

Biện pháp tu từ : Sử dụng hình ảnh ẩn dụ “đầm lầy”.

Hiệu quả nghệ thuật:
+ Tăng tính sinh động cho lời văn.
+ Tô đậm sức mạnh của lối sống vô nghĩa hoặc cái xấu và sự tăm tối

C. Hoạt động củng cố, dặn dò
1. Củng cố

- HS cần nắm vững một số kiến thức lí thuyết cơ bản để làm được bài tập đọc hiểu văn bản.
2. Dặn dị
- Ơn tập những kiến thức lý thuyết phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản. Tự luyện tập thêm ở
nhà.
- Chuẩn bị tiết tiếp theo của bài này.

22


Ngày soạn : 04/09/2022
TIẾT 4.
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (4)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Về kiến thức, kĩ năng, thái độ
a. Kiến thức
- Giúp học sinh củng cố một số kiến thức trọng tâm để làm được bài tập đọc hiểu văn bản.
b. Kĩ năng
- Luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản và tiếp nhận văn bản bằng việc luyện đề đọc hiểu văn
bản.
c. Tư duy, thái độ, phẩm chất
- Tư duy tổng hợp, vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học về văn bản; chăm chỉ và nỗ
lực làm bài tập.
2. Các năng lực cần hình thành cho học sinh
- Năng lực tự học.
- Năng lực thẩm mĩ.
- Năng lực giải quyết vấn đề.
- Năng lực hợp tác, giao tiếp.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ.
- Năng lực tổng hợp, so sánh.
II. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN

1. Giáo viên: Giáo án, tài liệu tham khảo, đề đọc hiểu.
2. Học sinh: Vở ghi.
III. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
GV tổ chức giờ dạy theo cách kết hợp các phương pháp nêu vấn đề, gợi mở, đàm thoại, kết
hợp các hình thức trao đổi thảo luận, trả lời các câu hỏi, thực hành. GV phối hợp các
phương pháp dạy học tích cực trong giờ dạy. HS thực hành, thảo luận nhóm, GV hướng
dẫn, chốt đáp án, khắc sâu những kiến thức quan trọng.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức
23


Lớp

Ngày dạy

Sĩ số

HS vắng

12A6
2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra bài tập về nhà của HS
3. Bài mới
A. Hoạt động khởi động
Ở tiết trước, chúng ta đã ôn tập một số kiến thức phục vụ cho việc đọc hiểu văn bản .
Trong bài học hôm nay, chúng ta hãy tiếp tục ơn luyện kiến thức lí thuyết đọc hiểu và
luyện tập một số bài tập đọc hiểu văn bản để thuần thục hơn với kiểu bài tập này.
B. Hoạt động hình thành kiến thức mới
I.KIẾN THỨC CƠ BẢN
II. BÀI TẬP VẬN DỤNG

ĐỀ 1.
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Thế giới hiện đại phát triển quá nhanh khiến cho nhiều người cảm thấy chỉ một khắc chậm
chân đã tụt lại phía sau q xa. Lấy việc đó làm động lực để bước tiếp hay chịu thua và bị
trói buộc vào cuộc sống nhàm chán, đơn điệu hàng ngày là sự lựa chọn của mỗi người;
thế nhưng thế giới vĩnh viễn sẽ không bao giờ thu nhỏ lại, vậy nên tầm nhìn của bạn cần
phải to lớn hơn.
Bạn có biết rằng, từ “Sekai” trong tiếng Nhật có nghĩa là “thế giới”; nhưng trong đó bản
thân từ “kai” lại vừa có nghĩa là “giải” – “phát triển”; lại có nghĩa là “đáng giá”? Điều
đó có nghĩa là, mỗi cuộc dấn thân, mỗi chuyến phiêu lưu tìm hiểu thế giới này đều là
những trải nghiệm cần thiết và quý báu. Thay vì dính chặt lấy cuộc sống thường nhật tẻ
nhạt và nhàm chán, nhiều bạn trẻ giờ đây đã chọn cách mạnh mẽ thể hiện bản thân mình,
trải nghiệm cuộc sống bằng những chuyến đi xa, những cuộc gặp gỡ, kết giao thú vị. Có
thể nói, đó chính là những người trẻ chọn việc không ngừng phấn đấu và tiến về phía
trước, và sẽ là những người thu vào trong tầm mắt phần rộng lớn và tươi đẹp nhất của thế
giới này.
Và trên hành trình kiếm tìm sự hồn hảo cho cái tơi của mình, những khoảng nghỉ ngơi
của mỗi người sẽ luôn cần một vọng đài, một điểm nghỉ chân để nghiệm thu và chiêm
24


ngưỡng lại thế giới sau lưng mình. Những dãy núi hùng vĩ, thảo nguyên rộng lớn hay mặt
biển xanh vô tận; những kỷ niệm ngọt ngào bên những người bạn thân – đó sẽ là thành tựu
riêng của chính bản thân mỗi người, là thứ xúc cảm mà bạn chỉ biết mình đã cần nó tới
mức nào ngay sau lần trải nghiệm đầu tiên.
Vậy nên hãy luôn khát khao bám đuổi theo cái tôi mới mẻ và bứt phá; mạnh dạn chấp
nhận những thử thách của cuộc sống để bước chân ra khỏi vùng an tồn của chính mình,
bạn nhé! Bởi cuộc đời chỉ thực sự trở nên hoàn hảo khi tầm nhìn của bạn rộng mở hơn.
( Nguồn />1. Nêu tác hại của việc con người bị trói buộc vào cuộc sống nhàm chán, đơn điệu
hàng ngày được nêu trong văn bản?

2. Việc giải thích từ “Sekai” trong tiếng Nhật của văn bản có tác dụng gì?
3. Anh, chị hãy nêu ít nhất hai hình thức trải nghiệm cuộc sống dành cho tuổi trẻ học
đường.
4. Anh/ chị có đồng tình với quan điểm: thế giới vĩnh viễn sẽ khơng bao giờ thu nhỏ
lại, vậy nên tầm nhìn của bạn cần phải to lớn hơn được nêu trong văn bản hay
khơng? Vì sao?
Gợi ý:
1
Tác hại của việc con người bị trói buộc vào cuộc sống nhàm chán, đơn điệu hàng
ngày được nêu trong văn bản:
– Bào mòn trái tim của người trong cuộc;
– Bản thân con người đều thấy mệt mỏi về thể xác, suy sụp tinh thần;
– Làm rạn nứt các mối quan hệ trong gia đình, nhà trường, xã hội.
2
– Từ “Sekai” trong tiếng Nhật có nghĩa là “thế giới”; nhưng trong đó bản thân từ
“kai” lại vừa có nghĩa là “giải” – “phát triển”; lại có nghĩa là “đáng giá”;
– Tác dụng:
+ Làm rõ đặc điểm của thế giới. Thế giới rộng lớn, luôn phát triển không ngừng và đáng
giá.
+ Khuyến khích tuổi trẻ cần phải biết khám phá thế giới
3

Học sinh có thể nêu 2 trong các hình thức sau:

– Hoạt động câu lạc bộ : Câu lạc bộ là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học
sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà giáo dục
nhằm tạo mơi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học
sinh với thầy cô giáo, với những người lớn khác
25



×