Tải bản đầy đủ (.pdf) (459 trang)

9xJcY7D4T0aXzGIILich su de dieu viet nam final 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.2 MB, 459 trang )


LỊCH SỬ
ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM


CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN
TỔNG CỤC PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI

BAN BIÊN SOẠN
TS. Trần Quang Hoài - Tổng cục trưởng
ThS. Vũ Xuân Thành - Phó Tổng cục trưởng
ThS. Phạm Đức Luận - Phó Tổng cục trưởng
PGS.TS. Nguyễn Văn Am

THÀNH VIÊN
ThS. Trần Cơng Tuyên - Vụ trưởng Vụ Quản lý đê điều
ThS. Nguyễn Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý đê điều
TS. Nguyễn Thị Thu Thủy
TS. Trần Xuân Trí


BỘ NƠNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NƠNG THƠN
TỔNG CỤC PHỊNG CHỐNG THIÊN TAI

LỊCH SỬ
ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI




LỜI GIỚI THIỆU

T

rong tiến trình phát triển lịch sử, Việt Nam nằm ở khu vực
được coi là một trong những trung tâm khai sinh nông
nghiệp sớm với nền văn minh lúa nước. Từ xa xưa, cuộc sống con
người phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, săn bắt, hái lượm rồi
dần chuyển sang chủ động trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế,
xã hội. Tại thời điểm đó, hệ thống đê điều, đặc biệt ở vùng Đồng bằng
sông Hồng, bắt đầu dần hình thành từ những kinh nghiệm thực tiễn
đấu tranh sinh tồn chống chọi với thiên tai nhằm chống lũ lụt, bảo vệ
cuộc sống, sản xuất nông nghiệp và quá trình phát triển của hệ thống
đê điều cũng gắn liền với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc.
Trải qua các triều đại phong kiến, các tuyến đê tiếp tục được bồi
trúc, đắp mới, cũng đã có lúc triều đình đưa ra luận bàn giữ hay bỏ,
tuy nhiên, phương án cuối cùng thì đê vẫn là giải pháp được chọn để
chống lũ lụt.
Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa ra đời, dù chính quyền
non trẻ cịn phải đối mặt với nhiều khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh
vẫn rất quan tâm, coi trọng đê điều, ưu tiên cho tu bổ, đắp đê, hộ đê.
Trong chiến tranh, cơng trình đê điều được tu bổ đồng thời với việc
bảo vệ chống phá hoại của kẻ địch. Sau ngày thống nhất đất nước, hệ
thống đê điều tiếp tục được đầu tư, tu bổ.
Đến nay, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tình hình mưa lũ ngày
càng cực đoan, đê điều đã trở thành hệ thống cơng trình vĩ đại mang
trong mình sứ mệnh chống lũ, bảo vệ nền kinh tế có quy mơ ngày
càng lớn với nhiều trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng, các khu
vực dân cư đông đúc, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Thủ đơ
Hà Nội; Thành phố Hồ Chí Minh...

Nhằm giúp cho những cán bộ làm việc trong lĩnh vực đê điều,
phòng chống thiên tai cũng như bạn đọc hiểu rõ hơn về hệ thống đê
điều ở Việt Nam, Tổng cục Phòng, chống thiên tai biên soạn cuốn sách


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

Lịch sử đê điều Việt Nam. Cuốn sách cung cấp cho độc giả những thông
tin về sự hình thành và phát triển của hệ thống đê ở Việt Nam từ thời
dựng nước đến nay.
Với việc khảo cứu các nguồn tài liệu chính sử, tài liệu lưu trữ và các
tài liệu tham khảo khác một cách công phu, nghiêm túc cũng như lấy
ý kiến một số lãnh đạo trực tiếp làm công tác đê điều qua các thời kỳ,
các chuyên gia, cuốn sách đã dựng lên bức tranh tổng thể về lịch sử đê
điều Việt Nam từ thời dựng nước đến giữa thế kỷ XIX, từ giữa thế kỷ
XIX đến năm 1945, từ năm 1945 đến năm nay.
Ban Biên soạn trân trọng cảm ơn ông Nguyễn Cảnh Dinh, nguyên
Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và các đồng chí nguyên lãnh đạo của cơ quan
quản lý đê điều, các chuyên gia: ông Nguyễn Ty Niên - nguyên Cục
trưởng Cục Phòng chống lụt bão và Quản lý đê điều (PCLB&QLĐĐ),
ơng Nguyễn Văn Lễ - ngun Phó Cục trưởng Cục PCLB&QLĐĐ,
ơng Bùi Ngun Hồng - ngun Phó Cục trưởng Cục PCLB&QLĐĐ,
ông Vũ Văn Tú - nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý đê điều, ông Nguyễn
Hữu Phúc - nguyên Giám đốc Trung tâm Phòng tránh và Giảm nhẹ
thiên tai, bà Cao Thị Lụa - nguyên Giám đốc Trung tâm Tư vấn kỹ
thuật về đê điều, GS.TSKH. Nguyễn Ân Niên - nguyên Viện trưởng
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, TS. Tô Văn Trường - nguyên Viện
trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam và nhiều đồng chí khác
đã cung cấp thơng tin, tham gia ý kiến để hoàn thành cuốn sách này.
Cảm ơn nhóm viết sử - PGS.TS. Nguyễn Văn Am, TS. Nguyễn Thị

Thu Thủy và TS. Trần Xuân Trí - đã phối hợp biên soạn.
Mặc dù Ban biên soạn cuốn sách đã cố gắng rất nhiều, song
trong quá trình tổng hợp, biên soạn khó tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để cuốn sách hoàn thiện
hơn cho lần tái bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc./.
TỔNG CỤC TRƯỞNG
TỔNG CỤC PHỊNG CHỐNG THIÊN TAI
TS. Trần Quang Hồi

6


MỞ ĐẦU

V

iệt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lượng
mưa trung bình nhiều năm trên tồn lãnh thổ vào khoảng
1.940 mm/năm nhưng do ảnh hưởng của địa hình đồi núi, lượng
mưa phân bố không đều trên cả nước và biến đổi mạnh theo thời
gian, hình thành các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt. Khí
hậu có thể được chia ra làm hai đới khí hậu lớn: Miền Bắc (từ đèo
Hải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt (xuân,
hạ, thu, đơng), chịu ảnh hưởng của gió mùa Đơng Bắc (từ lục địa
Châu Á tới) và gió mùa Đơng Nam, có độ ẩm cao; Miền Nam (từ
đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnh hưởng của gió mùa nên khí hậu
nhiệt đới khá điều hịa, nóng quanh năm và chia thành hai mùa
(mùa khô và mùa mưa). Nhiệt độ trung bình dao động từ 210C đến
270C và tăng dần từ Bắc vào Nam. Lượng bức xạ mặt trời rất lớn với

số giờ nắng từ 1.400 - 3.000 giờ/năm. Lượng mưa trung bình hằng
năm từ 1.500 đến 2.000mm. Độ ẩm khơng khí trên dưới 80%.
Địa hình các khu vực trên toàn quốc rất đa dạng, gồm: đồi núi,
đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa; cao độ thấp dần theo hướng
Tây Bắc - Đơng Nam. Trong đó, đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh
thổ dài 1.400km chạy từ Tây Bắc tới Đông Nam Bộ tạo thành một
cánh cung lớn hướng ra Biển Đông; đường bờ biển dài 3.260km.
Ở hai đầu đất nước có hai đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu là Đồng
bằng Bắc Bộ (lưu vực sông Hồng, rộng 16.700km2) và đồng bằng
Nam Bộ (lưu vực sông Mê Kông, rộng 40.000km2). Nằm giữa hai
châu thổ lớn đó là một chuỗi đồng bằng nhỏ hẹp, phân bố dọc theo
duyên hải miền Trung, từ đồng bằng thuộc lưu vực sông Mã (Thanh
Hóa) đến Phan Thiết (Bình Thuận) với tổng diện tích 15.000km2.


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

Mạng lưới sơng ngịi cũng dày đặc (2.360 con sơng có chiều dài
trên 10km/sơng), chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc - Đơng Nam và
vịng cung. Với đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi xen lẫn các bồn
lục địa, thung lũng nên các sông hầu hết là ngắn và lưu vực nhỏ. Cịn
các sơng lớn như sơng Mê Kơng (Cửu Long), sơng Hồng, sông Đồng
Nai đa phần là bắt nguồn từ nước ngồi. Hai sơng lớn nhất là sơng
Hồng và sơng Cửu Long tạo nên hai vùng đồng bằng rộng lớn và phì
nhiêu. Hệ thống các sơng suối hằng năm được bổ sung tới 310 tỷ m3
nước. Chế độ nước của sông ngòi chia thành mùa lũ và mùa cạn, lượng
nước trong mùa lũ chiếm tới 70 - 80% cả năm và thường gây ra lũ lụt.
Với đặc điểm tự nhiên, khí hậu như vậy, Việt Nam thường
xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, đặc biệt là lũ, lụt, bão. Phòng
chống lũ lụt là việc được nhân dân ta coi trọng nhiều đời nay. Câu

chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh là một trong những truyền thuyết thể
hiện sự dũng cảm, thông minh và ước vọng chế ngự lũ lụt của nhân
dân ta. Theo tài liệu lịch sử, từ thời Hán vào thế kỷ thứ V đã bắt đầu
hình thành một số đoạn đê, đến năm 866 đã hình thành hệ thống
đê xung quanh thành Đại La. Trải qua các triều đại phong kiến, hệ
thống đê điều từng bước được bổ sung phát triển cả về quy mô và
phạm vi bảo vệ. Song song với việc hình thành các tuyến đê, cũng
hình thành tổ chức và quy chế quản lý đê, năm 1809 ban hành điều
lệ về đê điều, năm 1857 bắt đầu có cơ quan phụ trách về đê. Từ đó
đến nay hệ thống đê điều chống lũ đã phát triển cả về quy mô,
khối lượng, mở rộng ra trên hầu hết các vùng miền cả nước. Tùy
theo từng đặc điểm về tự nhiên, khí hậu của từng vùng mà cơng tác
phịng chống lũ có những đặc điểm tương ứng:
Đồng bằng Bắc Bộ (lưu vực sơng Hồng, sơng Thái Bình)
Đồng bằng Bắc Bộ được hình thành bởi 2 hệ thống sơng: hệ
thống sông Hồng (gồm 3 sông lớn là Đà, Thao, Lô Gâm) và hệ
thống sơng Thái Bình (gồm 3 sơng lớn là Cầu, Thương, Lục Nam)
có diện tích lưu vực 169.020km2, trong đó phần lưu vực thuộc lãnh
thổ Việt Nam là 86.720km2 chiếm 51% tổng diện tích cịn lại thuộc
địa phận Lào và Trung Quốc. Địa thế chung của hệ thống sông

8


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

Hồng rất hiểm trở, có đến 47% có độ cao trên 1.000m, phần lớn
nằm ở phía Tây của lưu vực thuộc hai nhánh lớn sơng Đà và sông
Thao và một phần sông Lô. Phần đất bằng chỉ phân bố nhỏ lẻ
dọc thung lũng của các sông lớn, song phần chủ yếu tập trung

ở tam giác châu sơng Hồng, sơng Thái Bình. Do phần lớn diện
tích là miền núi (chiếm 87%) địa hình dốc và tập trung nhiều tâm
mưa lớn như Bắc Quang (5.000mm), Hoàng Liên Sơn (3.200mm),
Kim Bôi, Mường Tè (3.000mm) nên khu vực miền núi tập trung lũ
nhanh và tạo ra lũ lớn đổ về vùng đồng bằng trong mùa mưa bão
(lưu lượng lũ lịch sử năm 1971 tại Sơn Tây lên đến 37.800m3/s).
Về đến đồng bằng, hệ thống sông Hồng cùng với sông Thái
Bình nối với nhau tạo ra gần 30 phụ lưu và đổ ra biển qua 9 cửa
sông gồm: Nam Triệu, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình, Trà Lý,
Ba Lạt, Ninh Cơ, Đáy. Hệ thống sơng ngịi chằng chịt với lượng phù
sa lớn đã bồi đắp tạo thành Đồng bằng sơng Hồng (lớn thứ 2 cả
nước) với cao độ bình quân chủ yếu từ 2 - 9m (cao độ < 6m chiếm
đến 90%). Mùa lũ thường từ tháng 7 đến tháng 10 với lưu lượng lũ
lớn từ miền núi đổ về, mực nước trên các sông dâng rất cao, cao hơn
hầu hết diện tích tồn vùng; thời gian lũ kéo dài do khả năng thốt
lũ chậm (do các sơng có hình nan quạt), chảy tập trung vào một số
dịng chính dẫn đến nước sông bị dồn ứ làm nước lũ lên nhanh,
xuống chậm. Nhiều trận lũ gây ra những thảm họa lớn thiệt hại cả
về người và tài sản đã xảy ra (điển hình những trận lũ xảy ra các
năm 1915, 1945, 1971, 1969, 1996).
Đặc điểm lũ về Đồng bằng sơng Hồng, sơng Thái Bình mặc dù
khơng dữ dội như lũ ở khu vực miền Trung nhưng cũng không hẳn
hiền hịa như lũ ở vùng Đồng bằng sơng Cửu Long. Vùng có địa
hình khá bằng phẳng và có diện tích khá rộng, do đó từ lâu đã dần
hình thành hệ thống đê chống lũ triệt để như ngày nay, bảo vệ các
vùng dân cư, sản xuất trù phú, có mật độ dân số lớn nhất cả nước.
Những năm gần đây (kể từ năm 1971 khi hồ Thác Bà được xây
dựng) chế độ lũ trên vùng Đồng bằng sông Hồng đã thay đổi bởi
điều tiết các hồ chứa lớn phía thượng lưu như hồ Thác Bà, Hòa


9


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

Bình, Tuyên Quang, Sơn La có tổng dung tích phịng lũ 8,45 tỷ m3.
Với dung tích phịng lũ khá lớn, khả năng phịng chống lũ cho khu
vực đồng bằng được nâng lên đáng kể (từ mức bảo đảm 125 năm
lên đến 300 năm).

Đồng bằng duyên hải miền Trung
Nằm giữa hai đồng bằng châu thổ ở hai đầu đất nước là vùng
đồng bằng duyên hải miền Trung kéo dài từ đồng bằng thuộc lưu
vực sông Mã (Thanh Hóa) đến Phan Thiết (Bình Thuận) với tổng
diện tích 15.000km2. Khu vực miền Trung có bề ngang hẹp, địa hình
chủ yếu là đồi núi lại bị chia cắt phức tạp bởi các con sông và dãy
núi đâm ra biển, như dãy Hoàng Mai, Hồng Lĩnh, Bạch Mã - đèo
Hải Vân, Nam Bình Định - đèo Cả,... Các con sơng như Mã, Cả, Nhật
Lệ, Gianh, Thạch Hãn, Hương, Hàn, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc,
Ba, Cái,... có hệ thống sơng ngịi ngắn và dốc, bờ biển sâu với nhiều
đoạn khúc khuỷu, thềm lục địa hẹp. Lượng mưa bình quân nhiều
năm lớn, có những tâm mưa có lượng mưa lên đến 5.000mm như A
Lưới, Bạch Mã. Lượng mưa mùa lũ chiếm 68 - 75% lượng mưa trong
năm. Các sơng có độ dốc lớn, nước chảy xiết, thường gây lũ lụt bất
ngờ gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân.
Ngồi 2 vùng đồng bằng thuộc lưu vực sơng Mã, Cả, các đồng
bằng cịn lại của vùng có diện tích khơng lớn do các dãy núi phía
Tây trải dọc theo hướng Nam tiến dần ra sát biển và có hướng thu
hẹp dần diện tích lại từ Bắc vào Nam. Mùa mưa lũ ở Bắc Trung Bộ
thường xảy ra từ tháng 7 đến tháng 10, ở vùng Duyên hải Nam

Trung Bộ thường xảy ra từ tháng 10 đến tháng 12. Những trận lũ lụt
lớn đã xảy ra ở miền Trung vào các năm: 1952, 1964, 1980, 1983, 1990,
1996, 1998, 1999, 2002, 2003, 2010 và 2020.
Đối với đồng bằng các tỉnh từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh thuộc
lưu vực các sơng Mã, Cả có diện tích tương đối lớn, phía thượng
lưu có độ đốc lớn, lũ dồn về nhanh nhưng đến vùng hạ lưu tại các
đồng bằng do dịng sơng và lưu vực sông mở rộng, độ dốc nhỏ nên
kéo dài thời gian ngập lũ. Hệ thống đê điều chống lũ chính vụ hằng

10


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

năm bảo vệ các khu vực dân cư và sản xuất đã dần hình thành, có
thể chống chịu được các trận lũ lịch sử.
Từ Quảng Bình trở vào, việc đắp đê chống lụt rất khó khăn, tốn
kém mà hiệu quả khơng cao, vì châu thổ của sơng rất hẹp, sơng có
độ dốc lớn, chênh lệch giữa lũ và mức nước thường lớn, thời gian
duy trì lũ khơng kéo dài. Vì vậy, vùng đồng bằng này vẫn phải chấp
nhận ngập lụt hằng năm khi lũ chính vụ về. Hệ thống đê nhỏ chỉ
chống lũ sớm đầu mùa bảo vệ sản xuất và để nước tràn qua trong
mùa lũ chính vụ.
Một số lưu vực sơng đã có những hồ chứa có thể điều tiết lũ cho
hạ du như hệ thống hồ trên sông Mã, sông Cả, sông Hương, sơng
Vu Gia - Thu Bồn. Nhìn chung các hồ chứa nước trên các lưu vực
sông đều là các hồ chứa có dung tích khơng lớn, khả năng phịng
chống lũ cho hạ du hạn chế.




Đồng bằng Nam Bộ (lưu vực sơng Mê Kơng)

Lưu vực sơng Mê Kơng có diện tích lưu vực 795.000km2, trong
đó phần diện tích ở Việt Nam khoảng 71.000km2, chiếm hơn 8%
diện tích tồn lưu vực. Sơng Cửu Long (hay cịn gọi là sơng Mê
Kơng) là một trong những con sông dài nhất trên thế giới. Sông bắt
nguồn từ các dãy núi có độ cao trên 5.000m của Trung Quốc, sau đó
chảy qua 4 nước là Myanmar, Thái Lan, Lào và Campuchia trước khi
chảy vào Việt Nam.
Sông Mê Kông khi chảy xuống hạ lưu Phnôm Pênh vào Việt
Nam được chia thành hai nhánh chính là sơng Mê Kơng (sơng Tiền)
và sơng Bát Sắc (sơng Hậu) từ đó chia ra nhiều nhánh nhỏ đổ ra
Biển Đông ở 9 cửa sông: Tiểu, Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên,
Cung Hậu, Định An, Ba Thác và Trần Đề. Phù sa sông Mê Kông đã
bồi đắp tạo nên đồng bằng sông Cửu Long (đồng bằng lớn nhất cả
nước, diện tích > 40.000km2) có địa hình bằng phẳng, hầu hết có
cao độ trung bình từ 0,7 - 1,2m. Lưu lượng lớn nhất về đồng bằng
sông Cửu Long đạt khoảng 40.000m3/s, gây ngập khoảng 50% diện
tích vùng và thường xuất hiện vào các tháng 8 đến tháng 10. Thông

11


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

thường, khoảng 4 - 6 năm tại đồng bằng sơng Cửu Long có một
trận lũ lụt lớn, các năm 1961, 1966, 1978, 1984, 1991, 1994, 1996, 2000,
2001, 2002 và 2011 là những năm lũ lụt lớn. Trong đó, đã xuất hiện
3 năm lũ lớn liên tiếp là 2000, 2001 và 2002 (năm 2000 được xem là

lũ lịch sử).
Trước đây, Mê Kông là một trong những con sông trên thế giới
vẫn được chảy tự do (không có đập trên dịng chính). Từ cuối thế kỷ
XX đến nay, một số đập được xây dựng ở trên dòng chính thuộc địa
phận Trung Quốc và các phụ lưu đang được đẩy mạnh xây dựng đã
tạo ra những biến động lớn trong quy luật của dịng chảy Mê Kơng.
Lũ từ thượng nguồn đổ về làm vùng đồng bằng sông Cửu Long
ngập nước mang theo nhiều phù sa, sản vật mùa lũ và nhiều giá
trị sinh thái ngập nước đặc biệt. Do về đến Việt Nam là vùng đồng
bằng có độ dốc nhỏ (chỉ khoảng 0,025%) nên lũ trên sông Mê Kơng
khá hiền hịa, biên độ và cường suất lũ nhỏ và có thể coi là ưu đãi
của thiên nhiên cho vùng.
Những đặc điểm tự nhiên này khiến việc phòng chống lũ của
khu vực có tính đặc trưng là “sống chung với lũ”. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, trước thực tế kinh tế - xã hội ngày càng phát
triển, yêu cầu bảo vệ cho các khu vực đô thị, công nghiệp và các khu
nơng nghiệp có giá trị kinh tế cao gia tăng, các hệ thống đê bao, bờ
bao đã được xây dựng, hình thành với quy mơ ngày càng tăng, một
phần đắp mới, một phần từ chính hệ thống kênh đã tồn tại từ trước
đó rất lâu.

12


PHẦN THỨ NHẤT

CÔNG CUỘC ĐẮP ĐÊ TRỊ THỦY
TỪ THỜI DỰNG NƯỚC
ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX



Chương 1
SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÊ Ở VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ VII TCN ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVIII
:

...

I. Q TRÌNH HÌNH THÀNH ĐÊ, PHỊNG CHỐNG LŨ LỤT TỪ THỜI KỲ DỰNG NƯỚC
ĐẾN THẾ KỶ X

1. Thời kỳ dựng nước
Việt Nam nằm ở một trong những khu vực được coi là trung tâm
khai sinh nông nghiệp sớm với nền văn minh lúa nước. Dân tộc Việt
Nam đã được hình thành và bước đầu phát triển trên vùng châu thổ
sơng Hồng và sơng Mã phía Bắc của Việt Nam ngày nay. Điều kiện
tự nhiên có những thuận lợi cho sinh sống, sản xuất, song cũng có
nhiều khó khăn, hằng năm thường xảy ra giông bão, mưa nhiều, lũ
lụt, hạn hán kéo dài.
Cư dân người Việt cổ từ các vùng đồi núi xuống vùng đồng
bằng, từ đời này sang đời khác, bằng sức lao động cần cù, sáng tạo đã
khai hoá đất để trồng trọt, đắp đê chống lũ lụt để bảo vệ cuộc sống,
phát triển sản xuất. Đến thời Đông Sơn, trên nền tảng phát triển kinh
tế - xã hội, trước những yêu cầu của quản lý xã hội, chống xâm lăng
và trị thủy, Nhà nước Văn Lang - Nhà nước đầu tiên - đã ra đời vào
khoảng thế kỷ thứ VII trước Công nguyên. Đi cùng với Nhà nước
đầu tiên của lịch sử Việt Nam là một nền kinh tế phong phú, một nền
văn hóa cao được biết đến với tên gọi là văn hóa Đơng Sơn (một giai
đoạn của nền văn minh sông Hồng).
Thời kỳ Văn Lang, ngồi rìu đồng được sử dụng để khai phá

đất đai, lưỡi dao gặt (nhíp) đồng dùng để thu hoạch, đã tìm thấy


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

hàng loạt công cụ làm đất như lưỡi cày, cuốc, xẻng, thuổng (mai)
bằng đồng và một số lưỡi cuốc, thuổng (mai), rìu, liềm bằng sắt. Với
những cơng cụ kim khí, cư dân Đơng Sơn khai khẩn, mở rộng địa
bàn cư trú, đẩy mạnh công cuộc chinh phục vùng Đồng bằng Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ. Các di tích văn hố Đơng Sơn phân bố trên địa
bàn rất rộng, bao gồm cả miền núi, trung du và đồng bằng ven biển.
Từ lưu vực sông Hồng, lan rộng dần lên đến tận miền núi Lào Cai
và xuống hầu khắp vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Từ lưu
vực sông Mã, sông Lam, địa bàn cư trú của người Việt cũng toả rộng
trên cả vùng trung du và đồng bằng cho đến vùng ven biển.
Kết quả khảo cổ học chứng minh rằng, trên vùng đất Văn Lang
- Âu Lạc có một nền nơng nghiệp tiền sử khá vững chắc. Các di chỉ
Xóm Trại (Hịa Bình), Hạ Long (Quảng Ninh), Quỳnh Văn (Nghệ
An), Đa Bút (Thanh Hóa), Tràng Kênh (Hải Phịng), Phùng Ngun,
Đồng Đậu (Phú Thọ),… đã tìm thấy nhiều hiện vật sản phẩm nông
nghiệp, đặc biệt là lúa nước, gồm: hạt thóc, vỏ trấu, phấn hoa của
loại lúa nước Oryza (Tràng Kênh), di chỉ bờ ruộng bao quanh bờ
ruộng mặt phẳng (Phùng Nguyên),…
Một số thư tịch cổ Trung Hoa cũng có ghi chép về đê sơng của
người Việt, như sách Giao Châu ngoại vực kí cho biết người Việt đã
biết canh tác trồng cấy lúa nước, đắp đê sơng Hồng, sơng Mã phịng,
chống lũ lụt mùa nước lớn và đề phịng chống hạn, phát triển sản
xuất nơng nghiệp… Những con đê phòng chống lũ lụt được xây
dựng trước khi các triều đại phương Bắc xâm lược và đô hộ Việt
Nam. Sách Giao Châu kí từ những năm đầu cơng ngun có ghi về

con đê chống lũ lụt của người Việt ở trên bờ sông Đà: “Huyện (kinh
đô) Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa, Đông Anh - TG chú) đã có đê
phịng nước sơng Long Mơn (sơng Cà Lồ)”1. Hán thư quận huyện
chí chép: “Phía Tây Bắc huyện Long Biên, quận Giao Chỉ đã có đê
phịng nước sơng”2. Ở Cổ Loa đã phát hiện được dấu tích của một
Giao Châu ký, Dẫn theo: Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1971, tr.232.

1

Nguyễn Văn Siêu, Dẫn theo: Điều trần về đê điều Việt Nam năm Tự Đức thứ 5 (1852).

2

15


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

đoạn đê cổ, có trước thời Bắc thuộc. Vào cuối thời Hùng Vương, cư
dân vùng đồng bằng sơng Hồng có thể đã biết đắp đê, nhưng chắc
chỉ mới đắp được những đoạn đê quai để khai phá đất đai và chống
ngập lụt cho từng vùng.
Sau khi nước Âu Lạc thất bại trước Nam Việt của Triệu Đà, nhiều
người Hán ở phương Bắc di cư đến Âu Lạc. Các thư tịch của Trung
Hoa chép, khi họ đặt chân đến vùng đất này, họ nhìn thấy những
đoạn đê khoanh vùng, những cơng trình đắp bằng đất đồ sộ như
thành Cổ Loa, những sông đào quanh Cổ Loa để nối giao thơng thủy
với kênh rạch bên ngồi. Sách Di vật chí của Dương Phủ thời Đơng
Hán và lời chú của Duy Ích Kí chép: “lúa Giao Chỉ chín hai mùa mỗi
năm”, “ruộng Lạc theo nước triều lên xuống mà làm”.


2. Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
Năm 179 TCN, An Dương Vương thất bại trước cuộc tấn công
của Triệu Đà. Nước Âu Lạc bị sáp nhập vào Nam Việt, trở thành hai
quận là Giao Chỉ và Cửu Chân của nước Nam Việt.
Các sử liệu của người Trung Hoa cho biết, người Lạc Việt đã
phát triển cả về diện tích canh tác lẫn giống cây trồng, nhất là lúa
nước, đã sử dụng công cụ bằng sắt, dùng trâu bị làm sức kéo,…
Từ đầu cơng ngun trở về sau, Âu Lạc buớc vào thời đại đồ
sắt, những công cụ và vũ khí chủ yếu đều được chế tạo bằng sắt.
Cơng việc đắp đê, khơi đào sơng ngịi được thuận lợi hơn trước.
Sách Nam Việt chí cho hay khi đi qua miền Tạc Khẩu (Ninh
Bình), Mã Viện đã cho chất đá làm đê để ngăn sóng biển. Các
sách Hậu Hán thư, Thuỷ kinh chú còn chép việc Mã Viện cho
“sửa sang kênh ngịi” hay cho “thơng đường tưới nước để làm
lợi cho dân” 1.
Sử Trung Quốc một mực quy tất cả những thành tựu phát triển
1

Lịch Đạo Nguyên: Thuỷ kinh chú, Q.37, Sđd, tr.695. Sách chép rõ là theo sách

Thái Khang địa ký đời Tấn thì huyện Bình Đạo là do Mã Viện đặt ra. Mã Viện
cho thông đường tưới nước để làm lợi cho dân.

16


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

khoa học kĩ thuật nông nghiệp của người Việt thời kỳ này cho quan

lại người Hán thống trị. Chẳng hạn như Nhâm Diên có cơng “dạy
dân đúc đồ điền khí”(?), “dạy dân cày bừa”(?), trong khi người Việt
đã biết từ trước khi người Hán đến rất lâu. Mã Viện khi cịn đang
dồn tồn bộ sức lực chống chọi với cuộc kháng chiến của Trưng
Vương mà vẫn còn để tâm giúp (?) những người dân (những người
mà Mã Viện đang tìm mọi cách tiêu diệt) đã biết đắp đê, mở mang
hệ thống tưới tiêu, phát triển sản xuất. Điều này chỉ cho phép hiểu
ngược lại rằng chính Nhâm Diên, Mã Viện và cả những người chép
sử nhà Hán có liên quan đến khu vực Giao Chỉ, Cửu Chân sau này
nữa cũng hết sức ngạc nhiên trước những thành tựu khoa học kĩ
thuật nông nghiệp và trị thủy của người Việt nhiều mặt không thua
kém người Trung Hoa khi đó.
Trong q trình đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau
khi Hai Bà tử trận, tại Cửu Chân, từ Ninh Bình trở vào cịn một lực
lượng quan trọng của Hai Bà do Đô Lương chỉ huy chiếm giữ. Mã
Viện được lệnh phải đem 2.000 lâu thuyền1 tiến vào Cửu Chân. Tuy
nhiên, với một lực lượng lớn như vậy thì Mã Viện khơng thể từ cửa
Hát Giang tiến vào sơng Đáy. Mã Viện chỉ có thể tiến theo sông
Hồng qua Phủ Lý mà vào sông Đáy. Mã Viện định theo cửa Thần
Phù, vòng ra biển để vào cửa sông Mã tiến lên đánh Đô Dương. Tuy
nhiên, lúc này, cửa Thần Phù sóng cao ngất trời. Giao Châu kí và Nam
Việt chí chép: Mã Viện muốn tránh đường biển nên đào qua dãy núi
đá vơi ngăn cách Ninh Bình - Thanh Hóa để vào đánh nghĩa quân
ở Cửu Chân.
Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, tuy có nhiều cản trở khó
khăn nhưng việc đắp đê phịng chống lụt vẫn tiếp tục thực hiện. Có rất
ít tài liệu ghi chép về xây dựng đê ở Việt Nam thời kỳ này. Tuy nhiên,
một số thư tịch cổ của Trung Hoa cũng có ghi chép về tình hình thiên
tai, việc đắp đê chống lụt ở Việt Nam đương thời. Sách Hậu Hán thư,
1


Lâu thuyền là loại thuyền chiến xưa, tầng đáy bố trí hàng chục đến hàng trăm
tay chèo, tầng trên chở quan binh, lính chiến.

17


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

Đơng Quan Hán chí ghi chép lại rằng, Mã Viện chứng kiến cảnh lũ lụt:
“Lúc ta (tức Mã Viện) đang ở miền Lãng Bạc và Tây Lý, quân giặc (tức
nghĩa quân Hai Bà Trưng) chưa diệt được, dưới thì nước lụt, trên thì
mây mù, ngẩng đầu lên thấy chim diều hâu, đang bay…”1.
Sách Nam Việt chí ghi chép lại việc Mã Viện cho “chất đá thành
đê để ngăn sóng biển” ở vùng Tạc Khẩu (Tam Điệp, Ninh Bình)2.
Sách Hậu Hán thư ghi lại việc Mã Viện cho “sửa sang kênh ngòi”3.
Thời thuộc Đường, nhà Đường cử Cao Biền sang làm Tiết độ
sứ. Sử chép, Cao Biền bắt nhân dân Việt đắp lại thành Tống Bình
(Đại La - Hà Nội), chu vi dài 1.982 trượng 5 thước (6.608m)4, cao 1
trượng 6 thước (5,3m), chân rộng 2 trượng 5 thước (9,6m), tường cao
5 thước 5 tấc (1,5m). Sử cũng chép rằng: “Cao Biền cho đào sơng,
khơi ngịi, mở đường lộ, lập quán trọ cho khách đi đường trên khắp
An Nam. Nhiều đoạn đê, nhất là đoạn đê trên vùng gần Hà Nội
hiện nay được đắp để chống lụt lội”.
Sách Đường thư ghi lại sự kiện: Cao Biền bắt nhân dân Việt đắp
đê quanh thành Đại La vào thế kỷ IX, đê dài 2.125 trượng (7.083m),
cao 1 trượng 5 thước (5m), chân đê rộng 2 trượng (6,7m), đến nay
vẫn cịn vết tích.
Do hậu quả của hàng ngàn năm Bắc thuộc, rất khó để tìm được
1


Hậu Hán thư 954-8a, Đơng Quan Hán chí 912-4a.

2

Sử kí q.8, Dẫn theo: Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1971, tr.232.

3

Dẫn theo: Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Sđd, 1971, tr.232.

4

Giá trị chuyển đổi của các đơn vị đo lường cổ (trượng, thước) được lấy theo
giá trị trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập IV (từ T-Z), Nxb Từ điển Bách
khoa, Hà Nội, 2005 (theo Luật Đo lường, Nghị định số 86/2012/NĐ-CP ngày 19
tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Đo lường; tham khảo Nghị định số 134/2007/NĐ-CP ngày 15
tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định về đơn vị đo lường chính thức). Giá
trị độ dài và kích thước mặt cắt đê trong tư liệu lịch sử trích dẫn khơng hồn
tồn thống nhất về hệ đo lường nhưng để tiện theo dõi và so sánh, nhóm biên
soạn cơ bản sử dụng chung thang sau để chuyển đổi: 01 trượng = 10 thước; 01
thước ≈ 0,32m.

18


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

nguồn sử liệu cho biết người Việt cổ đã xây dựng đê điều từ bao giờ.

Hiện nay, chúng ta chỉ có thể căn cứ vào một số chi tiết được nhắc
đến trong các bộ sách cổ của người Trung Hoa để có được hiểu biết
sơ lược về vấn đề này.

II. XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐÊ ĐIỀU TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XVIII

1. Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (thế kỷ X)
Từ khi lũ lụt được ghi vào quốc sử thì cơng cuộc đắp đê, chống
lũ lụt của dân tộc Việt Nam cũng được ghi vào quốc sử. Trong những
triều đại đầu của nền tự chủ Ngô - Đinh - Tiền Lê, ngắn ngủi, đầy
biến động, họa ngoại xâm và các thế lực cát cứ nổi lên. Nhà nước
phong kiến chưa đủ sức để lo nhiều đến việc phòng chống lũ lụt và
cũng chưa có tổ chức biên soạn quốc sử nên nhiều sự kiện thuộc các
triều đại hoặc việc đắp đê đã không được ghi lại.
Năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán
trên sông Bạch Đằng đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, mở ra một thời
kỳ mới trong lịch sử dân tộc. Thời kỳ này chiến tranh loạn lạc, cơng
tác đắp đê, trị thủy chưa có điều kiện phát triển.
Thời Tiền Lê, nhà nước chăm lo tới việc đào kênh mương,
sơng ngịi tạo thuận lợi cho giao thơng, vừa để tưới tiêu nước
cho đồng ruộng. Chẳng hạn như việc cho đào kênh từ núi Đồng
Cổ (Yên Định, Thanh Hóa) đến sơng Bà Hịa (Tĩnh Gia, Thanh
Hóa) vào năm Quý Mùi (983), vét sông Đa Cái (Hưng Nguyên,
Nghệ An) năm Quý Mão (1003), đào các kênh ở Châu Ái năm
Kỷ Dậu (1009).
Có thể thấy, đất nước vừa mới giành được độc lập, việc triều
chính chưa ổn định, phải đối phó với các thế lực phong kiến trong
nước nổi lên cát cứ tranh giành quyền lực; đồng thời phải chống
quân Tống. Các vương triều Đinh – Tiền Lê chưa có điều kiện tập
trung giải quyết vấn đề đê sông. Nhưng chắc chắn là nhân dân các

làng xã, các bộ tộc vẫn tiến hành công việc đắp đê, khoanh vùng để
tự bảo vệ.

19


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

2. Thời Lý (thế kỷ XI - XIII)
Năm Kỷ Dậu (1009), sau khi Lê Long Đĩnh mất, quan lại trong
triều, gồm các sư tăng và đại thần đứng đầu là sư Vạn Hạnh tôn
Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên làm vua, mở đầu cho vương
triều nhà Lý (1010 - 1225).
Vừa mới lên ngôi, Lý Công Uẩn đã cho dời đô ra Thăng Long
mở đầu sự nghiệp xây dựng đất nước với quy mơ lớn, đặt nền tảng
vững chắc và tồn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc
gia độc lập.
Thăng Long tuy “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuốn hổ
ngồi, chính giữa nam bắc đơng tây, tiện nghi núi sông sau trước...”1
nhưng địa thế Thăng Long cũng không cao so với mực nước sông
Hồng mùa lũ, nhất là đối với vùng ngoại thành, phố xá cư dân.
Nhiều năm lũ lụt uy hiếp đến kinh thành, song chắc hẳn nhiều năm
bình thường vì cũng đã có đê ngăn lụt, chiếu dời đơ mới có đoạn
viết: “vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng
sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi
tốt phồn thịnh”2. Việc dời đô về vùng đất như vậy một mặt khẳng
định được khả năng tránh lũ lụt ở một chừng mực, do thế đất cao
mà kinh thành có thể an tồn. Nhưng mặt khác cũng đặt ra một mối
quan tâm cho triều đình, nhất là những năm nước lên, lũ lụt liên
tiếp xảy ra.

Bắt đầu từ triều Lý đã có những ghi chép về lũ lụt. Ngay từ
các triều vua đầu của nhà Lý, sử cũ đã chép về các hiện tượng
thiên tai như: năm Đinh Mão (1027), hạn; năm Đinh Sửu (1037),
lụt to; năm Quý Mùi (1043), đói lớn; năm Canh Dần (1050), tháng
sáu lụt lớn; năm Quý Tỵ (1053), từ tháng 7 đến tháng 8, lụt lớn;
năm Canh Tuất (1070), hạn; năm Tân Hợi (1071), từ mùa xuân
đến mùa hạ không mưa; năm Đinh Dậu (1117), không mưa;
năm Canh Thân (1120), lụt đến tận cửa Đại Hưng; năm Tân Sửu
1

Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử kí tồn thư, Tập 1, Sđd, tr.241.

2

Ngơ Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử kí toàn thư, Tập 1, Sđd, tr.241.

20


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

(1121), hoàng trùng; năm Giáp Thìn (1124), hạn, cầu mưa; năm
Bính Dần (1126), hạn từ tháng 6, sang tháng 7 càng hạn nặng, sau
lại mưa dầm phải cầu tạnh,…
Thời Lý, tình hình lũ lụt xảy ra khá thường xuyên. Thống kê từ
sử cũ cho biết, trong suốt thời kỳ tồn tại của nhà Lý đã xảy ra tổng
cộng 8 lần nước lớn. Cụ thể như sau:
Bảng 1. Tình hình lũ lụt thời Lý (1009 - 1225)1
Năm


Sự kiện

1050

Mùa hạ, tháng 6, nước to.

1053

Mùa thu, từ tháng 7 đến tháng 8, nước to.

1102

Tháng 2, nước to. Sai Hoàng hậu và các phi tần trai giới lập đàn chay để cầu tự.

1121

Mùa hạ, tháng 5, nước to, tràn vào đến bên ngoài cửa Đại Hưng.

1155

Mùa thu, tháng 8, nước to.

1164

Mùa thu, tháng 7, nước to quá mức thường, lúa bị ngập hết.

1180

Mùa thu, tháng 8, nước to.


1199

Mùa thu, tháng 7, nước to, lúa mạ ngập hết.

Mùa thu năm Đinh Tỵ (1077), triều đình cho đắp đê ở sơng
Như Nguyệt (sông Cầu) dài 67.380 bộ (khoảng 30km)2.
Năm Quý Mùi (1103), “vua xuống chiếu cho trong ngoài kinh
thành đều đắp đê”3.
Năm Mậu Tý (1108), tháng 2, triều đình tổ chức đắp đê Cơ Xá4.
Đê Cơ Xá là một cơng trình lớn kéo dài từ Nhật Tân - Yên Phụ đến
tận n Dun, nhằm bảo vệ tồn kinh đơ Thăng Long, bảo vệ
cả kinh thành lẫn phố chợ. Đoạn đê sông ở phường Cơ Xá, nay ở
khoảng gần cầu Long Biên, chạy dọc theo ven sông Hồng từ Yên
Phụ đến Lương Yên, Hà Nội - nay vẫn còn tên bãi Cơ Xá.
1

Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử kí tồn thư, Tập 1, Sđd.

2

Việt sử lược, Bản dịch, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960, tr.112.

3

Việt sử lược, Sđd, tr.121.

4

Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử kí toàn thư, Tập 1, Sđd, tr.285.


21


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

Ngoài Thăng Long, đê điều các vùng khác cũng được người
dân địa phương tự đắp. Theo thần tích địa phương thì đê sơng Chu
(Thanh Hố) được đắp vào thời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127).
Thần tích địa phương cịn cho biết năm Tân Tỵ (1101), Tơ Hiến
Thành đã về làng Cổ Am (Hải Phịng) tổ chức đắp đê ngăn nước
mặn. Hiện nay con đê này vẫn cịn và cách xa biển 5km.
Có thể thấy, việc sửa, đắp đê dưới triều Lý được quan tâm phát
triển, nên đã có hiệu quả bước đầu trong bảo vệ sản xuất và đời
sống. Nhưng, những con đê thời Lý có quy mơ lớn do nhà nước tổ
chức xây dựng mới chỉ có đê Như Nguyệt, Cơ Xá, cịn phần lớn đê
thời này chỉ có quy mơ bảo vệ từng vùng hương ấp tự tổ chức đắp
đê. Tuy nhiên, lại thấy sách sử chép trong cuộc hỗn chiến giành
chính quyền giữa các thế lực cát cứ, việc phá đê được coi như là một
phương tiện tác chiến.
Việt sử lược chép: năm Tân Mùi (1211), Trần Tự Khánh sai tướng
đất Khối (Hưng n) đi đánh Hồng Châu (Hải Dương, Bình Giang,
Ninh Giang), viên tướng ấy bị bắt, Tự Khánh cho phá hết đê cho
nước vào thôn ấy để trả thù.
Năm Mậu Dần (1218), Trần Thừa lĩnh binh đi đánh Nguyễn
Nộn ở Bắc Giang đã sai phá đê cho nước tràn vào các hương, ấp, rồi
theo thế nước mà tiến đánh.
Cuối thời Lý, triều đình rối ren, tranh giành quyền lực, không
chăm lo việc đê sông, thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra, mất mùa đói
kém. Nơng dân nổi dậy khắp nơi, nhà Lý suy vong, nhà Trần được
thành lập.


3. Thời Trần - Hồ (thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XV)
Nhà Trần được thành lập trong hoàn cảnh thiên tai, loạn lạc.
Theo thống kê, trong suốt thời kỳ nhà Trần - Hồ, đã xảy ra 26 lần lũ
lụt, nước to, cụ thể như sau:

22


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM
Bảng 2. Tình hình lũ lụt thời Trần (1226 - 1400)1
Năm
1236
1238
1243
1245
1255
1265
1268
1269
1270
1274
1277
1307
1310
1319
1320
1336
1338
1348

1351
1360
1382
1393
1407

Sự kiện
Mùa hạ, tháng 6, nước to, vỡ tràn vào cung Lệ Thiên.
Mùa thu, tháng 7, nước to, vỡ tràn vào cung Thưởng Xuân
Mùa thu, tháng 8, nước to, vỡ thành Đại La
Mùa thu, tháng 8, nước to, vỡ đê Thanh Đàm2.
Mùa thu, tháng 8, nước to, vua ngự chơi Hồ Tây.
Mùa thu, tháng 7, nước to, vỡ ở phường Cơ Xá. Người và súc vật bị chết đuối nhiều. Đại xá.
Mùa thu, tháng 7, nước to.
Tháng 8, nước to.
Mùa thu, tháng 7, nước to. Các đường phố ở kinh đô phần nhiều phải đi lại bằng thuyền bè.
Mùa thu, tháng 7, nước to.
Tháng 5, nước to. Đất nứt sâu 7 trượng (chưa rõ chỗ nào), súc vật, tôm cá chết nhiều.
Mùa thu, tháng 9, nước to, vỡ đê Đam Đam.
Năm này nước to, đói.
Nước to.
Mùa hạ, tháng 6, nước to.
Mùa thu, tháng 7, nước to.
Mùa thu, tháng 8, nước to.
Mùa thu, tháng 7, nước to.
Mùa thu, tháng 7, nước to.
Mùa thu, tháng 7, nước to.
Mùa thu, tháng 7, nước to. Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu cho quân dân Nghệ An,
Diễn Châu đào các kênh ở Hải Tây.
Tháng 8, động đất, nước to.

Mùa thu, tháng 7, gió lớn nước to.

Bên cạnh đó cũng nhiều năm mà Đại Việt sử kí tồn thư và Khâm
định Việt sử thông giám cương mục cũng chép những năm có nạn thủy
tai xảy ra như các năm: 1269, 1274, 1277, 1307, 1320, 1333, 1336, 1338,
1348, 1351, 1355, 1360, 1378, 1382, 1392,...3
1
2

2

Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử kí tồn thư, Tập 2, Sđd.
Đê Thanh Đàm: nay là đê Thanh Trì.

Xin xem thêm: Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử kí tồn thư, Tập 2, Sđd;

3

Quốc sử quán triềuNguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Sđd.

23


LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU VIỆT NAM

Cuối triều Lý, đê điều bị tàn phá hư hỏng nhiều, sản xuất nơng
nghiệp đình đốn, mất mùa đói kém. Trong khi đó, cư dân Đại Việt
ngày càng đơng lên gấp bội, địi hỏi phải có nhiều đất canh tác và
cư trú. Trước tình hình đó, nhà Trần phải chú trọng xây dựng, phát
triển đê sơng vững chắc hơn trước để phịng chống lũ lụt, bảo vệ

sản xuất và đời sống; nhất là phải chú trọng chăm lo phát triển sản
xuất nông nghiệp để ổn định cải thiện đời sống người dân, đảm bảo
các nguồn thu của nhà nước.
Trong phát triển nông nghiệp, nhà Trần cũng khuyến khích
quý tộc và nhân dân đẩy mạnh khai khẩn đất hoang hóa để gia tăng
diện tích đất canh tác và đất cư trú. Nhà Trần cho khai khẩn, lập
nhiều đồn điền. Lực lượng khai khẩn đất đai lập đồn điền gồm binh
lính và tù phạm. Các lộ đều đặt các chức quan Chánh, phó sứ quản
lý tổ chức lập đồn điền và trông coi, đôn đốc việc khai hoang của tư
nhân. Nhà nước chủ trương cho các vương hầu quý tộc khai khẩn
lập các điền trang thái ấp. Các vương hầu quý tộc nhà Trần đều tích
cực hưởng ứng tuyển mộ dân nghèo, nô tỳ khai khẩn đất hoang lập
nhiều điền trang thái ấp ở vùng ven biển. Diện tích đất canh tác và
cư trú gia tăng, cư dân sinh tụ, lập nghiệp đông đúc nhất là ở vùng
Đồng bằng Bắc Bộ, khiến “làng mạc nhiều như sao sa, như quân cờ
bày, chứ không giống ngày trước cứ tìm chỗ cao mà ở”.
Muốn thực hiện khai hoang, phục hóa, trước hết nhà nước và
người dân phải đẩy mạnh việc xây dựng các tuyến đê và đào sơng
ngịi đáp ứng yêu cầu nước cho khai khẩn đất, cho canh tác và đời
sống. Do dân di cư tập trung cư trú ngày càng đông đúc ở những
vùng trũng thấp, như vùng đồng bằng, vùng hạ lưu các dịng sơng
và ven biển. Vì vậy, hằng năm, vào mùa bão lũ, thường xảy ra tình
trạng lụt, úng ngập, khiến mùa màng thất bát. Mặt khác, những con
đê xây dựng thời Lý đã dần hư hỏng khơng cịn đủ sức chống giữ
được với mực nước lũ ngày càng cao, dòng chảy xiết. Ngay cả đê Cơ
Xá cũng bị phá vỡ, nước lụt tràn ngập cả Kinh thành. Thời vua Trần
Thái Tơng, có lần nước lụt tràn ngập cả cung điện, như: Năm Mậu
Tuất (1238), “mùa thu, tháng 7, nước to, vỡ tràn vào cung Thưởng

24



×