ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG THỊ SƢƠNG
PHẬT GIÁO ĐÀ NẴNG
GIAI ĐOẠN 1997 – 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Đà Nẵng - Năm 2021
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG THỊ SƢƠNG
PHẬT GIÁO ĐÀ NẴNG
GIAI ĐOẠN 1997 – 2017
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8229013
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY PHƢƠNG
Đà Nẵng - Năm 2021
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...........................................................................................................i
TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ .......................................................... ii
THE INFORMATION OF MASTER'S THESIS .................................................... iii
MỤC LỤC .....................................................................................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................................ vi
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................6
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................6
6. Đóng góp của đề tài ............................................................................................6
7. Bố cục luận văn...................................................................................................7
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀ NẴNG VÀ PHẬT GIÁO ĐÀ NẴNG TRƢỚC
NĂM 1997 .......................................................................................................................8
1.1. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng ............................................................................8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.........................................................................................8
1.1.2. Sơ lƣợc về cƣ dân và văn hóa Đà Nẵng ......................................................12
1.2. Khái quát về Phật giáo Đà Nẵng trƣớc năm 1997 ..................................................16
CHƢƠNG 2. TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO ĐÀ NẴNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM
2017 ............................................................................................................................... 22
2.1. Tình hình Đà Nẵng sau khi chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ........................22
2.2. Chính sách của Đảng và chính quyền thành phố đối với Phật giáo Đà Nẵng ........26
2.3. Tình hình Phật giáo Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2017 ....................................31
2.3.1. Hệ thống tổ chức .........................................................................................31
2.3.2. Cơ sở và hoạt động thờ tự ...........................................................................40
2.3.3. Đội ngũ tăng ni ...........................................................................................48
2.3.4 Lực lƣợng Phật tử ......................................................................................52
2.3.5. Nghi lễ Phật giáo.........................................................................................54
2.3.6. Hoạt động từ thiện xã hội ...........................................................................58
2.3.7. Hoạt động hội, đoàn ....................................................................................61
CHƢƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM, ẢNH HƢỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐÀ NẴNG GIAI
ĐOẠN 1997-2017 .........................................................................................................65
3.1. Đặc điểm của Phật giáo Đà Nẵng 1997-2017 ........................................................65
v
3.2. Ảnh hƣởng Phật giáo Đà Nẵng (1997-2017)..........................................................69
3.2.1. Ảnh hƣởng về mặt tƣ tƣởng, đạo đức .........................................................69
3.2.2. Ảnh hƣởng đến lễ nghi, cúng bái ................................................................ 71
3.2.3. Ảnh hƣởng đến đời sống sinh hoạt của ngƣời dân .....................................73
3.2.4. Ảnh hƣởng đến thói quen ăn uống của ngƣời dân ......................................74
3.2.5. Ảnh hƣởng tích cực của Phật giáo đến kinh tế địa phƣơng ........................74
3.2.6. Phật giáo góp phần tích cực vào cơng tác đối ngoại nhân dân ...................76
KẾT LUẬN ..................................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................79
PHỤ LỤC ................................................................................................................. PL1
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
2.5.
2.6
2.7.
2.8.
2.9.
Tên bảng
Số lƣợng các vị trong Ban Trị sự Thành hội thành phố Đà Nẵng
qua các nhiệm kì (1997-2017)
Số lƣợng chùa, tịnh thất, tịnh xá, Niệm Phật đƣờng trên địa bàn
TP. Đà Nẵng từ năm 1997-2017
Kinh phí xây dựng, trùng tu các cơ sở thờ tự trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng (1997-2012)
Số lƣợng Tăng, Ni theo các hệ phái trên địa bàn TP. Đà Nẵng
(1997-2017)
Số lƣợng thành phần Tăng, Ni trên địa bàn TP. Đà Nẵng (19972017)
Số lƣợng đơn vị đạo tràng và các đạo hữu Phật tử trên địa bàn Đà
Nẵng (2007-2017)
Số lƣợng Huynh trƣởng và đồn sinh trong Gia đình Phật tử trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng (2002-2017)
Các dịp Lễ lớn của Phật giáo
Số tiền từ thiện xã hội của Thành hội Đà Nẵng (1997-2017)
Trang
32
40
43
48
50
53
53
56
58
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn hai ngàn năm hoằng pháp đạo sinh trên lãnh thổ Việt Nam, Phật giáo
đã đồng hành cùng dân tộc trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử. Xuyên suốt
tiến trình đó, Phật giáo ln khăng khít, keo sơn cùng vận mệnh quốc gia, dân tộc.
Thời kì nào đất nƣớc hịa bình, phồn vinh thì Phật giáo phát triển, đất nƣớc nơ lệ, suy
yếu thì Phật giáo cũng suy tàn. Hịa nhập, thích ứng với văn hóa Việt, gần gũi, thân
thƣơng với dân tộc. Với tinh thần từ bi hỷ xả, khoan dung, độ lƣợng, hịa bình, hịa
hợp, hƣớng thiện, giải thốt con ngƣời khỏi đau khổ, giáo lí đạo Phật đã thấm nhuần
trong nếp sống, nếp nghĩ, tƣ tƣởng của đại đa số ngƣời Việt Nam, ảnh hƣởng sâu rộng
đến đời sống của dân tộc Việt.
Tại Đà Nẵng, từ những ngày đầu tiên khi Tiên chúa Nguyễn Hoàng chọn nơi
đây để tạo dựng cơ nghiệp, xây dựng vùng đất này thì đạo Phật đã dần khẳng định vị
trí trong đời sống tâm linh của ngƣời dân nơi đây. Ở Ngũ Hành Sơn, một hệ thống các
ngôi chùa dày đặc đƣợc xây dựng, hầu nhƣ ngọn núi nào, hang động nào cũng dựng
chùa, đặt miếu để thờ Phật hoặc những vật linh khí của nhà Phật. Ở núi Thủy Sơn
đã có bốn chùa và hàng chục hang động lớn nhỏ. Trải qua q trình phát triển, hiện
nay, Phật giáo đã có ảnh hƣởng lớn đến ngƣời dân Đà Nẵng, không chỉ trong đời
sống tín ngƣỡng, tơn giáo, phong tục tập qn của ngƣời dân mà cả trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Đây là vấn đề cần đƣợc nhận thức, lý giải, đánh giá một
cách khách quan dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn.
Là một trong những tơn giáo có sự phát triển khá nhanh ở Việt Nam nên đạo Phật
nhận đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học dƣới nhiều góc độ khác nhau
từ quá trình hình thành, phát triển đến đội ngũ chức sắc, tín đồ, hệ thống tổ chức, sinh
hoạt tôn giáo và những tác động kinh tế - xã hội. Tuy vậy, cho đến nay, chƣa có cơng
trình khoa học nào nghiên cứu một cách tồn diện, có hệ thống về quá trình phát triển
đạo Phật đối với Đà Nẵng, nhất là trong 4 nhiệm kì đầu của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam tại Đà Nẵng. Vì vậy, tác giả cho rằng việc nghiên cứu Phật giáo Đà Nẵng giai
đoạn 1997-2017 khơng những là việc làm mang tính khoa học mà còn chứa đựng
những ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
2
Trên phƣơng diện về mặt khoa học, luận văn góp phần tái hiện bức tranh khá đầy
đủ và toàn diện, khách quan về quá trình phát triển của Phật giáo ở Đà Nẵng kể từ khi
Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc trung ƣơng. Từ đó rút ra đặc điểm, và những
ảnh hƣởng của đạo Phật đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội nơi đây. Kết
quả nghiên cứu góp phần bổ sung vào việc nghiên cứu đạo Phật ở Việt Nam, cũng nhƣ
nghiên cứu lịch sử văn hóa – xã hội ở Đà Nẵng.
Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn sẽ bổ sung nguồn tƣ liệu góp phần phục vụ cơng
tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên các Trƣờng
Đại học Sƣ phạm – ĐHĐN và các trƣờng Đại học khác.
Đặc biệt, là một Phật tử, đƣợc giác ngộ và tiếp thu những giáo lý hƣớng thiện của
đạo Phật từ thuở niên thiếu, tác giả mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu, đóng góp một
phần cơng sức của bản thân vào lịch sử phát triển Phật giáo Đà Nẵng qua những mốc
thời gian đáng nhớ.
Với những lý do trên, tác giả mạnh dạn chọn “Phật giáo Đà Nẵng giai đoạn
1997 – 2017” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài về Phật giáo Đà Nẵng có rất nhiều đề tài và tài liệu đề cập
đến trong đó tiêu biểu nhƣ: đề tài khoa học cấp Bộ của Phân viện Đà Nẵng - Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1997- 1999, “Đặc điểm, xu hướng vận động của
Phật giáo miền Trung và một số kiến nghị về chính sách đối với Phật giáo trong giai
đoạn hiện nay”. Nội dung chính của đề tài này là trên cơ sở trình bày quá trình du
nhập và phát triển của Phật giáo ở các tỉnh miền Trung (bao gồm từ khu vực Quảng
Bình đến Khánh Hịa và 3 tỉnh phía Bắc Tây Nguyên) đã phân tích, dự báo một số xu
hƣớng vận động của nó trong thời kỳ tiếp theo. Đồng thời trên cơ sở này, đề tài cũng
đã đề xuất một số kiến nghị góp phần hồn thiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nƣớc ta đối với Phật giáo. Tuy nhiên, đề tài này không đề cập
đến sự du nhập và phát triển của Phật giáo vào riêng thành phố Đà Nẵng, khơng nêu
lên đƣợc tồn cảnh bức tranh Phật giáo trên địa bàn, các tỉnh đƣợc đề tài đề cập đến
chủ yếu là Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Trị và một số tỉnh Tây Nguyên.
Ở một phạm vi khơng gian hẹp hơn, đã có cuốn sách viết về Phật giáo ở Đà
Nẵng: Lược khảo Phật giáo sử Đà Nẵng (2013) của Thích Đức Trí. Qua lời đầu
3
sách, có thể thấy rõ thiện chí của tác giả muốn mang đến cho ngƣời đọc những
hiểu biết nhất định về Phật giáo ở thành phố bên sông Hàn.Tác giả đều đã rất nỗ
lực tìm kiếm, tập hợp tƣ liệu để viết về lịch sử nhiều ngôi chùa ở mảnh đất này;
bên cạnh đó là một số hoạt động Phật sự liên quan đến các phong trào chấn hƣng
Phật giáo nửa đầu thế kỉ XX và phong trào đấu tranh Phật giáo miền Nam thời
Việt Nam cộng hòa. Tuy nhiên cả hai đều tồn tại rất nhiều hạn chế, xét trên mọi
phƣơng diện. Bố cục rời rạc, đứt đoạn; phƣơng pháp nghiên cứu không rõ ràng;
nguồn tƣ liệu phần nhiều khơng mới lại thiếu hẳn thao tác xử lí khoa học. Đi vào
nội dung nghiên cứu, các tác giả gần nhƣ không xác định đƣợc những vấn đề cơ
bản cùng tính hệ thống của Phật giáo ở Đà Nẵng, vì vậy rơi vào lan man và đầy sự
lộn xộn, rối rắm. Rất nhiều câu hỏi đặt ra về Phật giáo ở Đà Nẵng trong q trình
lịch sử khơng đƣợc tác giả đề cập. Nhiều nhận định cịn nặng tính chủ quan, thiếu
căn cứ. Nói tóm lại, kết quả nghiên cứu cơng trình Phật giáo sử Đà Nẵng gần nhƣ
khơng mang lại điểm mới đáng kể nào về học thuật.
Tiếp đến, với tƣ cách là một Huynh trƣởng Gia đình Phật tử, có pháp danh
Nguyên Lam Chân Tuệ Định, Cƣ sỹ La Thành Tỵ cũng đã có tác phẩm Lược sử
Phật giáo Đà Nẵng, đƣợc viết vào năm 2008 do nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội
phát hành. Tuy nhiên, tác phẩm này dừng lại ở tính chất tập hợp các dữ liệu do
các chùa cơ sở cung cấp, góc độ tiếp cận nghiên cứu có thiên về hƣớng ca ngợi,
tuyên truyền cho các giá trị văn hóa phật giáo của Đà Nẵng, chƣa có sự phân tích,
đánh giá thực trạng hoạt động cũng nhƣ chỉ ra các xu hƣớng phát triển của Phật
giáo trên địa bàn thành phố.
Liên quan đến lĩnh vực này cịn có đề tài khoa học cấp Thành phố, thực hiện vào
năm 2008 của Thành Đoàn Đà Nẵng là: “Giải pháp nhằm tăng cường cơng tác đồn
kết, tập hợp thanh thiếu niên Phật giáo của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam ở thành phố Đà Nẵng hiện nay”, thơng qua việc
khái qt tiến trình hoạt động và ảnh hƣởng của tổ chức Gia đình phật tử Đà Nẵng, đề
tài nêu lên tính tất yếu khách quan của cơng tác đồn kết, tập hợp tín đồ Phật giáo ở
thành phố Đà Nẵng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả cơng
tác đồn kết, tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo ở thành phố Đà Nẵng. Song,
đây là một mảng nghiên cứu nhỏ, chủ yếu chú trọng đến các hoạt động của tổ chức Gia
4
đình phật tử thuộc Phật giáo Đà Nẵng.
Trong tác phẩm “Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng” của Tỉnh uỷ - Uỷ ban nhân
dân tỉnh Quảng Nam - Thành ủy - Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhà xuất
bản Khoa học- xã hội, Hà Nội, năm 2010, các tác giả đã dành 13 trang sách để
trình bày về Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, song chủ yếu là đề cập một cách
chung chung lịch sử du nhập của Phật giáo vào địa bàn này trong giai đoạn đầu từ
khoảng thế kỷ 16 đến năm 1975. Thực trạng Phật giáo tại thành phố Đà Nẵng hình
thành và phát triển nhƣ thế nào, xu hƣớng vận động ra sao chƣa đƣợc cơng trình
này nhắc đến cụ thể.
Liên quan đến đề tài Phật giáo Đà Nẵng có hai luận án: Luận án của Tiến sĩ bảo
vệ năm 2016 của tác giả Nguyễn Duy Phƣơng với đề tài “ Phật giáo Việt Nam thời
Minh Mạng ( 1820 – 1840). Tác giả đã đề cập đến Phật giáo thời chúa Nguyễn và
Triều Nguyễn với trung tâm là Phật giáo Ngũ Hành Sơn.
Luận án Tiến sĩ bảo vệ năm 2017 của tác giả Lê Xuân Thông với đề tài “ Phật
giáo Quảng Nam thế kỷ XVII – XIX” của tác giả Lê Xuân Thông tuy nhiên tác giả
cũng chỉ dừng lại ở kỷ XIX nhìn lại Phật giáo chứ cũng khơng nghiên cứu trong những
năm từ 1997 đến năm 2017.
Một bài viết khác của ơng là Danh tăng núi Ngũ Hành (2017) trình bày tóm tắt
cuộc đời và hành trạng các thiền tăng tiêu biểu ở Ngũ Hành Sơn, từ thế kỉ XVII đến
đầu thế kỉ XXI.
Bên cạnh đó, đề tài luận văn tốt nghiệp đại học của sinh viên Nguyễn Thị Oanh,
Khoa Giáo dục chính trị, trƣờng Đại học Sƣ phạm, Đại học Đà Nẵng là “Tìm hiểu tình
hình tơn giáo và chính sách tơn giáo ở thành phố Đà Nẵng” đã bƣớc đầu có sự khái
qt về bức tranh tơn giáo tại thành phố Đà Nẵng nói chung, bao gồm tất cả các tôn
giáo nhƣ: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài…Trong đó, riêng đối với Phật
giáo, tác giả đã đƣa ra một số thực trạng hoạt động và một vài số liệu có liên quan,
song tính chất nghiên cứu của cơng trình này cịn nhiều hạn chế, chƣa sâu sắc.
Ngồi ra trên một số tạp chí có liên quan đến Phật giáo Đà Nẵng có một số bài
viết nhƣ: “Lễ hội Quán Thế Âm - Ngũ Hành Sơn, những giá trị văn hóa cần giữ gìn và
phát triển”; “Xu hướng thế tục hóa của Phật giáo hiện nay - Vấn đề và giải pháp”;
“Phật giáo Đà Nẵng với công tác từ thiện, xã hội” đăng trên tạp chí Cơng tác Tôn
5
giáo của Ban Tơn giáo Chính phủ đề cập đến nguồn gốc và các hoạt động của lễ hội
Quán Thế Âm, là lễ hội Phật giáo có quy mơ lớn và nỗi tiếng tại thành phố Đà
Nẵng.… và một số bài viết khác nhƣ: “Cơng tác cải cách hành chính trong lĩnh vực
quản lý nhà nước về tôn giáo tại thành phố Đà Nẵng” tại Website Ban Tơn giáo Chính
phủ. Các bài viết nhƣ “Gia đình Phật tử Đà Nẵng - Lịch sử và hiện tại”; “Tình hình
thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh tín ngưỡng tơn giáo tại thành phố Đà Nẵng”;
“Đôi nét về hoạt động của Thành hội Phật giáo Đà Nẵng; “Trường Trung cấp Phật
học Đà Nẵng khai giảng khóa mới” của chính bản thân tác giả đăng trên Website của
Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng.
Luận văn Thạc sĩ triết học với đề tài “ Phật giáo tại Đà Nẵng – quá khứ, hiện tại
và xu hƣớng vận động” của tác giả Đinh Đức Hiền tuy nhiên luận văn không đề cập
đến Phật giáo Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2017.
Nhƣ vậy, có thể khẳng định cho đến nay, chƣa có một cơng trình khoa học nào
nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện, sâu sắc về vấn đề Phật giáo trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng từ năm 1997 - 2017. Do đó, tiếp tục khai thác, tìm hiểu và nghiên
cứu về lĩnh vực này trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết và thiết thực. Tuy nhiên
những cơng trình kể trên là một tài liệu cần thiết để cho tác giả thực hiện luận văn này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ tình hình phát triển của Phật giáo Đà
Nẵng trong giai đoạn 1997 -2017. Trên cơ sở đó, rút ra đặc điểm Phật giáo Đà Nẵng
trong giai đoạn này và sự ảnh hƣởng của Phật giáo đến đời sống kinh tế - xã hội của
Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, những nhiệm vụ cơ bản phải thực hiện là:
- Khái quát về Đà Nẵng và Phật giáo Đà Nẵng trƣớc năm 1997.
- Chính sách của Đảng, chính quyền Đà Nẵng đối với Phật giáo Đà Nẵng từ năm
1997 đến năm 2017 .
- Tình hình hoạt động của Phật giáo Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2017.
- Đặc điểm và ảnh hƣởng của Phật giáo Đà Nẵng từ năm từ năm 1997 đến năm
2017.
6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Phật giáo Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2017.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian của luận văn là địa giới hành chính của thành phố Đà Nẵng từ năm
1997 đến năm 2017
- Thời gian của luận văn từ năm 1997 khi Đà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam
đến 2017.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
- Hệ thống các văn bản, pháp luật liên quan đến tôn giáo đặc biệt là Phật giáo Đà
Nẵng.
- Các công trình nghiên cứu đã cơng bố: Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 1997- 1999, đề tài cấp thành phố, sách, tạp chí,
các trang website, các luận án, luận văn viết về lịch sử cũng nhƣ các vấn đề về Phật
giáo của thành phố Đà Nẵng trƣớc năm 1997 đến năm 2017. Phỏng vấn trực tiếp các
chức sắc, tín đồ, quan sát các sinh hoạt của Phật giáo.
Luận văn đƣợc sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic: để khai thác và sử
dụng các nguồn tƣ liệu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Chỉ ra thực trạng tình hình hoạt động, đặc
điểm và những yếu tố vận động của Phật giáo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, ảnh hƣởng
của Phật giáo đến đời sống nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Phương pháp điền dã: Trên cơ sở nghiên cứu thực địa, thực hiện quan sát,
phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh, ghi hình để nắm bắt về đời sống sinh hoạt Phật giáo
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để làm căn cứ cho việc nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn trực tiếp các tăng ni, trụ trì tại
các chùa để tìm hiểu trực tiếp tình hình thực tiễn, thu thập dữ liệu.
6. Đóng góp của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài “Phật giáo Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2017” có ý nghĩa
quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt lý luận: Kết quả đề tài sẽ cung cấp tƣ liệu về hệ thống tổ chức, cơ sở và
7
hoạt động thờ tự Phật giáo, số lƣợng của đội ngũ tăng ni, các hoạt động từ thiện, hội,
đoàn của tăng ni, Phật tử tại Đà Nẵng trong giai đoạn 1997-2017. Bổ khuyết về mặt
định lƣợng liên quan đến đề tài cho các nghiên cứu về lịch sử Phật giáo nói riêng và
lịch sử thành phố Đà Nẵng nói chung.
- Về mặt thực tiễn: Giúp chính quyền Đà Nẵng nhìn nhận đƣợc đặc điểm, sự ảnh
hƣởng tích cực của Phật giáo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; từ đó, đƣa ra những
chính sách, những định hƣớng phù hợp đối với sự kết hợp giữa Phật giáo và sự phát
triển kinh tế mũi nhọn thành phố. Hơn nữa, luận văn sẽ bổ sung nguồn tƣ liệu góp
phần phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho các cán bộ, giảng viên,
sinh viên các Trƣờng Đại học Sƣ phạm – ĐHĐN và các trƣờng Đại học khác.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Khái quát về Đà Nẵng và Phật giáo Đà Nẵng trƣớc năm 1997.
Chƣơng 2: Tình hình Phật giáo Đà Nẵng từ năm 1997 đến năm 2017.
Chƣơng 3: Đặc điểm và ảnh hƣởng của Phật giáo Đà Nẵng trong giai đoạn từ
năm 1997 đến năm 2017.
8
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐÀ NẴNG VÀ PHẬT GIÁO ĐÀ NẴNG TRƢỚC NĂM 1997
1.1. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị Trí địa lí: Đà Nẵng thành phố nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, ở
vị trí trung độ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế - xã hội và quốc
phòng - an ninh của khu vực Miền Trung - Tây Nguyên và cả nƣớc; là đô thị biển
và đầu mối giao thông rất quan trọng về đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng biển và đƣờng
hàng không. Trong những năm gần đây, Đà Nẵng tích cực đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ
tầng, cải thiện môi trƣờng, nâng cao an sinh xã hội và đƣợc coi là "Thành phố đáng
sống nhất Việt Nam"
Địa hình: Thành phố Đà Nẵng có địa hình, thiên nhiên đa dạng, có biển, bán
đảo, vùng vịnh, đồi núi, sơng, suối, đồng bằng phân bố trong lịng thành phố. Với
tọa độ phần đất liền của thành phố Đà Nẵng từ 15°15' đến 16°40' vĩ độ Bắc và từ
107°17' đến 108°20' kinh độ Đơng [54]. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây
và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đơng giáp biển Đơng. Thành phố Đà Nẵng nằm ở
trung độ của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 766 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ
Chí Minh 961 km về phía Nam theo Quốc lộ 1A. Đà Nẵng còn là trung điểm của các
di sản thế giới: Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn. Thành phố Đà Nẵng
nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng biển và đƣờng
hàng không, là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các
nƣớc Lào, đơng bắc Campuchia, Thái Lan và Myanma.
Với diện tích tự nhiên 1.284,88 km², phần đất liền, nằm trong hệ tọa độ từ
15°15’ đến 16°40’ vĩ Bắc, từ 107°17’ đến 108°20’ kinh độ Đơng. Ngồi phần đất liền,
vùng biển của thành phố gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15°45’ đến 17°15’ vĩ độ Bắc,
từ 111° đến 113° kinh độ Đơng [43]. Vùng biển này có tiềm năng lớn về khống sản,
hải sản, có thuận lợi để phát triển kinh tế nhƣng quan trọng hơn đây là vị trí quân sự
chiến lƣợc, khống chế đƣờng giao thông trên biển và trên khơng trong khu vực phía
Bắc biển Đơng. Với vị trí địa lí có tầm chiến lƣợc quan trọng nhƣ thế - Đà Nẵng đã trở
thành một trung tâm kinh tế, văn hóa quan trọng của khu vực miền trung và Tây
Nguyên nói riêng, của cả nƣớc nói chung.
Khu vực địa hình núi cao và dốc tập trung ở phía tây và tây bắc, từ đây có
nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
9
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốc lớn
(>40°), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trƣờng sinh
thái của thành phố. Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hƣởng của biển bị
nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân
sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố. Ở khu vực cửa sơng Hàn và sơng Cu
Đê địa hình đáy biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lịng sơng).
Khu vực cửa vịnh ra ngồi khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía đơng
bắc. Khoảng cách các đƣờng đẳng sâu khá đều đặn.
Khí hậu: Thành phố Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển
hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa
khí hậu cận nhiệt đới ở miền Bắc và nhiệt đới xavan ở miền Nam, với tính trội là khí
hậu nhiệt đới ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mƣa từ tháng 9 đến tháng 12
và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đơng nhƣng
khơng đậm và khơng kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,8 °C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8,
trung bình 28-30 °C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23 °C. Riêng
vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20 °C. Độ
ẩm khơng khí trung bình là 83,4%. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm là 2.153 mm;
lƣợng mƣa cao nhất vào các tháng 9, 10, 11, trung bình 465 mm/tháng; thấp nhất
vào các tháng 2, 3, 4, trung bình 27 mm/tháng [46]. Số giờ nắng bình quân trong
năm là 2.182 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, 7, trung bình 246 giờ/tháng; ít nhất
là vào tháng 11, 12, 1, trung bình 121 giờ/tháng [14]. Mỗi năm Đà Nẵng chịu ảnh
hƣởng trực tiếp từ một đến hai cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới. Năm 2006, Đà Nẵng
chịu ảnh hƣởng của bão Xangsane - cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào Đà Nẵng trong
100 năm qua, gây thiệt hại nặng nề cho thành phố.
Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trong khoảng từ 2.300 đến
2.500 giờ/năm. Nhiệt độ khơng khí tối thấp trung bình ở vùng biển quần đảo là 2224 °C trong tháng 1, tăng dần và đạt cực đại trung bình 28.5-29 °C trong tháng 6 và
tháng 7 [33]. Chế độ gió vùng quần đảo Hoàng Sa phức tạp và thể hiện ảnh hƣởng
của địa hình lục địa Việt Nam và Trung Quốc. Gió tây nam chiếm ƣu thế vào mùa
hè; gió đơng bắc chiếm ƣu thế trong mùa đông. Lƣợng mƣa trung bình năm ở
Hồng Sa là khoảng 1.300-1.700 mm. Độ ẩm tƣơng đối trung bình 80-85% và hầu
nhƣ khơng biến động nhiều theo mùa.
10
Tài nguyên: Tài nguyên thiên nhiên của Thành phố Đà Nẵng tƣơng đối đa
dạng, gồm tài nguyên rừng, đất, nƣớc, khống sản. Trong đó tài ngun của thành
phố chủ yếu phân bố ở huyện Hòa Vang, quận Liên Chiểu và quận Sơn Trà.Tài
nguyên khoáng sản: Cát trắng: tập trung ở Nam Ô, trữ lƣợng khoảng 5 triệu m 3. Đá
hoa cƣơng: ở Non Nƣớc, nhƣng để bảo vệ khu di tích nổi tiếng Ngũ Hành Sơn, loại
đá này đã đƣợc cấm khai thác. Đá xây dựng: đây là loại khoáng sản chủ yếu của
thành phố, tập trung ở khu vực phía Tây, Bắc và Tây Nam thành phố. Đá phiến
lợp: tập trung ở thơn Phị Nam, xã Hịa Bắc. Đây là loại đá filit màu xám đen, có
thể tách thành từng tấm với kích thƣớc (0,5 x 10) x 0,3-0,5m [47]. Trữ lƣợng
khoảng 500.000m3. - Cát, cuội sỏi xây dựng: cát lịng sơng Vĩnh Điện, Túy Loan,
sơng n, Cầu Đỏ, Cẩm Lệ, Cu Đê, cuội sỏi Hòa Bắc, Hòa Liên. Laterit: đến nay
đã có 03 mỏ đƣợc nghiên cứu sơ lƣợc: La Châu, Hòa Cầm, Phƣớc Ninh là sản phẩm
phong hóa của các đá phiến hệ tầng Bol-Atek. Vật liệu san lấp: chủ yếu là lớp trên
mặt của các đá phiến hệ tầng Bol-Atek bị phong hóa, có nơi lớp này dày đến 4050m. Tập trung chủ yếu ở Hòa Phong, Hòa Sơn, Đa Phƣớc. Đất sét: trữ lƣợng
khoảng 38 triệu m3. Nƣớc
khoáng: ở Đồng Nghệ, lƣu lƣợng tự chảy khoảng
3
72m /ngày. Đặc biệt, vùng thềm lục địa có nhiều triển vọng về dầu khí.
Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha,
tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: Rừng đặc
dụng: 22.745 ha, trong đó đất có rừng là 15.933 ha; Rừng phịng hộ: 20.895 ha, trong
đó đất có rừng là 17.468 ha; Rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18.176
ha. Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hịa Vang, một số ít ở quận
Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn. Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lƣợng gỗ khoảng 3
triệu m3 [16] . Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp. Rừng của
thành phố ngồi ý nghĩa kinh tế cịn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ
môi trƣờng sinh thái và phát triển du lịch. Thiên nhiên đã ƣu đãi ban cho thành phố các
khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc nhƣ: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn
thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử mơi trƣờng Nam Hải Vân. Khu Bảo tồn
thiên nhiên Bà Nà:Tổng diện tích tự nhiên là 8.838 ha, trong đó diện tích rừng và đất
lâm nghiệp là 8.800 ha bao gồm đất có rừng: 6.942 ha rừng tự nhiên 5.976 ha rừng
trồng [16]. Đây là khu rừng có giá trị lớn về đa dạng sinh học, nối liền với vƣờn quốc
gia Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế), rừng đặc dụng Nam Hải Vân và dãy rừng tự nhiên
phía bắc và tây bắc tỉnh Quảng Nam, tạo nên một dãy rừng xanh độc nhất Việt Nam
11
liên tục trải dài từ biển Đông đến biên giới Việt - Lào. Rừng tự nhiên Bà Nà - Núi
Chúa có kết cấu thành lồi đặc trƣng cho sự giao lƣu giữa hai luồng thực vật phía bắc
và phía nam, đồng thời cũng đặc trƣng cho khu đệm giao lƣu giữa hai hệ động vật Bắc
Trƣờng Sơn và Nam Trƣờng Sơn.trồng 966 ha), đất chƣa có rừng 1.858 ha [16]
Thủy văn: Hệ thống sơng ngịi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía tây, tây bắc của
tỉnh Quảng Nam. Có hai sơng chính là sơng Hàn với chiều dài khoảng 204 km, tổng diện
tích lƣu vực khoảng 5.180 km² và sơng Cu Đê với chiều dài khoảng 38 km, lƣu vực
khoảng 426 km² [13]. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố cịn có các sơng khác: sơng
n, sơng Chu Bái, sơng Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc... Các sông đều có
hai mùa nƣớc: mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa lũ từ tháng 9 đến tháng
12. Thành phố cịn có hơn 546 ha mặt nƣớc có khả năng nuôi trồng thủy sản. Nƣớc
ngầm của vùng Đà Nẵng khá đa dạng, các khu vực có triển vọng khai thác là nguồn
nƣớc ngầm tệp đá vơi Hịa Hải – Hòa Quý ở chiều sâu tầng chứa nƣớc 50–60 m; khu
Khánh Hịa có nguồn nƣớc ở độ sâu 30–90 m; các khu khác đang đƣợc thăm dò. Đầu
năm 2013, do các cơng trình thủy điện đầu nguồn tích nƣớc không xả nƣớc về vùng
đồng bằng, vùng xuôi khiến cho ngƣời dân Đà Nẵng phải đối mặt với việc thiếu nƣớc
sinh hoạt và nguồn nƣớc tƣới tiêu cho cây trồng. Bên cạnh đó thành phố cũng phải đối
phó với tình trạng nguồn nƣớc bị nhiễm mặn hàng năm.
Vùng biển Đà Nẵng có chế độ thủy triều thuộc chế độ bán nhật triều không đều.
Hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nƣớc lên và hai lần nƣớc xuống, độ lớn
triều tại Đà Nẵng khoảng trên dƣới 1 m. Dịng chảy ở vùng biển gần bờ có hƣớng chủ
đạo là hƣớng đơng nam với tốc độ trung bình khoảng 20–25 cm/s. Khu vực gần bờ có
tốc độ lớn hơn so với khu vực ngồi khơi một chút.
Mơi trƣờng: Q trình mở rộng khơng gian đơ thị, xây dựng cơ sở hạ tầng,
khai thác tài nguyên đất và sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp, du lịch của
địa phƣơng đã gây nên những tác động đến môi trƣờng không khí, mơi trƣờng sinh
thái và đa dạng sinh học của thành phố. Năm 2010, tổng lƣợng nƣớc thải công
nghiệp khoảng 6.835 m³/ngày. Các dự án lấn biển nhƣ Khu Đô thị Đa Phƣớc, Khu
Dịch vụ Thủy sản Thọ Quang, Khu Dịch vụ Hậu cần Cảng Đà Nẵng... có nguy cơ
tác động đến môi trƣờng, hệ sinh thái vùng bờ Đà Nẵng. Kết quả điều tra
năm 2006 cho thấy diện tích san hơ khu vực ven biển Đà Nẵng khơng có khả năng
phục hồi là 81%. Năm 2012, Khu Dịch vụ Thủy sản Thọ Quang là điểm nóng nhất
về ơ nhiễm môi trƣờng trên địa bàn thành phố. Chất lƣợng nƣớc ở các con sông
12
cũng có vấn đề, đặc biệt là vùng hạ lƣu, các sông đều bị ô nhiễm bởi một lƣợng khá
lớn coliform, BOD5, COD và các chất khác. Trong nội ô thành phố Đà Nẵng, lƣợng
bụi, lƣu huỳnh điôxit, tiếng ồn, hóa chất độc hại đều vƣợt tiêu chuẩn cho phép.
Trƣớc tình trạng ơ nhiễm mơi trƣờng, vào tháng 10 năm 2008, thành phố Đà Nẵng
đã phê duyệt đề án "Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố môi trƣờng". Đề án đƣợc xây
dựng trên tiêu chí đến năm 2020, các yêu cầu về chất lƣợng môi trƣờng đất, chất
lƣợng môi trƣờng nƣớc, chất lƣợng mơi trƣờng khơng khí trên tồn thành phố đƣợc
đảm bảo, tạo sự an toàn về sức khỏe và môi trƣờng cho ngƣời dân, các nhà đầu tƣ,
cho du khách trong và ngoài nƣớc khi đến với Đà Nẵng.
Với một vị trí chiến lƣợc quan trọng cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh... cửa ngõ
của khu vực miền trung Tây Nguyên. Đà Nẵng có thế mạnh vƣợt trội trong hội nhập
kinh tế đất nƣớc và khu vực. Đà Nẵng có thể phát triển kinh tế tổng hợp, công –
thƣơng – nông – lâm - ngƣ nghiệp. Đặc biệt là những chính sách phát triển kinh tế
biển, rừng bền vững. Tuy nhiên thành phố cần chú ý đến cảnh quan môi trƣờng, trong
quy hoạch và phát triển kinh tế.
Về các đơn vị hành chính của thành phố: Trong q trình phát triển kinh tế-xã
hội Đà Nẵng đã có sự chia tách, địa giới các quận, huyện cho phù hợp với sự quy
hoạch và bộ mặt của thành phố. Đến nay, thành phố có: 6 quận và 2 huyện với 45
phƣờng và 11 xã.Các quận gồm: Liên Chiểu, Hải Châu, Thanh Khê, Cẩm Lệ, Sơn Trà,
Ngũ Hành Sơn, 2 huyện gồm Hịa Vang, huyện đảo Hồng Sa.
1.1.2. Sơ lược về cư dân và văn hóa Đà Nẵng
Đà Nẵng là vùng đất có lịch sử, văn hóa lâu đời. Tại khu vực Ngũ Hành Sơn,
các nhà khoa học đã phát hiện đƣợc những dấu tích của ngƣời tiền sử. Cách ngày
nay hơn 3000 năm, Đà Nẵng là vùng đất thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh. Sa Huỳnh là
cƣ dân nơng nghiệp, trông lúa nƣớc ở đồng bằng và làm nƣơng rẫy ở miền núi. Họ
giỏi nghề rèn sắt và có thể biết đúc đồng, xe sợi dệt vải, biết nấu thủy tỉnh và làm
đồ trang sức khá tỉnh xảo.... Xã hội Sa Huỳnh đã có sự phân hố giàu nghèo, đã
xuất hiện tầng lớp thống trị chỉ phối các hoạt động của cộng đồng dân cƣ. Đến thế
kỉ II TCN, khi nhà Hán xâm chiếm và đặt ách thống trị trên nƣớc ta, Đà nẵng thuộc
quận Nhật Nam. Đà Nẵng là vùng đất thuộc Vƣơng quốc Champa. Những dấu tích
của nền văn hóa Sa Huỳnh và Champa đã khẳng định đƣợc những tầng văn hóa lâu
đời ở nơi đây, khẳng định những giá trị lịch sử và văn hóa của vùng đất Đà Nẵng
trong lịch sử dân tộc ta.
13
Trên địa bàn thành phố nhiều dân tộc và ngƣời nƣớc ngồi cùng chung sống.
Trong đó, nhiều nhất là dân tộc Kinh rồi đến ngƣời Hoa, các dân tộc ít ngƣời nhƣ Cơ
Tu sống chủ yếu 2 xã Hòa Phú và Hòa Bắc, ngƣời Tày, ngƣời Ê Đê, ngƣời
Mƣờng, Gia Rai, Khơ me... sống chủ yếu ở phía tây thành phố (huyện Hịa Vang), ít
nhất là các dân tộc Chơ Ro, Hà Nhì, Si La, Ơ Đu chỉ có một ngƣời,... Trong những
năm qua thành phố đã có nhiều chính sách ƣu tiên đối với bà con dân tộc thiểu số,
phần nào đã rút ngắn đƣợc khoảng cách về trình độ phát triển trong thành phần
cộng cƣ của Đà Nẵng.
Thành phần tơn giáo- tín ngƣỡng của cƣ dân Đà Nẵng khá đa dạng và phức tạp,
tính đến năm 2019, trên địa bàn tồn thành phố có chín tơn giáo khác nhau. Trong đó,
nhiều nhất là Cơng giáo, xếp thứ hai là Phật giáo, xếp thứ ba là đạo Tin Lành, Cao Đài,
Minh Sƣ Đạo … các cơ sở tôn giáo, tín ngƣỡng trên địa bàn thành phố, hầu hết đều có
quy ƣớc, nội quy, biển báo nhắc nhở ngƣời dân và du khách thực hiện nếp sống văn
minh, văn hóa, tín ngƣỡng.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, Đà Nẵng nằm trong
vùng đất đƣợc tôn vinh là “Ngũ phụng tề phi” gắn liền với truyền thống hiếu học và
lòng say mê sáng tạo. Ngƣời dân Đà Nẵng có bản tính chất phác, thẳng thắn, sống giản
dị, thân thiện, yêu chân lý, kiên quyết trong hành động chống lại cái xấu, cái ác. Đây
cũng là những phẩm chất có nét tƣơng đồng với ngƣời Phật tử nhƣ: từ bi, độ lƣợng và
vị tha, lấy hòa làm trọng …Với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự mất mát rất lớn
trong hai cuộc chiến tranh của đất nƣớc càng hun đúc lên tính kiên trung của con
ngƣời Đà Nẵng. Nơi xuất hiện những danh tƣớng, nhà chính trị, nhà văn hóa, những
tên tuổi gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử của đất nƣớc, dân tộc nhƣ: Nguyễn Văn
Thoại - danh thần, nhà ngoại giao, nhà chính trị, danh sĩ, doanh nhân, thƣơng gia có
nhiều đóng góp quan trọng dƣới triều Nguyễn; Ơng Ích Khiêm (1828 - 1884) - danh
nhân xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang; Thái Phiên (1882 - 1916): quê ở xã Hòa Phát,
quận Cẩm Lệ; Lê Văn Hiến, Thái Thị Bôi, Mẹ Nhu, v.v.
Thành phố Đà Nẵng còn là nơi tập trung của cƣ dân nhiều địa phƣơng khác, là
nơi giao lƣu, hội tụ của các nền văn hóa từ nhiều vùng miền đất nƣớc. Tuy chƣa hình
thành nét riêng biệt nhƣ một số nơi, nhƣng ngƣời Đà Nẵng vẫn có cá tính riêng và
ngày càng đƣợc hun đúc bởi q trình phát triển đơ thị. Đặc biệt, ngày nay, nhắc đến
thành phố Đà Nẵng khơng thể khơng nhắc đến những chƣơng trình lớn, mang tính
nhân văn nhƣ chƣơng trình “Thành phố 5 khơng”, “Thành phố 3 có”. Có đƣợc thành
14
quả đến ngày hơm nay là nhờ sự đóng góp to lớn của các tầng lớp nhân dân Đà Nẵng.
Đặc biệt, về nếp sống văn hóa văn minh đơ thị, ngƣời Đà Nẵng đã để lại những ấn
tƣợng tốt đẹp cho bạn bè gần xa mỗi khi đến đây. Đến nay, đa số ngƣời dân thành phố
Đà Nẵng đã có ý thức trong việc thực hiện nếp sống văn minh, bảo vệ di tích, giữ gìn
vệ sinh mơi trƣờng, cảnh quan tại các cơ sở tơn giáo.
Đà Nẵng đã có từ dƣới thời Chămpa. Ngƣời Việt đã mƣợn từ tiếng Chăm Pa mà
Việt hóa tài tình, giữ cả âm lẫn nghĩa thành các địa danh dễ gọi. Hàn (han) có nghĩa là
Bến, cịn từ Đà Nẵng có nghĩa là Sơng Già, Sông Lớn (Đà (đa) là sông, nƣớc; Nẵng
(nak) là già, lớn). Ngƣời Hoa Nam phát âm Đà Nẵng là Tu-rang, ngƣời Bồ Đào Nha
khi đến Quảng Nam trong thế kỷ XVI, XVII đã ký âm thành Turan, Turam, Turao,
Turơn, … Dù kí âm nhƣ thế nào thì tên gọi Đà Nẵng vẫn có nghĩa là của sơng lớn chảy
ra biển, thể hiện vị trí thuận lợi và điều kiện phát triển sầm uất, trù phú của mảnh đất
này. Từ khi trở thành nhƣợng địa (1888) đến Cách mạng Tháng Tám, Đà Nẵng đƣợc
57 năm tồn tại. Đây là khoảng thời gian quá ngắn cho sự tích tụ, bồi lắng để hình
thành nên văn hóa Đà Nẵng. Điều cần thấy rõ, sự hình thành văn hóa Đà Nẵng trong
điều kiện thành phố nhƣợng địa phụ thuộc rất lớn vào chính sách cai trị của thực dân.
Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, phong trào bảo vệ văn hóa
dân tộc diễn ra rất mạnh mẽ, quyết liệt nhằm chống lại nền văn hóa thực dân, suy đồi,
mất gốc. Chúng ta có thể nhận thấy điều này ở các di sản văn hóa thế giới: Huế, Mỹ
Sơn, Hội An và phong tục, lễ hội, tín ngƣỡng, ca dao, dân ca… Trong bối cảnh đó, Đà
Nẵng nhƣ một lát cắt điển hình để chúng ta có thể nhận diện nhiều loại hình văn hóa
hay một cấu trúc văn hóa Việt Nam có tính hồn chỉnh: văn hóa núi rừng, văn hóa
nƣơng rẫy, văn hóa ruộng đồng, văn hóa biển… Với đặc điểm vƣơn ra đại dƣơng, Đà
Nẵng là cánh cửa tiếp nhận sự giao lƣu văn hóa đa dạng, phong phú, thực sự có cọ xát,
va đập từ nhiều nền văn hóa Đơng và Tây, văn hóa sa đảo. Sau q trình nhƣ vậy, sự
tiếp nhận có gạn lọc các giá trị tinh hoa của văn hóa bên ngồi với một thái độ khoan
dung, sự cộng sinh, cộng hƣởng của những yếu tố ngoại sinh và yếu tố nội sinh, văn
hóa Đà Nẵng mang trong mình những dấu ấn đậm nét của văn hóa Ấn Độ thơng qua
văn hóa Champa, văn hóa Trung Hoa đến từ nhiều nẻo đƣờng, văn hóa Nhật Bản, văn
hóa phƣơng Tây và văn hóa của cƣ dân các tộc ngƣời tiền trú. Những yếu tố này đã
làm nên yếu tố đặc thù của văn hóa Đà Nẵng trong đối sánh với nơi khác, nhƣ sự đối
sánh với văn hóa Huế là điều dễ nhận thấy nhất.
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có khá nhiều điểm vui chơi, văn hóa giải trí.
15
Trên cơ sở một nhà hát cũ Nhà hát Trƣng Vƣơng đƣợc xây năm 1976 và đƣợc xây
mới, khánh thành năm 2006. Đây là nơi thƣờng xuyên tổ chức biểu diễn các loại hình
nghệ thuật sân khấu truyền thống nhƣ tuồng, cải lƣơng và nghệ thuật sân khấu hiện đại
nhƣ: vũ kịch, múa ba lê, opera, nhạc giao hƣởng,...các hội thảo, hội nghị và các sự
kiện văn hóa lớn của thành phố.
Dành cho sân khấu tuồng ở thành phố có Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, tiền
thân là Đoàn tuồng Giải phóng Quảng Nam. Nhà hát mang tên nhà sáng tác, nghệ sĩ và
ngƣời thầy Nguyễn Hiển Dĩnh, ngƣời có công lớn trong nghệ thuật tuồng Việt Nam.
Nhà hát vẫn duy trì lịch biểu diễn vào thứ 4 và thứ 7 hàng tuần.Sau này sau khi tách
tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng thì Năm 2001, thành phố đã đầu tƣ 6 tỷ đồng để nâng cấp
nhà hát.
Cho đến trƣớc năm 1997, thành phố Đà Nẵng có năm bảo tàng bao gồm: Bảo
tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Khu V, Bảo
tàng Hồ Chí Minh (chi nhánh Quân khu V) và Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng. Trong số
đó, Bảo tàng Điêu khắc Chăm có tiền thân là Bảo tàng Chàm đƣợc Trƣờng Viễn Đông
Bác Cổ cho xây dựng từ 1915-1916 đến năm 1936 mới hoàn tất. Bộ sƣu tập nguyên
thủy là do Nhà khảo cổ Henri Parmentier thu thập từ thế kỷ XIX. Không gian của tòa
nhà bảo tàng gần 1.000 m² với 500 hiện vật đƣợc bố trí trƣng bày trong các phịng chủ
đề khác nhau. Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng là một trong ba bảo tàng về mỹ thuật của cả
nƣớc và cũng là nơi lƣu giữ và tổ chức trƣng bày, giới thiệu đến cơng chúng các tác
phẩm mỹ thuật có chất lƣợng nghệ thuật và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền
thống của các họa sĩ, nhà điêu khắc, nghệ nhân ở Đà Nẵng và các tỉnh, thành khu vực
miền Trung – Tây Nguyên. Bảo tàng Lịch sử thành phố Đà Nẵng đƣợc xây dựng trong
khu vực Thành Điện Hải với mặt bằng trƣng bày hơn 2.000 m². Trong
Hiện thành phố Đà Nẵng có 6 tơn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài,
Baha'i và Minh sƣ đạo, với 9 tổ chức tôn giáo đƣợc Nhà nƣớc công nhận tƣ cách
pháp nhân gồm: Phật giáo, Công giáo, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, Hội
thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), Giáo hội Cơ đốc phục lâm Việt Nam, Hội
thánh Truyền giáo Cao Đài, họ đạo Cao đài Tây Ninh, Cộng đồng tôn giáo Baha’I,
Giaos hội Phật đƣờng Nam tơng Minh sƣ đạo…có khoảng 185.000 tín đồ theo các
tôn giáo khác nhau. Vào các ngày lễ trọng của các tôn giáo, đặc biệt là các lễ lớn của
Phật giáo và Cơng giáo khơng cịn mang tính “nội bộ” của từng tơn giáo, mà đƣợc
nhiều ngƣời biết đến. Có thể kể đến lễ hội Quán Thế Âm (chùa Quán Thế Âm, quận
16
Ngũ Hành Sơn) hằng năm đƣợc tổ chức quy mô, phong phú cả về nội dung lẫn hình
thức, thu hút sự tham gia của hàng ngàn ngƣời, gồm cộng đồng phật tử, nhân dân địa
phƣơng cùng du khách trong và ngồi nƣớc. Đối với ngƣời Cơng giáo, lễ Thiên Chúa
Giáng sinh hằng năm thu hút sự chú ý của cộng đồng cả đạo hữu và ngƣời không
theo tôn giáo, là dịp ngƣời dân chứng kiến sự sôi động của các hoạt động kinh tế, văn
hóa, xã hội trên địa bàn thành phố.
1.2. Khái quát về Phật giáo Đà Nẵng trƣớc năm 1997
Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, tháng Giêng năm Đinh Mùi (1307), vua Trần Anh
Tông đổi tên hai châu Ơ, châu Lý thành châu Thuận Hóa. Kể từ thời gian này, tại Đà
Nẵng cũng bắt đầu xuất hiện các vị thiền sƣ Phật giáo. Đó là ngài Minh Phƣớc Quảng
tu khổ hạnh ở Động Hoa Nghiêm thuộc Ngũ Hành Sơn, Non Nƣớc, sƣ Từ Tâm đã lập
chùa Thái Bình tọa lạc tại phƣờng Hịa Hải quận Ngũ Hành Sơn.
Có thể nói, một trong những trung tâm Phật giáo lớn ở Quảng Nam - Đà Nẵng
trong giai đoạn lịch sử này phải kể đến đó là núi Ngũ Hành Sơn. Hành Sơn một hệ
thống chùa chiền dày đặc, hầu nhƣ ngọn núi nào, hang động nào cũng dựng đƣợc
chùa, đặt miếu để thờ Phật, hoặc thờ những vật linh khí của nhà Phật. Chỉ tính riêng
ở núi Thủy Sơn đã có bốn chùa và hàng chục hang động lớn nhỏ tham gia thờ tự.
Đó là chùa Tam Thai, Linh ứng, Trang Nghiêm, Từ Tâm; hang động thì có Thiên
Phƣớc Đạt, Huyền Không, Tàng Chân, Linh Nhan, Quan Thế Âm, Vân Nguyệt,
Vân Thơng, Thiên Long… Nơi đây cũng đã đón tiếp rất nhiều vua chúa, quan lại,
thƣơng khách, sƣ tăng trong và ngoài nƣớc viếng thăm. Dƣới thời Chúa Nguyễn
Phúc Chu, năm Ất Hợi (1695), Ngũ Hành Sơn cũng đã vinh dự đƣợc Hịa thƣợng
Thạch Liêm (Thích Đại Sán) ghé thăm và đã đƣợc Hòa thƣợng Thạch Liêm đã ghi
lại trong hồi Ký Hải Ngoại ký sự. Dƣới triều Nguyễn, chùa Tam Thai đƣợc sắc tứ là
Quốc tự.
Sang đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp thi hành chính sách đẩy lùi phật giáo, phật
giáo bị đàn áp rất nặng nề, thậm chí có thời kì bị kì thị, dẫn đến suy đồi. Trƣớc hồn
cảnh đó khắp cả nƣớc đã rộ lên phong trào chấn hƣng phật giáo. Trong phong trào
chấn hƣng phật giáo diễn ra đầu thế kỉ XX, Hội An Nam Phật học ra đời, đặt trụ sở tại
chùa Từ Đàm – Huế, hội đã mở rộng nhiều chi hội ở khắp các tỉnh miền Trung. Trong
số hội viên sáng lập hội đã có tới 30 vị cƣ trú ở Đà Nẵng.
Tại Đà Nẵng có thành lập Hội Đà Thành Phật học và ra tạp chí Tam Bảo do
Hịa thƣợng Bích Liên chủ nhiệm. Tạp chí này đã đề cập đến nhu cầu thống nhất các
17
đoàn thể phật giáo trong xứ thành một hội “ Phật giáo liên hiệp”. Tuy nhiên do chính
sách của thực dân Pháp, ngăn chặn sự phát triển của Phật giáo, thậm chí Phật giáo bị kì
thị nên năm 1938 tạp chí “ Tam Bảo” bị đình chỉ hoạt động.
Trong giai đoạn này đáng chú ý đến là chùa Pháp Lâm (Tọa lạc: 574 Ơng Ích
Khiêm, Phƣờng Nam Dƣơng, quạn Hải Châu, Đà Nẵng). Ngôi chùa là nơi hội quán
của chi hội phật giáo Đà Nẵng. Đứng trƣớc đƣờng Sabfela (nay là Ơng Ích Khiêm),
ngƣời ta nhìn thấy sát đƣờng có 2 trụ biền lớn Cao trên 10m. Đi vào một con đƣờng
chừng 40m, thì có 4 trụ nữa thay Tam Quan. Phía trên và chặng giữa là bảng hiệu cơ
sở có mái che theo kiểu Trung Hoa, mặt trƣớc đắp danh hiệu: An Nam Phật học Chi
hội Đà Nẵng, mặt sau đắp 4 chữ Hán: Thƣờng, Lạc, Ngã, Tịnh (4 đức của Niết Bàn).
Qua sân chùa vào khoảng 40m là tiền đƣờng đến điện thờ Phật, diện tích tồn bộ
9.174m”. Bên tay mặt sân chùa, có giảng đƣờng, phía trong gần hông chùa là nhà
Tăng. Các nhà này tuy xây cất ban đầu thơ sơ, nhƣng nhìn chung thì cơ sở đã tạm tiện
nghi cho việc hoằng pháp. Trong các cuộc kháng chiến chùa là nơi trú quân, là trụ sở
của Hội Phật giáo cứu quốc do thầy Giải Huệ làm chủ tịch.
Từ cách mạng tháng tám cho đến phong trào chống đàn áp phật giáo 1963,
Phật giáo miền Nam chịu những chính sách kì thị, đàn áp của chính quyền Ngơ
Đình Diệm. Do đó các tăng ni, phật tử hịa mình vào cuộc đấu tranh của dân tộc.
Các tăng ni phật tử tham gia cuộc kháng chiến, các vị hòa thƣợng đấu tranh bằng
cách bất động, nhƣng số lƣợng chùa chiền đƣợc xây dựng giai đoạn này khá nhiều.
Một số chùa đƣợc hình thành trong giai đoạn này nhƣ chùa Pháp Lâm, Bát Nhã,
Phật Đài Hòa Mỹ, chùa Quang Minh (1961), chùa Kim Quang (1957), chùa Nam
Thành (1952), Chùa Thái Bình (1958)... Trong bối cảnh này, Gia đình phật tử Đà
Nẵng đã đƣợc thành lập. Gia đình phật tử Đà Nẵng ban đầu chỉ có 5 gia đình:
Thiện Ái, Long Hoa, Hải Hòa, Vu Lan, Tân Định, để đáp ứng với yêu cầu về nhân
sự do sự phát triển của Phật giáo, năm 1955 Đà Nẵng đã tổ chức một trại huấn
luyện đội chúng trƣởng do anh Cao Chánh Hƣu phụ trách. Vào năm 1957, gia đình
phật tử phát triển mạnh mẽ tại nội ô lẫn ngoại ô, cùng với các khn hội khác ở
quận Hịa Vang. Số lƣợng có 12 gia đình với 1.000 đồn sinh, sang giai đoạn 19631964 số gia đình phật tử tăng lên tới 25 gia đình với 2.500 đồn sinh. Năm 1966 gia
đình phật giáo Đà Nẵng hƣởng ứng phong trào đấu tranh của phật giáo đòi chủ
quyền quốc gia, quốc hội lập hiến, chính phủ dân chủ...để xây dựng nền dân chủ tự
do và ổn định chính trị tại miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn này Phật giáo Đà