Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

Lực lượng biệt động thành phố đà nẵng trong kháng chiến chống mĩ, cứu nước (1968 – 1975)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.76 MB, 114 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN VĂN THÀNH

LỰC LƢỢNG BIỆT ĐỘNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, CỨU NƢỚC
(1968 – 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

Đà Nẵng - Năm 2021


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN VĂN THÀNH

LỰC LƢỢNG BIỆT ĐỘNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ, CỨU NƢỚC
(1968 – 1975)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 8229013

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY PHƢƠNG

Đà Nẵng - Năm 2021








v

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................ii
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN .................................. iii
RESEARCH RESULTS OF THE THESIS ............................................................... iv
MỤC LỤC ...................................................................................................................... v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................vii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................................. 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 3
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ........................................................ 3
6. Đóng góp của luận văn ....................................................................................... 4
7. Cấu trúc của luận văn.......................................................................................... 4
CHƢƠNG 1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƢỢNG BIỆT ĐỘNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1968
– 1975 .............................................................................................................................. 5
1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................................. 5
1.2. Truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng của nhân dân Đà Nẵng .................... 7
1.3. Lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng trước năm 1968 .................................... 11
1.3.1. Định nghĩa về lực lượng Biệt động............................................................. 11

1.3.2. Sự ra đời của lực lượng Biệt động ở Đà Nẵng ........................................... 11
1.4. Chính sách của Mĩ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với thành phố Đà
Nẵng (1968-1975).......................................................................................................... 22
1.5. Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ Đà Nẵng về việc xây dựng lực
lượng Biệt động (1968 – 1975) ..................................................................................... 26
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................................... 28
CHƢƠNG 2. TỔ CHỨC CHIẾN ĐẤU CỦA LỰC LƢỢNG BIỆT ĐỘNG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG (1968-1975) ...................................................................... 29
2.1. Tổ chức chiến đấu của lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng (1968-1973) ..... 29
2.2. Tổ chức chiến đấu của lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng (1973-1975) ..... 50
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................................... 63
CHƢƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA LỰC LƢỢNG BIỆT ĐỘNG THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG NHỮNG NĂM 1968-1975 .............................................. 64


vi

3.1. Đặc điểm ................................................................................................................. 64
3.2. Vai trò ..................................................................................................................... 73
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................................... 76
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 83
NHÂN CHỨNG ĐÃ PHỎNG VẤN ........................................................................... 87
PHỤ LỤC ..................................................................................................................PL1
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)


vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


Km

: Ki lô mét

mm
Nxb

: Mi li mét
: Nhà xuất bản

PL
TS
Tr

: Phụ lục
: Tiến sĩ
: Trang


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thành công chung của cơng cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước giải
phóng hồn tồn miền Nam, thống nhất đất nước, có sự đóng góp của nhiều lực lượng
(Bộ đội chính quy, bộ đội địa phương, dân qn du kích …), trong đó có sự đóng góp
khơng nhỏ của lực lượng vũ trang thành phố Đà Nẵng nói riêng, đội Biệt động nói
riêng, tuy không phải là yếu tố quyết định đi đến thắng lợi, nhưng lực lượng Biệt động
thành phố Đà Nẵng đã góp phần tiêu hao sinh lực địch, làm hư hỏng và phá hủy nhiều

phương tiện chiến tranh của đế quốc Mĩ, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho chúng…
làm tiền đề cho các lực lượng khác của ta chiến đấu và tấn công địch ở Đà Nẵng, mà
đỉnh cao là cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân năm 1968, tuy chưa làm chủ
được tình hình nhưng cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 là một đòn giáng mạnh
vào âm mưu xâm lược của đế quốc Mĩ trên đất nước ta, là hồi chuông cảnh tỉnh nói
lên rằng đế quốc Mĩ có thể bị đánh bại bất cứ lúc nào và bất cứ đâu trên đất nước ta.
Sự ra đời của lực lượng Biệt động như một yếu tố tất yếu trong kháng chiến
chống Mĩ cứu nước. Đây là một sáng kiến mới, cách đánh mới và thực tế lực lượng
này đã phát huy được hiệu quả và sức mạnh, nhất là trên địa bàn các đơ thị. Ở các đơ
thị, Mĩ bố trí lực lượng mạnh, kiểm soát khắt gao, nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ, chúng
ta không thể sử dụng lực lượng vũ trang chính quy để tấn cơng được, mà phải có lực
lượng Biệt động bí mật, dựa vào nhân dân, bám địa bàn của địch để tác chiến, linh
hoạt, cùng với nhân dân đấu tranh chính trị yêu cầu quân đội Mỹ rút khỏi nước ta.
Nghiên cứu lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1968-1975 đã có
nhiều cơng trình, nhiều hội thảo khoa học, nhưng để tìm hiểu sâu và dựng lại bối cảnh
chi tiết thì rất ít, đặc biệt hiện nay ở thành phố Đà Nẵng vẫn cịn có một số người là
nhân chứng sống, là cựu lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng trong kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, họ sẽ kể cho chúng ta nghe những trận đánh, và những suy nghĩ
của mình về cuộc kháng chiến này.
Việc ra đời, tổ chức và tác chiến của lực lượng Biệt động thành phố Nẵng có đặc
thù về chiến thuật và tổ chức, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm càng về sau tính tổ chức,
kỷ luật và tác chiến càng chặt chẽ hơn, sự ra đời của lực lượng Biệt động để lại nhiều
bài học quý giá, nhất là trong nghệ thuật quân sự hiện nay và tương lai của quân đội
nhân dân Việt Nam.
Từ những lý do trên chúng tôi chọn vấn đề “Lực lượng biệt động thành phố Đà
Nẵng trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước giai đoạn 1968-1975” làm đề tài luận văn


2


tốt nghiệp cao học, với hy vọng tái hiện lại quá trình phát triển và hoạt động tác chiến
của lực lượng Biệt động và qua đó sẽ rút ra nhiều bài học cho công cuộc bảo vệ tổ
quốc hôm nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về lực lượng Biệt động cho đến nay đã có nhiều cơng trình đã dề cập
đến để phục vụ cho công cuộc bảo vệ tổ quốc hôm nay, tiêu biểu như sách “Lịch sử tự
vệ biệt động Đà Nẵng”, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005; “Một thời để nhớ”do ban liên
lạc biệt động thành phố Đà Nẵng phát hành; „Tổng kết chiến tranh nhân dân địa
phương chuyên đề: Chỉ đạo xây dựng và hoạt động tác chiến của tự vệ biệt động, du
kích đặc cơng trong 30 năm chiến tranh giải phóng; Những cuộc khởi nghĩa, trận
đánh, chiến dịch trên chiến trường Nam trung bộ (1945-1975) biên niên sự kiện và tư
liệu; Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân thành phố Đà Nẵng 1945-2000; “Khu V –
30 năm chiến tranh và giải phóng’ (Tập II); Đề tài cấp BQP “Tổng kết hoạt động tác
chiến của lực lượng vũ trang biệt động quân khu V trong kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước (1954-1975)”… Các cơng trình nói trên ít nhiều đều đề cập đến phạm vi, nội
dung nghiên cứu của đề tài.
Sách Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mĩ về chiến tranh Việt Nam, Trung tâm Thông
tin Khoa học quân sự sao lục, 2008; Giô dép Am – tơ, Lời phán quyết về Việt Nam,
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 1985; George C. Herring, Cuộc chiến tranh
dài ngày nhất của nước Mĩ. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Mai- cơn
Mác –lia, Việt Nam – Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày Nhà xuất bản sự thật Hà Nội,
1990 Chiến công từ làn nước biếc, Nhà xuất bản, Đà Nẵng, 2010, Tác giả đã đề cập
đến một lực lượng tinh nhuệ của Biệt động đó là “người nhái”, với lực lượng này đã
tiêu diệt nhiều tàu chiến của Mĩ, làm tổn thất lớn về phương tiện chiến tranh của Mĩ tại
các hải cảng.
Năm 2018, luận văn thạc sĩ về “Lực lượng biệt động thành phố Đà Nẵng trong
kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, giai đoạn chiến lược chiến tranh cục bộ (19651968)”, của Nguyễn Duy Điệp, đã được bảo vệ thành cơng. Luận văn đã mơ tả được
sự hình thành có tính tất yếu và tổ chức của lực lượng Biệt động trong giai đoạn 19651968, đã khai thác tư liệu về tổ chức Biệt động tại thành phố Đà Nẵng, làm rõ và
khẳng định lực lượng Biệt động là một lực lượng quan trọng trong kháng chiến chống
Mĩ đồng thời, tác giả cũng đã miêu tả được một số trận đánh tiêu biểu của lực lượng

Biệt động làm tiêu hao sinh lực địch, phá nhiều phương tiện chiến tranh của Mĩ và gây
tâm lý hoang mang, lo sợ cho quân đội Mĩ. Tuy nhiên luận văn chỉ đề cập đến lực
lượng Biệt động tại địa bàn thành phố Đà Nẵng mà không thấy mối liên hệ với lực
lượng khác ở khu vực xung quanh. Thời gian nghiên cứu của luận văn cũng chỉ dừng


3

lại ở giai đoạn 1965 – 1969 chưa thấy được tồn bộ tiến trình phát triển của lực lượng
Biệt động trong quá trình của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Có thể khẳng định, tuy đã có một số cơng trình nghiên cứu về lực lượng Biệt
động ở thành phố Đà Nẵng, nhưng các cơng trình này chưa đi sâu tìm hiểu một cách
có hệ thống về lực lượng này, nhất là giai đoạn 1968 – 1975 hoàn toàn chưa được tìm
hiểu, mặc dù vậy các cơng trình đã cơng bố có liên quan là nguồn tài liệu tham khảo có
giá trị để chúng tơi thực hiện đề tài này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Luận văn nhằm tái hiện lại quá trình xây dựng lực lượng và tổ chức chiến đấu
của lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1968-1975, từ đó làm rõ đặc
điểm, vai trò của lực lượng Biệt động thành phố trong giai đoạn này.
3.2. Nhiệm vụ
Đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Khái quát những yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của
lực lượng Biệt động
Thứ hai: Làm rõ quá trình xây dựng và tổ chức chiến đấu lực lượng Biệt động
thành phố Đà Nẵng trong những năm 1968-1975
Thứ ba: Khẳng định vai trò và tầm quan trọng, đồng thời rút ra bài học kinh
nghiệm trong việc xây dựng các lực lượng vũ trang trong thời chiến cũng như trong
thời bình để phát triển kinh tế cũng như giữ vững an ninh quốc phòng ngày nay
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước, 1968 – 1975
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Thành phố Đà Nẵng
- Thời gian: Từ năm 1968 đến năm 1975
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi cố gắng khai thác sử dụng các nguồn tư liệu,
gồm các văn kiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước, các chỉ thị và báo cáo của
Bộ quốc phòng, Bộ tổng tham mưu, Tổng cục chính trị, Tổng cục hậu cần.
Các bài viết đăng trên các báo, tạp chí của Trung ương và địa phương nhân kỷ
niệm 30 năm, 40 năm truyền thống của lực lượng Biệt động. Lời kể của nhân chứng
những người đã từng tham gia, giúp đỡ lực lượng Biệt động của thành phố Đà Nẵng.


4

Đây là tài liệu rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên để sử dụng các số liệu, sự kiện
chúng tôi phải tiến hành xác minh, đối chiếu.
Các tài liệu đã cung cấp cho chúng tôi nhiều số liệu, sự kiện và cả cách nhìn,
cách đánh giá khác nhau về mối quan hệ giữa số liệu và các sự kiện. Chúng tôi sẽ hết
sức cố gắng để kế thừa các thành quả nghiên cứu này trong thực hiện luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài này chúng tôi vận dụng
quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư
tưởng của Hồ Chí Minh, đồng thời kết hợp và sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ
bản của khoa học của lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic.
6. Đóng góp của luận văn
Tái hiện lại q trình hình thành và phát triển, chiến đấu của lực lượng Biệt động

thành phố Đà Nẵng trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước giai đoạn 1968-1975.
Thấy được cách thức tổ chức, hợp đồng tác chiến khôn ngoan của lực lượng Biệt
động thành phố Đà Nẵng trong kháng chiến.
Bồi đắp và góp phần giáo dục thế hệ trẻ hôm nay về truyền thống lịch sử cách
mạng, tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường của ông cha ta đã trải qua.
Rút ra một số bài học kinh nghiệm, nhận xét và đánh giá cho việc xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay.
7. Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính
gồm có 3 chương:
Chương 1: Những yếu tố tác động đến việc xây dựng và hoạt động của lực lượng
Biệt động thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1968 – 1975
Chương 2: Tổ chức chiến đấu của lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng 19681975
Chương 3: Đặc điểm, vai trò của lực lượng Biệt động thành phố Đà Nẵng trong
giai đoạn 1968 – 1975


5

CHƢƠNG 1
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA LỰC LƢỢNG BIỆT ĐỘNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1968 – 1975
1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Đà Nẵng nằm ở ven duyên hải, phía Bắc Trung phần; tọa độ phần đất liền vĩ
tuyến 16 độ 40 Bắc và 108 độ 20 Đông cao trên mặt nước biển 5,8m. Phía Bắc giáp
tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đơng giáp biển
Nam Hải. Ngày nay, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế phía Tây và Nam giáp Quảng
Nam, Đơng giáp biển Đơng; cách thành phố Huế 107 km, cách Hội An 39 km.

Với một vị trí đặc biệt thuận lợi về giao thơng đường biển, Đà Nẵng chỉ cách
cảng Hải Phịng 310 hải lý, cảng Sài Gòn 520 hải lý, cảng Macao 480 hải lý, cảng
Hồng Kông 550 hải lý, cảng Manila 720 hải lý, cảng Malaysia 720 hải lý, cảng
Singapore 960 hải lý, cảng Đài Loan 1030 hải lý, cảng Thái Lan 1060 hải lý…nên rất
thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Chỉ cần khoảng hai ngày đêm là các loại hàng
hóa từ các nước trong khu vực Phillippines, Malaysia, Singapore, Thái Lan…đã có thể
đến Đà Nẵng và ngược lại.
Đồng thời, Đà Nẵng nằm ở trung tâm trục giao thông Bắc Nam về đường bộ,
đường sắt, đường biển và đường hàng không, là một trong những cửa ngõ quan trọng ra
biển của Tây Nguyên và các nước Lào, đông bắc Camphuchia, Thái Lan và Myanma.
Đà Nẵng được xem là “yết hầu” của miền Trung nói riêng và cả nước nói chung.
- Địa chất, địa hình
Về mặt địa chất, “Đà Nẵng nằm ở rìa của miền uốn nếp Paleozoi được biết đến
với tên gọi Đới tạo núi Trường Sơn – nơi mà những biến dạng chính đã xẩy ra trong
kỷ than đá sớm” [32, tr2]. Cấu trúc địa chất khu vực Đà Nẵng gồm có 5 đơn vị địa
tầng chủ yếu, lần lượt từ dưới lên là: Hệ tầng A vương, hệ tầng Long Đại, hệ tầng Tân
Lâm, hệ tầng Ngũ Hành Sơn và trầm tích Đệ Tứ. Trong đó các hệ tầng A Vương, Long
Đại, Tân Lâm có thành phần thạch học chủ yếu là đá phiến và cát kết. Hệ tầng Ngũ
Hành Sơn chủ yếu là đá vôi hoa hóa màu xám trắng. Trầm tích Đệ Tứ bao gồm các
thành tạo sông - sông biển, biển, biển – đầm lầy có tuổi từ Plestocen sớm đến Holocen
muộn, chủ yếu là cát, cuội, sỏi, cát pha, sét pha... “Vỏ trái đất tại lãnh thổ thành phố
Đà Nẵng bị nhiều hệ thống đứt gãy theo phương gần á vĩ tuyến và phương kinh tuyến
chia cắt, làm giảm tính liên tục của đá, giảm độ bền của chúng nhất là tạo nên các đới


6

nứt nẻ tăng cao độ chứa nước. Đây là hiểm họa trong khi xây dựng các cơng trình”
[43, tr 4].
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng dun hải, vừa có đồi núi. Vùng

núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra
biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp. Địa hình đồi núi chiếm
diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 – 1.500 m, độ dốc lớn (40 độ), là nơi tập trung
nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố. “Đồng
bằng ven biển là vùng đất thấm chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập
trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức
năng của thành phố” [32, tr5]. Ở khu vực cửa sơng Hàn và sơng Cu Đê địa hình đáy
biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lịng sơng). “Khu vực cửa vịnh
ra ngồi khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía Đông Bắc. Khoảng cách
các đường thẳng sâu khá đều đặn” [32, tr7].
Bờ biển Đà Nẵng vốn khúc khuỷu nhưng đã được san bằng qua phương thức cồn
cát – Đầm Phá, các mõm núi nhô ra biển được nối liền bởi các dải cồn. Biển sâu hải
lưu chảy nhanh hơn, bùn sét do sông Vu Gia – Thu Bồn mang ra đã ít, lại bị cuốn trơi
đi xa nên ven biển gồm toàn các trắng xám.
Đà Nẵng được bao bọc bởi ba ngọn núi: núi Sơn Trà (cao 693m), Ngũ Hành Sơn
và dãy Trường Sơn ăn lan ra tận biển ngăn cách Đà Nẵng với Huế bởi một ngọn đèo –
đèo Hải Vân. Bờ biển dài 12 km nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tàu thuyền neo
đậu trong các mùa mưa bão lớn.
- Khí hậu
Từ Hải Vân vào Nam là phạm vi của đới rừng á xích đạo. “Đà Nẵng khơng có
mùa khơ rõ rệt, do tác dụng bức chắn của khối núi bắc Kon Tum nên trong mùa gió
Đơng Bắc lượng mưa cịn đáng kể. Hải Vân như một bức tường chắn làm giới hạn
cuối cùng cho mùa đơng gió bấc lạnh lùng của miền bắc nước ta” [43, tr6].
Nhiệt độ trung bình các tháng của Đà Nẵng đều trên 20 độ, mấy tháng đầu năm
khí hậu mát nẻ, khô ráo; tháng 5 đến tháng 8, bầu trời xanh ngắt, nắng hắt xuống cồn
cát trắng xóa, mặt biển thẫm lại. Mùa nắng lại khơng phải mùa mưa vì giải Trường
Sơn chắn gió mùa Tây Nam từ vịnh Bengale thổi tới. Mưa lệch pha với hai miền Bắc
bộ và Nam bộ, bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 10 (mưa hội tụ nội chí tuyến và tiếp theo
là mưa địa hình). “Gió bấc thổi mát từ biển vào, đưa tới Đà Nẵng những trận mưa kéo
dài nhiều ngày ra rích. Đây là mùa thu của miền Trung và cũng là mùa bão lũ. Mưa

giảm dần về cuối năm sang giêng thì kết thúc” [43, tr9].
- Thủy văn
Theo ngơn ngữ Chăm, địa danh “Đà Nẵng” có thể được giải thích là “sông lớn”,


7

“cửa sông lớn”. Địa danh này đã được ghi chú trên các bản đồ được vẽ từ thế kỉ XVI
trở đi. Điều đó có nghĩa là, từ rất sớm, trong cách hình thành tên gọi, tính chất cửa
sơng lớn, tính chất cảng thị đã được lưu ý như một điểm quan trọng của thành phố.
Hệ thống sơng ngịi của Đà Nẵng ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc
và tỉnh Quảng Nam. Có hai sơng chính là sơng Hàn với chiều dài 204 km tổng diện
tích lưu vực khoảng 5.180 km và sông Cu Đê với chiều dài khoảng 38 km lưu vực
khoảng 426 km. Ngoài ra trên địa bàn thành phố cịn có các con sơng khác: Sông Yên,
sông Chu Bái, sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sơng Phú Lộc,... Các sơng đều có hai
mùa: Mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 12. Thành phố
cịn có hơn 546 ha mặt nước có khả năng ni trồng thủy sản.
Nước ngầm của vùng Đà Nẵng khá đa dạng, các khu vực có triển vọng khai thác
là nguồn nước ngầm tệp đá vơi Hịa Hải – Hịa Q ở chiều sâu tầng chứa nước 5060m; khu Hịa Khánh có nguồn nước ở độ sâu 30-90m, các khu khác đang được thăm
dò. Đầu năm 2013, do các cơng trình thủy điện đầu nguồn tích nước khơng xả nước về
vùng đồng bằng, vùng xuôi khiến cho người dân Đà Nẵng phải đối mặt với việc thiếu
nước sinh hoạt và nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng. Bên cạnh đó thành phố cũng
phải đối phó với tình trạng nguồn nước bị nhiễm mặn hàng năm.
Vùng biển Đà Nẵng có chế độ thủy triều thuộc chế độ bản nhật triều không đều.
Hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nước lên và hai lần nước xuống, độ lớn
triều tại Đà Nẵng khoảng trên dưới 1 m. Dòng chảy ở vùng biển gần bờ có hướng chủ
đạo là hướng Đơng Nam với tốc độ trung bình khoảng 20-25 mét khối/giây. Khu vực
gần bờ có tốc độ lớn hơn so với ngoài khu vực ngoài khơi một chút.
Việc Đà Nẵng có điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phú có cả rừng, cả biển và
đồng bằng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và tổ chức chiến đấu của lực

lượng Biệt động, rừng núi là nơi chúng ta ém quân, cất giữ vũ khí, hoạt động, khi có
thời cơ chúng ta tiến xuống đồng bằng và đô thị để tiếp cận mục tiêu, đánh và tiêu diệt
mục tiêu, xong nhiệm vụ chúng ta rút ra hậu cứ mà cụ thể là rút lên vùng rừng núi
huyện Hòa Vang để trú ẩn và chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo.
Đà Nẵng có bờ biển dài và các hải cảng cũng là điều kiện cho chúng ta tấn công
địch, lợi dụng các yếu tố tự nhiên ở các hải cảng, ban đêm chúng ta tổ chức ngụy
trang, làm người nhái tiếp cận tàu của chúng đậu ở các hải cảng để đặt mìn và tiêu diệt
các tàu chiến đấu của Mĩ.
1.2. Truyền thống yêu nƣớc, đấu tranh cách mạng của nhân dân Đà Nẵng
Dưới thời chế độ phong kiến thực dân, mặc dù bị bóc lột nặng nề của tư sản và
địa chủ, nhưng nhân dân Đà Nẵng đã đoàn kết, phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu
nước, chống giặc ngoại xâm, đoàn kết phát huy sức mạnh của nhân dân xây dựng lực


8

lượng kháng chiến, xây dựng các cơng trình phịng thủ để bảo vệ đất nước lâm nguy,
các cơng trình xây dựng lên gồm có đồn An Hải, Hịn Cổ Ngựa, hòn Cánh Diều, và
xung quanh bán đảo Sơn Trà và lắp đặt kinh thiên lý ở đèo Hải Vân, đào đắp chiến lý
giăng ở Đò Xu – Cẩm Lệ. Khi Thực dân pháp tiến hành xâm lược nước ta lần thứ
nhất (1858 đến 1860) nhân dân Đã Nẵng đã anh dũng chiến đấu cho dù triều đình
nhà Nguyễn có dấu hiệu đầu hàng địch thi nhân dân Đã Nẵng đã nhất tề đứng lên
chống giặc đến cùng nhân dân Đà Nẵng khơng chỉ chống đế quốc mà cịn chống lại
triều đình phong kiến nhà Nguyễn với khẩu hiệu là “Phản đế, phản phong”, trong
cuộc kháng chiến này nổi lên một số anh hùng như Lê Đình Lý, Nguyễn Tri Phương,
Phạm Gia Vĩnh.
Trong hàng ngũ của nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Chiến nhân dân đã
tích cực ủng hộ con em mình tịng qn, nhiều người đã trở thành chỉ huy tài ba như
con cháu Ơng Ích Khiêm, Quản Diệu, Nguyễn Hanh, nghĩa quân đã anh dũng, lựa
chọn cách đánh phù hợp với phương châm mưu trí, táo bạo, bất ngờ, đánh trong lịng

địch đánh ra ngồi với bất kể vũ khi nào làm hoang mang và rối loạn đội ngũ của địch.
Ngày 03 tháng 02 năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập, chấm dứt
khủng hoảng về đường lối lãnh đạo, nhân dân Đà Nẵng tiếp thu sự lãnh đạo của Đảng,
thấm nhuần Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa từ nước ngoài
về đã định hướng cho phong trào đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng, đang sơi sục ý chí
đấu tranh giành lại độc lập cho thành phố và của cả nước, trên cở sở đó huy động tối
đa nhân tài vật lực để xây dựng các cơ sở cách mạng, mà trước mắt là xây dựng cơ sở
đảng trong quần chúng, lực lượng chính trị làm nịng cốt ngồi ra có các lực lượng
khác như cơng nhân, trí thức làm cơ sở hạt nhân để chống lại thực dân phong kiến.
Với tinh thần của người cộng sản, các cán bộ, đảng viên tiền bối của Đảng bộ
Quảng Nam và Đà Nẵng ngày ấy đã bất chấp gông cùm, tù đày, tra tấn, đánh đập của
thực dân, đế quốc, ngày đêm len lỏi hoạt động trong các xóm thợ nghèo, trong quần
chúng lao khổ để tuyên truyền về cách mạng, về con đường đấu tranh giải phóng dân
tộc do Nguyễn Ái Quốc vạch ra. Chính từ những cố gắng đó mà tác phẩm Đường
Kách Mệnh của Nguyễn Ái Quốc được in tại xóm Giếng Bộng (nay thuộc khn viên
Trường mẫu giáo nh Hồng, phường Bình Hiên, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng)
để truyền bá trong nhân dân; nhiều hoạt động táo bạo, gan dạ của những người cộng
sản được tổ chức thu hút quần chúng, gây thanh thế cách mạng, tạo nên các cao trào
đấu tranh cách mạng năm 1930-1931 để ủng hộ phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh,
phong trào đòi dân sinh - dân chủ 1936-1939 và cuộc vận động giành chính quyền tại
Đà Nẵng trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trong vô vàn gian lao, hy sinh, mất mát do thực dân Pháp và phong kiến Nam


9

triều đàn áp, đánh phá ác liệt, song Thị ủy Đà Nẵng đã vượt qua bao nỗi gian nguy,
thách thức, vững niềm tin sắt son vào con đường thắng lợi của cách mạng, để lãnh đạo,
chỉ đạo phong trào cách mạng, vận động nhân dân, gây dựng cơ sở, phát triển đảng
viên, với nhiều quyết sách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp nhằm tập hợp đông đảo quần

chúng nhân dân. Đặc biệt, tháng 5/1945, khi Thị ủy Đà Nẵng chuyển thành Thành ủy
Đà Nẵng đã nhanh chóng tăng cường các hoạt động, xây dựng đội ngũ, vận động nhân
dân chuẩn bị mọi mặt cho việc nổi dậy khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau 15 năm Đảng bộ Quảng Nam và Thị ủy Đà Nẵng ra đời, ngày 22/8/1945,
huyện Hịa Vang giành chính quyền; ngày 26/8/1945, thành phố Đà Nẵng đã hoàn toàn
thuộc về cách mạng. Đây cũng là bước ngoặt quan trọng, là kết quả của công cuộc vận
động nhân dân, hình thành đội ngũ đấu tranh trực tiếp với kẻ thù, đưa vị thế của người
dân Đà Nẵng từ một kiếp nô lệ, đọa đày trở thành cơng dân của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hịa.
Tiếp nối vai trị là người dẫn đường, dấn thân vì sự nghiệp cách mạng, vì mục
tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, suốt 09 năm kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược, Đảng bộ Đà Nẵng đã anh dũng, kiên cường lãnh đạo nhân dân thành
phố kiên trì, bền bỉ chiến đấu chống thực dân Pháp với tinh thần Thề quyết tử cho Tổ
quốc quyết sinh. Trong 09 năm “nằm gai, nếm mật”, vượt qua bao gian lao, thử thách,
hy sinh, mất mát, Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng xứng đáng là người chiến sĩ trên
tuyến đầu của chiến trường trọng yếu, là địa đầu, là lá chắn bảo vệ vùng tự do của Khu
5 chạy suốt từ Nam sông Thu Bồn đến tỉnh Khánh Hịa; là cầu nối Liên khu 5 với Bình
Trị Thiên; là căn cứ quan trọng của lực lượng cách mạng Hạ Lào; lập nên nhiều chiến
cơng hiển hách, góp phần cùng quân và dân cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm
lược, bằng một “chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu”.
Đầu năm 1945 phong trào cách mạng trong cả nước phát triển mạnh mẽ, Đà
Nẵng cũng hưởng ứng gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, cơ sở đảng củng
cố nhanh chóng phát triển các đại đội, trung đội Biệt động, trong các nhà máy, nhà ga
các công sở của Pháp và tay sai như cảng Đà Nẵng, Đề-pơ xe lửa. Đến đầu tháng, 8
năm 1945 đã có khoảng 1400 đội viên gồm các thành phần nông dân, trí thức, binh
lính, cơng nhân và binh lính của qn Pháp nhật đã được giác ngộ cách mạng, được tổ
chức biên chế thành 04 đại đội 03 trung đội 08 tiểu đội. Gần ngày tổng khởi nghĩa các
lực lượng của ta ngày đêm huấn luyện đội ngũ, trang bị vũ khí, tích cực tuyên truyền
các chủ trương, chính sách của mặt trận Việt Minh, vạch trần tội ác và thủ đoạn, âm
mưu của bọn đế quốc thực dân, tuyên truyền các thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa

trong cả nước, làm cho chúng hoang mang lo sợ.
Buổi sáng ngày 26 tháng 08 năm 1945, đội tự vệ Đà Nẵng cùng với nhân dân


10

khởi nghĩa dành chính quyền trong thành phố. Cuộc khởi nghĩa diễn ra nhanh gọn,
không gây tổn thất về lực lượng, chính quyền thuộc về tay nhân dân. Đà Nẵng trở về
chủ quyền lãnh thổ Việt Nam khơng cịn nhượng địa của Pháp.
Cách mạng tháng Tám thành công lực lượng vũ trang và nhân dân ra sức để củng
cố chính quyền cách mạng ra sức xây dựng thành phố sau thời gian chiếm đóng của
chính quyền thực dân, ổn định đời sống, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang
chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ và tiến tới thống nhất đất nước.
Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954 và sau
này là cuộc kháng chiến chống Mĩ từ năm 1954-1975 Đà Nẵng nằm trong vùng kiểm
soát của địch, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng mà cụ thể là Khu ủy khu 5, tỉnh ủy
Quảng Nam, Quảng Đà và sự góp sức của nhân dân địa bàn xung quanh cũng như của
nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng đã nâng cao truyền thống yêu nước,
chí khí cách mạng, vận dụng đường lối chiến tranh nhân dân với tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, phát huy tối đa nhân tài vật lực tiến hành cuộc đấu tranh toàn dân, tồn
diện và tự lực cánh sinh cho cơng cuộc giải phóng dân tộc, bằng nhiều cách đánh sáng
tạo, linh hoạt, trong đó chủ yếu là cơng tác xây dựng lực lượng gồm lực lượng chính
trị và lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ngay trên địa bàn của
địch. Trong xây dựng lực lượng vũ trang, cấp ủy và chỉ huy các cấp chú trọng xây
dựng và phát triển lực lượng Biệt động, xây dựng lực lượng trong hậu cứ của địch và
tổ chức cách đánh du kích tạo cho lực lượng vũ trang địa phương và bộ đội chủ lực tấn
công ở quy mô lớn, gây hoang mang và mất nhiều cơ sở vật chất và sinh lực địch. Bên
cạnh đó cơng tác đấu tranh chính trị cũng được đẩy mạnh từ đó giành quyền làm chủ
từng bước, làm thất bại âm mưu, các thủ đoạn chiến thuật, chiến lược chiến tranh của
bọn thực dân và tay sai, tiến lên giải phóng tồn thành phố chấm dứt 30 năm đấu tranh

giải phóng dân tộc, từng bước giành chính quyền trong cả nước giải phóng dân tộc và
thống nhất đất nước.
Mảnh đất Đà Nẵng trải qua kháng chiến chống giặc ngoại xâm đã nổi lên nhiều
chiến sĩ cách mạng kiệt xuất như Trần Thị Lý, Nguyễn Văn Trỗi, Hồ Nghinh, Lê Độ,
Phan Châu Trinh…các anh hùng này đã có đóng góp nhiều cho cách mạng, tuy chưa
thành công nhưng chiến công của các anh hùng này đã để lại cho nhân dân ta nhiều bài
học quý giá về cách tổ chức về cách vận động nhân dân về cách đánh về truyền thống
yêu nước, ý chí bất khuất khơng sợ cái chết, tinh thần vì nước là trên hết như anh hùng
Nguyễn Văn Trỗi bị chúng tử hình đã khơng cần bịt mắt hay như anh hùng Trần Thị
Lý chúng tra tấn dã man nhưng một mực khơng khai, đó là bản lĩnh chính trị của
người cộng sản, một người u nước chân chính.
Ngồi các chiến sĩ cách mạng trên không thể không nhắc đến vai trò của quần


11

chúng nhân dân, nhân dân ta không chỉ làm ăn sinh sống bình thường mà khi có giặc
tới thì họ cũng là một chiến sĩ cách mạng “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, trong
lịch sử cũng như trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ nhân dân ta đã
hồn thành xuất sắc vai trị giúp đỡ qn ta hoàn thành và chiến thắng giặc Pháp, Mĩ
xâm lược, họ đã cung cấp cho quân ta lương thực thực phẩm, che chở và cho đào
hầm chiến đấu trong nhà, không khai báo khi bị chúng tra tấn…nổi lên có mẹ Nhu,
mẹ Nhu có tới 10 người con và chồng tham gia cách mạng nhưng họ đã lần lượt hy
sinh, mẹ đã che chở và cho quân ta trú ẩn trong nhà, khi bị bắt mẹ đã không khai báo
và Đảng ta đã phong cho mẹ là bà mẹ Việt Nam anh hùng, tượng của mẹ cũng được
xây dựng tại thành phố Tam Kỳ Quảng Nam nhằm tri ân những đóng góp và hy sinh
lớn lao của mẹ.
1.3. Lực lƣợng Biệt động thành phố Đà Nẵng trƣớc năm 1968
1.3.1. Định nghĩa về lực lượng Biệt động
Lực lượng Biệt động là lực lượng khơng có qn hàm, qn hiệu, được lấy từ

nhiều thành phần khác nhau, tập hợp lại thành những tổ, đội, nhóm, hoạt động bí mật,
vừa cơng khai vừa bán công khai, dưới sự giám sát và chỉ huy của thị ủy và quận ủy
được chia 2 thành phần gồm lực lượng chiến đấu và lực lượng bảo đảm chiến đấu,
được xây dựng, phát triển song song.
Lực lượng chiến đấu gồm các tổ chức cơ bản và cơ sở đơn tuyến (hoạt động
trong lòng địch, hoặc làm nhiệm vụ đặc biệt). Tổ Biệt động độc lập, mỗi tổ gồm có 2
đến 3 đồng chí; Đội Biệt động gồm 2 đến 3 tổ. Đây là đơn vị cơ sở của lực lượng Biệt
động Đà Nẵng, một thời gian sau, do yêu cầu nhiệm vụ, tính chất hoạt động nên tổ
chức phát triển đến trung đội, đại đội (trong đại đội có lúc biên chế thành nhiều mũi).
Lực lượng bảo đảm chiến đấu gồm lực lượng bảo đảm chỉ huy và lực lượng hậu
cần kỹ thuật. Lực lượng này được tổ chức cả trong nội thành hoặc vùng ven, vùng hậu
cứ phía trước, phía sau.
Nhiệm vụ cụ thể của lực lượng đảm bảo ở nội thành là: Thực hiện trinh sát công
khai, tình báo, thơng tin liên lạc (giao liên), xây dựng các trạm giao liên, hành lang cở
động, căn cứ, bàn đạp tiến cơng, hầm bí mật, buồng kín, gác xếp, làm giấy tờ giả để
cán bộ chiến sĩ đi lại hoạt động trong nội thành và vùng ven, thực hiện hóa trang, nghi
trang, bảo vệ vị trí chỉ huy trong hành quân, trú quân cả bên trong và bên ngoài.
1.3.2. Sự ra đời của lực lượng Biệt động ở Đà Nẵng
Sau khi ra đời vào năm 1930, Đảng bộ Đà Nẵng đã chọn một số thanh niên khỏe
mạnh, biết võ thuật, có tinh thần dũng cảm, mưu trí tham gia cơng tác bảo vệ, hoạt
động theo phương thức bí mật. Đến năm 1941, Đảng bộ xây dựng một số tiểu, tổ tự vệ,
du kích mật ở các địa bàn nội thị làm nhiệm vụ hỗ trợ nhân dân đấu tranh và chuẩn bị


12

hình thành lực lượng vũ trang Đà Nẵng. Năm 1945, lực lượng Biệt động phát triển lên
1.400 người, bao gồm nhiều thành phần như: công nhân, nông dân, thanh niên, học
sinh, cơng chức, binh lính trong bộ máy chính quyền Pháp - Nhật…, biên chế thành 4
đại đội, 3 trung đội và 8 tiểu đội, trang bị chủ yếu là vũ khí thơ sơ. Lực lượng Biệt

động đã góp phần cùng các lực lượng quần chúng nổi dậy giành chính quyền về tay
nhân dân vào ngày 26-8-1945.
Trong xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, cấp ủy, chỉ huy đặc biệt quan tâm
xây dựng Lực lượng Biệt động có số lượng hợp lý, chất lượng cao, bố trí trên khắp các
địa bàn và trong hầu hết các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội, cả trong bộ
máy của Việt Nam Cộng hòa, bởi đây là lực lượng nòng cốt để tiến hành chiến tranh
nhân dân trong lòng địch. Trong kháng chiến chống Pháp gọi là “đặc vụ quân sự, tự vệ
chiến đấu, tự vệ mật”; trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước gọi là “Biệt động”.
Nhiệm vụ của lực lượng Biệt động bao gồm: vũ trang tuyên truyền, phát động quần
chúng, xây dựng cơ sở (có đơn tuyến, nội tuyến, tổ, đội) nắm tình hình địch, chiến đấu
tiêu diệt sinh lực địch, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, tạo bàn
đạp, hành lang cho các đơn vị bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực mở các trận đánh lớn
và các chiến dịch tiến cơng Đà Nẵng.
Trong suốt q trình kháng chiến, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng
bộ thành phố, Biệt động đã bám chắc địa bàn, liên tục sử dụng lực lượng, vũ khí trang
bị tiến cơng các cơ quan, đồn bót của địch, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy phương
tiện chiến tranh, lập nhiều chiến công xuất sắc. Trong kháng chiến chống Pháp, đặc vụ
quân sự và tự vệ đã đánh những trận xuất sắc: bốt gác Ngã Năm, Đài thiên văn, khu
Đông, rạp xi-nê Mơ-Rin, Tịa thị chính, kho xăng Nại Hiên, cầu Hòa Phú, ga Đà Nẵng,
đồn Mỹ Khê, An Hải; gắn liền với những cái tên: trung đội đặc vụ quân sự, tự vệ khu
Đơng sơng Đà, các đồng chí Lê Tiền, Nguyễn Văn Lang, Phạm Thị Biên, Huấn, Tâm,
Luận, Nhu...
Trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, lực lượng Biệt động đã phát triển mạnh
mẽ, đều khắp và mở nhiều trận đánh xuất sắc ở cảng Sông Hàn; Quân vụ thị trấn; khối
phố Thanh Khê, Xương Bình; kho xăng Nại Hiên; kho bom đạn Phước Lý; sân bay Đà
Nẵng; chi cảnh sát quận Đông Giang; chốt điểm Cống Tiềm; bốt gác ngã ba Huế; Tịa
thị chính; khách sạn đường Lê Đình Dương; các cư xá sĩ quan Mĩ – Việt Nam cộng
hòa, Nam Triều Tiên, Philippines ở đường Pasteur, Yên Bái, Phan Châu Trinh…, với
những cái tên nổi tiếng như Đại đội đặc công - Biệt động Lê Độ, các đội Biệt động
quận Nhất, quận Nhì, quận Ba với các anh hùng, dũng sĩ như: Nguyễn Hữu Đức, Hà

Văn Trí, Đặng Đình Vân, Lê Độ, Trần Thị Chiến, Nguyễn Văn Nhàn, Hồ Thị Lý,
Nguyễn Thị Tám, Võ Văn Cả, Phan Thị Mùa.


13

Bên cạnh việc tiêu diệt sinh lực địch, lực lượng Biệt động Đà Nẵng còn là nòng
cốt trong xây dựng các thế trận lòng dân, vận động tuyên truyền nhân dân, chủ yếu là
tầng lớp lao động nhận thức đúng đắn về đường lối, chính sách của Đảng và Mặt trận
dân tộc giải phóng, động viên mọi người tham gia hoạt động cách mạng. Trên cơ sở đó
xây dựng lực lượng chính trị nịng cốt trong các đồn thể quần chúng, tạo cơ sở chính
trị vững chắc của thế trận lịng dân, điển hình như các căn cứ lõm Bắc Mỹ An; xóm
Mốc, Tây An, Hồng Phước, khu Đơng Sơng Đà, Sơn Trà, Thanh Khê, Hòa Cường,
Thạc Gián, Xuân Hà; các căn cứ bàn đạp trung gian như: Hòa Hải, Hòa Xuân, Hòa
Tiến, Hòa Châu, Phước Tường, Hòa Liên, Hòa Hiệp; và các căn cứ bàn đạp phía sau
như: Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Thọ, Điện Thắng, Điện An, Điện Ngọc…
Bên trong các căn cứ đều có hệ thống hầm bí mật, buồng kín, gác xếp, phát triển
trên khắp các phường, xã chung quanh và các khu phố trong nội thành làm nơi cất giấu
vũ khí, trang bị, tài liệu, bảo vệ, nuôi dưỡng lực lượng. Xây dựng các tuyến hành lang
cơ động từ Thăng Bình, Tam Kỳ qua Duy Xuyên, Điện Bàn, Hòa Vang, Đại Lộc, Đà
Nẵng, cùng các đầu mối, trạm liên lạc…, tạo thành hệ thống nối kết liên hoàn vững
chắc, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh chiến tranh nhân dân trong lòng địch diễn ra mạnh
mẽ, liên tục, hiệu quả.
Bên cạnh đó cịn xây dựng được nhiều cơ sở nội tuyến trong bộ máy Việt Nam
Cộng hịa, làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, tài liệu, đưa đón cán bộ, chiến sĩ Biệt
động vào - ra Đà Nẵng bằng các phương tiện vận tải quân sự dễ dàng. Lực lượng Biệt
động đã kết hợp chặt chẽ, linh hoạt phương châm đấu tranh 2 chân (chính trị, qn sự)
và 3 mũi giáp cơng (chính trị, qn sự, binh vận); vận dụng sáng tạo, phong phú, đa
dạng các hình thức chiến thuật như: tập kích, phục kích, phản kích, cải trang, nghi
binh, đánh bằng cảm tử, bằng mọi vũ khí, hỗ trợ đắc lực các lực lượng chính trị của

quần chúng lập chiến cơng, làm tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội ln mất ổn
định, kẻ địch lo sợ, hoang mang, lúng túng, dồn chúng vào thế bị động, bất ngờ.
Những chiến công xuất sắc của Lực lượng Biệt động Đà Nẵng đã góp phần to lớn vào
sự nghiệp giải phóng quê hương năm 1975. 2 tập thể và 10 cá nhân thuộc lực lượng
Biệt động Đà Nẵng đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Lực lượng bám địa bàn (Tổ chức hợp pháp) gồm hai dạng cơ bản: Cá nhân đơn
tuyến: Đây là các cá nhân nội tuyến trong lòng địch được tổ chức cài hợp pháp hoặc
xuất thân của họ là người của địch, nhưng có tinh thần dân tộc được giác ngộ mà tự
nguyện chiến đấu cho cách mạng. Tổ đội độc lập, mỗi tổ có 2 – 3 đội viên tùy theo
quân số và mục tiêu phụ trách mà chia thành nhiều tổ. Riêng Biệt động quận nhất Đà
Nẵng tổ chức thành 4 cánh, cánh đông, cánh trung, cánh tây cánh giữa mỗi cánh gồm
nhiều tổ đội. Cũng giống các đơn vị Biệt động ở các tỉnh (Biệt động Hội An, Biệt động


14

Quy Nhơn, Biệt động Tuy Hòa, Biệt động Quảng Ngãi, Biệt động nội thị Nha
Trang…) Biệt động Đà Nẵng là lực lượng chiến đấu bám địa bàn. Lực lượng chiến đấu
cơ động (Tổ chức bán hợp pháp) không thường xuyên bám địa bàn tùy nhiệm vụ mà tổ
chức cải trang bán hợp pháp, hợp pháp xâm nhập nội thành nội thị thực hành tác chiến
sau đó rút về hậu cứ ở ngoại thành, ngoại thị. Đại đội đặc công Biệt động Lê Độ là tiêu
biểu cho lực lượng Biệt động chiến đấu cơ động ở Đà Nẵng. Lực lượng bảo đảm chiến
đấu cho đội Biệt động gồm trinh sát: Trinh sát cơ động, trinh sát cố định, cơ sở nội
tuyến, Thông tin, Giao liên, (hộp thư sống, hộp thư chết) thông tin kỹ thuật cơ sở bàn
đạp hành lang vận chuyển. Cơ sở hầm bí mật kho vũ khí ém quân cất dấu phương tiện
phục vụ tác chiến; Cơ sở làm giả giấy tờ hợp pháp may cờ cải trang đóng vai.
Đặc biệt các đội Biệt động nội thị chuyên bám địa bàn, độc lập tác chiến không
tổ chức thành lực lượng bảo đảm chiến đấu riêng biệt như ở các đơn vị cơ động chiến
đấu mà lực lượng chiến đấu phải trực tiếp tiến hành trinh sát mục tiêu theo dõi phát
hiện quy luật hoạt động của địch, tự cải trang cất giấu vũ khí trang bị, tạo ra thời cơ và

tranh thủ thời cơ để tiến công mục tiêu các hoạt động khác như thông tin liên lạc, vận
chuyển vũ khí trang bị đường rút lui, ẩn nấp đều nhờ vào lực lượng giao liên và các cơ
sở cách mạng đảm bảo ngăn cách bí mật khơng quen biết triệt để đến từng con người,
từng tổ chức, từng mặt công tác đảm bảo chiến đấu và chiến đấu là nguyên tắc mà mọi
cán bộ lực lượng Biệt động phải thấm nhuần từ khi bước vào hàng ngũ của lực lượng
Biệt động và trong suốt cuộc đời chiến đấu vì lý tưởng cách mạng.
Sau khi đưa các cá nhân ưu tú vào lực lượng Biệt động vấn đề tiếp theo là phải
huấn luyện cho họ. Trong huấn luyện cần đặc biệt chú ý đến đội ngũ cán bộ, đảng
viên, chỉ huy đội, tổ trưởng tổ chiến đấu. Phải huấn luyện cho cán bộ lực lượng Biệt
động có năng lực tồn diện, chun sâu sử dụng vũ khí thành thạo có thể độc lập tác
chiến trong hồn cảnh khó khăn nhất, đặc biệt chú trọng kỹ năng hóa trang, đóng vai,
vận động quần chúng, phát hiện những cá nhân tiêu biểu để tổ chức lực lượng Biệt
động “nứt nhánh”, Tùy theo đặc điểm yêu cầu nhiệm vụ của các tổ đội mà thời gian
địa điểm, nội dung huấn luyện cũng khác nhau. Có người được gửi đi huấn luyện ở
trường Biệt động, Trường đặc công quân khu rút ra căn cứ để huấn luyện thời gian vài
tháng. Có người do khơng có điều kiện xa nơi cư trú dài ngày vì sợ địch nghi ngờ, theo
dõi thì được đưa về căn cứ của quận, thị xã, thành phố tập huấn ngắn ngày về kỹ thuận
sử dụng vũ khí bộ binh như súng trường, súng ngắn, tiểu liên, súng chống tăng B40,
B41, lưu đạn (chủ yếu là lựu đạn M26 do Mĩ sản xuất), thuốc nổ, kíp, mìn định hướng,
cách hóa trang, tiếp cận mục tiêu , hiệp đồng tổ mũi chiến đấu …Học tập chính trị
nhằm nâng cao tinh thần yêu nước, căm thù giặc, giác ngộ cách mạng, xây dựng tinh
thần ý chí quyết tâm chiến đấu. Tại căn cứ các đội viên biệt động cũng không được


15

tiêp xúc với nhiều người nhằm hạn chế trường hợp khai báo lộ bí mật.
Những người được huấn luyện sẽ trở về nội thành, nội thị, tiếp tục bám địa bàn,
làm hạt nhân, nồng cốt. Sau đó các cá nhân này sẽ trực tiếp hướng dẩn, huấn luyện các
đội viên khác. Trong vùng địch kiểm soát gắt gao, việc tổ chức các huấn luyện tập

trung là điều rất nguy hiểm, mỗi lần tập trung huấn luyện ở nhà cơ sở không được quá
3 người, về cơ bản, Biệt động vừa tác chiến vừa học, vừa rút kinh nghiệm rồi đánh
tiếp. Lịng trung thành tuyệt đối, bản lĩnh chiến đấu, trí thông minh là cơ sở để mổi đội
viên Biệt động tự huấn luyện mình ngay trong thực tiển chiến đấu.
Muốn bám trụ trong thành thị thì phải giữ vững thế hợp pháp. Muốn hợp pháp
phải có giấy tờ tùy thân (thẻ căn cước) do chính quyền địch cấp. Bằng mọi cách (kể
cả dùng tiền mua chuộc) phải có được thẻ căn cước. Ở nhiều nơi, cơ sở sẽ làm việc
làm việc này. Có thẻ căn cước tức là sống hợp pháp, sẽ giữ được bình tĩnh khi đối
diện với địch. Khơng có thẻ căn cước là sống bán hợp pháp, bất hợp pháp, khi đối
diện với địch sẽ rất dễ có biểu hiện mất bình tĩnh làm địch nghi ngờ lục sốt, thậm
chí bắt giữ tra tấn.
Ngồi thẻ căn cước muốn giữ vững thế hợp pháp, cần có cở sở cách mạng trung
kiên che chở. Cán bộ quận ủy, thị ủy, quân đội, thị đội, cán bộ chiến sĩ Biệt động
không được rời khỏi địa bàn, mà phải luôn luôn bám địa bàn trong quá trình lãnh đạo,
chỉ huy, chuẩn bị tác chiến và thực hành tác chiến.
Biệt động phải bám cơ sở cách mạng vì đây là nơi hợp pháp hóa, trú ẩn an tồn
trong lịng thành thị, là nơi cất dấu vũ khí, tập kết lực lượng kháng chiến trong trận
đánh quân vụ thị trấn tại Đà Nẵng (năm mậu thân 1968) đặc công Biệt động Lê Độ đã
bám sát nhà cơ sở tập kết lực lượng chỉ cách mục tiêu 100m mà địch không hề hay
biết, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ trận đánh đạt hiệu quả tác chiến cao diệt được
một xe tăng ngay trong lòng thành phố.
Để xây dựng lực lượng Biệt động thật sự tinh nhuệ, tuyệt đối trung thành với sự
nghiệp cách mạng cần phải đặt công tác xây dựng con người lên hàng đầu phải lựa
chọn cá nhân tiêu biểu, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng trải qua thử thách để kiểm
chứng lịng trung thành, dũng cảm và mưu trí; đó cũng là chấp hành đúng nguyên tắc
“người trước, súng sau” của chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân
Đại tướng Văn Tiến Dũng được triệu tập ra Bắc để họp với trung ương Đảng bàn
về đường lối cách đánh của quân dân miền Nam trong tình hình mới. Tại cuộc họp này
Bộ chính trị đã nhấn mạnh cách đánh của cách mạng miền nam là đánh du kích dựa

vào lực lượng Biệt động là chính, địch chỉ chiếm đóng ở các vùng đơ thị ít chiếm đóng
ở các vùng đồng bằng và nơng thơn, tại các đô thị chúng sử dụng và tập trung nhiều


16

quân số và phương tiện chiến tranh, chúng xây dựng mỗi đô thị thành một pháo đài với
nhiều tầng lớp bảo vệ và canh phòng nghiêm ngặt, nên cách đánh của lực lượng Biệt
động là thích hợp, đó là lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, bí mật tiếp cận mục tiêu
phá hủy và tiêu diệt sinh lực địch rồi rút ra ngồi an tồn. Đây có thể coi là cách đánh
sáng tạo của đảng ta mà ít có trên thế giới với cách đánh này chúng ta không cần lực
lượng quá nhiều và nhiều phương tiện chiến tranh hay sử dụng nhiều vũ khí mà cần số
ít quân nhưng tinh nhuệ và sáng tạo trong cách đánh tùy cơ ứng biến mà hiệu quả lại
cao, ít mất mát về người và vũ khí chiến tranh.
Vào những năm 1961-1965 Mĩ đề ra chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Đà Nẵng
là một trong những vùng trọng điểm “Bình định” nên Mĩ - Diệm tập trung nhiều lực
lượng thực hiện kế hoạch bình định, gom dân và lập ấp chiến lược.
Địa bàn Đà Nẵng là địa bàn đô thị, cư dân tập trung nên địch chỉ xây dựng bộ
máy kìm kẹp ngày càng chặt chẽ nhằm đàn áp các cuộc đấu tranh và kiểm sốt nhân
dân. Bên cạnh đó chúng cịn tung ra các chiêu mị dân, phồn vinh giả tạo nhằm xoa
dịu phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Còn ở vùng Hòa Vang là vành đai bảo vệ
Đà Nẵng chúng tích cực bình định, chúng bắt nhân dân ở đây đóng tiền để xây ấp
chiến lược, ngồi ra chúng còn xây dựng mạng lưới mật vụ, gián điệp, chỉ điểm dày
đặc tại đây.
Đồng thời với việc xây dựng lên các ấp chiến lược vào tháng 07 năm 1962 Mĩ Diệm ra sắc lệnh số 162/NV chia Quảng Nam Đà Nẵng thành 02 tỉnh, tỉnh Quảng
Nam từ Quế Sơn trở ra, tỉnh Quảng Tín từ Thăng Bình trở vào và địa giới được phân
chia lại, đặt lại một số địa danh.
Thời điểm này tuy ở Đà Nẵng, Biệt động chưa được phát triển rộng rãi, nhưng
cũng có những cơ sở Biệt động ở khu Đông sông Trà, khu Đa Mặn- Mỹ Thị vẫn phát
huy được tác dụng, nhiệm vụ chính là phát động phong trào, nắm tình hình địch, xây

dựng cơ sở chuẩn bị cho sự thành lập các tổ đội Biệt động sau này. Kết hợp xây dựng
lực lượng đội Biệt động diệt ác tạo thế làm chủ của nhân dân, tiêu biểu có đội biệt
động huyện Hịa Vang do đồng chí Trần Thị Kim Cúc làm đội trưởng chỉ huy dùng
lựu đạn tập kích diệt tên cố vấn Mĩ, làm bị thương 02 tên khác tại bán đảo Sơn Trà
năm 1961.
Vào tháng 11 năm 1962 xuất phát từ tình hình mới, khu ủy khu 5 quyết định tách
Quảng Nam Đà Nẵng thành 02 tỉnh, Quảng Nam từ Quế Sơn trở vào tỉnh Quảng Đà từ
Duy Xuyên trở ra Hòa Vang và Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Đà.
Sau chia tách tỉnh, tỉnh Quảng Đà tiến hành đại hội tại huyện Hiên bầu ra ban
chấp hành bầu đồng chí Hồ Nghinh làm Bí thư và nhanh chóng củng cố lực lượng, đề
ra các chủ trương, biện pháp đấu tranh mới, đồng chí Nguyễn Hữu Đức làm tỉnh


×