Tải bản đầy đủ (.pdf) (126 trang)

NGUYỄN THỊ THẢO THỬ NGHIỆM mô HÌNH tư vấn của dược sĩ lâm SÀNG TRÊN BỆNH NHÂN đái THÁO ĐƯỜNG TYP 2 được QUẢN lý NGOẠI TRÚ tại BỆNH VIỆN hữu NGHỊ LUẬN văn dược sỹ CHUYÊN KHOA cấp II

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.48 MB, 126 trang )

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THẢO

THỬ NGHIỆM MƠ HÌNH TƯ VẤN CỦA
DƯỢC SĨ LÂM SÀNG TRÊN
BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
ĐƯỢC QUẢN LÝ NGOẠI TRÚ TẠI
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ
CHUYÊN NGÀNH : DƯỢC LÝ VÀ DƯỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ: CK 62720405
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Thị Thúy Vân
HÀ NỘI, NĂM 2022


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu sử dụng
trong luận văn này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một cơng trình
nào khác.

Hà Nội, ngày 29 tháng 04 năm 2022
Học viên

Nguyễn Thị Thảo


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS.
Phạm Thị Thúy Vân – Phó Trưởng, Phụ trách Bộ mơn Dược lâm sàng – Trường Đại
học Dược Hà Nội đồng thời là Trưởng Đơn vị Dược lâm sàng – Bệnh viện Hữu Nghị.


Cô là người đã dẫn dắt tôi từ những bước đầu tiên tiếp cận với thực hành dược lâm
sàng tại bệnh viện đến quá trình thực hiện luận văn này cũng là thử nghiệm triển khai
một hoạt động dược lâm sàng mới tại Bệnh viện Hữu Nghị.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hương – nguyên Trưởng
Bộ môn Dược lâm sàng – Trường Đại học Dược Hà Nội, Cô đã luôn động viên và cho
tơi những ý kiến q báu trong q trình thực hiện luận văn.
Tơi dành những tình cảm chân thành nhất tới ThS. Cao Thị Bích Thảo, ThS.
Đồng Thị Xuân Phương, TS. Nguyễn Tứ Sơn – giảng viên Bộ môn Dược lâm sàng –
là đồng nghiệp đồng thời cũng là những người anh, người chị luôn đồng hành cùng tôi,
hỗ trợ và động viên tơi vượt qua mọi khó khăn trong q trình thực hiện đề tài. Tơi
cảm ơn ThS. Nguyễn Hữu Duy, ThS. Phan Đức Bình, ThS. Dương Khánh Linh –
giảng viên Bộ môn Dược lâm sàng đã luôn hỗ trợ và cho tơi những ý kiến q giá để
hồn thiện đề tài. Tôi cảm ơn tập thể các giảng viên bộ môn Dược lâm sàng – Trường
Đại học Dược Hà Nội đã luôn hỗ trợ tôi trong công việc để tôi dành thời gian nhiều
nhất cho việc thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS. Lê Vân Anh – Trưởng khoa Dược, ThS. Phạm Thị
Diệu Huyền – Phó Trưởng khoa Dược, các dược sĩ tại bộ phận cấp phát thuốc ngoại
trú, các bác sĩ khoa Khám Bệnh – Bệnh viện Hữu Nghị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi thực hiện luận văn này. Tôi cảm ơn ThS. Nguyễn Thị Thu Hương, DS. Nguyễn
Thị Hoa, DS. Đinh Thị Chi – Dược sĩ lâm sàng tại bệnh viện Hữu Nghị đã hỗ trợ tôi
rất nhiều trong q trình thực hiện luận văn. Tơi gửi lời cảm ơn tới TS.BS. Nguyễn Thị
Thanh Thủy – Trưởng khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Cử nhân điều dưỡng Đào Khắc
Dương, ThS.BS. Phạm Thị Hằng đã nhiệt tình góp ý cho bộ tài liệu tư vấn của đề tài.
Tôi cảm ơn DS. Nguyễn Thanh Bình – Dược sĩ khóa 70 đã hỗ trợ tơi trong q trình
thiết kế bộ tài liệu tư vấn.


Xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học – Trường Đại học
Dược Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tơi hồn thành q trình học tập cũng như
luận văn tốt nghiệp này.

Cuối cùng, luận văn của tơi khơng thể hồn thành nếu thiếu đi sự động viên, giúp
đỡ của bố mẹ, gia đình và bạn bè. Đặc biệt, tơi muốn bày tỏ tình cảm yêu thương tới
chồng tôi, người đã luôn bên cạnh tôi, cảm thông, chia sẻ, ủng hộ tôi và là chỗ dựa tinh
thần vững chắc cho tôi vượt qua mọi khó khăn trong q trình học tập, làm việc và
trong cuộc sống.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 04 năm 2022
Học viên

Nguyễn Thị Thảo


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ......................................................................................... 3
1.1. Tư vấn sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ............................. 3
1.1.1. Tổng quan chung về tư vấn sử dụng thuốc........................................................... 3
1.1.2. Thực trạng các vấn đề liên quan đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân đái
tháo đường typ 2 ....................................................................................................... 4
1.1.3. Vai trò của dược sĩ lâm sàng trong tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân đái tháo
đường typ 2 ............................................................................................................... 7
1.1.4. Nội dung dược sĩ cần tư vấn cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ...................... 9
1.1.5. Các cách thức triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái
tháo đường typ 2 ..................................................................................................... 10
1.2. Tư vấn sử dụng thuốc từ xa trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ................. 11
1.2.1. Một số yêu cầu khi triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa ................ 11
1.2.2. Các hình thức triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa ......................... 12
1.2.3. Một số khó khăn khi triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa .............. 13
1.2.4. Tổng quan các nghiên cứu triển khai/đánh giá hoạt động tư vấn sử dụng thuốc
từ xa trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ............................................................. 15

1.2.5. Vai trò của việc triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa trên bệnh nhân
đái tháo đường typ 2 trong đại dịch COVID – 19 .................................................. 18
1.3. Hoạt động chăm sóc cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Hữu
Nghị ......................................................................................................................... 22
1.4. Khung logic áp dụng để triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa ..... 24
1.4.1. Khung logic chung ............................................................................................. 24
1.4.2. Khung logic áp dụng cho hoạt động chăm sóc dược.......................................... 25
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 27
2.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................... 27
2.2. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 27
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................ 27
2.2.2. Quy trình nghiên cứu .......................................................................................... 27


2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu............................................................................................... 32
2.3.1. Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 1 .................................................................... 32
2.3.2. Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 2 .................................................................... 32
2.4. Một số quy ước sử dụng trong nghiên cứu......................................................... 33
2.4.1. Quy ước về tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết của bệnh nhân ...................... 33
2.4.2. Quy ước về một số DRP khác liên quan đến hành vi dùng thuốc hạ đường huyết
của bệnh nhân ......................................................................................................... 33
2.4.3. Quy ước đánh giá ADR về hạ đường huyết và kiến thức của bệnh nhân liên
quan đến ADR hạ đường huyết............................................................................... 34
2.4.4. Quy ước về hành vi thực hiện các biện pháp không dùng thuốc trong điều trị đái
tháo đường typ 2 ..................................................................................................... 35
2.4.5. Quy ước ảnh hưởng của bệnh đái tháo đường typ 2 đến tâm lý của bệnh nhân 35
2.5. Đạo đức nghiên cứu .............................................................................................. 35
2.6. Phương pháp xử lý số liệu .................................................................................... 36
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 37
3.1. Đặc điểm triển khai mô hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa thực hiện bởi dược

sĩ lâm sàng trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ............................................... 37
3.1.1. Đặc điểm các thông số của q trình triển khai mơ hình tư vấn ........................ 37
3.1.2. Đặc điểm của bệnh nhân được tư vấn ................................................................ 38
3.1.3. Đặc điểm nền các vấn đề liên quan đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân
trước tư vấn ............................................................................................................. 40
3.1.4. Đặc điểm các nội dung được dược sĩ tư vấn cho bệnh nhân .............................. 44
3.2. Đánh giá hiệu quả của mơ hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa triển khai bởi
dược sĩ lâm sàng ..................................................................................................... 46
3.2.1. Thay đổi tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết sau tư vấn lần 1 ........................ 46
3.2.2. Thay đổi một số DRP khác liên quan đến hành vi dùng thuốc hạ đường huyết
sau tư vấn lần 1 ....................................................................................................... 47
3.2.3. Thay đổi một số các thông số khác sau tư vấn lần 1 .......................................... 50
3.2.4. Quan điểm của bệnh nhân về mơ hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa ................... 50
3.2.5. Thay đổi kết quả điều trị - giá trị HbA1c sau khi kết thúc mơ hình tư vấn........ 52


CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN ........................................................................................... 54
4.1. Bàn luận về mô hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa được thử nghiệm ............... 54
4.1.1. Bàn luận về vai trò của việc triển khai mơ hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa ..... 54
4.1.2. Bàn luận về đặc điểm của mô hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa thử nghiệm ..... 55
4.2. Bàn luận về đặc điểm triển khai mô hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa ........... 57
4.2.1. Bàn luận về các thơng số của q trình triển khai mơ hình tư vấn .................... 58
4.2.2. Bàn luận về đặc điểm của bệnh nhân được tư vấn ............................................. 61
4.3. Bàn luận về hiệu quả của mơ hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa ....................... 64
4.3.1. Thay đổi tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết sau tư vấn lần 1 ........................ 64
4.3.2. Thay đổi 1 số DRP khác liên quan đến hành vi dùng thuốc hạ đường huyết sau
tư vấn lần 1 .............................................................................................................. 65
4.3.3. Thay đổi kết quả điều trị - giá trị HbA1c sau khi kết thúc mô hình tư vấn........ 66
4.3.4. Bàn luận về quan điểm của bệnh nhân về mơ hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa 68
4.4. Bàn luận về các yếu tố tác động đến việc triển khai mơ hình tư vấn .............. 69

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ......................................................................................... 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt

Tên tiếng Anh

Mô tả

COVID-19

Coronavirus disease

Bệnh gây ra do vi rút SARS-CoV-2

DRP

Drug - related problem

Vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc

MARS-5

Medication Adherence Report Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ dùng

DDS2


Scale

thuốc

Diabete Distress Scale

Bộ câu hỏi đánh giá ảnh hưởng của
bệnh đái tháo đường đến tâm lý
bệnh nhân

ADR

Adverse Drug Reaction

Phản ứng có hại của thuốc

IQR

Interquartile range

Khoảng tứ phân vị

SD

Standard deviation

Độ lệch chuẩn

HĐH


Hạ đường huyết

TV

Tư vấn

BN

Bệnh nhân


DANH MỤC BẢNG
Tên bảng

Trang

Bảng 3.1. Đặc điểm các thông số của q trình triển khai mơ hình tư vấn

38

Bảng 3.2. Đặc điểm chung của bệnh nhân được tư vấn

39

Bảng 3.3. Đặc điểm đơn thuốc của bệnh nhân được tư vấn

40

Bảng 3.4. Đặc điểm nền 1 số DRP khác về đến hành vi dùng thuốc HĐH


42

Bảng 3.5. Đặc điểm nền tần suất gặp ADR HĐH và kiến thức xử trí HĐH

43

Bảng 3.6. Đặc điểm nền vấn đề liên quan đến hành vi tự chăm sóc khác

44

Bảng 3.7. Đặc điểm nền về ảnh hưởng của dịch COVID-19 đến các hành vi

44

tự chăm sóc
Bảng 3.8. Tỷ lệ bệnh nhân được tư vấn theo từng nội dung

45

Bảng 3.9. Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc trước và sau tư vấn lần 1

47

Bảng 3.10. Quan điểm của bệnh nhân về mơ hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa

51

Bảng 3.11. Thay đổi tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát HbA1c trước và sau tư vấn

52



DANH MỤC HÌNH
Tên hình

Trang

Hình 1.1. Khung logic chung để triển khai/đánh giá một hoạt động

24

Hình 1.2. Khung logic áp dụng cho hoạt động tư vấn sử dụng thuốc

25

Hình 3.1. Sơ đồ tiếp nhận bệnh nhân trong mơ hình tư vấn

37

Hình 3.2. Đặc điểm nền tuân thủ dùng thuốc hạ đường huyết trước tư vấn

41

Hình 3.3. Tổng điểm tuân thủ của bệnh nhân trước và sau tư vấn lần 1

47

Hình 3.4. Số DRP/bệnh nhân trước và sau tư vấn lần 1

48


Hình 3.5. Tỷ lệ BN có ít nhất 1 DRP trước và sau tư vấn lần 1

49

Hình 3.6. Tỷ lệ DRP liên quan đến hành vi dùng thuốc HĐH được giải

49

quyết sau tư vấn lần 1
Hình 3.7. Thay đổi một số thơng số khác sau tư vấn lần 1

50

Hình 3.8. Thay đổi giá trị HbA1C trước và sau tư vấn

52


DANH MỤC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1. Một số nghiên cứu về tác động của tình trạng khơng tn thủ dùng thuốc
trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2.
PHỤ LỤC 2. Mô tả các nghiên cứu triển khai/đánh giá hoạt động tư vấn sử dụng thuốc
từ xa cho bệnh nhân ĐTĐ typ 2.
PHỤ LỤC 3. Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 lên tuân thủ
dùng thuốc và thực hiện các biện pháp thay đổi lối sống trên bệnh nhân đái tháo đường
typ 2.
PHỤ LỤC 4. Nội dung và ảnh minh họa các tài liệu sử dụng trong mơ hình tư vấn sử
dụng thuốc từ xa
PHỤ LỤC 5. Ảnh minh họa quy trình tư vấn sử dụng thuốc từ xa cho bệnh nhân ĐTĐ

typ 2
PHỤ LỤC 6. Quy trình lựa chọn bệnh nhân trước khi tư vấn
PHỤ LỤC 7. Bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ MARS-5
PHỤ LỤC 8. Bộ câu hỏi đánh giá một số DRP trong dùng thuốc hạ đường huyết
PHỤ LỤC 9. Bộ câu hỏi đánh giá ADR hạ đường huyết và kiến thức/kỹ năng xử trí
liên quan
PHỤ LỤC 10. Bộ câu hỏi đánh giá ý thức kiểm soát chế độ ăn và thực hiện luyện tập
theo khuyến cáo
PHỤ LỤC 11a. Bộ câu hỏi đánh giá ảnh hưởng của bệnh đái tháo đường đến tâm lý
của bệnh nhân – DDS2
PHỤ LỤC 11b. Câu hỏi đánh giá ảnh hưởng của dịch COVID – 19 đến tâm lý của
bệnh nhân
PHỤ LỤC 12. Bộ câu hỏi đánh giá quan điểm của bệnh nhân về hoạt động tư vấn sử
dụng thuốc từ xa
PHỤ LỤC 13. Phiếu thu thập thông tin
PHỤ LỤC 14. Standee và tờ rơi thông báo cho bệnh nhân về triển khai mơ hình tư vấn
sử dụng thuốc từ xa
PHỤ LỤC 15. Mô tả chi tiết các DRP về dùng thuốc hạ đường huyết của bệnh nhân


ĐẶT VẤN ĐỀ
Tư vấn sử dụng thuốc là một phần quan trọng trong hoạt động chăm sóc dược –
hoạt động dược lâm sàng trên cá thể từng bệnh nhân. Mục tiêu của hoạt động tư vấn sử
dụng thuốc là giáo dục và hỗ trợ bệnh nhân để đảm bảo tuân thủ điều trị và giảm thiểu
các vấn đề liên quan đến hành vi sử dụng thuốc [20]. Về mặt lâm sàng, không tuân thủ
điều trị dẫn đến giảm hiệu quả điều trị và tăng gánh nặng bệnh tật. Các nghiên cứu ước
tính chỉ có khoảng 50% bệnh nhân mắc bệnh mạn tính sử dụng thuốc đúng theo chỉ
định và hướng dẫn của bác sĩ [30]. Thực trạng này cùng với sự gia tăng tỷ lệ và gánh
nặng của bệnh mạn tính trên tồn thế giới nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò của
dược sĩ trong hoạt động tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân.

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh lý mạn tính với tỷ lệ số người mắc ngày càng
gia tăng trên thế giới và các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Dữ liệu đến
năm 2019 của Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF) ước tính xấp xỉ 463 triệu
người mắc đái tháo đường và con số này sẽ tăng lên 578 triệu năm 2030 và 700 triệu
năm 2045. Đái tháo đường typ 2 chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 90%) trong tổng số bệnh
nhân đái tháo đường [41]. Để đạt được mục tiêu kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa
biến chứng, bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cần có các hành vi tự chăm sóc phù hợp
với khuyến cáo như tuân thủ điều trị (dùng thuốc, thực hiện các biện pháp thay đổi lối
sống), giám sát đường huyết, quản lý cảm xúc tiêu cực…[89]. Tuy nhiên, một tổng
quan hệ thống thực hiện năm 2020 tại các nước thu nhập trung bình và thấp cho thấy
tỷ lệ tuân thủ thực hiện các hành vi tự chăm sóc theo khuyến cáo khá dao động, trong
đó tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc từ 26 - 97% [74]. Ngoài ra, bệnh nhân đái tháo đường typ
2 còn đối mặt với nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng do COVID-19 khi đại
dịch này bắt đầu từ tháng 12/2019 [50] và các biện pháp kiểm soát đại dịch có thể gây
ảnh hưởng tiêu cực đến các hành vi tự chăm sóc trong kiểm sốt bệnh của bệnh nhân
[22]. Thực trạng này cũng đặt ra một thách thức lớn cho dược sĩ trong việc tư vấn sử
dụng thuốc cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2, đặc biệt là trong bối cảnh dịch
COVID-19 vẫn còn đang diễn ra phức tạp trên thế giới và tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân là một trong các hoạt động
của dược sĩ lâm sàng được quy định trong nhiều văn bản pháp quy như: Luật dược
năm 2016 [10], Hướng dẫn thực hành Dược lâm sàng cho dược sĩ trong các bệnh
không lây nhiễm năm 2019 [5] và gần đây nhất là Nghị định Quy định về tổ chức và
1


hoạt động dược lâm sàng của cơ sở khám, chữa bệnh năm 2020 [7]. Các bệnh viện tại
Việt Nam đang nỗ lực để hướng tới triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc cho
bệnh nhân theo yêu cầu trong các văn bản pháp quy này.
Bệnh viện Hữu Nghị là một bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế. Đối
tượng khám chữa bệnh chủ yếu tại bệnh viện là người cao tuổi. Bệnh viện hiện đang

quản lý khoảng 2500 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 khám và điều trị ngoại trú. Số
liệu trong một số nghiên cứu đã thực hiện tại bệnh viện ước tính khoảng 50% bệnh
nhân không đạt mục tiêu HbA1c và tồn tại một số vấn đề thuộc về hành vi dùng thuốc
của bệnh nhân cần can thiệp như: bệnh nhân sử dụng thuốc với liều tùy tiện (23,8%),
bệnh nhân dùng thuốc sai cách (25,1%) [11]. Tháng 5/2017, đơn vị Dược lâm sàng
chính thức được thành lập, đến nay ngoài các hoạt động dược lâm sàng chung, đơn vị
đã triển khai được các hoạt động dược lâm sàng trên bệnh nhân tại một số khoa điều trị
nội trú. Với mục tiêu mở rộng hoạt động dược lâm sàng trên bệnh nhân điều trị ngoại
trú, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thử nghiệm mô hình tư vấn của dược sĩ lâm sàng
trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được quản lý ngoại trú tại Bệnh viện Hữu Nghị”.
Nghiên cứu được thực hiện tại thời điểm Hà Nội đang trong đợt dịch COVID-19 thứ 4
khốc liệt và phải giãn cách xã hội toàn thành phố theo chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ
tướng Chính phủ [13]. Trong bối cảnh dịch COVID-19 xuất hiện, Bộ Y tế đã phê
duyệt đề án “Khám, chữa bệnh từ xa” giai đoạn 2020 – 2025 để khuyến khích các hoạt
động khám và điều trị chuyển hướng từ trực tiếp sang từ xa để giảm sự lây lan của đại
dịch. Chính vì vậy, để phù hợp với bối cảnh triển khai, chúng tơi thử nghiệm mơ hình
tư vấn sử dụng thuốc từ xa trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tập trung vào nhóm
bệnh nhân khơng đạt mục tiêu điều trị với 02 mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm triển khai mơ hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa thực hiện bởi dược sĩ
lâm sàng trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được quản lý ngoại trú tại Bệnh viện
Hữu Nghị.
2. Đánh giá hiệu quả của mơ hình tư vấn sử dụng thuốc từ xa được triển khai bởi dược
sĩ lâm sàng trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được quản lý ngoại trú tại Bệnh viện
Hữu Nghị.
Kết quả của nghiên cứu hi vọng sẽ cung cấp những thơng tin hữu ích để Bệnh
viện cân nhắc tiến hành triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa trên quy mô
rộng hơn.
2



CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tư vấn sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2
1.1.1. Tổng quan chung về tư vấn sử dụng thuốc
1.1.1.1. Định nghĩa tư vấn sử dụng thuốc
Theo Dược điển Mỹ (United State Pharmacopoeia – USP), tư vấn sử dụng thuốc
cho bệnh nhân là “một phương pháp tiếp cận tập trung vào nâng cao kỹ năng giải
quyết vấn đề của bệnh nhân với mục tiêu cải thiện hoặc duy trì chất lượng sức khỏe và
chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân”[86]. Trong tư vấn sử dụng thuốc, dược sĩ sẽ
cung cấp và thảo luận các thông tin về thuốc trên cơ sở tôn trọng các khía cạnh về thể
chất, tâm lý, tình cảm, quan điểm và niềm tin về sức khỏe cũng như giá trị của từng
bệnh nhân. Trách nhiệm của dược sĩ là hỗ trợ để bệnh nhân có thêm động lực phát
triển các kỹ năng quản lý việc dùng thuốc và theo hướng tự chịu trách nhiệm. Điều này
đòi hỏi dược sĩ cần phải có sự đồng cảm, chân thành và kiên nhẫn [14]. Trong tư vấn
sử dụng thuốc, mức độ thông tin cần chi tiết và phù hợp với từng cá thể bệnh nhân.
Bản chất của quá trình này là tương tác hai chiều và là một quá trình học tập cho cả
dược sĩ và bệnh nhân [107].
1.1.1.2. Mục tiêu của tư vấn sử dụng thuốc
Tư vấn sử dụng thuốc là quá trình dược sĩ thảo luận với bệnh nhân về các thuốc
điều trị nhằm hai mục tiêu chính: giáo dục bệnh nhân những thông tin liên quan đến
thuốc và giúp đỡ bệnh nhân để đạt được lợi ích tốt nhất của việc dùng thuốc. Với hai
mục tiêu này, dược sĩ cần giáo dục và hỗ trợ để bệnh nhân nâng cao kiến thức và kĩ
năng từ đó thay đổi thái độ và hành vi dùng thuốc của mình. Để đạt được mục tiêu
này, dược sĩ cần thực hiện từng bước, điều quan trọng nhất là trong quá trình tư vấn sử
dụng thuốc cần đưa thông tin phù hợp với nhu cầu của từng bệnh nhân [90].
Theo Hiệp hội dược sĩ Mỹ, tư vấn sử dụng thuốc nhằm mục tiêu cải thiện tuân
thủ điều trị và giảm thiểu các vấn đề liên quan đến thuốc (Drug – related problems DRPs) khác trên hành vi của bệnh nhân [20].
1.1.1.3. Vai trò của tư vấn sử dụng thuốc trong hoạt động chăm sóc dược
Tư vấn sử dụng thuốc là một phần quan trọng trong hoạt động chăm sóc dược
cho bệnh nhân [20]. Theo Hiệp hội chăm sóc Dược Châu Âu, chăm sóc dược được
3



định nghĩa là “những đóng góp của dược sĩ trong việc chăm sóc cho từng bệnh nhân
với mục tiêu tối ưu hóa việc sử dụng thuốc và cải thiện kết cục về sức khỏe”. Đây là
quá trình mà dược sĩ tương tác với bệnh nhân và các nhân viên y tế khác để thiết kế,
triển khai, giám sát kế hoạch điều trị bệnh nhằm giúp bệnh nhân đạt được mục tiêu
điều trị. Hai nhiệm vụ chính của hoạt động chăm sóc dược là phát hiện các vấn đề liên
quan đến sử dụng thuốc (DRPs) và giải quyết các vấn đề này. Ngồi các DRP xảy ra
trong q trình kê đơn thì các DRP liên quan đến hành vi dùng thuốc của bệnh nhân
cũng xảy ra khá phổ biến trong quá trình điều trị. Chính vì vậy chức năng cơ bản của
chăm sóc dược ngồi việc xem xét đơn thuốc và tư vấn cho bác sĩ kê đơn thì hoạt động
tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân là một phần rất quan trọng [14].
Tại Việt Nam, thuật ngữ chăm sóc dược được nhắc đến trong tài liệu “Hướng
dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ trong một số bệnh khơng lây nhiễm”. Theo
tài liệu này, chăm sóc dược là sự chăm sóc mà từng bệnh nhân yêu cầu và nhận được
khi trị liệu bằng thuốc, giúp đảm bảo việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý [5]. Khác
với thực hành dược lâm sàng chung, chăm sóc dược chỉ tập trung vào bệnh nhân cụ thể
nói cách khác là tập trung vào thực hành dược lâm sàng trên từng người bệnh. Trong
tài liệu hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ này một lần nữa nhấn mạnh
hoạt động tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân là một trong những nội dung quan
trọng trong hoạt động chăm sóc dược.
1.1.2. Thực trạng các vấn đề liên quan đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân đái
tháo đường typ 2
Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa khơng đồng nhất, có đặc điểm
tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai
[2]. Tình trạng tăng đường huyết mạn tính trong bệnh đái tháo đường có thể gây tổn
thương mạch máu và dây thần kinh, dẫn đến các biến chứng mạch máu nhỏ và mạch
máu lớn. Trong đó, biến chứng mạch máu lớn là nguyên nhân tử vong chiếm tỷ lệ hơn
50% ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 [44].
Mục tiêu cuối cùng của quản lý bệnh đái tháo đường là kiểm soát đường huyết

tối ưu và ngăn ngừa biến chứng. Quản lý đường huyết được đánh giá chủ yếu bằng xét
nghiệm HbA1c. Đây là xét nghiệm được chứng minh có lợi ích trong đánh giá việc
4


kiểm soát đường huyết của bệnh nhân [16]. Theo hướng dẫn điều trị Đái tháo đường
của Bộ Y tế ban hành năm 2020, mục tiêu HbA1c chung cần đạt cho đối tượng người
trưởng thành là 7%, tuy nhiên có thể nghiêm ngặt hơn (< 6,5%) hoặc nới lỏng hơn (<
8%). Ngồi ra, bệnh nhân cần được kiểm sốt tích cực các yếu tố nguy cơ tim mạch
truyền thống nhằm hạn chế các biến chứng trên mạch máu lớn [2].
Để nhằm đạt được các mục tiêu này, bên cạnh tối ưu hóa phác đồ điều trị, bệnh
nhân cần tuân thủ dùng thuốc, chế độ ăn uống, luyện tập thể chất và theo dõi đường
huyết [2]. Đối với bệnh nhân đái tháo đường typ 2, Hiệp hội các nhà giáo dục bệnh đái
tháo đường Hoa Kỳ đã khuyến cáo 7 hành vi tự chăm sóc thiết yếu, bao gồm: thực
hiện chế độ ăn uống, luyện tập thể chất, tuân thủ dùng thuốc, giám sát đường huyết, kỹ
năng giải quyết vấn đề khi gặp biến chứng (tăng đường huyết, hạ đường huyết), biện
pháp giảm thiểu và kỹ năng đối phó với những cảm xúc tiêu cực [89]. Việc tuân thủ
thực hiện các hành vi tự chăm sóc theo khuyến cáo rất phức tạp, thử thách và là trách
nhiệm chính của bệnh nhân. Để có biện pháp can thiệp tối ưu khi tư vấn sử dụng thuốc
cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2, cần nhìn nhận rõ thực trạng tuân thủ dùng thuốc
cũng như các hành vi tự chăm sóc khác của bệnh nhân đái tháo đường typ 2.
1.1.2.1. Thực trạng trên thế giới
❖ Thực trạng tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2
Các nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 đã ghi nhận mối liên quan
giữa tuân thủ dùng thuốc và các kết cục về sức khỏe và chi phí. Các nghiên cứu cũng
chỉ ra không tuân thủ dùng thuốc là một thực trạng phổ biến và trở thành một trong
những rào cản của việc tối ưu hóa hiệu quả điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường [101].
Một phân tích gộp năm 2015 ước tính mức độ tuân thủ dùng thuốc hạ đường
huyết đường uống trên bệnh nhân đái tháo đường cho thấy tỷ lệ bệnh nhân không tuân
thủ dùng thuốc là 67,9%, tỷ lệ bệnh nhân duy trì dùng thuốc là 56,2% và tỷ lệ bệnh

nhân ngừng dùng thuốc là 31,8% [58]. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ dùng
thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có thể đề cập đến như:
- Yếu tố thuộc về bệnh nhân: Tuổi, giới, tình trạng hơn nhân, nhận thức về sự cần thiết
của việc dùng thuốc, tình trạng sức khỏe.

5


- Yếu tố thuộc về bệnh lý và phác đồ điều trị: thời gian mắc bệnh, bệnh mắc kèm, mức
HbA1c, loại thuốc hạ đường huyết, tác dụng không mong muốn của thuốc.
- Yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe: chi phí chăm sóc sức khỏe, tình
trạng bảo hiểm y tế, mức độ thăm khám bác sĩ [60], [65].
Tình trạng khơng tn thủ dùng thuốc sẽ ảnh hưởng xấu tới kết cục lâm sàng (gia
tăng tăng tỷ lệ nhập viện, tăng nguy cơ mắc các biến chứng nhồi máu cơ tim, đột quỵ,
gia tăng tỷ lệ tử vong) cũng như gia tăng chi phí điều trị đái tháo đường typ 2 [46],
[62]. Phụ lục 1 tóm tắt một số nghiên cứu về tác động của việc không tuân thủ dùng
thuốc đến các kết cục lâm sàng và chi phí điều trị trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2.
❖ Thực trạng một số vấn đề khác liên quan đến hành vi dùng thuốc trên bệnh nhân
đái tháo đường typ 2
Ngoài vấn đề liên quan đến tuân thủ điều trị, một số vấn đề khác liên quan đến
hành vi dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 như dùng thuốc sai cách, sai
thời điểm, sai liều, khó khăn trong việc dùng thuốc cũng là một thực trạng được ghi
nhận trong một số nghiên cứu. Nghiên cứu của tác giả Granas năm 2010 cho kết quả
DRP liên quan đến hành vi sử dụng thuốc của bệnh nhân (sai thuốc và sai liều) là loại
DRP phổ biến thứ 2 (14%) trong số các DRP [49]. Nghiên cứu của tác giả Haugbølle
năm 2006 cho kết quả DRP liên quan hành vi sử dụng thuốc không đúng theo hướng
dẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất (26,9%) trong số các DRP [52].
❖ Thực trạng tuân thủ thực hiện các hành vi tự chăm sóc khác của bệnh nhân đái tháo
đường typ 2
Một tổng quan hệ thống năm 2019 gồm 27 nghiên cứu tại các nước có thu nhập

trung bình/thấp cho thấy tỷ lệ tuân thủ với các hành vi tự chăm sóc khá dao động, cụ
thể như: 29,9 – 91,7% với việc thực hiện chế độ ăn lành mạnh; 26 – 97% với việc
dùng thuốc; 13,0 – 79,9% với việc tự theo dõi đường huyết; 26,7 – 69,0% với việc
luyện tập thể chất [74].
Một phân tích gộp năm 2020 gồm 21 nghiên cứu với 7168 người tham gia tại
Ethiopia đã cho thấy tỷ lệ tuân thủ kém trong việc thực hiện các hành vi tự chăm sóc là
49,79% (các cấu phần: khơng tuân thủ chế độ ăn – 49,22%, không tuân thủ luyện tập
thể chất – 50,45%, không tuân thủ dùng thuốc – 24,65%) [51].
6


1.1.2.2. Thực trạng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thực trạng tuân thủ dùng thuốc và các hành vi tự chăm sóc khác
của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được mơ tả trong một số ít cơng bố trong nước.
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Hồng Thanh năm 2018 thực hiện trên 822 người bệnh
đái tháo đường typ 2 được quản lý tại phòng khám Nội Tiết bệnh viện Thanh Nhàn
cho thấy tỉ lệ bệnh nhân quên thuốc là 12,9% trong đó tỉ lệ quên thuốc viên (uống) là
55,7% và quên thuốc tiêm là 44,3% [12]. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương Giang
năm 2013 thực hiện trên 210 người bệnh đái tháo đường typ 2 đang điều trị ngoại trú
tại phòng khám nội tiết, cho thấy tỷ lệ không tuân thủ dùng thuốc là 21,9% [8]. Nghiên
cứu của Nguyễn Hồng Phát trên 282 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ngoại trú tại bệnh
viện Đại học Y Dược Huế cho thấy tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ dùng thuốc là
31,9% [9].
Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Lan Anh về một số vấn đề liên quan
đến hành vi dùng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú cho thấy
đối với thuốc đường uống, tỷ lệ bệnh nhân dùng thuốc sai thời điểm là 11,3%; dùng
thuốc sai cách là 9,4%, dùng thuốc sai liều là 8,7%. Trong khi đó, đối với insulin, tỷ lệ
này tương ứng là 20,5% và 15,7% và 2,4% [1].
1.1.3. Vai trò của dược sĩ lâm sàng trong tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân đái
tháo đường typ 2

Đái tháo đường typ 2 là một bệnh mạn tính khơng thể chữa khỏi và ảnh hưởng rất
lớn đến cuộc sống của bệnh nhân. Sự tham gia của bệnh nhân vào điều trị là điều tối
quan trọng quyết định thành công của việc điều trị. Bệnh nhân đái tháo đường typ 2
phải thực hiện nhiều hoạt động tự chăm sóc phức tạp hàng ngày, bao gồm thực hiện
chế độ ăn lành mạnh, vận động thể lực, tuân thủ dùng thuốc, giám sát đường huyết, kỹ
năng giải quyết vấn đề khi gặp biến chứng (tăng đường huyết, hạ đường huyết), biện
pháp giảm thiểu các nguy cơ và kỹ năng đối phó với những cảm xúc tiêu cực. Bệnh
nhân đái tháo đường và người thân sẽ thực hiện 95% các hoạt động chăm sóc, do đó,
những nỗ lực nhằm tư vấn và giáo dục để cải thiện các hành vi tự chăm sóc là yếu tố
trung tâm của bất kỳ kế hoạch điều trị nào cho bệnh nhân [82]. Cũng giống như các
bệnh mạn tính khác, việc quản lý bệnh nhân đái tháo đường typ 2 đòi hỏi sự hợp tác,
7


phối hợp của nhóm đa ngành [79]. Chính vì vậy, các can thiệp giáo dục, tư vấn cho
bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được thực hiện bởi các nhân viên y tế trong nhóm đa
ngành như bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, nhà dinh dưỡng... đã được chứng minh cải
thiện kết cục lâm sàng trên bệnh nhân [40], [68].
Trong những năm gần đây, với sự chuyển hướng vai trò của dược sĩ lâm sàng
trong việc chăm sóc bệnh nhân, dược sĩ lâm sàng với các kiến thức về điều trị đóng vai
trị chủ đạo trong việc giáo dục, tư vấn cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Những
hướng dẫn chính xác của dược sĩ về việc sử dụng thuốc, các hành vi tự chăm sóc trong
q trình tư vấn là điều cần thiết đối với bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Theo Trường
môn Dược lâm sàng Hoa Kỳ, một trong những vai trị chính của dược sĩ lâm sàng là
giáo dục bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc và các biện pháp không dùng thuốc để đạt
được hiệu quả điều trị tốt nhất cũng như để cải thiện hoặc duy trì sức khỏe của họ [29].
Chính vì vậy, những chương trình giáo dục, tư vấn được dẫn dắt bởi dược sĩ lâm sàng
đã chứng minh cải thiện hiệu quả lâm sàng trong một số tổng quan hệ thống [104],
[108]. Những tác động tích cực của những chương trình giáo dục tư vấn thực hiện bởi
dược sĩ có liên quan trực tiếp đến việc làm giảm biến chứng mạch máu lớn và mạch

máu nhỏ trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 [88]. Dược sĩ lâm sàng, một trong những
thành viên khơng thể thiếu của nhóm đa ngành, có trách nhiệm to lớn trong việc tư vấn
sử dụng thuốc cho bệnh nhân đái tháo đường để giúp họ quản lý bệnh. Tại Việt Nam,
luật Dược năm 2016 [10], sau đó là Nghị định Quy định về tổ chức và hoạt động dược
lâm sàng của cơ sở khám, chữa bệnh năm 2020 [7] cũng quy định tư vấn sử dụng
thuốc cho bệnh nhân là một trong những nhiệm vụ của dược sĩ lâm sàng tại các cơ sở
khám chữa bệnh. Ngoài ra, tài liệu“Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ
trong một số bệnh không lây nhiễm” dành riêng một chương đề cập đến các hoạt động
dược lâm sàng trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cũng nhấn mạnh, tư vấn sử dụng
thuốc là một hoạt động dược sĩ lâm sàng khi thực hiện các hoạt động chăm sóc dược
cho đối tượng bệnh nhân này [5].
Hơn nữa, qua các nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam, có thể thấy
thực trạng khơng tn thủ dùng thuốc cũng như các hành vi tự chăm sóc khác trên
bệnh nhân đái tháo đường typ 2 là một thực trạng đáng báo động và cần có biện pháp
8


can thiệp giúp bệnh nhân đạt được mục tiêu điều trị. Đối với nhiều bệnh nhân đái tháo
đường typ 2, kỹ năng thực hiện các hành vi tự chăm sóc là một thách thức khi họ
khơng có đủ kiến thức, kỹ năng, và động lực để bắt đầu và duy trì những thay đổi về
hành vi giúp họ kiểm sốt được bệnh. Dược sĩ với sứ mệnh của mình có thể giúp bệnh
nhân phát triển kiến thức và kỹ năng cần thiết trong việc dùng thuốc cũng như thực
hiện các hành vi tự chăm sóc thơng qua hoạt động tư vấn sử dụng thuốc. Bên cạnh đó,
bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cũng cần sự tự tin và động lực để có thể tự quản lý tốt
bệnh đái tháo đường của mình. Chính vì vậy, dược sĩ cần tiếp xúc, trao đổi với bệnh
nhân để hỗ trợ họ bắt đầu cũng như duy trì những thay đổi hành vi cần thiết trong lối
sống, tuân thủ dùng thuốc, tự chăm sóc…trong suốt hành trình của bệnh nhân [14].
1.1.4. Nội dung dược sĩ cần tư vấn cho bệnh nhân đái tháo đường typ 2
Với tính chất là một bệnh lý mạn tính ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của bệnh
nhân cũng như đòi hỏi sự tham gia của bệnh nhân vào quá trình điều trị, theo Hướng

dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sĩ trong các bệnh không lây nhiễm năm 2019,
nội dung dược sĩ lâm sàng tư vấn cho bệnh nhân tập trung chính vào các vấn đề liên
quan đến việc dùng thuốc của bệnh nhân. Nội dung tư vấn cần được nhấn mạnh ở cả
thuốc hạ đường huyết không phải là insulin (phần lớn là các thuốc đường uống) cũng
như insulin [5].
Đối với các thuốc hạ đường huyết dùng đường uống, bệnh nhân cần được giải
thích về vai trò của thuốc, hướng dẫn cách uống, số lần dùng, các tác dụng phụ có thể
xảy ra, nguy cơ tương tác thuốc-bệnh và thuốc-thuốc của các thuốc trong đơn. Bệnh
nhân cũng cần được lưu ý duy trì chế độ ăn bình thường, khơng bỏ bữa để tránh nguy
cơ hạ đường huyết [5].
Đối với insulin, hiện nay có rất nhiều chế phẩm khác nhau, có thể khác nhau về
nguồn gốc, thời gian khởi phát tác dụng, thời gian đạt nồng độ đỉnh và thời gian tác
dụng. Đặc biệt đây là các chế phẩm tiêm và bệnh nhân tự sử dụng ở nhà, vì vậy vai trị
của dược sĩ trong q trình tư vấn rất quan trọng để bệnh nhân có thể sử dụng đúng
các thiết bị tiêm insulin đảm bảo đạt hiệu quả điều trị mà không gây ra các tác dụng
không mong muốn. Những điểm cần lưu ý khi tư vấn sử dụng insulin cho bệnh nhân
bao gồm định liều, vị trí tiêm, kỹ thuật tiêm, sự cần thiết phải thay đổi vị trí tiêm, thời
9


điểm tiêm, cách vứt bỏ kim sau khi dùng, cách bảo quản insulin, các tác dụng không
mong muốn khi dùng insulin như hạ đường huyết và các tác dụng không mong muốn
tại chỗ [5]. Ngoài ra, tùy theo mục tiêu của cuộc tư vấn, dược sĩ có thể nhấn mạnh các
nhóm thuốc quản lý nguy cơ tim mạch đồng mắc trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2
như thuốc kiểm soát huyết áp, thuốc kiểm soát lipid máu, thuốc chống kết tập tiểu cầu
[2].
Khi tư vấn sử dụng thuốc, dược sĩ cũng cần đánh giá tuân thủ dùng thuốc, các rào
cản dẫn đến tình trạng bệnh nhân khơng tn thủ dùng thuốc và từ đó tư vấn các biện
pháp để cải thiện tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân [5].
Cũng theo hướng dẫn này, ngoài các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, trong

quá trình tư vấn cho bệnh nhân, dược sĩ nên tư vấn các hành vi tự chăm sóc khác như:
các biện pháp thay đổi lối sống (chế độ ăn, tập thể dục, hút thuốc và uống rượu), cách
nhận biết, xử trí và dự phịng các biến chứng cấp tính (hạ đường huyết, nhiễm toan
acid, tăng áp lực thẩm thấu) và quản lý các biến chứng mạn tính (bệnh thần kinh, võng
mạc, bệnh thận và nhiễm trùng), theo dõi đường huyết. Ngồi ra, dược sĩ cũng có thể
giải đáp và tư vấn cho bệnh nhân những thắc mắc liên quan đến bệnh đái tháo đường
typ 2 (tiến triển của bệnh, sự cần thiết phải quản lý bằng các biện pháp dùng thuốc và
không dùng thuốc). Một số bệnh nhân khi bị bệnh thường có tâm lý lo lắng, và chính
tâm lý lo lắng này lại ảnh hưởng đến việc kiểm soát đường huyết của bệnh nhân [5],
[99]. Chính vì vậy, việc giải thích rõ các yếu tố giúp bệnh nhân quản lý tốt bệnh cũng
là cách để giảm bớt lo lắng của bệnh nhân.
1.1.5. Các cách thức triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái
tháo đường typ 2
Về cách thức triển khai, hoạt động tư vấn sử dụng thuốc có thể triển khai trực
tiếp hoặc triển khai từ xa hoặc có thể kết hợp giữa hai hình thức trên [59].
❖ Tư vấn sử dụng thuốc trực tiếp
Hình thức tư vấn sử dụng thuốc trực tiếp cho phép dược sĩ tương tác trực tiếp với
bệnh nhân do đó thuận tiện trong việc đánh giá bệnh nhân qua cử chỉ, lời nói và đưa ra
lời khuyên cho bệnh nhân. Tuy nhiên với hình thức tư vấn trực tiếp, cần thiết kế phòng
tư vấn đảm bảo khơng gian riêng tư, ít tiếng ồn để khơng ảnh hưởng đến cuộc thảo
10


luận giữa dược sĩ và bệnh nhân [90]. Ngoài ra, với tình trạng dịch COVID – 19 đang
diễn biến phức tạp, hình thức tư vấn sử dụng thuốc trực tiếp sẽ gặp khó khăn khi gia
tăng nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh [4].
❖ Tư vấn sử dụng thuốc từ xa
Tư vấn sử dụng thuốc từ xa là một trong những dịch vụ dược từ xa
(telepharmacy). Hiệp hội Quốc gia các Ủy ban dược phẩm của Hoa Kỳ (National
Association of Boards of Pharmacy - NABP) định nghĩa dịch vụ dược từ xa là “sự

cung cấp dịch vụ chăm sóc dược bởi các dược sĩ và nhà thuốc thông qua việc sử dụng
công nghệ viễn thông cho những bệnh nhân ở khoảng cách từ xa”[78]. Dịch vụ dược
từ xa đã được triển khai ở rất nhiều nước trên thế giới mặc dù có sự khác biệt về hệ
thống y tế. Ví dụ, dịch vụ dược từ xa được triển khai ở Úc từ những năm 1942. Tương
tự, tại Mỹ, tình trạng thiếu dược sĩ dẫn đến triển khai dịch vụ dược từ xa từ những năm
2000. Một số nước khác cũng đã triển khai dịch vụ dược từ xa như: Canada, Anh,
Hồng Kong, Bỉ, Cuba, Đức, Pháp, Nhật, Đan Mạch, Ý, Venezuela, Tây Ban Nha, Ai
Cập [54]. Dịch vụ dược từ xa giúp bệnh nhân tăng khả năng tiếp cận với dịch vụ dược,
đảm bảo việc chăm sóc liên tục và sử dụng tối ưu các nguồn lực y tế sẵn có. Dịch vụ
này tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả bệnh nhân và dược sĩ, được khuyến khích
việc sử dụng trên quy mô lớn hơn [39]. Trong thời kỳ COVID-19, dịch vụ dược từ xa
đóng vai trị tiềm năng trong việc giải quyết nhu cầu của việc cung cấp dịch vụ chăm
sóc dược. Tác giả Li H. và cộng sự đã tổng quan các hướng dẫn thực hành cho dược sĩ
lâm sàng trong thời kỳ đại dịch COVID-19, trong đó nhấn mạnh việc cần thiết chuyển
hướng sang các dịch vụ dược từ xa để giảm thiểu tiếp xúc và lây nhiễm COVID-19
[67].
1.2. Tư vấn sử dụng thuốc từ xa trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2
1.2.1. Một số yêu cầu khi triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa
Tư vấn sử dụng thuốc từ xa là một trong các hoạt động chăm sóc sức khỏe từ xa,
do đó để triển khai cần có những yêu cầu nhất định về dược sĩ tham gia triển khai,
bệnh nhân và đơn vị triển khai.
❖ Yêu cầu đối với bệnh nhân

11


Bệnh nhân được tư vấn sử dụng thuốc từ xa cần có khả năng sử dụng các thiết bị
để có thể kết nối từ xa (ví dụ điện thoại, internet) và duy trì sử dụng thiết bị này.
❖ Yêu cầu đối với đơn vị triển khai
Đơn vị triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa cần đủ các phương tiện

hỗ trợ cho hoạt động này. Đơn vị cũng cần tuân thủ các quy định về đảm bảo bí mật
thơng tin của bệnh nhân.
❖ u cầu đối với dược sĩ
- Về kiến thức, dược sĩ cần có kiến thức chuyên môn cao như kiến thức về bệnh, về
thuốc và các biện pháp điều trị bệnh. Dược sĩ cũng cần có các kiến thức liên quan đến
xã hội như các vấn đề sức khỏe phổ biến, các tổ chức chăm sóc sức khỏe, nguồn lực cá
nhân (văn hóa và kinh tế). Ngoài ra, khi thực hiện hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ
xa, dược sĩ cần bổ sung kiến thức về quy định liên quan đến lĩnh vực này, bên cạnh đó
là kỹ năng và kinh nghiệm thực hành dược trong thực tế [21].
- Về kỹ năng, khả năng giao tiếp hiệu quả, rõ ràng qua các phương tiện viễn thơng là
điều cần thiết để duy trì mối quan hệ bệnh nhân - dược sĩ khi triển khai hoạt động tư
vấn sử dụng thuốc từ xa. Giao tiếp với bệnh nhân có hiệu quả hay khơng phụ thuộc rất
nhiều vào mức độ đồng cảm của dược sĩ trong suốt quá trình tư vấn. Để làm tốt việc
này dược sĩ cần hài hòa giữa câu hỏi và cách hỏi bệnh nhân, tránh sự lặp lại nhàm
chán. Dược sĩ tư vấn tốt phải lắng nghe bệnh nhân một cách cẩn thận và chia sẻ vấn đề
một cách thân mật để bệnh nhân chia sẻ các vấn đề dùng thuốc của mình. Ngồi ra,
dược sĩ khơng nên sử dụng thuật ngữ q chun sâu vì sẽ làm bệnh nhân khó hiểu,
làm giảm hiệu quả tuân thủ điều trị. Dược sĩ cần tạo môi trường giao tiếp thuận lợi khi
sử dụng cuộc gọi thoại hoặc cuộc gọi video để tạo sự tin tưởng, thân thiện nhưng vẫn
đảm bảo sự riêng tư cá nhân cho bệnh nhân. Ngược lại dược sĩ cũng cần đảm bảo bệnh
nhân đang ở tại vị trí riêng tư và an tồn để khơng ảnh hưởng đến chất lượng và nội
dung của cuộc tư vấn [21].
1.2.2. Các hình thức triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa
Các hình thức để triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa có thể bao gồm:
cuộc gọi thoại, cuộc gọi video, tin nhắn/email, ứng dụng di động hoặc kết hợp các hình
thức với nhau [94]. Các hình thức tương tác trực tiếp như gọi thoại/gọi video được ưu
12


tiên hơn các hình thức như tin nhắn/email do có ưu điểm thu thập được các thông tin

chủ quan của bệnh nhân về tuân thủ dùng thuốc và xác định các vấn đề liên quan đến
hành vi dùng thuốc của bệnh nhân [21].
Cuộc gọi thoại là hình thức cung cấp hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa phổ
biến nhất. Cuộc gọi thoại tạo môi trường giao tiếp bằng giọng nói giữa dược sĩ và bệnh
nhân. Trong khi đó, cuộc gọi video mới được sử dụng trong những năm gần đây [94].
Những nghiên cứu đầu tiên về việc sử dụng cuộc gọi video để tư vấn sử dụng thuốc từ
xa cho bệnh nhân được thực hiện ở Hoa Kỳ [35]. Cuộc gọi video có ưu điểm hơn khi
cho phép dược sĩ dễ dàng đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân nhờ quan sát các
biểu hiện trên khuôn mặt của bệnh nhân và có thể thực hiện các giao tiếp phi ngôn
ngữ. Giao tiếp qua video cũng cho phép tương tác qua giọng nói, hiển thị hình ảnh các
cơng cụ giáo dục nên có thể thu hút sự chú ý của bệnh nhân [15]. Một tổng quan hệ
thống của tác giả Kathy L. thực hiện năm 2018 gồm 8 nghiên cứu so sánh hiệu quả của
hai hình thức thực hiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa (gọi thoại và gọi video) cho
thấy sử dụng hình thức cuộc gọi video cho kết quả ngang bằng hoặc tốt hơn so với
cuộc gọi thoại. Xét về các kết cục trên bệnh nhân như tỷ lệ tử vong hoặc mức độ hài
lịng của bệnh nhân thì hai hình thức cho kết quả tương tự nhau [94].
1.2.3. Một số khó khăn khi triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa
Tương tự như các dịch vụ dược từ xa khác, khi triển khai hoạt động tư vấn sử
dụng thuốc từ xa cũng gặp một số khó khăn dưới đây:
❖ Rào cản về luật và chính sách
Mặc dù có rất nhiều tiềm năng phát triển hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa,
tuy nhiên tại một số nước luật và chính sách chi phối hoạt động của ngành dược chưa
đáp ứng thỏa đáng với sự phát triển của dịch vụ này. Một số vấn đề liên quan đến
chính sách như: vị trí làm việc của dược sĩ, thời gian tối thiểu dược sĩ phải có mặt tại
bệnh viện, loại thiết bị được sử dụng để triển khai dịch vụ [31]. Các hoạt động như tư
vấn sử dụng thuốc từ xa cịn là một khái niệm mới, do đó một số nước trì hỗn trong
việc ban hành các luật liên quan đến dịch vụ này, mặc dù những tiến bộ trong chuyên
môn và công nghệ đang ngày càng được sử dụng rộng rãi. Tại một số nơi đã ban hành

13



luật về dịch vụ dược từ xa, ví dụ như Hoa Kỳ, khó khăn đặt ra là quy định thiếu đồng
nhất giữa các khu vực địa lý khác nhau [87].
❖ Khó khăn trong vận hành
Tương tự các dịch vụ dược từ xa khác, khi triển khai hoạt động tư vấn sử dụng
thuốc từ xa nếu sử dụng các thiết bị viễn thơng phức tạp, có kết nối kỹ thuật số tốc độ
cao sẽ thường gặp khó khăn nếu hạn chế về truy cập mạng lưới internet [80]. Để triển
khai thành cơng dịch vụ này, địi hỏi cần có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà thiết lập
chính sách, các tổ chức đầu tư và đội ngũ y tế thực hiện dịch vụ [73].
❖ Tốn kém thời gian, chi phí và công sức khi mới thiết lập hoạt động
Khi bắt đầu triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa địi hỏi sự đầu tư về
thời gian, cơng sức và chi phí. Ngồi ra, việc tích hợp hoạt động tư vấn sử dụng thuốc
từ xa vào các hoạt động dược hoặc hoạt động khám chữa bệnh truyền thống không
được thực hiện tại một số nước đã triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe từ xa.
Điều này có thể dẫn đến các bệnh nhân sẽ không được chi trả khi sử dụng dịch vụ tư
vấn sử dụng thuốc từ xa. Q trình tích hợp các dịch vụ dược từ xa đòi hỏi nhiều thời
gian và thách thức [87].
❖ Vấn đề bảo mật thông tin
Khi thực hiện hoạt động tư vấn sử dụng thuốc từ xa, thông tin sức khỏe và thông
tin cá nhân của bệnh nhân được truyền tải qua hệ thống mạng. Vấn đề bảo mật về
thông tin cá nhân trở thành một yêu cầu để đảm bảo quyền của bệnh nhân khi tham gia
hoạt động này [87].
❖ Khả năng sử dụng thiết bị công nghệ của bệnh nhân
Một khó khăn nữa cần phải kể đến khi triển khai hoạt động tư vấn sử dụng thuốc
từ xa đó là khả năng sử dụng các thiết bị cơng nghệ của bệnh nhân. Khó khăn này đặc
biệt phổ biến nhất ở một số nhóm bệnh nhân như bệnh nhân cao tuổi [37]. Ngồi ra,
khi khơng có tương tác trực tiếp, khả năng đánh giá đầy đủ tình trạng bệnh nhân của
dược sĩ có thể bị cản trở, gây khó khăn cho quá trình tư vấn [87].


14


×