VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THỊ HÀ
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH THỊ HÀ
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
Ngành: quản lý giáo dục
Mã số: 8140114
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ HOA
HÀ NỘI - 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trong luận văn là trung thực. Kết quả luận văn chưa từng được cơng bố trong bất kỳ
cơng trình nghiên cứu nào.
Tác giả Luận văn
Huỳnh Thị Hà
LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với:
- Lãnh đạo Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa Tâm lý Giáo dục, các
thầy cô giáo Học viện Khoa học Xã hội đã hỗ trợ nhiệt tình cho em trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
- Phịng Giáo dục và Đào tạo huyện Giồng Trơm, quý thầy cô cán bộ
quản lý và giáo trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong q trình làm khóa luận.
- Q thầy cơ trong hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp đã giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa luận.
- Các nhà khoa học, các đồng chí cán bộ quản lí, giáo viên, các bạn
đồng nghiệp đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi và đóng góp ý kiến
giúp em hoàn thành luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp, phụ huynh học
sinh và học sinh đã động viên, giúp đỡ trong quá trình làm luận văn.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất
tới
PGS -TS. NGUYỄN THỊ HOA đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ, cung
cấp kiến thức, phương pháp luận và hướng dẫn em hoàn thành luận văn.
Mặc dù em đã rất nỗ lực song chắc chắn khơng thể tránh khỏi thiếu sót,
kính mong nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, q thầy cơ giáo để
luận văn được hồn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn
Tác giả Luận văn
Huỳnh Thị Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ............................... 10
1.1. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường trung học cơ sở ................. 10
1.2. Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học cơ sở ............ 23
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở
trường trung học cơ sở .............................................................................................. 32
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CỞ SỞ HUYỆN GIỒNG
TRÔM, TỈNH BẾN TRE ........................................................................................ 39
2.1. Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội huyện Giồng Trơm, tình
Bến Tre ...................................................................................................................... 39
2.2. Khái quát về phát triển giáo dục trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh
Bến Tre ...................................................................................................................... 39
2.3. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................................ 40
2.4. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống tại các trường trung học cơ sở huyện
Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ......................................................................................... 42
2.5. Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống tại các trường trung học cơ sở
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre .............................................................................. 50
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
tại các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ............................. 58
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN GIỒNG TRÔM,
TỈNH BẾN TRE ...................................................................................................... 62
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp ...................................................................... 62
3.2. Các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre .............................................................................. 63
3.3. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp .................................. 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 81
Phụ lục ...................................................................................................................... 84
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Ý kiến về thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Trung học cơ sở (theo %) .......................................................................... 43
Bảng 2.2. Ý kiến về thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng sống tại các trường
trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ..................................... 45
Bảng 2.3. Ý kiến về việc thực hiện phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh tại trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm ............................ 47
Bảng 2.4. Ý kiến về hình thức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại trường
trung học cơ sở huyện Giồng Trôm ........................................................... 49
Bảng 2.5. Ý kiến về thực hiện việc xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh
Bến Tre....................................................................................................... 52
Bảng 2.6. Mức độ tổ chức thực hiện dục kỹ năng sống cho học sinh trường
trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ..................................... 53
Bảng 2.7. Đánh giá mức độ chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các
trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ......................... 55
Bảng 2.8. Mức độ thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng
sống tại các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ..... 56
Bảng 2.9. Ý kiến về mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh .............................................................................. 58
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm về tinh khả thi của các biện pháp quản lí giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường trung học cơ sở huyện Giồng
Trôm, tỉnh Bến Tre .................................................................................... 75
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý giáo
dục kỹ năng sống tại các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm,
tỉnh Bến Tre ............................................................................................... 76
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát
triển nhanh của công nghệ thông tin, môi trường sống xã hội khá phức tạp: bên
cạnh những hiện tượng tích cực, có giá trị đạo đức, xã hội, những tấm gương
người tốt, việc tốt cịn có nhiều hiện tượng xấu, tiêu cực. Tệ nạn xã hội ngày
càng phức tạp, mặt trái của những dịch vụ, sản phẩm văn hóa, cơng nghệ cơng
tin như các trị chơi game, thơng tin, hình ảnh thiếu văn hóa trên mạng xã hội có
sức cám dỗ, lơi kéo học sinh rất lớn. Nhiều em học giỏi, nhưng ngồi điểm số
cao, thì khả năng tự chủ và kĩ năng giao tiếp lại rất kém. Có nhiều ngun nhân
khác nhau dẫn đến tình trạng trên, nhưng theo các chuyên gia giáo dục, nguyên
nhân sâu xa là do các em thiếu kĩ năng sống. Do đó, việc giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh, trong đó có học sinh trung học cơ sở là rất cần thiết, vì kỹ năng
sống là năng lực cá nhân, năng lực tâm lý – xã hội giúp con người ứng phó có
hiệu quả với những yêu cầu và thách thức với cuộc sống để có cuộc sống thành
cơng hơn và hạnh phúc hơn (Nguyễn Hữu Long, 2016) [18].
Ở Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của
Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về “Đổi mới
căn bản và tồn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế” đã xác định đổi mới phương pháp giảng dạy và giáo dục là một
trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục và chú trọng giáo dục đạo đức và
giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống, trang bị hiểu biết xã hội cho học sinh.
Với mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, nền giáo dục Việt Nam
đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức lý thuyết sang phát triển những phẩm
chất, năng lực cần thiết và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
cho người học [28]. Điều đó đã khẳng định thêm yêu cầu thiết yếu và tầm quan
trọng của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Với phương pháp dạy học tương
tác, cùng tham gia, đề cao vai trò chủ động, tự giác của học sinh vào các vấn đề
liên quan đến cuộc sống của bản thân. . .. sẽ sẽ giúp các em thích thú và học tập
tích cực hơn. Vì vậy, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường
sẽ góp phần tích cực vào nâng cao chất lượng giáo dục
1
Đặc biệt, đối với học sinh trung học cơ sở, những học sinh đang ở giai
đoạn phát triển đột biến về sinh lý (lứa tuổi dậy thì), kéo theo sự phát triển mạnh
về nhu cầu tâm lý. Các em có nhu cầu xác định bản sắc của mình, khẳng định cái
tôi của bản thân, nhu cầu được tôn trọng, được bình đẳng với người lớn... Các
em gặp nhiều khó khăn trong đời sống tâm lý. Vì vậy, việc tăng cường giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học cơ sở nhằm giúp các em vượt qua
những khó khăn tâm lý, trưởng thành hơn, có khả năng định hướng cho phát
triển của mình để trở thành người có ích cho xã hội.
Trên thực tế, hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường
trung học cơ sở khơng cịn mới, nhưng chủ yếu mang tính tự phát, chưa mang
tính chính thống. Việc dạy và học kỹ năng sống ở các trường trung học cơ sở ở
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre được tổ chức khác nhau, có trường thuê trung
tâm dạy kỹ năng sống cho học sinh, có trường giáo viên dạy kỹ năng sống vào
các tiết Sinh hoạt lớp, Chào cờ; có trường dạy tích hợp vào các giờ dạy các môn
khoa học khác. Điều đó nói lên rằng, cơng tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh ở các trường trung học cơ sở còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa
đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Cụ thể, hoạt động quản lý chưa
phát huy tính năng động, sáng tạo của giáo viên; chưa gắn kết được vai trò của
các lực lượng giáo dục trong nhà trường, hoạt động này chưa chỉ đạo tổ chức
hoạt động, thực hiện phương pháp, nội dung hình thành kĩ năng sống cho học
sinh ở trường trung học cơ sở một cách hệ thống.
Chính vì những lý do trên, chúng tơi chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Giồng
Trơm, tỉnh Bến Tre”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống
Vấn đề nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống, quản lý giáo dục kỹ năng
sống trường trung học cơ sở đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong
nước quan tâm thực hiện. Những công trình nghiên cứu khoa học này đã hệ
thống hóa được cơ sở lý luận làm cơ sở cho khung lý luận của luận văn.
2
Khái niệm kỹ năng sống xuất hiện lần đầu tiên trong Hiến chương Ottawa
của WHO (1986) [21]. Theo khái niệm này kỹ năng sống bao gồm những năng
lực và những kỹ năng tâm lý để cá nhân lựa chọn các hành vi thích hợp giải
quyết có hiệu quả các u cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày.
Một số bài viết, luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu việc quản lý giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở như chương trình giáo dục
của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) vào những năm 1990 gồm
chương trình “giáo dục các giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho
thế hệ trẻ; kỹ năng sống còn được nhấn mạnh gồm các kỹ năng tâm lý xã hội và
cá nhân có thể giúp mọi người đưa ra quyết định, giao tiếp hiệu quả, kỹ năng tự
quản lý nhằm giúp con người có một cuộc sống lành mạnh và hiệu quả trong
chương trình đánh giá toàn cầu về giáo dục kỹ năng sống, UNICEF (2012) [7].
Theo MOE (2006), việc giáo dục kỹ năng sống đạt hiệu quả cao khi giáo
viên cbiết tạo cơ hội cho những người học xác định các vấn đề của bản thân,
tham gia thảo luận về các biện thực hiện, các chương trình hành động, . . . [20].
Những phương pháp dạy và học thường được khuyến khích dùng trong giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh bao gồm: nghiên cứu trường hợp, động não, thăm
thực địa, thảo luận, kể chuyện, hát, thảo luận nhóm, tranh luận, áp phích, trị chơi
đóng vai, các trị chơi, dự án, biểu diễn thơ và đóng kịch (KIE, 2008 ) [21].
Vì vậy, kỹ năng sống đã được nghiên cứu, tích hợp vào giáo dục thơng
qua chương trình giáo dục kỹ năng sống, được triển khai rộng rãi trên thế giới, cả
trong giáo dục chính quy và khơng chính quy và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Ở Việt Nam, kỹ năng sống lần đầu tiên được nêu ra trong chương trình
của UNICEF (1996), tác giả cho rằng “giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức
khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”
[6]. Khái niệm kỹ năng sống này được xác định dựa trên cơ sở là 4 mục tiêu cơ
bản của việc học: Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học để
cùng chung sống và bao gồm những kỹ năng cốt lõi: tự nhận thức, giao tiếp, xác
định giá trị, kiên định, đặt mục tiêu... Đối với ngành giáo dục, việc giáo dục kỹ năng
sống cho người học đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng đồng thời đã được nhiều
nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu.
Nguyễn Thị Hồng Vân và các cộng sự (2010) cũng đề cập một số vấn đề
3
chung về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong trường
trung học phổ thông và trường trung học cơ sở [8]. Đặc biệt, cách tiếp cận và
phương pháp giáo dục, các hình thức tổ chức giáo dục và kỹ thuật dạy học hiện
đại cũng được đề cập vào các bài dạy để thực hiện việc rèn luyện các kỹ năng
sống cần thiết cho học sinh phổ thông.
Bộ tài liệu “Thực hành kỹ năng sống” đã được tác giả Phạm Quốc Việt
(2015) biên soạn dành cho cấp tiểu học và trung học cơ sở nhằm tăng cường
cơng tác giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa và giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh [29], góp phần triển khai cơng tác giáo dục tồn diện, đáp ứng yêu cầu đổi
mới căn bản, toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 29- NQ/TW và đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Sách phát triển kỹ năng sống (dành cho học sinh trung học cơ sở) của
Nguyễn Hữu Long và cộng sự (2016) đề cập khá đầy đủ những vấn đề cơ bản về
kỹ năng sống và giáo dục vấn đề này cho học sinh trung học cơ sở [18] .
Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự (2018) đã xuất bản sách hướng dẫn giảng
dạy kỹ năng sống dành cho giáo viên. Sách giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo
viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm, giáo viên phụ trách hoạt động văn hóa, hoạt động
ngoại khóa và giáo viên phụ trách cơng tác Đồn, Đội thực hiện các hoạt động giáo
dục kỹ năng sống phù hợp với điều kiện thực tế của các trường, địa phương [31].
Trong lĩnh vực quản lý giáo dục đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về
quản lý đối với các hoạt động khác nhau trong nhà trường có liên quan đến giáo
dục kỹ năng sống. Kết quả của nghiên cứu thể hiện trong các giáo trình, các tài
liệu chuyên sâu, báo cáo khoa học, các Luận án Tiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ... ở cả
cả khía cạnh lý thuyết và thực tiễn.
2.2. Nghiên cứu quản lý giáo dục kỹ năng sống của nhà trường
Ở trường học, việc áp dụng thành cơng các chương trình giáo dục chủ yếu
phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nhà lãnh đạo. Vì vậy, để thực hiện thành cơng
chương trình giáo dục kỹ năng sống, lãnh đạo nhà trường đóng một vai trị hết
sức quan trọng. Theo tài liệu của tổ chức Alberta Learning (2002) hướng dẫn về
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ (từ mẫu giáo đến trung học phổ thông), lãnh đạo
và nhà trường cần tiến hành các bước:
- Thiết lập điều kiện mơi trường tích cực, có sự kết nối thơng tin với phụ
4
huynh, xây dựng văn hóa nhà trường lành mạnh, nâng cao điều kiện lớp học, thu
hút sự tham gia của các đối tác cộng đồng vào lớp học, kết nối lớp học với cộng
đồng...
- Nhà trường cần xây dựng kế hoạch truyền tải kiến thức về kỹ năng sống,
bao gồm các bước cụ thể;
- Nhà trường cần có chiến lược truyền tải giáo dục kỹ năng sống với các
phương pháp như: thảo luận nhóm, độc lập nghiên cứu, trị chơi sắm vai, . . ..;
- Nhà trường nhận kết quả, đánh giá quá trình học tập của học sinh.
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu tiêu biểu về quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh như sau:
Trần Anh Tuấn (2012) đã phân tích thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh hiện nay trong nhà trường phổ thơng, từ đó đề xuất các biện
pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh, giúp học sinh thích ứng được với cuộc sống nhà trường và cuộc sống
xã hội. Các biện pháp đó là: 1) nâng cao nhận thức cho giáo viên và cán bộ quản
lí về những kiến thức và kỹ năng phối hợp trong công tác giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh; 2) Ban hành các quy định về nhiệm vụ, quyền lợi của giáo viên và cán
bộ quản lí trong cơng tác giáo dục kỹ năng sống; 3) Tổ chức xây dựng kế hoạch và
chương trình giáo giáo dục kỹ năng sống cụ thể; 4) Chỉ đạo giáo viên phối hợp với
cán bộ quản lí thực hiện đúng tiến độ kế hoạch giáo dục và 5) Kiểm tra, đánh giá
việc thực hiện kế hoạch của giáo viên và cán bộ quản lí [32].
Trên nền tảng xây dựng cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng về quản lý
hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học
cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục có Phạm Thị Nga (2016) đề xuất các biện
pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra,
xuyên suốt mọi hoạt động trong nhà trường (giờ học, vui chơi, giải trí, sử dụng
các hình thức, phương pháp giáo dục...). Các biện pháp được xây dựng trên cơ sở
tiếp cận hệ thống với mục đích tập hợp các lực lượng tham gia giáo dục giá trị
sống và kỹ năng sống cho học sinh trong một tổ chức thống nhất, với hạt nhân là
một tập thể sư phạm mẫu mực có kế hoạch khoa học, chi tiết, khả thi.
Tóm lại, có thể khái quát về các nghiên cứu về giáo dục và quản lý giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học cơ sở như sau:
5
- Hệ thống hóa lý luận về giáo dục kỹ năng sống (mục tiêu, nội dung,
chương trình, phương pháp...) và quản lý giáo dục kỹ năng sống (theo tiếp cận
chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế
hoạch giáo dục kĩ năng sống). Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đã tiến hành khảo
sát thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho các đối tượng học sinh khác nhau, từ đó, đề xuất các biện pháp quản lý
giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường. Đây chính là nguồn tham khảo để luận
văn chọn lọc và kế thừa, từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp với đối tượng nghiên
cứu là quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học cơ sở.
- Các cơng trình nghiên cứu tập trung nhiều về vấn đề giáo dục kỹ năng
sống (đứng ở góc độ giáo dục học), các nghiên cứu về quản lý giáo dục kỹ năng
sống (đứng ở góc độ quản lý giáo dục) cịn mỏng, ít được nghiên cứu. Nhìn
chung, trong mối tương quan với các hướng nghiên cứu còn lại thì vấn đề quản
lý giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu
cũng chưa đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá các hoạt động cũng như đánh giá
công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống và các biện pháp quản lý hoạt động này,
do đó hiệu quả giáo dục kỹ năng sống chưa cao. Đây là khoảng trống trong lĩnh
vực này mà luận văn muốn tìm hiểu.
- Trong nhà trường trung học cơ sở, các nghiên cứu về quản lý các hoạt
động giáo dục khác nhau như: tập trung nghiên cứu nhiều về quản lý cơng tác xã
hội hóa giáo dục, quản lý hoạt động chun mơn, trong khi đó, nghiên cứu quản
lý giáo dục kỹ năng sống như một hoạt động cơ bản trong nhà trường cịn ít được
nghiên cứu.
Vì vậy, việc lựa chọn đề tài “Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trơm, tỉnh Bến Tre” vừa có ý nghĩa
thực tiễn, đồng thời cũng xác định được điểm mới trong nghiên cứu lý luận
thuộc lĩnh vực quản lý giáo dục. Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ tạo ra màu
sắc riêng, đặc thù của các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến
Tre trong quản lý giáo dục kỹ năng cho học sinh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 . Mục đích
Trên cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng
6
sống cho học sinh trường trung học cơ sở, thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Tác giả nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý việc giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đề xuất những biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung
học cơ sở, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre theo tiếp
cận chức năng quản lý.
- Nghiên cứu này chỉ khảo sát thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh của 5 trường trung học cơ sở (gồm trường hạng 1,2,3; trường có
thành tích cao và cả trường chưa có thành tích) của huyện Giồng Trơm, tỉnh Bến
Tre: trường trung học cơ sở Phạm Viết Chánh, trường trung học cơ sở Sơn Phú,
trường trung học cơ sở Châu Bình, trường trung học cơ sở Lương Phú và trường
trung học cơ sở Thuận Điền; số liệu được thu thập đến tháng 7 năm 2021.
5. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận
5.1. Phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1.1.Nghiên cứu vấn đề theo nguyên tắc hệ thống
Quản lý giáo dục kỹ năng sống có mối quan hệ biện chứng với nhiều yếu
tố khác trong hoạt động quản lý nhà trường, chúng phụ thuộc lẫn nhau, tác động
lẫn nhau. Đặc biệt trong thời kì đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề nghiên cứu
7
chịu nhiều sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan nên nó được xem
xét như là kết quả tác động của nhiều yếu tố.
5.1.2. Tiếp cận lịch sử
Trong từng giai đoạn, từng thời điểm khác nhau, các yếu tố ảnh hưởng
cũng khác nhau. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các
trường trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre được xem xét trong mối
quan hệ về nhiều phía: Nhà trường - Gia đình- Xã hội ở nhiều giai đoạn phát
triển cho phù hợp.
5.1.3. Tiếp cận thực tiễn
Nghiên cứu quản lý giáo kỹ năng sống cần phải xuất phát từ thực tiễn để
tìm ra đặc điểm văn hóa, lối sống của học sinh, những điểm mạnh, điểm hạn chế,
khó khăn, thuận lợi và nguyên nhân của thực trạng kỹ năng sống của học sinh,
thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở, nhằm đề
xuất các biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả nâng cao chất lượng giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh trung học cơ sở.
5.1.4. Tiếp cận mục tiêu
Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở nhằm đạt
mục tiêu hình thành và phát triển kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở theo
tinh thần chỉ đạo các cấp quản lý giáo dục. Việc xây dựng cơ sở lý luận, phát
hiện thực trạng, đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh trung học cơ sở đều hướng đến giúp hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh đạt được được mục tiêu đã đề ra.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Nhóm này có các phương pháp cụ thể sau:
5.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Thiết kế ba loại phiếu hỏi dành cho ba đối tượng là: cán bộ quản lý, giáo
viên và học sinh nhằm thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho việc hoàn thành
nghiên cứu.
Mẫu 1: Khảo sát thực trạng kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Giồng Tôm, Bến Tre dành
cho cán bộ quản lý.
Mẫu 2: Khảo sát thực trạng kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng
8
sống cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Giồng Tôm, Bến Tre dành
cho giáo viên.
Mẫu 3: Khảo sát thực trạng kỹ năng sống và quản lý giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Giồng Tôm, Bến Tre dành
cho học sinh.
5.2.2. Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát sư phạm nhằm thu thập thơng tin cho việc phân tích
thực trạng về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học
cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Tôm, tỉnh Bến Tre.
5.2.3. Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng phần mềm Exel, toán thống kê, lập bảng,,… để xử lý số liệu thu
thập được.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận quản lý
giáo dục kỷ năng sống cho học sinh trường trung học cơ sở trong hoàn cảnh đổi
mới giáo dục hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ quản
lý, giáo viên của các trường trung học cơ sở huyện Giồng Trơm nói riêng và cán
bộ quản lý, giáo viên các trường trung học cơ sở nói chung, giúp học sinh khỏe
mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần và học tập tốt hơn; góp phần tích cực trong
nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện của nhà trường.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
các trường trung học cơ sở;
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường
trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre;
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường
trung học cơ sở huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở
1.1.1. Giáo dục kỹ năng sống
- Khái niệm giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là một q trình xã hội hóa cá nhân.
Đó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử -xã hội giữ các thế hệ.
Trong đó, thế hệ trước truyền đạt các kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho thế hệ sau
và thế hệ sau lĩnh hội các kinh nghiệm đó để tham gia vào đời sống xã hội, vào
hoạt động lao động sản xuất và các hoạt động sống khác. Với vai trị đó, giáo dục
đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và ngày
càng phát triển cùng với phát triển của con người và sự tiến bộ của khoa học, kỹ
thuật và công nghệ. Muốn xã hội được bảo tồn và không ngừng phát triển, trước
hết, hai thế hệ phải làm tròn trách nhiệm truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch
sử - xã hội để làm phong phú thêm các kinh nghiệm đó.
Nhìn từ một số góc độ, giáo dục có thể được hiểu cụ thể hơn như sau:
+ Từ góc độ hoạt động, giáo dục là quá trình tác động từ đối tượng giáo
dục đến các đối tượng được giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất và
năng lực cần thiết cho cuộc sống.
+ Từ góc độ cấp độ giáo dục, có nhiều cấp độ khác nhau:
- Ở cấp độ bao quát nhất, giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới
ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, có ý thức và khơng ý thức.
Đó là q trình xã hội hoá cá nhân con người.
- Ở cấp độ tiếp theo, giáo dục là hoạt động có mục đích của xã hội. Các
lực lượng giáo dục tác động có kế hoạch, có hệ thống đến đối tượng giáo dục
nhằm hình thành những phẩm chất, năng lực cần thiết phục vụ xã hội. Đó là
giáo dục xã hội.
- Ở cấp độ thứ ba, giáo dục là quá trình diễn ra trong nhà trường, là sự tác
động có kế hoạch, có phương pháp của các nhà sư phạm tới người học (học sinh,
sinh viên), nhằm trang bị kiến thức, phát triển trí tuệ, năng lực và hình thành
10
phẩm chất nhân cách ở họ. Ở cấp độ này, giáo dục gồm quá trình dạy học và
giáo dục theo nghĩa hẹp. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, giáo
dục có thể dành cho tất cả mọi người dân, ở mọi lứa tuổi, được thực hiện ở nhiều
loại hình khơng gian và linh hoạt theo thời gian, tùy thuộc vào nhu cầu, hoàn
cảnh, điều kiện của người học.
- Ở cấp độ cuối cùng, giáo dục là quá trình hình thành phẩm chất đạo đức
cho học sinh, sinh viên thông qua việc tổ chức cuộc sống và hoạt động của họ.
Giáo dục cấp độ này được thực hiện trong phạm vi nhà trường, gia đình và ngồi
xã hội.
Ở khía cạnh nào, giáo dục ln mang tính lịch sử, xã hội, gắn liền với sự
phát triển của kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Giáo dục phục vụ nhu cầu
xã hội.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét giáo dục theo cấp độ thứ ba, là
một quá trình diễn ra trong nhà trường, dưới sự tác động có mục đích, có kế
hoạch, có phương pháp của nhà trường tới học sinh.
- Khái niệm kỹ năng sống
Hiện nay, có nhiều quan niệm về kỹ năng sống do các tổ chức quốc tế,
các chuyên gia trong và ngoài nước đưa ra, trong đó có những quan điểm đáng
lưu ý sau đây:
Tổ chức Y tế thế giới WHO (1993) cho rằng một cá nhân có khả năng để
duy trì trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần được biểu hiện qua các hành vi
phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và mơi
trường xung quanh. “Kỹ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng
(adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước
các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.
Theo Quĩ cứu trợ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF, 1996) tại Việt Nam,
kỹ năng sống là sự tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới nhằm tạo
sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng. Hay đó là khả
năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc
như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như
thế nào). “ Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri
thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho
11
các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách
thức của cuộc sống” [6].
Trong hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESSCO tài
trợ tổ chức từ năm 2003 tại Hà Nội, kỹ năng sống được tiếp cận trên bốn trụ cột
của giáo dục, bao gồm: Học để biết (Learning to know), Học để làm (Learning
to do), Học để tự khẳng định (Learning to be) và Học để cùng chung sống
(Learning to live together).
Các tổ chức WHO, UNICEF và UNESCO có quan niệm về kỹ năng sống
khác nhau nhưng đều thống nhất có 03 nhóm kỹ năng sống cơ bản, cần thiết
nhất cho học sinh trường Trung học cơ sở và cho tất cả mọi người. Đó là:
Các kỹ năng cơ bản: kỹ năng đọc, viết, tính tốn cho các chức năng hàng
ngày. Những kỹ năng này không mang đặc trưng tâm lý mà là nền tảng cho
những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống.
Các kỹ năng chung: (kỹ năng nhận thức, kỹ năng cảm xúc, kỹ năng xã
hội) như các kỹ năng ra quyết định, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng làm việc
nhóm, kỹ năng giao tiếp...
Các kỹ năng mang tính tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống
xã hội như, các vấn đề về giới, giới tính; các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS,
ma túy, rượu, thuốc lá; các vấn đề về mơi trường, phịng chống bạo lực; các vấn
đề về gia đình, trường học; các vấn đề về sức khỏe và dinh dưỡng...
Để cuộc sống diễn ra thuận lợi, mỗi cá nhân cần được hình thành và phát
triển 3 nhóm kỹ năng thành tố nói trên trong sự thống nhất và mang tính chỉnh
thể chặt chẽ.
Khái niệm kỹ năng sống được nhiều tác giả trong nước định nghĩa khác nhau:
Trong sách “kỹ năng sống cho vị thành niên " tác giả Nguyễn Thị Oanh
cho rằng “Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với
những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [30].
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng kỹ năng sống nhìn dưới góc độ năng lực
tâm lý là những kỹ năng giúp con người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lý.
“Kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng
tâm lý-xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng với cuộc sống” [33].
Theo quan niệm của Tác giả Nguyễn Thanh Bình, kỹ năng sống nhằm
12
giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức (cái chúng ta biết) và thái độ, các giá trị
(cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành vi thực tế (làm gì và làm
cách nào) là tích cực nhất và mang tính chất xã hội [ 2 ].
Kỹ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói
lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và quan hệ
với bản thân, với người khác, với xã hội có kết quả trong những điều kiện xác
định của cuộc sống là nhận định riêng của tác giả Nguyễn Quang Uẩn [ 24].
Theo Nguyễn Hữu Long, kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý – xã hội
cơ bản giúp các cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Kỹ năng sống là
biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý – xã hội giúp cá nhân thể hiện chính
mình, giải quyết những vấn đề trong cuộc sống.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng, kỹ năng sống là những kỹ
năng tâm lý – xã hội giúp con người có cuộc sống hạnh phúc, thơng qua việc
thích nghi với hồn cảnh sống, làm chủ bản thân, giải quyết tốt những vấn đề
trong cuộc sống, xây dựng và phát triển các mối quan hệ xã hội tốt đẹp.
Từ những phân tích trên cho thấy, kỹ năng sống là những kỹ năng quan
trọng với mọi người ở mọi độ tuổi.
- Khái niệm giáo dục kỹ năng sống
Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 thảng 02 năm 2014 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ hoạt động giáo dục kỹ năng sống được
hiểu là hoạt động giáo dục giúp cho người học hình thành và phát triển những
thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử của mỗi cá
nhân trong đời sống xã hội, qua đó hồn thiện nhân cách và định hướng phát
triển bản thân tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống [ 34 ].
Từ những khái niệm cơ sở trên, chúng tôi cho rằng:
Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình được thực hiện trong nhà trường,
với sự tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch của nhà trường đến học sinh,
nhằm hình thành ở các em những kỹ năng tâm lý – xã hội, góp phần giúp các em
có biết thích nghi với hồn cảnh sống, làm chủ bản thân, giải quyết tốt những
vấn đề trong cuộc sống, xây dựng và phát triển các mối quan hệ xã hội tốt đẹp.
Theo Nguyễn Hữu Long (2016), kỹ năng gắn liền với hành động, được
đánh giá qua hành động giải quyết nhiệm vụ trong cuộc sống có kết quả. Nếu
13
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chỉ dừng lại ở trang bị kiến thức, hình thành
thái độ tốt, học sinh chưa biết thể hiện qua hành động, thì có thể nói việc giáo
dục đó chưa phải hồn thành nhiệm vụ.
Xuất phát từ những đặc điểm, tiêu chí đánh giá kỹ năng/kỹ năng sống,
việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cần được tổ chức theo các bước sau:
Bước 1. Giới thiệu ý nghĩa, giá trị của kỹ năng sống
Bước 2. Trang bị kiến thức, hiểu biết về kỹ năng sống
Bước 3. Tổ chức làm mẫu và hướng dẫn học sinh thực hiện
Bước 4. Tạo tính huống, hồn cảnh thích hợp cho học sinh trải nghiệm
Bước 5. Kiểm tra và lượng giá kết quả
Giáo dục kỹ năng sống là một vấn đề xã hội, chỉ đạt được kết quả tốt khi
có sự tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: Nhà trường, gia đình và
các đồn thể xã hội; phải tuân thủ nghiêm ngặt quan điểm, chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước; phải tuân theo những quy định, quy trình chặt chẽ
phù hợp với điều kiện thực tại của từng nhà trường, từng đối tượng và phải đạt
được mục tiêu xác định. Có rất nhiều kỹ năng sống mà con người cần học trong
suốt cuộc đời, nhưng đối với các em học sinh, nhất là các học sinh bậc Trung
học cơ sở, giáo dục kỹ năng sống là môn học trang bị những tri thức giúp các em
hình thành những kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với từng giai đoạn phát triền
và điều kiện sống cụ thể. Có hai cách tiếp cận trong giáo dục kỹ năng sống: Thứ
nhất: Các hoạt động tập trung vào kỹ năng cốt lõi như kỹ năng tự nhận thức, kỹ
năng giao tiếp ứng xử. Theo cách này, bằng hoạt động với chủ đề kỹ năng cụ
thể, người học sẽ hiểu về kỹ năng sống đó và vận dụng để giải quyết các tình
huống. Thứ hai: Mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và
cần vận dụng những kỹ năng khác nhau để giải quyết.
Tóm lại, giáo dục kĩ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch đến các em học sinh trường trung học cơ sở nhằm giúp các em có những
kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong các
mọi quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao
động, của cá nhân với mọi người xung quanh và với chính mình, giúp các em
học sinh phát triển nhân cách đứng đắn, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, rèn
luyện. Mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và cần vận
14
dụng những kỹ năng khác nhau để giải quyết.
Theo hướng dẫn số 463/BGD ĐT-GDTX ngày 28/01/2015 của Bộ
GD&ĐT về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các
cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên cũng
xác định giáo dục cho người học những kỹ năng cơ bản, cần thiết, hướng tới
hình thành những thói quen tốt giúp người học thành công, đảm bảo vừa phù
hợp với thực tiễn và thuần phong mỹ tục Việt Nam vừa hội nhập quốc tế trong
giai đoạn cơng nghiệp hố đất nước [26]. Nội dung giáo dục kỹ năng sống phải
phù hợp với từng lứa tuổi và tiếp tục được rèn luyện theo mức độ tăng dần. Đối
với từng nhóm đối tượng, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung
học cơ sở cần tập trung vào những nội dung sau: Tiếp tục rèn luyện những kỹ
năng đã được học ở tiểu học, tập trung giáo dục những kỹ năng sống cốt lõi, có
ý nghĩa thiết thực cho người học như: kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn
đề, kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo, kỹ năng giao tiếp và hợp tác, kỹ năng
tự nhận thức và cảm thông, kỹ năng quản lý cảm xúc và đương đầu với áp lực,
kỹ năng tự học.
Công văn số 4026/BGD ĐT-GDCTHSSV ngày 01/09/2017 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đã nêu : Các
cơ sở giáo dục tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua việc
tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học các môn học Đạo đức, Giáo dục cơng dân,
tích hợp, lồng ghép trong các môn học liên quan; các hoạt động giáo dục ngồi
giờ chính khóa, hoạt động trải nghiệm và các hoạt động giáo dục khác đảm bảo
thiết thực, hiệu quả, nội dung giáo dục dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp lứa tuổi .
Tăng cường cơng tác tổ chức và quản lí các hoạt động giáo dục kĩ năng
sống, giá trị sống cho học sinh, sinh viên là nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra tại
Công văn số 3964/BGD ĐT- GDCTHSSV ngày 04/09/2018 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụgiáo dục chính trị và cơng tác học
sinh, sinh viên năm học 2018 – 2019. Các sở giáo dục và đào tạo chủ trì, phối
hợp tham mưu, xây dựng kế hoạch của địa phương về công tác giáo dục kỹ năng
sống trong các cấp học trên địa bàn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tồn
diện cho học sinh, sinh viên. Các cơ sở giáo dục, đào tạo nghiên cứu lựa chọn
các nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi, tập trung vào
15
một số kỹ năng cần thiết như: kỹnăng ứng phó với tình huống nguy hiểm, phịng
chống đuối nước và tai nạn thương tích, phịng chống xâm hại tình dục trẻ
em, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên; kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng
học tập hiệu quả, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm..
Tăng cường giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, văn hóa
ứng xử trong nhà trường; thực hiện tốt hoạt động chào cờ, hát quốc ca trong các
cơ sở giáo dục; chú trọng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc; xây dựng mơi
trường giáo dục an tồn, lành mạnh, thân thiện, phịng chống bạo lực học đường
hiệu quả; bố trí học sinh, sinh viên trực tiếp tham gia hoạt động vệ sinh và ý
thức bảo quản nhà vệ sinh, đảm bảo trường lớp sạch, đẹp; củng cố, kiện tồn,
nâng cao hiệu quả, đổi mới cơng tác y tế trường học, bảo đảm chăm sóc sức
khỏe cho học sinh được chỉ đạo trong Chỉ thị số 2919/CT-BGDĐT ngày
10/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm
học 2018-2019 và năm học 2019-2020 Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục có Chỉ
thị Số: 2268/CT-BGDĐT Hà Nội, ngày 08 tháng 8 năm 2019 yêu cầu nâng cao
chất lượng giáo dục, triển khai chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thơng
mới; đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học
cơ sở; đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả của giáo dục thường xuyên; tăng
cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục thể chất cho học sinh,
sinh viên, bảo đảm an toàn trường học; nâng cao hiệu quả giáo dục dân tộc.
Tóm lại, hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các trường trung học cơ sở là
một hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển các kỹ năng tâm lý – xã
hội phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, điều kiện sinh sống của học sinh, phù hợp
với thuần phong mỹ tục của Việt Nam, nhằm giúp học sinh thích ứng tốt với
hồn cảnh sống, làm chủ bản thân, có các mối quan hệ xã hội tốt và giải quyết
được các nhiệm vụ trong cuộc sống.
1.1.2. Đặc điểm giáo dục kỹ năng sống ở trường trung học cơ sở
1.1.2.1. Một số đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở
Học sinh trung học cơ sở là những học sinh có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi.
Ở đa số học sinh diễn ra giai đoạn dậy thì. Ở giai đoạn đó, các em có sự phát
triển đột biến về các chức năng sinh lý và hình dáng cơ thể. Chức năng kích
thích của hệ thần kinh phát triển mạnh hơn chức ức chế. Sự phát triển sinh lý và
16
ngoại hình đó kéo theo những thay đổi lớn về nhu cầu tâm lý: các em mong
muốn được khẳng định bản thân, được tơn trọng, được bình đẳng với người lớn...
Hành vi ứng xử của các em khá bồng bột, nặng về cảm xúc hơn lý trí. Các em
thích thực hiện những hành động, việc làm nguy hiểm (đua xe máy, đánh nhau...)
để thử năng lực bản thân, để khẳng định bản thân. Trong khi đó, nhiều cha mẹ,
người lớn chưa hiểu các em, vẫn coi các em là trẻ em. Điều đó làm xuất hiện
mâu thuẫn giữa các em và người lớn. Vì vậy, các em có xu hướng tách dần khỏi
người lớn, muốn được gần gũi, giao tiếp nhiều với bạn bè. Hoạt động giao tiếp
với bạn bè là hoạt động chủ đạo ở các em (Nguyễn Thị Hoa, 2003, Trương Thị
Khánh Hà, 2013) [ 10 ], [ 11 ]. Mặt khác, những người trẻ tuổi, bao gồm học
sinh trung học cơ sở là những người có tính tị mị, muốn khám phá, tìm hiểu cái
mới lạ. Họ chưa đủ trình độ nhận thức, trải nghiệm xã hội để phân biệt đúng
những hiện tượng đúng, sai, tốt xấu trong môi trường sống. Họ là đối tượng dễ bị
cám dỗ, dễ bị lôi kéo vào hiện tượng, tiêu cực, nguy hiểm.
Các nhà tâm lý học qua nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đặc điểm nhân
cách của cá nhân ảnh hưởng lớn đến kỹ năng sống của người đó. Scheier,
Weintraub và Carver (1986) đã chỉ ra mối liên hệ giữa tính lạc quan, bi quan và
kỹ năng sống của con người. Các tác giả đã chỉ ra rằng tính lạc quan có mối quan
hệ với việc sử dụng cách ứng phó tập trung vào vấn đề, giải quyết vấn đề, tìm
kiếm các chỗ dựa xã hội và tập trung chú ý đến mặt tích cực của những tình
huống khó khăn trong cuộc sống. Ngược lại, người bi quan thường có thái độ
phủ nhận, tập trung chú ý đến những cảm giác căng thẳng, diễn giải một cách
chủ quan, thậm chí sai lệch những biến cố xảy ra với mình. Trong nghiên cứu
khác về mối liên hệ giữa tinh thần lạc quan với tri giác và cách giải thích hồn
cảnh, Scheier và Carver đã chỉ ra rằng những người lạc quan, tin tưởng vào kết
quả tốt đẹp sẽ có những cách ứng phó tích cực trước những tình huống gặp phải,
cịn người bi quan, ln nghĩ đến những kết cục xấu thì có xu hướng thể hiện
những phản ứng tiêu cực, bị động.
Học sinh trung học cơ sở là đang chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng
thành có thể gọi là: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi bất trị”. Ở các em có
bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần và được phản ánh; hành vi của
các em dễ có tính tự phát, tính cách của các em thường có những biểu hiện thất
17
thường. Cho nên các nhà quản lý, các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh trường trung học cơ sở cần phải chú ý tới những đặc điểm đó của
học sinh cả về mặt tích cực lẫn mặt hạn chế, nhược điểm để hướng dẫn, giáo dục
các em học sinh không để học sinh rơi vào sư phát triển tự phát.
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát
triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống
và hoạt động khác nhau của các em tạo lập nên. Như vậy sự thay đổi điều kiện
sống, điều kiện hoạt động của thiếu niên ở trong gia đình, nhà trường, xã hội mà
vị trí của các em được nâng lên. Các em ý thức được sự thay đổi và tích cực hoạt
động cho phù hợp với sự thay đổi đó.
Thực tế cho thấy, với một số em tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết
nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít.
Có những em ít quan tâm đến việc học ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến
những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với “mốt”, “thời thượng”. Các em coi
trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ
về các vấn đề trong cuộc sống để tỏ ra mình cũng như người lớn. Một số em
khác khơng biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng
rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như dũng cảm, tự chủ, độc lập,
e ấp, dịu dàng… không còn quan hệ với bạn khác phái như trẻ con. Gần đây,
hiện tượng phạm pháp, phạm tội có xu hướng ngày càng “trẻ hóa”. Các vụ án do
thanh thiếu niên, trong đó bao gồm học sinh trung học gây ra ngày càng tăng về
số lượng và nghiêm trọng về mức độ nguy hiểm. Đó là một trong những biểu
hiện của sự thiếu định hướng giá trị sống, thiếu kỹ năng sống ở các em. Do đó,
đặc điểm tâm sinh lý, nhân cách của học sinh trường trung học cơ sở được hình
thành và phát triển phong phú hơn so với lứa tuổi tiểu học. Hiểu rõ vị trí và ý
nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, giúp chúng ta cách đối xử và
giáo dục hợp lý để các em có một nhân cách tốt và phát triển toàn diện.
1.1.2.2. Mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
Kĩ năng sống có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển cá nhân và xã
hội. Giáo dục kỹ năng sống cho các em nhằm đạt những mục tiêu sau:
Học sinh hiểu được sự cần thiết của các kĩ năng sống giúp cho bản thân có
thể sống tự tin, lành mạnh, phịng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu
18
đến sự phát triển thể chất, tinh thần và đạo đức của các em; hiểu tác hại của
những hành vi, thói quen tiêu cực trong cuộc sống cần loại bỏ.
Có kĩ năng làm chủ bản thân, biết xử lí linh hoạt trong các tình huống giao
tiếp hằng ngày thể hiện lối sống có đạo đức, có văn hố; có kĩ năng tự bảo vệ
mình trước những vấn đề xã hội có nguy cơ ảnh hưởng đến cuộc sống an tồn và
lành mạnh của bản thân; rèn luyện lối sống có trách nhiệm với bản thân, bè bạn,
gia đình và cộng đồng.
Học sinh có nhu cầu rèn luyện kĩ năng sống trong cuộc sống hằng ngày;
yêu thích lối sống lành mạnh, có thái độ phê phán đối với những biểu hiện thiếu
lành mạnh; tích cực, tự tin tham gia các hoạt động để rèn luyện kĩ năng sống và
thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình.
1.1.2.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
Giáo dục kỹ năng sống ở bậc trung học cơ sở nhằm thực hiện mục tiêu
chuyển dịch kiến thức (cái chúng ta biết), thái độ và giá trị (cái chúng ta nghĩ,
cảm thấy hoặc tin tưởng) thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các
thao tác, hành động đó như khả năng thực tế (cái cần làm và cách thức làm nó)
theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng.
Các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở phải
bảo đảm tính khoa học và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó, đảm
bảo tính liên tục và kế thừa các nội dung đã dạy cho học sinh trước đó. Các kỹ
năng sống được lựa chọn để giáo dục học sinh phải có nội dung phù hợp với điều
kiện, hồn cảnh sống thực tế ở địa phương, phù hợp với lứa tâm lý tuổi của các
em. Đồng thời, việc hình thành các kỹ năng sống ln gắn kết với việc hình
thành các kỹ năng học tập và được vận dụng vào cuộc sống của học sinh một
cách có ích.
Vì vậy, nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các trường
trung học cơ sở phải tập trung vào các kỹ năng tâm lý – xã hội là những kỹ năng
giúp các em khám phá để hiểu bản thân, làm chủ bản thân; vận dụng để tương
tác với người khác và giải quyết có hiệu quả các vấn đề của cuộc sống. Có thể
lựa chọn các kỹ năng như:
- Kỹ năng tự nhận thức, tìm hiểu bản thân
- Kỹ năng tìm hiểu bản thân, xác định giá trị bản thân
19