TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
NHĨM 2
HỌC PHẦN XỬ LÍ RA HOA
CHUN ĐỀ:
ĐIỀU TRA KĨ THUẬN XỬ LÝ RA HOA CAM
SÀNH (Citrus bibilis var. typica Hassk) TẠI
HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
Giảng viên hướng dẫn:
Gs.Ts Trần Văn Hâu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
NHĨM 2
HỌC PHẦN XỬ LÍ RA HOA
CHUN ĐỀ: ĐIỀU TRA KỸ THUẬN XỬ LÝ RA HOA CAM
SÀNH TẠI HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
Cán bộ hướng dẫn:
Gs.Ts TRẦN VĂN HÂU
Nhóm thực hiện: nhóm 2
Nguyễn Đặng Duy Chương B1708660
Trừ Khánh Duy
B1811734
Đinh Minh Thắng
B1708660
Contents
MỤC LỤC
1.1.2 Khí hậu ........................................................................................ 3
1.1.3 Lượng mưa .................................................................................. 3
1.1.4 Đất đai thổ nhưỡng ..................................................................... 3
CHƯƠNG II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU .............................................. 4
2.1 Đặc tính thực vật ............................................................................... 4
2.1.1 Rễ .................................................................................................. 4
2.1.2 Thân cành .................................................................................... 4
2.1.3 Lá .................................................................................................. 4
2.1.3 Hoa ............................................................................................... 4
2.2 Đặc điểm ra hoa đậu trái ở cam qt .............................................. 4
2.2.1 Sự kích thích và phân hóa mầm hoa ......................................... 4
2.2.2 Sự ra hoa và đậu trái và phát triển trái.................................... 5
2.2.3 Sự phát triển trái: ....................................................................... 6
2.2.4 Sự rụng trái non: ........................................................................ 6
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu trái cam quýt .......... 6
2.3.1 Nhiệt độ ........................................................................................ 6
2.3.2 Ánh sáng ...................................................................................... 7
2.3.3 Nước ............................................................................................. 7
2.3.4 Gió ................................................................................................ 7
2.3.5 Đất ................................................................................................ 8
2.3.6 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự ra hoa và đậu trái ........... 8
a. Đạm ................................................................................................ 8
b. Lân ................................................................................................. 8
c. Kali ................................................................................................. 9
2.3.7 Các chất đồng hóa trong cây ..................................................... 9
2.3.8 Chất điều hịa sinh trưởng ......................................................... 9
2.4 Biện pháp kích thích ra hoa ........................................................... 10
2.5 Một số sâu bệnh hại cam quýt ....................................................... 11
2.5.1 Sâu vẽ bùa.................................................................................. 11
2.5.2 Ruồi đục trái.............................................................................. 11
2.5.3 Rầy chổng cánh ......................................................................... 12
2.5.4 Bệnh thối gốc chảy mủ ............................................................. 12
2.5.5 Bệnh vàng lá gân xanh ............................................................. 13
2.5.6 Bệnh vàng lá thối rễ .................................................................. 13
2.5.7 Bệnh tuyến trùng cam quýt ..................................................... 13
2.5.8 Bệnh loét .................................................................................... 14
2.5.9 Rệp sáp ....................................................................................... 14
CHƯƠNG III. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ................... 15
3.1 Phương tiện .................................................................................. 15
3.1.1 Thời gian thực hiện và địa điểm điều tra ............................ 15
3.1.2 Đối tượng và phương tiện điều tra ..................................... 15
3.2 Phương pháp ................................................................................ 15
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THẢO LUẬN ........................................... 17
4.1 Thông tin nông hộ .................................................................... 17
4.1.1 Diện tích canh tác của các nơng hộ ...................................... 17
4.1.2 Mật độ cây .............................................................................. 17
4.1.3 Khoảng cách trồng ................................................................ 18
4.2 Kỹ thuật xử lí ra hoa ................................................................... 19
4.2.1 Phương pháp xử lí ra hoa ........................................................ 19
4.2.2 Bón phân giai đoạn sau thu hoạch ....................................... 19
4.2.3 Bón phân giai đọa xử lí tạo mầm hoa .................................. 20
4.2.4 Bón phân giai đoạn kích thích ra hoa.................................. 21
4.2.5 Bón phân giai đoạn ni trái ................................................ 21
4.2.6 Chất điều hòa sinh trưởng .................................................... 22
4.2.7 Năng suất và giá bán ............................................................. 23
4.3 Đề xuất quy trình xử lí ra hoa ................................................. 24
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................... 27
5.1 Kết luận......................................................................................... 27
5.2 Đề nghị .......................................................................................... 27
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
Bản đồ hành chính huyện Trà Ơn, tỉnh Vĩnh Long
2
4.1
Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) diện tích canh tác cam Sành của
các nơng hộ
17
4.2
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) về phương pháp xử lí ra
hoa ở vườn canh tác cam Sành của các nơng hộ.
19
4.3
Hình 4.3 Biểu đồ lượng phân bón cho cam Sành giai đoạn
sau thu hoạch
19
4.4
Biểu đồ lượng phân giai đoạn tạo mầm hoa (kg/1000 m2)
20
4.5
Biểu đồ lượng phân bón cho cam Sành giai đoạn kích thích
ra hoa
21
4.6
Biểu đồ thể hiện lượng phân của các nông hộ trong thời
điểm nuôi trái (kg/1000m²)
21
4.7
Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) các nông hộ có và khơng có sử
dụng chất điều hịa sinh trưởng cho cam Sành
22
1
DANH SÁCH BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Bảng 4.1 Mật độ cam Sành của các nơng hộ trên
diện tích 1000 m2
Kế hoạch cụ thể và phân công công việc
4.2
Khoảng cách trồng cam Sành của các nông hộ
18
4.3
Năng suất cam Sành của các nông hộ
23
4.4
Giá bán cam Sành của các nông hộ
23
4.1
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Chú giải
CYT
Cytokinin
ĐHST
Điều hịa sinh trưởng
Xlrh
Xử lí ra hoa
kg
kilogam
17
CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU
Cam quýt là loại trái cây được sản xuất nhiều nhất trên thế giới với sản
lượng xấp xỉ 124 triệu tấn trong đó 53,9% tổng sản lượng cam quýt là cam,
26,5% là quýt, 12,86% là chanh, 6,69% là bưởi và còn lại là các loại trái cây
cam quýt khác (FAO, 2016).., cam quýt trồng được ở vùng nhiệt đới hay bán
nhiệt đới (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011). Trái cam quýt được sử
dụng rộng rãi vì chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nhất là vitamin
C (Trần Thượng Tuấn, 1994).
Vĩnh Long ở vị trí trung tâm của Đồng Bằng Sơng Cửu Long, nằm giữa
sơng Tiền và sơng Hậu. Có quốc lộ 1A là tuyến giao thông huyết mạch nên việc
gaio lưu kinh tế bằng đường bộ và đường thủy khá thuận lợi. Nguồn lực tư nhiên
được ưu đãi: đất đai màu mỡ, nguồn nước ngọt dồi dào, ít bị ảnh hưởng bởi lũ
lụt, khí hậu ơn hịa. Có những vùng trồng cây ăn trái đặc sản nổi tiếng như bưởi
Năm Roi ở Bình Minh và cam Sành ở Trà Ơn cũng mới nổi lên những năm gần
đây.
Theo Sở Nông nghiệp và phát triển nơng thơ tỉnh Vĩnh Long, năm 2019
Vĩnh Long có tổng diện tích trồng cam là 10.026 ha. Trong đó, huyện vùng có
diện tích trồng cam sành lớn nhất là huyện Trà Ơn với diện tích là 4.356 ha. Do
lợi nhuận từ loại cây trồng này khá cao (đạt khoảng 120 – 150 triệu đồng/ha vào
vụ thuận, vụ nghịch lợi nhuận lên đến 300 – 350 triệu/ha) nên nhiều nông dân
đã ồ ạt chuyển đổi đất lúa sang canh tác cam Sành. Tuy mơ hình trồng cam sành
trên đất lúa mang lại lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh, song cũng tiềm ẩn
nhiều rủi ro do thiếu tính bền vững xuất phát từ việc tăng dày mật độ và sử dụng
quá nhiều phân hóa, thuốc bảo vệ thực vật, các chất tăng trưởng,.... nên hiệu quả
mang lại trong thời gian ngắn (từ 2- 5 năm).
Việc sử dụng phân bón, chất kích thích sinh trưởng để xử lí ra hoa nghịch
vụ là một vấn đề đáng được quan tâm do tính bền vững và an tồn của phương
thức này. Chính vì thế, chuyên đề “Điều tra kỹ thuật xử lý ra hoa trên cây cam
Sành tại huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu
kĩ thuật xử lý ra hoa, từ đó có những đánh giá về thực trạng hiện tại và đề xuất
biện pháp hợp lí hơn nhằm đảm bảo tính bền vững cho mơ hình canh tác cam
Sành.
1
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lí
Vĩnh Long nằm ở trung tâm Đồng bằng Sông Cửu Long, ở giữa sơng Tiền
và sơng Hậu. Phía Đơng và Đơng Nam của tỉnh Vĩnh Long giáp Trà Vinh, phía
Tây và Tây Nam giáp Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng; Phía Bắc giáp với Tiền
Giang, Bến Tre phía Đơng bắc; Tây Bắc giáp với Đồng Tháp. Tổng diện tích tự
nhiên là 1.526 km2, diện tích đất nơng nghiệp chiếm 78.23 % (118.918 ha);
trong đó, đất canh tác cây hàng năm 72.565 ha, chiếm 47.73 % diện tích tự
nhiên. Tỉnh Vĩnh Long có 8 đơn vị hành chính, gồm 6 huyện (Bình Tân, Long
Hồ, Mang Thít, Tam Bình, Trà Ơn, Vũng Liêm); thị xã Bình Minh và Thành
phố Vĩnh Long với 109 xã, phường, thị trấn (94 xã, 5 thị trấn và 10 phường)
(Cổng thơng tin điện tử tỉnh Vĩnh Long).
Trà Ơn nằm ở phía Tây Nam tỉnh Vĩnh Long, cách Thị xã Vĩnh Long
khoảng 35 km và cách Thành Phố Cần Thơ khoảng 17 km theo đường chim
bay. Trà Ơn có mạng lưới giao thông thuỷ bộ thuận lợi, nối liền huyện với Thành
Phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Cần Thơ và các tỉnh miền. Quốc Lộ 54, tỉnh lộ
901, 904, 906, 907 đi ngang qua huyện nối Trà Ôn với các tỉnh Trà Vinh, Đồng
Tháp. Sông Hậu nằm cặp bờ Tây của huyện, sơng Mang Thít nằm ở bờ Tây Bắc
của huyện nối liền sông Tiền với sông Hậu và sông Trà Ngoa nối từ sơng Mang
Thít xun ngang qua giữa huyện đến giáp tỉnh Trà Vinh (Cổng thông tin diện
tử huyện Trà Ơn).
Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
2
1.1.2 Khí hậu
Trà Ơn, cũng như các vùng Nam Bộ, mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió
mùa, nhiệt độ trung bình 26-27 0C (tháng 4 nóng nhất: 36 oC, tháng giêng nhiệt
độ thấp nhất: 29oC), bình quân hàng năm có 2.600 giờ nắng, ẩm độ trung bình
80-83 % (độ ẩm tối đa khoảng 92 % và tối thiểu khoảng 62 %) (Cổng thơng tin
diện tử huyện Trà Ơn).
1.1.3 Lượng mưa
Hàng năm có 2 mùa rõ rệt : Mùa khơ kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau, đây là mùa nắng gay gắt ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp. Mùa
mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình có khoảng 115 ngày mưa, với lượng
mưa khoảng 1400 - 1500 mm (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ơn).
1.1.4 Đất đai thổ nhưỡng
Diện tích tự nhiên là 26.714,42 ha: Đất sản xuất nông nghiệp 22.019,28
ha, chiếm 82,4% diện tích tự nhiên, trong đó: đất trồng cây hàng năm 12.701,06
ha, chiếm 57,6 % đất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa và một ít trồng rau màu,
đất trồng cây lâu năm, cây ăn trái 9.246,31 ha, chiếm gần 42% đất nông nghiệp
(Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn). Địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình
cao từ sơng Hậu, sơng Trà Ơn và sơng Mang Thít thấp dần về phía Đơng Bắc,
cao trình biến thiên từ 1,25-0,5 m: vùng có cao trình từ 1-1,25 m gồm các xã
ven sơng Hậu và sơng Trà Ơn - Mang Thít như Tích Thiện, Thiện Mỹ, Thị trấn
Trà Ơn và Tân Mỹ; Vùng có cao trình từ 0,75-1 m gồm các xã Vĩnh Xn,
Thuận Thới, Hựu Thành, Trà Cơn; Vùng có cao trình từ 0,5-0,75 m gồm các xã
Hịa Bình, Xn Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hịa (Cổng thơng tin diện tử huyện Trà
Ơn).
Về tính chất cơ hóa, đất đai của huyện được chia thành 03 nhóm chính:
Nhóm đất phèn 8.512 ha chiếm 33,33 % diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở
các xã vùng trũng như Hịa Bình, Xn Hiệp, Nhơn Bình, Thới Hịa và 1 phần
của Thuận Thới, Hựu Thành, tuy là đất phèn nhưng tầng sinh phèn ở rất sâu (đất
phèn nông chỉ chiếm 34%), được cải tạo và canh tác khá thuần thục, bố trí 2 - 3
vụ lúa trong năm cho năng suất khá cao; Nhóm đất phù sa 17.140 ha chiếm
67,11% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở các xã ven tuyến sông Hậu và
sơng Mang Thít, là vùng đất phì nhiêu thuận tiện cho trồng cây ăn trái; Nhóm
đất cát giồng: 185 ha chiếm 0,72% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở 3
giồng cát: giồng Thanh Bạch (xã Thiện Mỹ), giồng La Ghì (xã Vĩnh Xn) và
giồng Gịn (xã Thuận Thới), chủ yếu là đất thổ cư, trồng cây lâu năm và rau
màu (Cổng thông tin diện tử huyện Trà Ôn).
3
CHƯƠNG II. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc tính thực vật
2.1.1 Rễ
Rễ cây cam quýt nói chung thuộc loại rễ nấm (Micorhiza) (Nguyễn Bảo
Vệ và Lê Thanh Phong, 2011). Nấm này kí sinh trên lớp biểu bì của rễ, cung
cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ các chất hữu cơ. Vai trị của chúng
giống như những lơng hút ở thực vật khác. Chính vì đặc điểm này, cam qt
khơng ưa trồng sâu, rễ cam quýt phân bố rất nông, tương đối rộng và dày ở tầng
đất mặt (Trần Thế Tục và ctv., 1998).
2.1.2 Thân cành
Cam quýt là cây thân thân gỗ, có loại bán bụi, trưởng thành có từ 4-6 cành
chính (Đường Hồng Dật, 2003). Các cành chính thường mọc ra cách mặt đất
khoảng 1 mét. Cành mọc từ cây trồng bằng hột có thể có gai nhưng đến giai
đoạn ra hoa đậu trái thì gai ít phát triển (Trần Thượng Tuấn, 1994).
2.1.3 Lá
Lá cam qt có hình dáng rất khác nhau: lá của cây Chỉ (Poncirus) có chia
thùy. Các lồi cam qt khác thường có hình ơ van, hình trứng ngược, hình thoi
có eo lá hoặc khơng có, eo lá to hoặc nhỏ. Đa số các loài cam quýt, mép lá có
răng cưa trừ quất (Trần Thế Tục, 1998).
2.1.3 Hoa
Hoa cam quýt gồm 2 loại: hoa đầy đủ và hoa dị hình. Nhị có thể có phấn
hoặc khơng có phấn. Số nhị thường gấp 4 lần số cánh hoa, xếp thành hai vịng.
Hoa dị hình là hoa phát triển khơng đầy đủ cuống và cánh ngắn. Hình dạng khác
với hoa đầy đủ và có số lượng ít, khoảng 10-20% (Trần Thế Tục, 1998; Đường
Hồng Dật, 2003).
2.2 Đặc điểm ra hoa đậu trái ở cam quýt
2.2.1 Sự kích thích và phân hóa mầm hoa
Sự kích thích mầm hoa bắt đầu sau khi dừng sinh trưởng dinh dưỡng trong
thời gian nghỉ đông ở vùng á nhiệt đới hoặc trong thời gian khô hạn ở vùng nhiệt
đới. Trên cây trưởng thành, sự sinh trưởng của chồi dừng và tỉ lệ sinh trưởng
giảm khi nhiệt độ xuống chưa đến 12,5oC. Trong thời gian sinh trưởng này,
mầm phát triển khả năng ra hoa. Do đó, sự kích thích ra hoa bao hàm sự kiện
trực tiếp chuyển từ sinh trưởng dinh dưỡng sang ra hoa (Davenport, 1990. Trích
bởi Trần Văn Hâu, 2008). Nhiệt độ thấp và khơ hạn là hai yếu tố kích thích đầu
4
tiên, trong đó ở vùng nhiệt đớt là sự khơ hạn còn ở vùng á nhiệt đới là nhiệt độ
thấp (Davenport, 1990 và Garcia-Luis, 1992. Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008).
Sự phân hóa mầm hoa bao gồm sự thay đồi về mơ học và hình thái học
chuyển mơ sinh trưởng dinh dưỡng trở thành một mô phân sinh hoa (Davenport,
1990. Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008). Khi mà mầm đài hoa được hình thành thì
mầm hoa sẽ khơng biến đồi lại thành chồi dinh dưỡng nếu xử lí GA3 (Lord và
Eckard, 1987. Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008). Tình trạng sắp xếp của đỉnh tận
cùng quyết định quá trình tiếp theo và sự sắp xếp của chồi bên. Nếu đỉnh tận
cùng hình thành đài hoa thì mầm chồi bên cũng hình thành hoa. Nếu đỉnh tận
cùng hình thành lá mầm thì mầm bên sẽ hình thành gai (Trần Văn Hâu, 2008).
2.2.2 Sự ra hoa và đậu trái và phát triển trái
Hoa hình thành và phát triển trên cành một năm tuổi. Cành vượt thường ra
hoa có mang lá và cành gỗ già thường ra hoa không mang lá. Cây tơ, chưa ổn
định thường ra hoa không tốt bằng cây trưởng thành (Trần Văn Hâu, 2008).
Hoa cam quýt được chia là 2 loại: hoa đơn và hoa chùm. Nhóm hoa đơn
thường chỉ ra một hoa ở đầu cành, cành đơn có nhiều lá. Đó là những cành có
khả năng đậu trái cao. Những cây nếu chăm bón đầy đủ sẽ ra nhiều loại cành
này. Nhóm hoa chùm có ở cành, mỗi nách là có một hoa. Thơng thường có từ
3-7 hoa trên một cành, thường những cành này đậu được 1-2 trái. Ngồi ra cịn
một số nhánh hoa khơng có lá, mỗi chùm 4-5 hoa, loại hoa này có tỉ lệ đậu trái
thấp (Đường Hồng Dật, 2003).
Sự đậu trái cam quýt bị ảnh hưởng rất mạnh bởi nhiệt độ và sự khô hạn.
Nhiệt độ cao hơn 35oC và sự khô hạn dễ gây rụng trái non. Nhiều tác giả cho
rằng sự rụng sinh lý khi trái chín có kích thước 0,5-2 cm có liên quan đến chất
điều hịa sinh trưởng, nước và các chất liên carbohydrate (Trần Văn Hâu, 2008).
Theo Đường Hồng Dật (2003), độ ẩm đất và khơng khí cũng ảnh hưởng
đến sự ra hoa và đậu trái của cam quýt, nếu đủ ẩm trong mùa hè và hạn nhẹ từ
tháng 12 đến tháng 2 năm sau hoa sẽ đậu trái nhiều. Tháng 3-4 khô hạn làm
giảm số lượng trái trên cây.
Hầu hết các loại cam quýt đều tự thụ phấn, một số lồi qt có đặc tính là
tự bất thụ như Clemetine, quýt Minnoela. Do đó, khi thiết kế vườn cần chú ý
nguồn phấn giúp cho các cây này đậu trái. Cơn trùng như ong mật có khả năng
thụ phấn hiệu quả hơn cả gió. Thơng thường một đàn ong có khả năng thụ phấn
cho 0,8 ha diện tích trồng cam quýt.
5
2.2.3 Sự phát triển trái:
Theo Trần Văn Hâu (2008), sự phát triển trái cam quýt theo đường con
đơn giản, gồm 3 giai đoạn như các loại trái cây khác:
(1) Giai đoạn phân chia tế bào: 4 – 6 tuần sau khi ra hoa.
(2) Sự phát triển kích thước trái:
- Chanh : 2 – 3 tháng.
- Cam, quýt hơn 6 tháng.
(3) Giai đoạn trưởng thành: ngắn hơn 2 tháng
Một vài đặc tính của trái được xác định trong hai tháng đầu sau khi ra hoa
(cấu trúc, hình dạng, kích thước và bề dày của con tép). Tỉ lệ phát triển trái phụ
thuộc vào số lượng trái mà cây đang mang (Trần Văn Hâu, 2008).
2.2.4 Sự rụng trái non:
Sự rụng trái non bắt đầu sau khi hoa nở cho đến 3-4 tuần sau khi hoa nở.
Sự rụng trái non xảy ra nghiêm trọng khi nhiệt độ trên bề mặt lá từ 35 oC đến
40 oC hoặc khi cây bị khô hạn như ở vùng đất khô cằn. Nhiệt độ cao và sự khơ
hạn nghiêm trọng làm cho khí khẩu bị đóng dẫn đến sự đồng hóa khí CO2 và sự
rụng trái non xảy ra bởi sự mất cân bằng của Carbon (Trần Văn Hâu, 2008). Sự
rụng trái cũng là q trình thích ứng khi cây thiếu chất dinh dưỡng, nước,
hoocmon cho sự tăng trưởng của chúng, buộc chúng phải rụng đi một số lượng
nhất định các trái non để tập trung chất dinh dưỡng và hoocmon cho những trái
khác. Ngồi ra, gió cũng là nguyên nhân góp phần vào sự rụng trái non, trong
thời kì cây ra trái nếu bị gió nhiều mạnh làm trái dễ bị xây xát và dễ bị rụng
(Nguyễn Ngọc Tuyết, 2003).
Việc áp dụng Zn, K và SA hoặc Zn + K + SA cũng có hiệu quả trong việc
cải thiện các thông số năng suất và chất lượng của trái quả cam quýt ở tất cả các
điểm. Mặc dù giảm rụng trái khi phun Zn, K, SA hoặc Zn + K nhưng ba lần
phun lá 10μM SA + 0,25% Zn và K mỗi lần phun làm giảm rụng trái 30% và
cũng cải thiện chất lượng nước trái cây (M.Yasin Ashraf et al., 2012) (tài liệu
tiếng Anh bài 1)
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu trái cam quýt
2.3.1 Nhiệt độ
Đa số các giống cam quýt sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 12-39C.
Thích hợp nhất với quýt từ 25-37C. Cam chanh sinh trưởng tốt ở 23-29C.
Nhiệt độ 40C kéo dài trong nhiều ngày làm cây cam quýt ngừng sinh trưởng,
6
rụng lá, cành khơ héo. Tuy nhiên, có những giống chỉ bị hại khi nhiệt độ khơng
khí lên tới 50-57C (Trần Thế Tục, 1998).
Nhiệt độ dưới 25 oC trong nhiều tuần lễ là yêu cầu kích thích mầm hoa
(Inoue, 1990. Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008). Nhiệt độ cao trong mùa đơng
trong giai đoạn phân hóa mầm hoa làm giảm tỷ lệ chồi hoa và tăng tỷ lệ chồi
sinh dưỡng, do đó làm giảm năng suất trái. Nhiệt độ cao hơn 37˚C gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng và năng suất cam quýt cụ thể ở các giống
không hạt như cam Navel đặc biệt trong điều kiện khô hạn. Cũng như bức xạ
mạnh trong thời gian nhiệt độ cao làm giảm sự đậu trái và tăng rụng trái. Nhiệt
độ thấp dưới 13˚C hạn chế sự phát triển sinh dưỡng và sự phát triển của trái, và
gây ra sự chậm chín (Abobatta, 2019) (tài liệu tiếng Anh bài 2).
2.3.2 Ánh sáng
Cường độ ánh sáng thích hợp cho cam quýt thay đổi từ 10,000-15,000 lux
(tương đương với ánh sáng vào khoảng 8 giờ sáng và 4-5 giờ chiều) (Nguyễn
Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011). Trong điều kiện bình thường, nếu thiếu ánh
sáng, sự quang hợp sẽ kém, lượng cacbon hydrat tích lũy ít, sản lượng giảm,
phẩm chất kém. Nhưng nếu quá nhiều ánh sáng, nhiệt độ cao quá gây phát dục
kém, vỏ bị nám, múi ít nước, khơ và xốp (Nguyễn Hữu Đống, 2003).
2.3.3 Nước
Nước là một trong những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
và phát dục của cam quýt (Nguyễn Hữu Đống, 2003). Theo Đường Hồng Dật
(2003), cây cam quýt rất sợ úng. Vào mùa mưa, đất bào hòa nước nên thiếu oxy
làm cho bộ rễ hoạt động kém, nhiều rễ bị chết thối làm cho lá và trái non rụng
nhiều.
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), nước có vai trị quan
trọng ảnh hưởng đến sự ra hoa của cam quýt. Vào mùa khơ, nếu cung cấp đủ
lượng nước cần thiết thì cây sẽ ra hoa, ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, nông dân
trồng cam quýt thường ít tưới mà chỉ tưới khi nào muốn cây ra hoa tập trung.
Điều này có ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây, đặc biệt là ở những
vùng đất cao.
2.3.4 Gió
Theo Nguyễn Hữu Đống (2003), gió nhẹ trong các vườn cam quýt làm hơi
nước, cacbondioxit trộn đều, có lợi cho bộ lá, ít phát sinh bệnh. Trong thời kì ra
trái, nếu gió mạnh làm rụng trái, xây xát thậm chí đổ ngã cây nhất là đối với cây
trồng từ cành chiết. Các tỉnh ven biển miền Trung vào mùa mưa bão, các trận
gió lớn gây gãy cành, rụng trái làm giảm năng suất nghiêm trọng. Vì vậy, khi
7
thiết kế vườn cây cam quýt cần thiết kế những vành đai, những hàng cây chắn
gió (Đường Hồng Dật, 2003)
2.3.5 Đất
Đất canh tác cam quýt đòi hỏi tầng canh tác dày ít nhất 0,5 m. Tốt nhất là
đất thịt pha, màu mỡ, thốt nước tốt và thống khí do rễ cần nhiều oxy trong
đất. Giá trị pH tốt cho cam quýt nằm trong khoảng 4-8, tốt nhất là từ 5,5-6,5.
Cam quýt đặc biệt mẫm cảm xấu với muốn B, muốn carbonate và NaCl (Nguyễn
Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011).
2.3.6 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến sự ra hoa và đậu trái
Đạm (N), lân (P), kali (K) là các chất dinh dưỡng quan trọng trong việc
sản xuất cam quýt, sự thiếu hụt hoặc dư thừa có thể ảnh hưởng đến năng suất và
chất lượng trái. (Davie Kadyampakeni et al.,2014) (tài liệu tiếng Anh bài 3).
a. Đạm
Tình trạng dinh dưỡng của cây có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự
ra hoa của cây. Hàm lượng đạm cao trong cây cịn tơ có thể kích thích sự sinh
trưởng q mạnh và sản xuất chồi sinh trưởng hơn là chồi sinh sản. Ngược lại
mức độ đạm thấp thúc đẩy ra hoa nhiều mặc dù sự đậu trái và năng suất thấp.
Sự thiếu đạm nghiêm trọng sẽ sản xuất ít hoa. Do đó, duy trì mức đạm trong lá
tối hảo từ 2,5-2,7% sẽ cho số lượng hoa trung bình nhưng sẽ có sự đậu trái và
năng suất cao nhất. Đạm dạng ammonium có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra
hoa thơng qua sự điều chỉnh ammonia và hàm lượng polyamine trong chồi
(Lovatt, 1988).
Đạm là ngun tố có vai trị quyết định đến năng suất, phẩm chất của trái.
Đạm thúc đẩy sự phát triển cành lá, giúp hình thành các đọt mới trong năm. Số
lá khỏe trên cành có liên quan trực tiếp đến trọng lượng và năng suất trái. Nhiều
nghiên cứu cho thấy một trái cam muốn phát triển bình thường cần có 45 lá.
Bưởi cần 60 lá, chanh cần 20 lá. Một trái cam được nuôi dưỡng bởi 10 lá có
trọng lượng là 70 g, 35 lá là 120 g và 50 lá nặng 180 g. Tuy nhiên, lượng đạm
quá mức sẽ cho trái lớn nhưng vỏ dày và phẩm chất trái kém, màu sắc trái đậm
hơn, hàm lượng vitamin C có chiều hướng giảm. Ngược lại nếu thiếu đạm dẫn
đến năng suất bị giảm, trái nhỏ, vỏ mỏng và trái bị chết khô. Lá mất diệp lục, bị
ngả vàng, cành nhỏ, mảnh và bị rụng lá (Hoàng Ngọc Thuận, 2009)
b. Lân
Hàm lượng chất lân thấp không thúc đẩy sự ra hoa nhưng hàm lượng chất
lân trong chồi cao rất thích hợp cho sự khởi phát hoa. Phân lân rất cần thiết cho
cây trong q trình phân hố mầm hoa. Nếu thiếu lân cành và lá sinh trưởng
8
kém, rụng nhiều, rễ khơng phát triển được. Lân có ảnh hưởng đến phẩm chất
trái rõ rệt. Phân lân có tác dụng giảm lượng axit trong trái. Hương vị trái ngon
hơn, hàm lượng vitamin C giảm và vỏ trái mỏng (Hoàng Ngọc Thuận, 2009).
c. Kali
Chất kali cũng cho kết quả tương tự như đối với chất lân. Mức độ kali
trong lá thấp có liên quan với tỉ lệ hoa cái bất thụ và điều nầy có thể thay thế
bằng việc phun CYT do ảnh hưởng của kali lên mức độ CYT trong cây. (Trần
Văn Hâu, 2008).
Nếu cây được bón đủ kali thì sẽ cho trái to, ngọt và chịu được sự va đập
trong quá trình vận chuyển. Ngược lại nếu thiếu kali thì cây sẽ sinh trưởng kém,
đốt ngắn, cây không lớn. Quá nhiều Kali cũng gây hiện tượng hấp thu Canxi,
Magiê kém, trái tuy to nhưng vỏ dày, thịt trái thơ (Hồng Ngọc Thuận, 2009).
2.3.7 Các chất đồng hóa trong cây
Lý thuyết về các sản phẩm đồng hóa dựa trên kết quả của biện pháp khoanh
cành hay khấc thân đã làm tăng sự kích thích ra hoa, sự đậu trái và hàm lượng
tinh bột trong cành, có lẽ do ngăn cản sự vận chuyển các sản phẩm carbohydrate
trong mạch libe đến rễ. Ngược lại cũng có những nghiên cứu cho rằng khơng có
sự liên hệ giữa hàm lượng tinh bột trong lá và chồi non với sự ra hoa ở cam quýt
(Davenport, 1990. Trích bới Trần Văn Hâu, 2008). Tuy nhiên, hàm lượng
carbohydrate trong rễ thấp do cây mang trái quá nhiều ở năm trước có ảnh hưởng
đến sự ra chồi và ra hoa năm sau.
Nghiên cứu của Iglesias (2003), bằng việc bổ sung đường sucrose bằng
cách tiêm vào thân làm tăng khả năng đậu trái của cam quýt hơn 10%. Việc bổ
sung đường sucrose sẽ chống lại tác động làm rụng lá một phần trên cây đậu
trái. Khi đường sucrose được cung cấp liên tục từ khi ra hoa cho đến khi thu
hoạch, nó làm tăng nồng độ đường hòa tan trong trái.
2.3.8 Chất điều hòa sinh trưởng
Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật đã được sử dụng trong sản cam
quýt để ảnh hưởng đến sự ra hoa, đậu trái và rụng trái và đóng một vai trò quan
trọng trong sự phát triển và rụng trái của cây. Những chất này cũng đã được sử
dụng để ảnh hưởng đến các yếu tố chất lượng trái cây như chất lượng vỏ và màu
sắc, kích thước trái cây, chất lượng nước trái cây và để cải thiện tổng chất rắn
hịa tan trong các lồi cam qt khác nhau (Harsimrat K. Bons et al., 2015) (tài
liệu tiếng Anh bài 3).
Theo Monselise và Halevy (1964) (trích bởi Trần Văn Hâu, 2008), khi
phun Gibberellin lên lá trước phân hóa mầm hoa có thể ức chế sự ra hoa. Do đó
9
sự hiện diện của Gibberellin có thể ảnh hưởng đến sự sự ra hoa. Tuy nhiên,
những nghiên cứu về sự biến động của hàm lượng GA3 nội sinh cho thấy khơng
có sự liên quan ý nghĩa giữa GA3 và kiểu chồi sinh trưởng hay sinh sản
(Davenport, 1990. Trích bởi Trần Văn Hâu, 2008).
Theo Martinez et al. (2004), (trích dẫn bởi Harsimrat K. Bons et al., 2015)
sự ra hoa của quýt Hernandina bị giảm đến 25% và của quýt Orogrande đến
60% khi phun GA3 (6 L mỗi cây với nồng độ 20-50 mg/l).
2.4 Biện pháp kích thích ra hoa
Đặc điểm chung của các lồi cam qt là sự phân hóa hoa được tiến hành
trong giai đoạn khơ hạn. Sau đó, việc cung cấp nước trở lại có tác dụng kích
thích ra hoa đồng loạt (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011).
Cây cam qt địi hỏi thời gian khơ hạn cho sự phân hoá mầm hoa tương
đối ngắn, từ 15-20 ngày đối với cây quýt đường hay 30 ngày đối với cam, bưởi.
Do đó, sau thời gian cảm ứng ra hoa cần thiết, biện pháp tưới nước trong mùa
khơ có ý nghĩa thúc đẩy sự ra hoa nên cây cam quýt thường ra hoa vào tháng
12-1 và thu hoạch từ tháng đến tháng 8-12. Đây là mùa thuận của cây ở ĐBSCL
(Trần Văn Hâu, 2005).
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), ở Đồng Bằng Sơng Cửu
Long, nơng dân có thể sử dụng biện pháp kích thích ra hoa như sau: Sau khi
mừa mưa chấm dứt, khoảng tháng 12 Dương lịch, tiến hành làm cỏ bờ, rút nước
ra khỏi mươn trong vườn, khơng tưới, thời gian kéo dài trung bình khoảng 1
tháng. Khi cây có triệu chứng héo, tiến hành tưới đẫm liếp (tưới khoảng 3 ngày),
bón phân, phủ liếp, vét mương, bồi liếp. Khi sình khơ nứt (khoảng 3 ngày nắng),
thì tưới nước trở lại. Trong 5-10 ngày đầu tiên, tưới nước liên tục mỗi ngày/lần,
10 ngày tiếp theo tưới 2 ngày/lần, thời gian sau tưới 3 ngày/lần cho đến khi mưa
đều. Khoảng 5-10 ngày sau khi tưới nước cây sẽ ra nụ hoa, trổ rộ trong khoảng
15-20 ngày sau khi tưới. Vụ xử lý này cho trái khoảng tháng 10-11 đối với cam
Sành. Trường hợp muốn cho trái bán gần tết, có thể xiết nước trễ hơn vào
khoảng tháng 2,3 Dương lịch.
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2011), thì đối với các cây cam quýt có 2 cách
xử lý ra hoa thường làm là xiết nước và bón phân:
+ Biện pháp xiết nước: Sau khi thu hoạch tiến hành tỉa cành và bón phân.
Sau đó rút hết nước để khơ vườn từ 20-25 ngày đến khi thấy lá hơi héo thì cho
nước vào cách mặt vườn 20-30 cm trong 12h rồi rút nước ra còn cách mặt vườn
50-60 cm. Trong thời gian rút nước kết hợp phun KNO3 và chất kích thích
Atonik thời gian xiết nước sẽ rút ngắn cây sớm ra hoa .
10
+ Biện pháp bón phân: Sau khi thu hoạch tiến hành vệ sinh vườn sau đó
bón phân đạm Ure hoặc Thioure với liều lượng cao gấp đơi bình thường, đồng
thời bón phân kết hợp phun KNO3 nồng độ 0.1 %, pha thêm Auxin hoặc GA.
Sau khi xử lý 20-30 ngày cây sẽ ra hoa.
Theo Nguyễn Danh Vàn (2008), có thể áp dụng kết hợp những biện pháp
sau đây để xử lí ra hoa cam Sành trong mùa nghịch: khi càm Sành ra hoa chính
vụ vào tháng 12 âm lịch, chờ cây ra hoa thật rộ rồi bón cho mỗi cây 100 g phân
đạm (cây 2-3 năm tuổi), rải phân đều và tưới nước cho phân ngấm vào đất. Sau
khi tưới 3 ngày thì cắt nước 1 tuần. Khi đó hoa bắt đầu rụng và 2 tuần sau chỉ
còn khoảng 10% số hoa, những hoa này sẽ tiếp tục đậu trái, chờ đến khi số trái
này lớn cỡ đầu ngón tay thì lặt bỏ. Sau khi cắt nước 20-25 ngày lá cam bắt đầu
héo vào buổi trưa và chiều, đến lúc này tưới nước trở lại 3 ngày một lần và tiếp
tục chăm sóc bình thường. Đầu tháng 3 âm lịch tiến hành cắt nước lần 2 khoảng
2 tuần lễ, sau khi cắt nước 2 tuần lá cam bắt đầu héo giống như khi cắt nước lần
1. Đến lúc này tưới trở lại và bón cho cây them một đợt phân NPK (20-20-15)
với lượng 1 bao cho 1 công. Tiếp tục tưới nước hàng ngày giữ ẩm cho cây đến
đầu tháng 4 âm lịch thì cây sẽ ra tược và ra hoa.
2.5 Một số sâu bệnh hại cam quýt
2.5.1 Sâu vẽ bùa
Tên khoa học: Phyllocnis Citrella Stainton
Đặc điểm gây hại: Gây hại rất sớm trên các lá non, sâu đục lòn trong lá để
gây hại. Khi cây bị gây hại nặng, chồi non ngừng tăng trưởng và cành có thể trở
nên trơ trụi khơng lá. Ngồi ra sâu vẽ bùa cịn là nguyên nhân gây bệnh loét trên
cam quýt (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)
Phòng trị: tỉa cành cho ra đọt non tập trung, mau thành thục để hạn chế sự
phá hại của sâu. Phun thuốc ngay khi lá non vừa có triệu chứng đầu tiên (25%
đọt hoặc lá non) bằng các loại thuốc nhóm Abamectin hoặc Imidacloprid
(Nguyễn Đức Cường, 2010).
2.5.2 Ruồi đục trái
Tên khoa học: Bactrocera dorsalis Hendel
Đặc điểm gây hại: Gây hại trên cam quýt giai vào giai đoạn trái sắp chín
và chín.
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), để phòng trừ ruồi đục trái
cần áp dụng những phương pháp sau:
- Thu gom trái bị gây hại và xử lý
11
- Cày lật đất sau thu hoạch để diệt nhộng sống trong đất
- Đặt bẫy methyl eugenon để diện ruồi trưởng thành
- Phun bả mồi protein trộn thuốc hóa học để diệt ruồi trưởng thành trước khi
đẻ trứng, phun định kì 1 tuần/lần khi trái trưởng thành
2.5.3 Rầy chổng cánh
Tên khoa học: Diaphoria citri
Đặc điểm gây hại: Khi mật số cao, rầy chích hút làm chồi bị khơ, rụng lá,
ảnh hưởng đến sự phát triển của cây và ra trái. Dịch ngọt do rầy chổng cánh tiết
ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển. Sự gây hại quan trọng nhất của rầy
chổng cánh là do loài này truyền vi khuẩn Liberobater asiaticum gậy bệnh vàng
lá gân xanh trên cam quýt. Rầy chổng cánh truyền bệnh từ cây này qua cây khác
từ kim chích hút và nước bọt (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)
Biện pháp phòng trị (theo Nguyễn Danh Vàn, 2008):
- Không nên trồng các loại cây kiểng là kí chủ phụ của rầy chổng cánh
thuộc họ cam quýt như nguyêt quế, cần thăg kim quýt,… trong hoặc gần các
vườn trồng cam quýt. Nên trồng cây chăn gió quanh vườn để ngăn chặn rầy bay
từ nơi này sang nơi khác. Kiểm tra vườn cam quýt thường xuyên nhất là vào các
đợt cây ra đọt, lá non hoặc sau cơn giơng có thể đưa rầy từ nơi khác đến để phát
hiện sơm và phun diệt kịp thời bằng các loại thuốc hóa học.
2.5.4 Bệnh thối gốc chảy mủ
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), bệnh thối gốc chảy mủ
do nhiều loại nấm gây ra như: Phytophthora nicotinae var. parasitica;
Phytopthora citophthora Leonian; Betryodiplodia theobromae Pat,...
Triệu chứng điển hình của bệnh là chảy gôm, thối rễ, thối vỏ thân nứt thân
cành, mạch gỗ hóa nâu, cây suy tàn, chết dần (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân,
1999).
Theo Đường Hồng Dật (2003), có thể phịng trị bệnh này bằng những biện
pháp sau: tránh làm tổn thương cây, chọn gốc ghép kháng bệnh; nạo khoét mô
bệnh khử trùng bằng các loại thuốc trị nấm gốc đồng. Theo Nguyễn Thị Thu
Cúc và ctv. (2006), có thể dùng gốc ghép cam chua hay cam ba lá; vào mùa
mưa, không nên tủ cỏ sát gốc, tốt nhất là cách gốc 30-50 cm. Có thể dùng nấm
đối kháng với nấm Phytophthora sp. là nấm Tricoderma hazianum để phòng trị
(Nguyễn Danh Vàn, 2008a).
12
2.5.5 Bệnh vàng lá gân xanh
Nhiều tác giả cho rằng do vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây ra mà rầy
chổng cánh là nguyên nhân chính lây truyền bệnh này.
Triệu chứng là trên phiến lá trên các chồi non thường hẹp, mọc thẳng đứng.
Lá có màu vàng nhưng gân lá cịn xanh hoặc bị vàng loang lỗ. Trái nhỏ, lệch
tâm, hột nhỏ và nâu đen (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015).
Biện pháp phòng trị: giảm số lượng lượng rầy chổng cánh trong tự nhiên
bằng các biện pháp hóa học hay sinh học(Vũ Cơng Hậu, 1999). Bón phân hữu
cơ và vơ cơ đầy đủ, cân đối để cây có sức chống chịu, hồi phục nhanh kéo dài
độ tuổi khai thác trái, nhất là đối với cây chớm nhiễm. Những cây già bị bệnh
nặng, khô chết cần hủy bỏ, đào gốc. Xử lý các chồi mắt ghép bằng Tetracycline
nồng độ 1000 ppm trong 30 phút trước ckhi ghép (Lê Lương Tề và Vũ Triệu
Mân, 1999).
2.5.6 Bệnh vàng lá thối rễ
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Kim và ctv. (1997), đã xác định
được nguyên nhân gây ra bệnh vàng lá thối rễ trên cam qt là nấm Fusarium
solani. Bên cạnh đó cịn có yếu tố ngoại cảnh như tình trạng ngập úng làm rễ
kém phát triển và thúc đẩy sự gây hại của nấm.
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2002), để phịng trị
bệnh vàng lá thối rễ có thể áp dụng những biện pháp sau:
- Trồng nơi đất cao, thoát nước tốt. Nếu vườn thấp, phải thoát nước trong
mùa mưa.
-Nếu phát hiện sớm có thể cắt bỏ rễ bị thối và bơi thuốc vào vết cắt.
- Bón phân chuồng hoai mục cũng hạn chế bệnh này hiệu quả.
2.5.7 Bệnh tuyến trùng cam quýt
Duncan (2005), cho rằng loài tuyến trùng Tylenchulus semipentrans gây
thiệt hại năng nhất trên cam quýt trong hầu hết các lồi tuyến trùng hiện diện.
Triệu chứng có thể ghi nhận là trong điều kiện tối ưu, cây bị nhiễm tuyến trùng
cho ít trái hơn mặc dù sinh trưởng khá tốt. Khi mới trồng, cam quýt nhiễn tuyến
trùng triệu chứng xuất hiện chậm cho đến khi có mật số tuyến trùng cao. Rễ
phát triển kém, lá nhỏ và trở nên úa vàng, dễ bị héo hơn khi thiếu nước. Rễ
nhiễm mức độ nhẹ dày hơn so với rễ khỏe và tối màu do các hạt đất bám vào
các khối trứng trên bề mặt rễ. Rễ bị tấn cơng có thể thối nhanh chóng do bị các
sinh vật thứ cấp xâm nhiễm (Duncan, 2005).
13
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Phạm Hoàng Oanh (2003), phòng trị khi
mật số ấu trùng trong đất nhiều hơn 10000 con trong 500g đất. Nhiều nước trên
thế giới sử dụng giống kháng tuyến trùng. Có thể bón phân hữu cơ cho cam quýt
để tạo điều kiện cho thiên địch của Tylenchulus semipenetrans phát triển. Cũng
có thể sử dụng thuốc hóa học nhưng hiệu quả thưởng khơng cao và đắt tiền.
2.5.8 Bệnh loét
Do vi khuẩn Xanhthomonas campetris pv. Citri.
Triệu chứng: xuất hiệu trên lá, trái, cành và nhất là trên lá. Vết bệnh nhỏ,
sủng ướt, màu xanh tốt, sau đó chuyển sang màu nâu nhạt, nhô trên mặt lá hay
vỏ trái. Cành non có các đốm nâu sần sùi, nếu nặng sẽ làm khô, chết canh
(Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011).
Biện pháp phòng trị: phun các loại thuốc gốc đồng và nhóm kháng sinh
trong trường hợp bệnh phát triển nhanh (Đường Hồng Dật, 2003).
2.5.9 Rệp sáp
Rệp sáp gây hại cam quýt có thể làm giảm sự phát triển của cây và kích
thước trái và dẫn đến quả bị rụng; tỷ lệ nhiễm cao có thể gây rụng lá (tới 80%),
tách trái, rụng trái (lên đến 100 %) (Ramzi Mansour et al., 2018) (tài liệu tiếng
Anh bài 4).
Biện pháp tròng trị: Theo Nguyễn Minh Châu và ctv. (2013), ta nên thăm
vườn thường xuyên, khi mật số tấn công cao thì nên phun thuốc để phịng trị
(dầu khống SK Enspray 99 EC, Abamectin, Ebamectin, thuốc gốc cúc hoặc
các loại thuốc sinh học…).
14
CHƯƠNG III. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Phương tiện
3.1.1 Thời gian thực hiện và địa điểm điều tra
- Ngày 20 tháng 3 năm 2021 tại xã Thới Hòa, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh
Long.
3.1.2 Đối tượng và phương tiện điều tra
Đối tượng: cây Cam sành
Phương tiện: xe máy, bút, phiếu điều tra, điện thoại di động.
Đối tượng điều tra: cây cam Sành.
3.2 Phương pháp
Chọn ngẫu nhiên 5 hộ trồng cam Sành tại xã Thới Hịa, huyện Trà Ơn, tỉnh
Vĩnh Long. Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp dựa vào phiếu điều tra
đã soạn sẵn.
Nội dung điều tra: tìm hiểu kỹ thuật xử lí ra hoa cam Sành. Trong đó, tìm
hiều các yếu tố như dinh dưỡng, sâu bệnh ảnh hưởng đến q trình xử lí ra hoa.
Sau khi điều tra xong, tổng hợp và phân tích các số liệu đã điều tra. Các
số liệu đã ghi nhận được nhập và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.
Tham quan mơ hình, quan sát cách thiết kế vườn, cách bố trí cây trồng. Từ
đó rút ra được những cái hay những cái mới cũng như nhận ra được các ưu điểm
và khuyết điểm của từng mơ hình để hỗ trợ cho bài tập tình huống được đặt ra.
Thu thập thơng tin vùng điều tra:
- Điều kiện tự nhiên của vùng.
- Tình hình tổng quan kĩ thuật xử lí ra hoa cây cam Sành của vùng.
Điều tra nông hộ:
- Địa điểm: xã Thới Hịa, huyện Trà Ơn, tỉnh Vĩnh Long.
- Số hộ điều tra: 5 hộ.
- Phương pháp điều tra: hỏi trực tiếp người dân theo mẫu phiếu điều tra đã
chuẩn bị sẵn.
Quan sát thực tế tại vườn điều tra.
Tổng hợp, phân tích số liệu điều tra.
Viết bài báo cáo.
15
Bảng 3.1 Kế hoạch cụ thể và phân công công việc
Ngày
Cơng việc
22/2/2021
1/3/2021
08/3/2021
13/3/2021
20/3/2021
15/4/2021
18//2021
23/4/2021
Phân cơng cơng việc, chia nội dung và tìm tài liệu tham
khảo
Thiết kế phiếu điều tra và giải quyết khó khăn trong việc
tìm tài liệu tham khảo, nộp phiếu điều tra cho giáo viên
chỉnh sửa
Họp nhóm và hồn thiện phần lược khảo tài liệu
Chỉnh sửa và hoàn thành phiếu điều tra
Tiến hành điều tra
Phân cơng xử lí phiếu điều tra và viết bài
Phân cơng powerpoint
Hồn thiện và nộp bài cho lớp trưởng
16
CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin nông hộ
4.1.1 Diện tích canh tác của các nơng hộ
Tỉ lệ diện tích canh tác của các nơng hộ
diện tích 0-5 cơng
diện tích 5-10 cơng
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) diện tích canh tác cam sành tại huyện
Trà Ơn, tỉnh Vĩnh Long.
Theo thực tế điều tra cho thấy các hộ trồng cam sành tại huyện Trà Ôn ,
tỉnh Vĩnh Long phần lớn có quy mơ sản xuất vừa và nhỏ. Vườn có diện tích lớn
nhất là 1 ha và diện tích nhỏ nhất là 0,35 ha. Diện tích vườn trung bình khoảng
5,175 ha. Qua khảo sát số hộ có diện tích trồng từ 0,5-1 ha có tỉ lệ là 40% , hộ
trồng với diện tích 0-0,5 ha là 60%. Diện tích trồng cam sành của các hộ tại
huyện Trà Ơn, tỉnh Vĩnh Long vẫn cịn nhỏ lẻ.
Như vậy thì mật độ trồng cam như trên sẽ dẫn đến nhiều rủi ro và hệ lụy:
Tình trạng trồng dày “đặc nghẹt” dẫn đến hệ lụy là vườn cam xuất hiện nhiều
sâu bệnh, phải phun thuốc BVTV hàng tuần, khiến môi trường sản xuất khơng
an tồn cho nơng dân và ảnh hưởng đến cả người tiêu dùng, suy thoái đất,….
4.1.2 Mật độ cây
Bảng 4.1 Mật độ cam Sành của các nông hộ trên diện tích 1000 m2
Hộ nơng dân
Số cây/cơng
Hộ 1
600
Hộ 2
400
Hộ 3
500
Hộ 4
480
Hộ 5
400
Mật độ trung bình
476
17
Qua bảng 4.1 chúng ta có thể thấy mật độ nơng dân Trà Ơn áp dụng đối
với cam Sành trung bìnhlà 476 cây/cơng. Hộ trồng mật độ cao nhất là 600
cây/cơng, thấp nhất là 400 cây/cơng. Theo Trần Chí Thành và ctv. (2011), mật
độ trồng cam sành vào khoảng 800-1000 cây/ha. Như vậy, có thể thấy rằng mật
độ mà nơng dân áp dụng đối với cam Sành tại Trà Ôn là rất cao, thậm chí gấp
4-6 lần. Tuy nhiên, những năm qua, trên thế giới đã và đang áp dụng việc canh
cây ăn tác với mật độ cao (high density cultivation). Mục đích chính của phương
pháp canh tác này là đạt được điểm hòa vốn kinh tế sớm và duy trì thu nhập từ
nơng nghiệp càng lâu càng tốt (F.J. Joubert et al.). Do vậy, cần có những đánh
giá thêm về tình hình canh tác cam Sành ở Trà Ơn.
4.1.3 Khoảng cách trồng
Bảng 4.2 Khoảng cách trồng cam Sành của các nông hộ
Hộ nông dân
Khoảng cách (m)
Hộ 1
0.8
Hộ 2
1.2
Hộ 3
1
Hộ 4
1
Hộ 5
1.2
Trung bình
1.04
Bảng 4.2 cho thấy năng khoảng cách trung bình mà các hộ nơng dân áp
dụng là cây cách cây 1.04 m. Trong đó khoảng cách rộng nhất là 1.2 m cịn
khoảng cách hẹp nhất chỉ có 0.8 m. Theo Nguyễn Danh Vàn (2008), tùy theo
tình hình đất đai tốt hay xấu, giống cam quýt có tán lớn hay nhỏ,... mà trồng với
khoảng cách 3x3; 3x4 (cam Sành) hoặc 4x5 (quýt) là vừa. Một số nơi ở Đồng
bằng sông Cửu Long tranh thủ diện tích đất khi cây cịn nhỏ, đồng thời giảm
bớt ánh sáng cho vườn cây cam quýt, nhà vườn đã trồng cam Sành với mật độ
rất dày (1.5x1.5) tranh thủ thu hoạch vài vụ trái và tỉa bỏ dần khi cây lớn. Tuy
nhiên với kết quả điều tra được thì cây cách cây trung bình 1.04 m là rất dày,
tuy cho năng suất cao nhưng cũng tạo điều tốt cho sâu bệnh phát triển.
18
4.2 Kỹ thuật xử lí ra hoa
4.2.1 Phương pháp xử lí ra hoa
Phương pháp xử lí ra hoa của các nơng hộ
Xlrh mùa nghịch
xlrh mùa thuận
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ (%) về phương pháp xử lí ra hoa ở vườn
canh tác cam Sành của các nông hộ.
Theo kết quả điều tra (Biểu đồ 5) cho thấy, tất cả các nông hộ đều để ra
hoa tập trung cho cây cam Sành (100%). Qua đó ta thấy được tầm quan trọng
của việc xử lí ra hoa tập trung là rất cần thiết vì dễ chăm sóc quản lí hơn và
khi thu hoạch và bán ra thị trường sẽ đồng loạt, tránh tình trạng dội chợ rớt
giá.
4.2.2 Bón phân giai đoạn sau thu hoạch
Lượng phân bón cho cam Sành giai đoạn sau thu hoạch (kg)
25
20
15
10
5
0
hộ 1
hộ 2
hộ 3
N
P205
hộ 4
hộ 5
K20
Hình 4.3 Biểu đồ lượng phân bón cho cam Sành giai đoạn sau thu hoạch.
Theo biểu cho thấy hộ 1, 2, 3 có xử lý sau thu hoạch. Hộ 4 và 5 khơng bón
phân giai đoạn sau thu hoạch là do những hộ này mới trồng vụ đầu tiên. Tỷ lệ
bón NPK giữa hộ 1, 2, 3 có sự chênh lệch khá. Ở hộ 1 và 3 bón nhiều đạm hơn,
và hầu như tất cả các hộ đều bón ít Kali, có hộ hầu như khơng bón.
19