UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG THÁP
GIÁO TRÌNH
MƠN HỌC: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC
NGÀNH, NGHỀ: BẢO VỆ THỰC VẬT
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
(Ban hành kèm theo Quyết định Số:…./QĐ-CĐCĐ-ĐT ngày… tháng… năm
2017 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp)
Đồng Tháp, năm 2017
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thơng tin có thể được
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh
thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
i
LỜI GIỚI THIỆU
Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học được biên soạn trên cơ sở
kế hoạch đào tạo ngành Bảo vệ thực của Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng
Tháp. Giáo trình này cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về
nghiên cứu khoa học, phương pháp chọn đề tài nghiên cứu, thu thập số liệu cũng
như trình bày báo casoo nghiên cứu khoa học
Trong khi biên soạn, tập thể tác giả đã bám sát phương châm giáo dục gắn
liền lý luận với thực tiễn. Tham gia biên soạn giáo trình này gồm:
ThS. Trần Nguyễn Trúc Giang: Chủ biên, biên soạn chương 1, 2, 3
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu khoa học
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Chương 3: Đề cương nghiên cứu và viết báo cáo khoa học
Tác giả cảm ơn sự đóng góp ý kiến cho việc biên soạn cuốn giáo trình này
của thầy Phạm Thanh Hải.
Đây là cuốn giáo trình được biên soạn công phu, nhưng chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy chúng tơi rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của đồng nghiệp và các độc giả.
Xin chân thành cảm ơn.
Đồng Tháp, ngày 26 tháng 5 năm 2017
Chủ biên
Trần Nguyễn Trúc Giang
ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI GIỚI THIỆU .................................................................................................. ii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC .......................... 1
1. Sơ lược về nghiên cứu khoa học ................................................................... 1
1.1. Khoa học ................................................................................................ 1
1.2. Nghiên cứu khoa học.............................................................................. 2
1.3. Đề tài nghiên cứu khoa học .................................................................... 2
1.4. Phương pháp khoa học ........................................................................... 3
1.5. Cấu trúc của một phương pháp luận nghiên cứu khoa học .................... 5
2. Các bước tiến hành và những đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học... 6
2.1. Các bước tiến hành nghiên cứu khoa học .............................................. 6
2.2. Những đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học ................................ 6
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ............................ 9
1. Phương pháp thu thập thông tin và lược khảo tài liệu .................................. 9
1.1. Các nguồn tài liệu cần thiết .................................................................. 10
1.2. Phương pháp thu thập số liệu ............................................................... 10
2. Khung lý thuyết và khung khái niệm trong nghiên cứu khoa học .............. 11
2.1. Xác định đề tài...................................................................................... 11
2.2. Xác định mục tiêu nghiên cứu ............................................................. 14
2.3. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu .......................................................... 15
2.4. Khung lý thuyết trong nghiên cứu ....................................................... 20
2.5. Khung khái niệm trong nghiên cứu ...................................................... 21
3. Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học ................................... 22
3.1. Khung mẫu ........................................................................................... 22
3.2. Phương pháp lấy mẫu ........................................................................... 22
3.3. Xác định cỡ mẫu................................................................................... 29
4. Các phương pháp nghiên cứu khoa học ...................................................... 31
4.1. Phương pháp mô tả............................................................................... 31
4.2. Phương pháp nghiên cứu tình huống ................................................... 31
4.3. Phương pháp quan sát .......................................................................... 32
4.4. Phương pháp điều tra ........................................................................... 35
4.5. Phương pháp thí nghiệm ...................................................................... 42
iii
CHƯƠNG 3: ĐÊ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ VIẾT BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC .............................................................................. 48
1. Viết đề cương và đánh giá đề cương nghiên cứu ........................................ 48
1.1. Nội dung và phương pháp viết đề cương nghiên cứu .......................... 48
1.2. Phương pháp đánh giá đề cương .......................................................... 51
2. Chuẩn bị và viết báo cáo khoa học ............................................................. 53
2.1. Chuẩn bị viết báo cáo khoa học ........................................................... 53
2.2. Phương pháp viết báo cáo nghiên cứu khoa học................................. 54
3. Viết bài chuyên khảo ................................................................................... 63
4. Chuẩn bị và trình bày báo cáo khoa học, seminar, và luận văn tốt nghiệp . 63
4.1. Bài báo cáo khoa học .......................................................................... 63
4.2. Luận văn khoa học .............................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 71
iv
GIÁO TRÌNH MƠN HỌC
Tên mơ hoc: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Mã mơ hoc: CNN448
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trị của mơn học:
- Vị trí: Là mơn học kỹ năng chuyên ngành tự chọn , được bố trí sau khi người
học đã học xong chương trình các mơn học chung và các mơn học cơ sở
- Tính chất: Là môn học giúp sinh viên hiểu được các kiến thức cơ bản về nghiên
cứu khoa học và cách thực hiện nghiên cứu khoa học .
Ý nghĩa và vai trị: Giáo trình này cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản
nhất về phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp chọn đề tài nghiên cứu,
thực hiện nghiên cứu và trình bày báo cáo nghiên cứu khoa học
Mục tiêu của môn học:
- Về kiến thức:
+ Hiểu được các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học
+ Biết được các nội dung của một đề cương nghiên cứu khoa học
+ Hiểu được cách thu thập thông tin khi thực hiện nghiên cứu khoa học
+ Nắm bắt được cách viết đề cương cũng như viết 1 bài báo cáo nghiên cứu
khoa học
- Về kỹ năng:
+ Lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học
+ Viết đề cương nghiên cứu khoa học
+ Thu thập các thông tin cần thiết trong nghiên cứu khoa học
+ Trình bày và viết báo cáo nghiên cứu khoa học
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Rèn luyện tính cẩn thận, ham học hỏi.
+ Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề
phức tạp trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và
trách nhiệm đối với nhóm.
Nội dung của mơn học:
v
Thời gian (giờ)
Thực
hành, thí
Lý
nghiệm, Kiểm tra
thuyết
thảo luận,
bài tập
Số
TT
Tên bài, mục
1
Chương 1: Tổng quan về
nghiên cứu khoa học
2
2
2
Chương 2: Phương
nghiên cứu khoa học
10
10
3
Kiểm tra
1
4
Chương 3: Đề cương nghiên
cứu và viết báo cáo khoa học
15
5
Ơn thi
1
1
6
Thi/kiểm tra kết thúc mơn học
1
1
Cộng
Tổng
số
pháp
30
vi
1
15
27
0
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Giới thiệu:
Nghiên cứu khoa học là một quá trình nhận thức chân lý khoa học, một q
trình lao động trí tuệ phức tạp, gian khổ nhưng đầy hào hứng, đầy hứa hẹn những
triển vọng lớn lao
Nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa học là nắm vững lý thuyết về con
đường sáng tạo, giúp người nghiên cứu có cách tiếp cận đúng trong việc thiết kế
và thi cơng cơng trình nghiên cứu khoa học, tìm chọn phương pháp nghiên cứu
hợp lý để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục đích nghiên cứu.
Mục tiêu:
Kiến thức: Hiểu được các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học và những đặc
trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học
Kỹ năng: Trình bày các khái niệm trong nghiên cứu khoa học
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện tính cẩn thận, ham học hỏi. Làm việc
độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết công việc, vấn đề phức tạp trong điều
kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm
1. Sơ lược về nghiên cứu khoa học
1.1. Khoa học
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới,
học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới
nầy, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, khơng cịn phù hợp. Thí dụ: Quan
niệm thực vật là vật thể khơng có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực
vật có cảm nhận.
Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất
và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ
thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở
thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức
khoa học.
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động
sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con
người với thiên nhiên. Quá trình nầy giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách
quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội.
1
Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong
hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản
chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa
sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết
giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức
khoa học.
- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống
nhờ hoạt động NCKH, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương
pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên
kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra
ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức
trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học,
kinh tế học, toán học, sinh học,…
1.2. Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc
thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí
nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự
nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao
hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lãnh
vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương
pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường.
1.3. Đề tài nghiên cứu khoa học
1.3.1. Khái niệm đề tài
Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người
thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác khơng hồn tồn mang tính
chất nghiên cứu khoa hoc, chẳng hạn như: Chương trình, dự án, đề án. Sự khác
biệt giữa các hình thức NCKH nầy như sau:
* Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có
thể chưa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.
* Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể
hiệu quả về kinh tế và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian
và nguồn lực.
* Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn,
hoặc gởi cho một cơ quan tài trợ để xin thực hiện một cơng việc nào đó như: thành
lập một tổ chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, ... Sau khi đề án được phê chuẩn,
sẽ hình thành những dự án, chương trình, đề tài theo yêu cầu của đề án.
2
* Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục
đích xác định. Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao. Tiến độ thực hiện đề tài,
dự án trong chương trình khơng nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của
chương trình thì phải đồng bộ.
1.3.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét
và làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu.
* Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong
phạm vi nhất định về mặt thời gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu.
1.3.3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện
được mục tiêu và mục đích nghiên cứu mà khơng có sự trùng lấp lẫn nhau. Vì
vậy, cần thiết để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và mục tiêu.
* Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một cơng việc nào đó trong
nghiên cứu mà người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì
mục đích khó có thể đo lường hay định lượng. Nói cách khác, mục đích là sự sắp
đặt cơng việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời câu
hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực
tiển của nghiên cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.
* Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà
người nghiên cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục
tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Nói cách khác, mục tiêu là nền tảng
hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên cứu đã đưa
ra, và là điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.
Thí dụ: phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây.
Đề tài: “Ảnh hưởng của phân N đến năng suất lúa Hè thu trồng trên đất phù
sa ven sơng ở Đồng Bằng Sơng Cửu Long”.
Mục đích của đề tài: Để tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa.
Mục tiêu của đề tài:
1. Tìm ra được liều lượng bón phân N tối hảo cho lúa Hè thu.
2. Xác định được thời điểm và cách bón phân N thích hợp cho lúa Hè thu.
1.4. Phương pháp khoa học
1.4.1. Phương pháp phán đoán
Trong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái niệm để phán đoán
hay tiên đoán. Phán đoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những
đặc tính, bản chất của sự vật và tìm mối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính
riêng của các sự vật đó.
1.4.2. Phương pháp suy luận
3
Có 2 cách suy luận: suy luận “suy diễn” và suy luận “qui nạp"
a. Cách suy luận suy diễn
Theo Aristotle, kiến thức đạt được nhờ sự suy luận. Muốn suy luận phải
có tiền đề và tiền đề đó đã được chấp nhận. Vì vậy, một tiền đề có mối quan hệ
với kết luận rất rõ ràng.
Suy luận suy diễn theo Aristotle là suy luận đi từ cái chung tới cái riêng,
về mối quan hệ đặc biệt. Thí dụ về suy luận suy diễn của Aristotle trong Bảng 2.1.
Bảng 2.1 Thí dụ về suy luận suy diễn
Tiền đề chính
Tất cả sinh viên đi học đều đặn
Tiền đề phụ
Nam là sinh viên
Kết luận
Nam đi học đều đặn
b. Suy luận qui nạp
Vào đầu những năm 1960s, Francis Bacon đã đưa ra một phương pháp
tiếp cận khác về kiến thức, khác với Aristotle. Ông ta cho rằng, để đạt được kiến
thức thì phải đi từ thông tin riêng đến kết luận chung, phương pháp này được gọi
là phương pháp qui nạp. Phương pháp nay cho phép chúng ta dùng những tiền
đề riêng, là những kiến thức được chấp nhận, như là phương tiện để đạt được
kiến thức mới. Thí dụ về suy luận qui nạp trong Bảng 2.2
Bảng 2.2 Thí dụ về suy luận quy nạp
Tiền đề riêng
Đông, Tây, Nam, Bắc luôn tham dự lớp đều đặn
Tiền đề riêng
Đông, Tây, Nam, Bắc đều đạt điểm cao
Kết luận
Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã kết hợp hai phương pháp trên hay còn
gọi là “phương pháp khoa học” (Bảng 2.3). Phương pháp khoa học cần phải xác
định tiền đề chính (gọi là giả thuyết) và sau đó phân tích các kiến thức có được
(nghiên cứu riêng) một cách logic để kết luận giả thuyết.
Bảng 2.3 Thí dụ về phương pháp khoa học
Tiền đề chính (giả thuyết)
Tham dự lớp (nguyên nhân
còn nghi ngờ)
Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt
điểm cao
Nhóm 1: Đơng, Tây, Nam, Bắc tham dự
lớp đều đặn
Nhóm 2: Lan, Hồng, Cúc, Huệ không
tham dự lớp đêu đặn
4
Điểm (ảnh hưởng cịn nghi
ngờ)
Kết luận
Nhóm 1: Đơng, Tây, Nam, Bắc đều đạt
điểm 9 và 10
Nhóm 2: Lan, Hồng, Cúc, Huệ đều đạt
điểm 4 và 5
Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt
được điểm cao so với khơng tham dự lớp
đều đặn (Vì vậy, tiền đề chính hoặc giả
thiết được công nhận là đúng)
1.5. Cấu trúc của phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học phải sử dụng PPKH: bao gồm chọn phương pháp
thích hợp (luận chứng) để chứng minh mối quan hệ giữa các luận cứ và giữa toàn
bộ luận cứ với luận đề; cách đặt giả thuyết hay phán đoán sử dụng các luận cứ và
phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin (luận cứ) để xây dựng luận đề.
1.5.1. Luận đề
Luận đề trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” trong nghiên cứu. Luận
đề là một “phán đoán” hay một “giả thuyết” cần được chứng minh. Thí dụ: Lúa
được bón quá nhiều N sẽ dễ bị đỗ ngã.
1.5.2. Luận cứ
Để chứng minh một luận đề thì nhà khoa học cần đưa ra các bằng chứng
hay luận cứ khoa học. Luận cứ bao gồm thu thập các thông tin, tài liệu tham khảo;
quan sát và thực nghiệm. Luận cứ trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cái gì?”. Các
nhà khoa học sử dụng luận cứ làm cơ sở để chứng minh một luận đề. Có hai loại
luận cứ được sử dụng trong nghiên cứu khoa học:
• Luận cứ lý thuyết: bao gồm các lý thuyết, luận điểm, tiền đề, định lý, định
luật, qui luật đã được khoa học chứng minh và xác nhận là đúng. Luận cứ
lý thuyết cũng được xem là cơ sở lý luận.
• Luận cứ thực tiễn: dựa trên cơ sở số liệu thu thập, quan sát và làm thí
nghiệm
1.5.3. Luận chứng
Để chứng minh một luận đề, nhà nghiên cứu khoa học phải đưa ra phương
pháp để xác định mối liên hệ giữa các luận cứ và giữa luận cứ với luận đề. Luận
chứng trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng cách nào?”. Trong nghiên cứu khoa học,
để chứng minh một luận đề, một giả thuyết hay sự tiên đốn thì nhà nghiên cứu
sử dụng luận chứng, chẳng hạn kết hợp các phép suy luận, giữa suy luận suy diễn,
suy luận qui nạp và loại suy. Một cách sử dụng luận chứng khác, đó là phương
pháp tiếp cận và thu thập thông tin làm luận cứ khoa học, thu thập số liệu thống
kê trong thực nghiệm hay trong các loại nghiên cứu điều tra.
5
2. Các bước tiến hành và những đặc trưng cơ bản của nghiên cứu khoa học
2.1. Các bước tiến hành nghiên cứu khoa học
Phương pháp nghiên cứu khoa học (PPNCKH). Những ngành khoa học khác nhau
cũng có thể có những PPNCKH khác nhau. Ngành khoa học tự nhiên như vật lý, hố
học, nơng nghiệp sử dụng PPNCKH thực nghiệm, như tiến hành bố trí thí nghiệm để
thu thập số liệu, để giải thích và kết luận. Cịn ngành khoa học xã hội như nhân chủng
học, kinh tế, lịch sử… sử dụng PPKH thu thập thông tin từ sự quan sát, phỏng vấn hay
điều tra. Tuy nhiên, PPNCKH có những bước chung như: Quan sát sự vật hay hiện
tượng, đặt vấn đề và lập giả thuyết, thu thập số liệu và dựa trên số lịệu để rút ra kết luận
(Bảng 2.4). Nhưng vẫn có sự khác nhau về q trình thu thập số liệu, xử lý và phân tích
số liệu.
Bảng 2.4 Các bước cơ bản trong phương pháp khoa học
Bước
Nội dung
1
Quan sát sự vật, hiện tượng
2
Đặt vấn đề nghiên cứu
3
Đặt giả thuyết hay sự tiên đốn
4
Thu thập thơng tin hay số liệu thí nghiệm
5
Kết luận
2.2. Những đặc trưng cơ bản trong nghiên cứu khoa học
a. phương pháp nghiên cứu khoa học có mặt chủ quan và khách quan thể
hiện sự tương tác biện chứng giữa chủ thể vàkhách thể trong hoạt đọng ngiên cứu
khoa học.
- Mặt chủ quan gắn liền với chủ thể nghiên cứu. Đó là đặc điểm , trình độ,
năng lực nhận thức, kinhnghiệm hoạt động sáng tạo, khả năng thực hành…của
chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận độngcủa đối tượngvà sử
dụng chúng để khám phá chính đối tượng, lựa chọn những hành động, thao tác
đúng đắn hợp quy luật để tác động vào đôid tượng và kết quả đạt được sẽ phù hợp
với khả năng chủ quan ấy.
6
- Mặt khách quan gắn liền với đối tượng nghiên cứu phản ánh đặc điểm của
đôid tượng và quy luật khách quan chi phối đối tượng mà chủ thể nghiên cứu phải
ý thức được.
Nhờ các quy luật khách quan mà nười nghiên cứu lựa chọn cách này, cách
khác trong hoạt động nghiên cứu, tứclà phát hiện ta phương pháp
Sự tương tác hựop quy luật giữa mặt chủ quan (thuộc về chủ thể) và khách
quan ( thuộc vầ đối tượng) trong hoạt động nghiên cứu khoa học tạo ra phương
pháp nghiên cứu khoa học hiệu nghiệm.
Trong nghiên cứu khoa học , cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan.. Vì
vậy chủ thể phải hiểu biết chân thực về đối tượn để trên cơ sở đó tìm ra những
thao tác đúng đắn với đôid tượng và khành đọng chủ quan theo đúng quy luật đó
b. Phương pháp nghiên cứu khoa học có tính mục đích gắn liền với nội
dung, chịu sự chi phối của mục đích và nội dung, bản thân phương pháp có chức
năng phương tiện để thực hiện mục đích và nội dung.
- Tính mục đích của phương pháp là nét đặc trưng cơ bản nổi bật của nó.Mục
đích nào phương pháp ấy, Mục đích chỉ đạo việc tìm tòi vàlựa chọn phương pháp
nghiên cứu . Muốn cho phương pháp nghiên cứu được hiệu nghiệm, hoạt động
thành công cần đảm bảo được hai điều:
Xác định mục đích ; tìm được phương pháp thích hợp với mục đích.
- Nội dung nào, phương pháp nấy.Sự thống nhất của nội dung và phương
pháp thể hiện ởlôgic phát triển của bản thân đối tượng nghiên cứu.
Mối liên hệ của mục đích, nội dung, phương pháp nghiên cứu đợc diễn ra
theo quy luật: mục đích( M) và nội dugn (N) quy định phương pháp (P): còn
phương pháp là phương tiện để thực hiện mục đích và nội dung.
Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu cần tìm chọn được phương
pháp phù hợp và thống nhất với mục đích và nội dung, tứclà bảo đảm nhất quán
sự thống nhất biện chứng của mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu
khoa học.
7
c. Phương pháp nghiên cứu khoa học là một hoạt động có kế hoạch, được
tổ chức hợp lý, có cấu trúc đa cấp biểu hiện ở tính lơgic và tính kế hoạch rõ ràng.
- Phương pháp nghiên cứu khoa học là một hoạt đọng có kkế hoạch được tổ
chứ một cách hợp lý: hoạt động ( có mục đích chung:M ) gồm nhiều hành động :
A1….An ( có mục đích riêng: MA1…MA); mỗi hành động lại gồm nhiều thao tác :
t1 ...tnn thoa tác khơng có mục đích.
Để đạt mục đích chung, người nghiên cứu phải thực hiệnmột loạt các hành
động với những thoa tác có hệ thống lơgic chặt chẽ, được sắp xếp theo một trình
tự xác địnhvà có kế hoảchõ ràng(được gọi là Algỏithm của phương pháp).
Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu când phát hiện ra kế hoạch và
thi công đúng đắn, thành thạocấu trúc ccông nghệ của phương pháp( Algỏthm của
phương pháp).Nói cách khác: người nghiên cứu biết tổ chức hợp lý cấu trúc bên
trong của phương pháp và triển khai quy trình đómột cách tinh thông. Đay là mặt
kỹ thuật của phương pháp nghiên cứu.
d. Phương pháp nghiên cứu khoa học ln cần có các công cụ, các phương
tiện kĩ thuật hỗ trợ
Tuỳ theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù
hợp, đôi khi phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu đối tượng.Phương tiện
kỹ thuật hiện đại tạo đièu kiện thuận lợi cho việc thực hiện các phương pháp
nghiên cứu cà đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác và tin cậy
cao.
CÂU HỎI ƠN TẬP
1/ Nghiên cứu khoa học là gì? Ý nghĩa của việc nghiên cứu khoa học trong đời
sống hiện nay?
2/ Tiến trình thực hiện nghiên cứu khoa học gồm bao nhiêu bước? Nêu và giải
thích ngắn gọn ý nghĩa của từng bước?
8
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Giới thiệu:
Việc nghiên cứu khoa học đòi hỏi người nghiên cứu phải xác định đúng
phương pháp nghiên cứu mới có thể đem lại kết quả một cách nhanh chóng, chính
xác và tiết kiệm nhất
Xác định sai phương pháp nghiên cứu sẽ dễ dẫn đến kết quả nghiên cứu bị
sai lệch cũng như mất nhiều thời gian và chi phí. Qua chương này học viên có thể
nắm được một số phương pháp nghiên cứu cơ bản cũng như cách áp dụng vào các
tình huống thực tế trong nghiên cứu
Mục tiêu:
Kiến thức: Trình bày và nắm bắt được các bước trong tiến trình nghiên cứu
khoa học, cách xác định đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu; Hiểu được các
phương pháp nghiên cứu khoa học trong nông nghiệp
Kỹ năng: Lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học; Lựa chọn các phương pháp
nghiên cứu khoa học phù hợp với đề tài và tình hình thực tế
Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Rèn luyện tính cẩn thận, ham học hỏi.
Làm việc độc lập hoặc làm việc theo nhóm, giải quyết cơng việc, vấn đề phức tạp
trong điều kiện làm việc thay đổi, chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối
với nhóm.
1. Phương pháp thu thập thơng tin và lược khảo tài liệu
Thu thập và nghiên cứu tài liệu là một công việc quan trọng cần thiết cho
bất kỳ hoạt động nghiên cứu khoa học nào. Các nhà nghiên cứu khoa học luôn
đọc và tra cứu tài liệu có trước để làm nền tảng cho NCKH. Đây là nguồn kiến
thức quí giá được tích lũy qua quá trình nghiên cứu mang tính lịch sử lâu dài. Vì
vậy, mục đích của việc thu thập và nghiên cứu tài liệu nhằm:
- Giúp cho người nghiên cứu nắm được phương pháp của các nghiên cứu
đã thực hiện trước đây.
- Làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình
- Giúp người nghiên cứu có phương pháp luận hay luận cứ chặt chẻ hơn.
- Có thêm kiến thức rộng, sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu.
- Tránh trùng lập với các nghiên cứu trước đây, vì vậy đở mất thời gian,
9
công sức và tài chánh.
- Giúp người nghiên cứu xây dựng luận cứ (bằng chứng) để chứng minh
giả thuyết NCKH.
1.1. Các nguồn tài liệu cần thiết
Phân loại tài liệu để giúp cho người nghiên cứu chọn lọc, đánh giá và sử
dụng tài liệu đúng với lãnh vực chuyên môn hay đối tượng muốn nghiên cứu. Có
thể chia ra 2 loại tài liệu: tài sơ cấp (hay tài liệu liệu gốc) và tài liệu thứ cấp.
1.1.1. Tài liệu sơ cấp
Tài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên cứu tự thu thập, phỏng vấn trực
tiếp, hoặc nguồn tài liệu cơ bản, cịn ít hoặc chưa được chú giải. Một số vấn đề
nghiên cứu có rất ít tài liệu, vì vậy cần phải điều tra để tìm và khám phá ra các
nguồn tài liệu chưa được biết. Người nghiên cứu cần phải tổ chức, thiết lập
phương pháp để ghi chép, thu thập số liệu.
1.1.2. Tài liệu thứ cấp
Loại tài liệu này có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích, giải
thích và thảo luận, diễn giải. Các nguồn tài liệu thứ cấp như: Sách giáo khoa, báo
chí, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí, biên bản hội nghị, báo cáo khoa học,
internet, sách tham khảo, luận văn, luận án, thơng tin thống kê, hình ảnh, video,
băng cassette, tài liệu-văn thư, bản thảo viết tay, …
1.1.3. Nguồn thu thập tài liệu
Thông tin thu thập để làm nghiên cứu được tìm thấy từ các nguồn tài liệu
sau:
• Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm,… có thể thu thập
được từ sách giáo khoa, tài liệu chuyên nghành, sách chuyên khảo, ...
• Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạp
chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học, ….
• Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên Giám Thống Kê: Chi cục thống
kê, Tổng cục thống kê, ….
• Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách, … thu thập
từ các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
• Thơng tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, … mang tính đại chúng
cũng được thu thập, và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng minh cho vấn
đề khoa học.
1.2.
Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thí nghiệm là một cơng việc quan trọng trong NCKH.
Mục đích của thu thập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ
10
quan sát và thực hiện thí nghiệm) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ
chứng minh giả thuyết hay tìm ra vấn đề cần nghiên cứu.
Có 3 phương pháp thu thập số liệu:
a) Thu thập số liệu bằng cách tham khảo tài liệu.
b) Thu thập số liệu từ những thực nghiệm (các thí nghiệm trong phịng, thí
nghiệm ngồi đồng, …).
c) Thu thập số liệu phi thực nghiệm (lập bảng câu hỏi điều tra).
1.2.1. Phương pháp thu thập số liệu từ tài liệu tham khảo
Phương pháp nầy là dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập
được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng
minh giả thuyết. Thí dụ, để chứng minh giả thuyết “khơng thể loại bỏ cây bạch
đàn ra khỏi cơ cấu cây trồng rừng”, người ta đã dựa vào những nghiên cứu có
trước như sau (Vũ Cao Đàm, 2003):
• Kết quả nghiên cứu tại Nga cho thấy, chỉ trong 15 năm bạch đàn có sức
tăng trưởng chiều cao gấp 5 lần so với cây dẻ và 10 lần so với cây sồi;
3
• Sản lượng bạch đàn trên 1 ha hàng năm rất cao, tới 20 đến 25 m /ha/năm,
3
3
trong khi cây mỡ chỉ đạt 15-20 m /ha/năm và cây bồ đề là 10-15 m /ha/năm;
• Theo thống kê của FAO, từ năm 1.744 đến 1.975 đã có hơn 100 nước nhập
khẩu bạch đàn, trong đó có 78 nước đã trồng rừng bạch đàn thành rừng kinh tế có
sản lượng cao với qui mô lớn.
1.2.2. Phương pháp thu thập số liệu từ những thực nghiệm
Trong phương pháp này, số liệu được thực hiện bằng cách quan sát, theo
dõi, đo đạc qua các thí nghiệm. Các thí nghiệm trong lĩnh vực khoa học tự
nhiên,vật lý, hố học, kỹ thuật nơng nghiệp, kể cả xã hội thường được thực hiện
trong phịng thí nghiệm, ngồi đồng và cộng đồng xã hội. Để thu thập số liệu các
nha nghiên cứu đặt ra các biến số để quan sát và đo đạc. Các nghiệm thức làm
trong phịng thí nghiệm (có những mức độ khác nhau) thường được lặp đi lặp lại
để giảm sai số trong thu thập số liệu.
Thí dụ: Người nghiên cứu muốn xem xét những mức độ phân bón (hay cịn
gọi nghiệm thức phân bón) nào đó để làm tăng năng suất, trong cách bố trí thí
nghiệm thì mỗi mức độ phân bón thường được lặp lại nhiều lần. Kết quả thí
nghiệm là các số liệu được đo từ các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất ở những
mức độ phân bón khác nhau.
Phương pháp khoa học trong thực nghiệm gồm các bước như: lập giả thuyết,
xác định biến, bố trí thí nghiệm, thu thập số liệu để kiểm chứng giả thuyết
2. Khung lý thuyết và khung khái niệm trong nghiên cứu khoa học
2.1. Xác định đề tài
11
Chọn đề tài nghiên cứu khoa học là một hoạt động nhận thức khoa học đầu
tiên trong các vấn đề cơ bản của công tác nghiên cứu khoa học về một lĩnh vực
nào đó, có ý nghĩa quan trọng đối với người nghiên cứu, vì mỗi đề tài nghiên cứu
gắn liền với những cố gắng đầu tư trí tuệ, sức lực, thời gian, kinh phí… đơi khi
quyết định cả phương hướng chuyên môn của một đời sự nghiệp.
* Cơ sở xuất phát để chon đề tài:
- Chọn đề tài nghiên cứu khoa học cần xuất phát từ các căn cứ và yêu cầu
sau:
- Thế mạnh của người nghiên cứu: người nghiên cứu biết thế mạnh của mình
về lĩnh vực, vấn đề nào đó để chọn đề tài tương ứng.
- Nhu cầu thực tiễn: đề tài phải giải quyết được một trong những vấn đề mà
thực tiễn đang đặt ra.
- Phải có người hướng dẫn: có đủ khả năng, trình độ, tư liệu…
- Tài liệu tham khảo: đề tài được chon có tài liệu tham khảo có liên quan đến
nó.
- Phương tiện, điều kiện cần thiết để nghiên cứu đề tài: máy móc, thiết bị, tài
chính…cần và đủ.
- Cơ sở thực tiễn để chọn đề tài:
+ Từ việc theo dõi tổng quát những thành tựu nghiên cứu khoa học mà người
nghiên cứu đang quan tâm (những thành tựu này thường được trình bày trong các
tạp chí, báo cáo khoa học trong và ngồi nước).
+ Từ việc tìm hiêur những kết quả mới nhất của công tác nghiên cứu khoa
học trong lĩnh vực chun mơn, tổng hợp lại để tìm ra vấn đềmới trong một phạm
vi nhát định.
+ Cũng có thể tìm chọn các đề tài nghiên cứu từ việc nghiên cứu các phương
pháp nghiên cứu của các cơng trình cũ để tìm ra các phương pháp mới có hiêu
quả hơn.
12
+ Nghiên cứu những đối tượng cũ nhờ các phương pháp mới với quan điểm
mới, có sử dụng các tài liệu thực tiễn mới. Nghĩa là chon đề tài theo nguyên tắc
xem xét lại một cách cơ bản những luận điểm lý thuyết trong khoa học với lập
trường mới, góc nhìn mới ở trình độ kỹ thuật cao hơn.
+ Phân tích sau sắc những tài liệu đã được thu nhập trong điều tra khoa học;
những tài liệu thống kê, mô tả, thực nghiệm mới có tính chất cơng khai
+ Tham khảo ý kiến của các nhà hoạt động khao học, kỹ thuật, công nghệ,
những chuyên gia nổi tiếng trong các lĩnh vực kinh tế quốc dân, những nhà phát
minh sáng chế trong sản xuất sẽ giúp người nghiên cứu sáng tỏ những vấn đề cần
được nghiên cứu.
+ Xem danh mục các luận văn đã được bảo vệ, các cơng trình khoa học đã
được công bố…
- Việc chọn đề tài được đặt ra trong hai trường hợp:
+ Đề tài được chỉ định: người nghiên cứu được chỉ định thực hiện một đề tài
là một phần nhiệm vụ của đề tài mà đơn vị, bộ môn hay thầy giáo đang thực hiện
theo yêu cầu của cấp trên, theo một hợp đồng với đối tác; hoặc có thể do thầy
hướng dẫn đưa ra một đề tài mang tính giả định cho sinh viên hoặc nghiên cứu
sinh không liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của thầy.
+ Đề tài tự chọn: người nghiên cứu cần tìm hiểu kỹ hiện trạng phát triển của
lĩnh vực chun mơn, tìm hiểu tình hình thực tế để xác định hướng nghiên cứu
phù hợp. Việc lựa chọn đề tài cần xem xét và cân nhắc kỹ xem đề tài có ý nghĩa
khoa học hay khơng? Có ý nghĩa thực tiễn khơng? Có cấp thiết phải nghiên cứu
hay khơng? Có đủ điều kiện để đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài hay khơng?
Có phù hợp với sở thích và thế mạnh của mình hay khơng?
+ Mở đầu việc nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu phải cân nhắc, chon
lọc và xác định đề tài nghiên cứu. Đây là một việc làm trí tuệ vất vả, nhiều trắc
trở nhưng mang tính chất quyết định đối với sự thành bại của tồn bộ q trình
nghiên cứu.
13
+ Đúng như W.A. Ashby đã nói: “Khi đã có thể phát biểu được vấn đề một
cách tường minh và đầy đủ thì ta khơng cịn ở xa lời giải nữa”.
Nhà vật lý học nổi tiếng Wemer Heisenberg cũng nhận xét: “…theo lẽ
thường, khi vấn đề đặt ra một cách đúng đắn thì có nghĩa là nó đã được giải quyết
quá một nửa rồi…”.
Việc xác định đề tài là khởi đầu nhưng khơng kết thúc ở đó mà đề tài còn
được tiếp tục sử dụng như kim chỉ nam cho các hoạt động giai đoạn tiếp theo và
ngược lại, nó sẽ tiếp tục được điều chỉnh (tất nhiên chỉ về chi tiết) trong quá trình
nghiên cứu.
2.2. Xác định mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu (objective) là cái đích nghiên cứu mà người nghiên
cứu vạch ra để thực hiện, để định hướng nỗ lực tìm kiếm; là những điều cần làm
trong công việc nghiên cứu. Phạm trù mục tiêu nhằm trả lời câu hỏi “làm cái gì?”
- Mục đích nghiên cứu (aim) là kết quả mong đợi, chính là ý nghĩa lý luận
và thực tiễn của nghiên cứu, là đối tượng phục vụ của sản phẩm nghiên cứu. Phạm
trù mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?” hoặc “để phục vụ cho cái gì?”
- Mỗi đề tài nghiên cứu đều có một hoặc một số mục tiêu xác định. Nhưng
chưa hẳn đã có mục đích xác định.
Chẳng hạn: cơng trình nghiên cứu “Các mơ hình xác suất cho một số trắc
nghiệm trí thơng minh và thành quả” từ năm 1950 của nhà toán học Đan Mạch G.
Rash đã đưa ra các mơ hình đo lườngcho các điểm số trắc nghiệm. Trong gần 10
năm chưa trả lời được câu hỏi “nghiên cứu để làm gì?”. Chỉ đến khoảng 1960 khi
các máy tính cùng các phần mềm có sẵn phổ dụng ở trường học thì người ta mới
thấy được giá trị của cơng trình nghiên cứu của G. Rashvaf máy tính cho sự phát
triển cách đánh giá dựa theo trắc nghiệm khách quan và đến lúc này cách đánh
giá dựa theo tiêu chí mới được thực hiện.
- Trong mối liên hệ giưũa nhiệm vụ, vấn đề, đối tượng là sự vật tồn tại khách
quan trước người nghiên cứu.
14
2.3. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu và vai trò của giả thuyết nghiên cứu
2.3.1. Định nghĩa giả thuyết
Giả thuyết là câu trả lời ướm thử hoặc là sự tiên đoán để trả lời cho câu hỏi
hay “vấn đề” nghiên cứu. Chú ý: giả thuyết không phải là sự quan sát, mô tả hiện
tượng sự vật, mà phải được kiểm chứng bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm.
2.3.2. Các đặc tính của giả thuyết
Giả thuyết có những đặc tính sau:
- Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và khơng thay trong suốt q
trình nghiên cứu.
- Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết.
- Giả thuyết càng đơn giản càng tốt.
- Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi.
Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau:
- Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thơng tin.
- Phải có mối quan hệ nhân - quả.
- Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu.
2.3.3. Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa học
Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên
cứu hình thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề
chưa biết (đặt giả thuyết). Ý tưởng khoa học nầy cịn gọi là sự tiên đốn khoa học
hay giả thuyết giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận
tới mục tiêu cần nghiên cứu. Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình
huống đặt ra (câu hỏi hay vấn đề), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến
thức đã có,…), sự tiên đoán và những dự kiến tiến hành thực nghiệm sẽ giúp cho
người nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết
khoa học.
Thí dụ, khi quan sát thấy hiện tượng xoài rụng trái, một câu hỏi được đặt ra
là làm thế nào để giảm hiện tượng rụng trái nầy (vấn đề nghiên cứu). Người nghiên
cứu sẽ xây dựng giả thuyết dựa trên cơ sở các hiểu biết, nghiên cứu tài liệu, …
15
như sau: Nếu giả thuyết cho rằng NAA làm tăng sự đậu trái xồi Cát Hịa Lộc.
Bởi vì NAA giống như kích thích tố Auxin nội sinh, là chất có vai trò sinh lý trong
cây giúp tăng sự đậu trái, làm giảm hàm lượng ABA hay giảm sự tạo tầng rời.
NAA đã làm tăng đậu trái trên một số loài cây ăn trái như xoài Châu Hạng Võ,
nhãn …, vậy thì việc phun NAA sẽ giúp cây xồi Cát Hịa Lộc đậu trái nhiều hơn
so với cây không phun NAA.
2.3.4. Cấu trúc của một “giả thuyết”
a. Cấu trúc có mối quan hệ “nhân-quả”
Cần phân biệt cấu trúc của một “giả thuyết” với một số câu nói khác khơng
phải là giả thuyết. Thí dụ: khi nói: “Cây trồng thay đổi màu sắc khi gặp lạnh” hoặc
“Tia ánh sáng cực tím gây ra đột biến”, câu này như là một câu kết luận, không
phải là câu giả thuyết.
Đôi khi giả thuyết đặt ra không thể hiện mối quan hệ ướm thử và khơng thể
thực hiện thí nghiệm để chứng minh. Thí dụ: “tơi chơi vé số, vậy thì tơi sẽ giàu”
hoặc “nếu tơi giữ ấm men bia, vậy thì nhiều hơi gas sẽ sinh ra”.
Cấu trúc của một giả thuyết có chứa quá nhiều “biến quan sát” và chúng có
mối quan hệ với nhau. Khi làm thay đổi một biến nào đó, kết quả sẽ làm thay đổi
biến cịn lại. Thí dụ: Cây trồng quang hợp tốt sẽ cho năng suất cao. Có quá nhiều
yếu tố ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây
Một cấu trúc “giả thuyết” tốt phải chứa đựng “mối quan hệ nhân-quả” và
thường sử dụng từ ướm thử “có thể”.
Thí dụ: Giả thuyết “Phân bón có thể làm gia tăng sự sinh trưởng hay năng
suất của cây trồng”. Mối quan hệ trong giả thuyết là ảnh hưởng quan hệ giữa phân
bón và sự sinh trưởng hoặc năng suất cây trồng, cịn ngun nhân là phân bón và
kết quả là sự sinh trưởng hay năng suất cây trồng.
b. Cấu trúc “Nếu-vậy thì”
Một cấu trúc khác của giả thuyết “Nếu-vậy thì” cũng thường được sử dụng
để đặt giả thuyết như sau:
“Nếu” (hệ quả hoặc nguyên nhân) … có liên quan tới (nguyên nhân hoặc hệ
16
quả) …, “Vậy thì” ngun nhân đó có thể hay ảnh hưởng đến hệ quả.
Thí dụ: “Nếu vỏ hạt đậu có liên quan tới sự nẩy mầm, vậy thì hạt đậu có vỏ
nhăn có thể khơng nẩy mầm”.
Một số nhà khoa học đặt cấu trúc này như là sự tiên đốn và dựa trên đó để
xây dựng thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết. Thí dụ: Nếu dưỡng chất N có ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng của lúa, vậy thì bón phân N có thể làm gia tăng năng
suất lúa.
2.3.5. Cách đặt giả thuyết
Điều quan trọng trong cách đặt giả thuyết là phải đặt như thế nào để có thể
thực hiện thí nghiệm kiểm chứng “đúng” hay “sai” giả thuyết đó. Vì vậy, trong
việc xây dựng một giả thuyết cần trả lời các câu hỏi sau:
1. Giả thuyết nầy có thể tiến hành thực nghiệm được không?
2. Các biến hay các yếu tố nào cần được nghiên cứu?
3. Phương pháp thí nghiệm nào (trong phòng, khảo sát, điều tra, bảng câu
hỏi, phỏng vấn, …) được sử dụng trong nghiên cứu?
4. Các chỉ tiêu nào cần đo đạt trong suốt thí nghiệm?
5. Phương pháp xử lý số liệu nào mà người nghiên cứu dùng để bác bỏ hay
chấp nhận giả thuyết?
Một giả thuyết hợp lý cần có các đặc điểm chính sau đây:
• Giả thuyết đặt ra phải phù hợp và dựa trên quan sát hay cơ sở lý thuyết hiện
tại (kiến thức vốn có, nguyên lý, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu tương tự trước
đây, hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo), nhưng ý tưởng trong giả thuyết là
phần lý thuyết chưa được chấp nhận.
• Giả thuyết đặt ra có thể làm sự tiên đoán để thể hiện khả năng đúng hay sai
(thí dụ, một tỷ lệ cao những người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi khi so sánh
với những người không hút thuốc lá. Điều này có thể tiên đốn qua kiểm nghiệm).
• Giả thuyết đặt ra có thể làm thí nghiệm để thu thập số liệu, để kiểm chứng
hay chứng minh giả thuyết (đúng hay sai).
Tóm lại, giả thuyết đặt ra dựa trên sự quan sát, kiến thức vốn có, các nguyên
17
lý, kinh nghiệm trước đây hoặc dựa vào nguồn tài liệu tham khảo, kết quả nghiên
cứu tương tự trước đây để phát triển nguyên lý chung hay bằng chứng để giải
thích, chứng minh câu hỏi nghiên cứu. Xét về bản chất logic, giả thuyết được đặt
ra từ việc xem xét bản chất riêng, chung của sự vật và mối quan hệ của chúng hay
gọi là quá trình suy luận. Quá trình suy luận là cơ sở hình thành giả thuyết khoa
học.
Thí dụ: khi quan sát sự nẩy mầm của các hạt đậu hoặc dựa trên các tài liệu
nghiên cứu khoa học người nghiên cứu nhận thấy ở hạt đậu bình thường, hạt no,
vỏ hạt bóng láng thì nẩy mầm tốt và đều (đây là một kết quả được biết qua lý
thuyết, tài liệu nghiên cứu trước đây,…). Như vậy, người nghiên cứu có thể suy
luận để đặt ra câu hỏi đối với các hạt đậu có vỏ bị nhăn nheo thì nẩy mầm như thế
nào? (Đây là câu hỏi). Giả thuyết được đặt ra là “Nếu sự nẩy mầm của hạt đậu có
liên quan tới vỏ hạt, vậy thì hạt đậu có vỏ nhăn có thể khơng nẩy mầm”. Đây là
một giả thuyết mà có thể dễ dàng làm thí nghiệm để kiểm chứng.
2.3.6. Kiểm chứng giả thuyết qua so sánh giữa tiên đốn với kết quả thí
nghiệm
Bên cạnh việc kiểm nghiệm, một yếu tố quan trọng là đánh giá sự tiên đốn.
Nếu như sự tiên đốn được tìm thấy là khơng đúng (dựa trên kết quả hay bằng
chứng thí nghiệm), người nghiên cứu kết luận rằng giả thuyết (một phần giả
thuyết) “sai” (nghĩa là bác bỏ hay chứng minh giả thuyết sai). Khi sự tiên đoán là
đúng (dựa trên kết quả hay bằng chứng thí nghiệm), kết luận giả thuyết là “đúng”.
Thường thì các nhà khoa học vận dụng kiến thức để tiên đoán mối quan hệ
giữa biến độc lập và biến phụ thuộc. Thí dụ: giả thuyết đặt ra trên sự tiên đốn là
“Nếu gia tăng phân bón, làm gia tăng năng suất, vậy thì các cây đậu được bón
phân nhiều hơn sẽ cho năng suất cao hơn”. Nếu sự tiên đốn khơng dựa vào kiến
thức khoa học, tài liệu nghiên cứu đã làm trước đây thì sự tiên đốn có thể vượt
ra ngồi kết quả mong muốn như thí dụ ở Hình 4.1: Đáp ứng của năng suất theo
liều lượng phân N cung cấp ở cây đậu.
18