Tải bản đầy đủ (.pdf) (44 trang)

CUỘC ĐỜI&SỰ NGHIỆP CỦA ĐỨC PHẬT TRONG KINH TRUNG BỘ DẪN NHẬP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.57 MB, 44 trang )

CUỘC ĐỜI&SỰ NGHIỆP CỦA ĐỨC
PHẬT TRONG KINH TRUNG BỘ


DẪN NHẬP
 Theo Kinh Bản Sinh, cách đây 4 A tăng kỳ và 100.000 đại kiếp

Trái Đất, tiền thân của Tất-đạt-đa là tu sĩ Thiện Huệ (Sumedha).
Khi đó có đức Phật tại thế là Phật Nhiên Đăng (Dīpankara).
Thiện Huệ nhìn thấy Nhiên Đăng Cổ Phật tận mắt, liền phát
nguyện sẽ cố gắng tu học cho đến khi được hoàn toàn giác ngộ
như Phật. Sau đó, Thiện Huệ cịn nằm sát đất, lấy thân mình để
giúp Phật bước qua vũng lầy. Thiện Huệ xin được 5 bông hoa
sen của 1 cô gái tên là Trụ-điền (Sumita), chàng chí thành tung
năm hoa sen của mình lên khơng trung để cúng dường Phật.
Trụ-điền cũng trao cho chàng 2 bông hoa sen nhờ dâng cúng
dùm, với tâm nguyện rằng đời đời kiếp kiếp luân hồi về sau sẽ
luôn là vợ của Thiện Huệ, trợ giúp chàng trong muôn kiếp luân
hồi cho tới khi chàng thành Phật.


 Đức Phật Nhiên Đăng quán xét tương lai rồi hoan hỉ thọ ký rằng

2 người sẽ đạt tâm nguyện: sau 4 A tăng kỳ và 100.000 đại
kiếp Trái Đất nữa, Thiện Huệ sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca
Mâu-ni (Sākyamuni) trong đời Hiền kiếp , cịn cơ gái Trụ-điền sẽ
thường xuyên là vợ của chàng trong các kiếp luân hồi, cho tới
khi chàng thành Phật.Thiện Huệ thời xa xưa đó chính là tiền kiếp
của thái tử Tất-đạt-đa, cịn cơ gái Trụ-điền chính là tiền kiếp của
cơng chúa Da-du-đà-la.



CUỘC SỐNG TRƯỚC KHI XUẤT GIA
 1.Là một thái tử đẹp trai
 2.Có cha ,mẹ,vợ đẹp con thơ
 3.Có thầy,có bạn...
 >> có nhiều và nhiều hơn thế nữa
 “Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia, từ

bỏ rất nhiều vàng bạc, bỏ cả loại đang chôn dƣới đất lẫn
loại trên mặt đất. Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-mơn
Gotama trong tuổi thanh niên, tóc cịn đen nhánh, trong
tuổi trẻ đẹp của thời niên thiếu, đã xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống khơng gia đình” Kinh Cankì số 95


Lý do xuất gia?
 Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trƣớc khi Giác Ngộ, khi chƣa chứng

Chánh Ðẳng Giác, khi cịn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị
sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị
chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ơ nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm.
Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ nhƣ sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh
lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già..... tự mình bi ơ nhiễm lại tìm cầu
cái bị ơ nhiễm? Vậy Ta, tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của
bị sanh, hãy tìm cầu cái khơng sanh, vô thƣợng an ổn khỏi các khổ ách,
Niết-bàn; tự mình bị già... cái khơng già... tự mình bị bệnh... cái khơng
bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái khơng sầu... tự
mình bi ơ nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị nhiễm, hãy tìm
cầu cái khơng ơ nhiễm, vơ thƣợng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.Rồi
này các Tỷ-kheo, sau một thời gian, khi Ta cịn trẻ, niên thiếu, tóc đen

nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc
đời, mặc dầu cha mẹ khơng bằng lịng, nƣớc mắt đầy mặt, than khóc, Ta
cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống khơng gia
đình. (Kinh thánh cầu 26) Tiểu kinh Dụ lõi cây 30...


 Từ một thái tử sống trong cung vàng điện ngọc giàu
sang ,ngài trở thành vị đạo sĩ nghèo nàn,không
nhà,không tiền của,sống nhờ khất thực .
 Ngài không ở nơi nào cố định ,một cây cao bóng
mát,một hang đá vắng vẻ.Ngài chân khơng giày
dép,đầu khơng mũ nón,ngài đi trong cái nắng nóng
và trong sương gió lạnh lùng,ngài mặc tấm y đơn sơ

từ những mảnh vụn ráp lại.ngài chỉ có một bình bát
để khất thực .Trích tác phẩm:Đức Phật và Phật

pháp,Phạm Kim khánh việt dịch trang 8


"Nếu bạn muốn thấy ngƣời cao quý nhất của loài ngƣời, bạn
hãy nhìn vị Hồng đế trong y phục một ngƣời ăn xin. Chính
là Phật đó. Siêu phàm thánh tính của Ngài thật vĩ đại giữa
con ngƣời."(Đức Phật dƣới mắt các nhà tri thức)


 Trên thân Ta, bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng

thành tấm, thành miếng. Nhƣ gốc cây tinduka bụi bặm
chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành

miếng; cũng vậy, này Sariputta, trên thân Ta bụi bặm chất
đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng...
Này Sariputta, như vậy là sự bần uế của Ta.
 Này Sariputta, tỉnh giác, Ta đi tới; tỉnh giác Ta đi lui, Ta an
trú lòng từ cho đến trong một giọt nƣớc với tâm tƣ:
"Mong rằng Ta không làm hại một chúng sanh nhỏ nào
trong những ác đạo của họ!" Này Sariputta, như vậy là sự
yểm ly của Ta.


 Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi







các con bò cái đã bỏ đi, khi các ngƣời chăn bị khơng có
mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các
con bò còn bú. Khi nƣớc tiểu và phân của Ta cịn tồn tại,
Ta tự ni sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là
hạnh đại bất tịnh thực của Ta.
Nay bị thiêu đốt, bị buốt lạnh,
Cô độc sống trong rừng kinh hồng,
Trần truồng, Ta ngồi khơng lửa ấm,
Ẩn sĩ, trong lý tƣởng đăm chiêu.
Trích Ðại kinh Sƣ tử hống (12)



Lý do Từ bỏ tu khổ hạnh?
 Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt

xƣơng sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi
tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn q ít.
Này Sariputta, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp
chân tay, thời này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân
tay, các lơng tóc hƣ mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn q ít.

 Này Sariputta, dầu Ta có theo cử chỉ nhƣ vậy, theo hành lộ nhƣ

vậy, theo khổ hạnh nhƣ vậy, Ta cũng không chứng đƣợc các
pháp thƣợng nhân, khơng có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc
Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, khơng chứng
được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ
này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng
thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.


Đức PhậT giác ngộ giáo lý nào khi thành đạo?
 "Pháp này do Ta chứng đƣợc, thật là sâu kín,

khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thƣợng, siêu
lý luận, vi diệu, chỉ ngƣời trí mới hiểu thấu.
Cịn quần chúng này thì ƣa ái dục, khối ái dục,
ham thích ái dục. Ðối với quần chúng ƣa ái
dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó
mà thấy đƣợc định lý Idapaccàyata
Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp)



Phật ? Mâu ni?
Ai biết đƣợc đời trƣớc,
Thấy thiện thú, ác thú,
Ðoạn tận đƣợc tái sanh,
Thắng trí đƣợc viên thành,
Vị ấy gọi Mâu-ni.
Ai biết tâm thanh tịnh,
Giải thoát gọi tham dục,
Sanh tử đều đoạn tận,
Phạm hạnh đƣợc viên thành,
Thông đạt nhứt thiết pháp,
Vị ấy xƣng Phật-đà.
Kinh Brahmàyu 91


Ba bài kinh đầu tiên Đức Phật thuyết?
 1. KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN Dhammacakkappavattana

Sutta (SN 56) tại ở Bàrànasi, tại Isipatana, chỗ Vƣờn Nai.

 2.KINH VÔ NGÃ TƯỚNG Anatta-lakkhana Sutta (SN 22) ở

Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chƣ Tiên đọa xứ), vƣờn Lộc
Uyển

 3. KINH LỬA CHÁY Aditta-pariyaya Sutta (SN 35):ở Gàya, tại

Gàyasìsa cùng với một ngàn Tỳ-khƣu.




4/ Đệ tử xuất gia đầu tiên trong tăng đoàn?

1- Kiều Trần Nhƣ
2- Kiều Trần Na
3- Kiều Trần Nhi
4- Kiều Trần Thi
5- Kiều Trần Nga


(Trích quyển “huyền ký của Đức Phật và những vị ngộ thiền”- NXB Tôn Giáo
Hà Nội).


Các đệ tử tiếp theo?
 1.Yasa
 2.Bốn người bạn ngài







Yasa:vimala,subahu,punnaji,gavampati
3.Năm mươi người bạn yassa
4.Bao mươi thanh niên do Đức Phật giáo hóa
5.Ba anh em ca Diếp và một ngàn đệ tử của 3 vị ấy
6.Tôn giả Xá lợi phất,tôn giả Mục kiền liên

Tác phẩm Đức Phật&Phật pháp,trang 68.


Cư sĩ đầu tiên quy y tam bảo?
 Cha của tôn giả Yasa (cư sĩ nam)
 Hai bà mẹ và vợ Yasa (cư sĩ nữ)


Đệ tử cuối cùng quy y với Đức Phật là vị nào?
Bài pháp cuối cùng ngài giảng trước khi nhập đại Niết bàn?
Tu Bạc Ðà La
bát thánh đạo-Kinh Ðại BátNiết-Bàn(DN.16)


CON XIN ĐƯỢC RÚT RA NHỮNG BÀI HỌC TRONG TRUNG BỘ KINH CHO
RIÊNG CÁ NHÂN CON NHƯ SAU?

 1.Sự từ bỏ vĩ đại nói trong các bài kinh nào?
 đại kinh sƣ tử hống,kinh sợ hãi và khiếp đảm ...
 2.sự từ bi nói trong bài kinh nào?
 Kinh vƣơng tử bồ đề (85)
 3.Bài học về vơ ngã nói trong bài kinh nào?
 Kinh thánh cầu(26)

 4.Bài học về vơ thƣờng nói trong bài kinh nào?
 Kinh hữu học(53),kinh đại bát niết bàn(DN.16)
 Này Anada ta bị đau lƣng(m.53),Đên nay canh 3 ta sẽ

nhập đại niết bàn(d.16)



BÀI HỌC VỀ VIỆC NHẬN XÉT HAY ĐÁNH GIÁ MỘT AI ĐÓ
NÓI TRONG BÀI KINH NÀO TRONG TRUNG BỘ KINH?

Tiểu kinh VÍ DỤ LÕI CÂY (30)
Đừng bao giờ đánh giá ngƣời khác qua vẻ bề ngồi, vì điều bạn nhìn
Thấy chƣa chắc là sự thật về con ngƣời của họ. Ở xã hội ngày nay, vẻ bề
ngoài đƣợc xem nhƣ là một công cụ để đánh giá một con ngƣời.
Nếu bạn thật sự là một ngƣời biết suy nghĩ, biết nhìn xa trong rộng thì
hãy đánh giá con ngƣời về phẩm chất của họ chứ đừng
nên đánh giá về vẻ bề ngồi. Đó là một việc làm hồn tồn sai lầm.


Bài học ứng xử khi bị người khác chỉ
trích,miệt thị... Nói trong bài kinh nào?
Ta khơng thấy một Sa-mơn hay Bà-la-môn nào, là vị Hội chủ, là vị
Giáo trƣởng, vị Sƣ trƣởng Giáo hội, dầu có tự cho là bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác, khi đối thoại với Ta, không ai là không run sợ,
không hoảng sợ, không khiếp sợ, không ai là khơng bị tốt mồ hơi
nách. Dầu Ta có đối thoại với một cột trụ vơ tình, cột trụ ấy khi đối
thoại với ta cũng run sợ, cũng hoảng sợ, cũng khiếp sợ, huống
nữa là một ngƣời thƣờng".
tiểu kinh saccaka (35)


Thật kỳ diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay,
Tôn giả Gotama! Dầu cho Tôn giả Gotama bị chống
đối một cách mỉa mai, dầu cho bị cơng kích với những
lời lẽ buộc tội trong cuộcđối thoại, màu da Tôn giả
vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ,

nhƣ một A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Ðại kinh Saccaka (36)


Ứng dụng trong đời sống phật tử
Nội dung của giai thoại này cũng nhằm nói lên trƣớc nhất là thái độ
thản nhiên của Đức Phật trƣớc cơn lốc mắng chửi, phỉ nhục của những
phần tử đối nghịch. Kế đến, nó cịn gián tiếp giáo dục chúng ta nên có
thái độ ôn hòa, nhã nhặn, không nên đao to búa lớn chửi mắng lại kẻ ác
khẩu mà tìm cách ứng phó, giáo dục họ, hƣớng họ về con đƣờng tốt.
Cách xử trí nhƣ vậy khơng chỉ là giản tiện, tuyệt vời mà cịn có hiệu
quả giáo hóa cải thiện nữa.Đứng trƣớc những lời phỉ nhục, tâm lý con
ngƣời thƣờng phát cáu, sân hận, giận dữ, thậm chí dẫn đến ẩu đả lẫn
nhau. Nhƣng ở đây, Đức Phật không xử sự phàm tục nhƣ vậy, Ngài
thản nhiên, khơng giận trách. Chính thái độ thản nhiên này làm cho kẻ
ác ngữ suy nghĩ lại thái độ sỗ sàng, xúc phạm của họ mà hối cải, quy
phục


PHƢƠNG PHÁP “MAKENO” của Achaan Chah


×