Tải bản đầy đủ (.pdf) (68 trang)

Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại các loài lan rừng sóc ta (rhynchostylis retusa), hài điểm ngọc (paphiopedilum emersonii), hoàng thảo nghệ tâm (

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.86 MB, 68 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------

ĐỖ VĂN XUÂN

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GÂY TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ
PHÕNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CÁC LỒI LAN RỪNG:
SĨC TA (RHYNCHOSTYLIS RETUSA), HÀI ĐIỂM NGỌC
(PAPHIOPEDILUM EMERSONII), HOÀNG THẢO
NGHỆ TÂM (DENDROBIUM LODDIGESII)
TẠI VƢỜN LAN HỒ NƯI CỐC

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chun ngành : Lâm nghiệp
Khoa

: Lâm Nghiệp

Khóa học

: 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN


TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------

ĐỖ VĂN XUÂN

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT GÂY TRỒNG, CHĂM SÓC VÀ
PHÕNG TRỪ SÂU BỆNH HẠI CÁC LỒI LAN RỪNG:
SĨC TA (RHYNCHOSTYLIS RETUSA), HÀI ĐIỂM NGỌC
(PAPHIOPEDILUM EMERSONII), HOÀNG THẢO
NGHỆ TÂM (DENDROBIUM LODDIGESII)
TẠI VƢỜN LAN HỒ NƯI CỐC

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chun ngành
Lớp
Khoa
Khóa học
Giảng viên hƣớng dẫn

: Chính quy
: Lâm nghiệp
: K46-LN
: Lâm nghiệp
: 2014-2018
: TS. Trần Công Quân

Thái Nguyên, năm 2018



i

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp là cơng trình nghiên cứu khoa
học của bản thân tơi, cơng trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.
Trần Công Quân. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận
là q trình điều tra hồn tồn trung thực, nếu có sai sót gì tơi xin chịu hồn
tồn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra.
Thái Nguyên,ngày... tháng ... năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD

Ngƣời viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước Hội đồng khoa học

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)


ii

LỜI CẢM ƠN
Thực tập nghề nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên
trước lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp sinh viên kiểm tra, hệ thống lại
những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất.
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm
nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt

nghiệp với đề tài: ”Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và phịng trừ
sâu bệnh hại các lồi lan rừng: Sóc ta (Rhynchostylis Retusa), Hài điểm
ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium
loddigesii) tại vƣờn lan Hồ Núi Cốc“
Để hồn thành khóa luận này tơi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
thầy giáo hướng dẫn TS. Trần Công Quân đã giúp đỡ tơi trong suốt q trình
làm đề tài.
Tơi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Trần Cơng Qn
đã giúp đỡ tơi hồn thành khóa luận này.
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hồn thành tốt
khóa luận, nhưng do thời gian và kiến thức bản thân cịn hạn chế. Vì vậy khóa
luận này khơng tránh khỏi những thiếu sót. Vậy tơi rất mong được sự giúp đỡ,
góp ý chân thành của các thầy cơ và tồn thể các bạn để khóa luận tốt nghiệp
của tơi được hồn thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày...tháng ....năm 2018
Sinh viên
Đỗ Văn Xuân


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Bảng tổng hợp chỉ số sinh trưởng của lá cây lan Sóc ta ................. 33
Bảng 4.2: Bảng tổng hợp chỉ số sinh trưởng, phát triển rễ ở cây lan Sóc ta... 34
Bảng 4.3: Bảng tổng hợp ngày/tháng phát triển chồi hoa và số lượng chồi
hoa trên cây lan Sóc ta .................................................................. 35
Bảng 4.4: Bảng tổng hợp sinh trưởng của chồi hoa cây lan Sóc ta ................ 36
Bảng 4.5: Bảng tổng hợp số lượng lá ở cây lan Hoàng thảo nghệ tâm .......... 36

Bảng 4.6: Bảng tổng hợp sinh trưởng và phát triển chồi non ở cây lan
Hoàng thảo nghệ tâm .................................................................... 38
Bảng 4.7: Diễn biến hoa ở cây lan Hoàng thảo nghệ tâm............................... 39
Bảng 4.8: Bảng tổng hợp sinh trưởng của lá ở cây lan Hài điểm ngọc .......... 40
Bảng 4.9: Tổng hợp mức độ bệnh hại lá ở lồi lan Sóc ta .............................. 41
Bảng 4.10: Tổng hợp mức độ sâu hại lá ở loài lan Sóc ta .............................. 41
Bảng 4.11: Tổng hợp mức độ bệnh hại lá ở loài lan Hoàng thảo nghệ tâm ... 42
Bảng 4.12: Theo dõi mức độ sâu hại lá ở loài lan Hoàng thảo nghệ tâm ....... 42
Bảng 4.13: Theo dõi mức độ bệnh hại lá ở loài lan Hài điểm ngọc ............... 43


iv

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Tồn cảnh khu vực nghiên cứu ....................................................... 21
Hình 4.1: Một số giá thể lan Sóc ta sau khi hồn thành.................................. 29
Hình 4.2: Đơn lan sau khi hồn thành ............................................................. 30
Hình 4.3: Một giá thể lan nghệ tâm sau khi hồn thành ................................. 31
Hình 4.4: Một số hình ảnh trong q trình xử lý phân bón ............................ 33
Hình 4.5: Biểu đồ tổng hợp tăng trưởng lá ở cây lan Sóc ta ........................... 34
Hình 4.6: Biểu đồ sinh trưởng, phát triển rễ ở cây lan Sóc ta ......................... 35
Hình 4.7: Biểu đồ theo dõi số lượng lá ở cây lan Hồng thảo nghệ tâm ........ 37
Hình 4.8: Biểu đồ sinh trưởng và phát triển chồi non ở cây lan Hoàng thảo
nghệ tâm .......................................................................................... 38


v

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT


TCN

: Trước công nguyên

HNC

: Hồ Núi Cốc

TB

: Trung bình

STT

: Số thứ tự


vi

MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. iii
DANH MỤC CÁC HÌNH .............................................................................. iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ............................................. v
MỤC LỤC ....................................................................................................... vi
PHẦN 1. MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1

1.1 Đặt vấn đề.................................................................................................... 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................... 2
1.3 Ý nghĩa đề tài .............................................................................................. 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................ 4
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ....................................................... 4
2.1.1 Về cơ sở sinh học ..................................................................................... 4
2.1.2 Cơ sở trồng, chăm sóc, bảo vệ lan rừng ................................................... 4
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngồi nước ........................... 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới ............................................. 5
2.2.2 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam .......................................................... 8
2.3 Tình hình điều kiện tự nhiên tại khu vực nghiên cứu ............................... 20
PHẦN 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU... 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 22
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................. 22
3.3 Nội dung nghiên cứu ................................................................................. 22
3.4 Phương pháp tiến hành .............................................................................. 22
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp .................................................... 22
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp...................................................... 23


vii

PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ .................................... 29
4.1 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 03 lồi lan ..................................................... 29
4.1.1 Kỹ thuật gây trồng các loài hoa lan nghiên cứu..................................... 29
4.1.2 Kỹ thuật chăm sóc .................................................................................. 31
4.2 Khả năng sinh trưởng phát triển của 03 loài lan ....................................... 33
4.2.1 Khả năng sinh trưởng, phát triển của loài lan Sóc ta ............................. 33
4.2.2 Khả năng sinh trưởng, phát triển của loài lan Hoàng thảo nghệ tâm..... 36
4.2.3 Khả năng sinh trưởng của loài lan Hài điểm ngọc ................................. 40

4.3 Tình hình sâu hại, bệnh hại 03 lồi lan ..................................................... 41
4.3.1 Sóc ta ...................................................................................................... 41
4.3.2 Hồng thảo nghệ tâm ............................................................................. 42
4.3.3 Hài điểm ngọc ........................................................................................ 43
4.4 Đề xuất một số biện pháp trong gây trồng, chăm sóc và phịng trừ sâu
bệnh hại ..................................................................................................... 44
4.4.1 Một số biện pháp kỹ thuật gây trồng lan ................................................ 44
4.4.2 Kỹ thuật chăm sóc cây hoa lan............................................................... 44
4.4.3 Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại cây hoa lan ......................................... 45
PHẦN 5. KẾT LUẬN .................................................................................... 47
5.1 Kết luận ..................................................................................................... 47
5.2 Kiến nghị ................................................................................................... 48
PHỤ LỤC


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây hoa lan được mọi người yêu thích, trước hết là ở hương thơm, lan
được gọi là “vương giả hương” (hương thơm vương giả), “hương tổ” (tổ tiên
của hương thơm). Lan là biểu tượng của sự may mắn, phẩm chất cao thượng.
Hoa lan là một món q của tạo hóa, nó khơng chỉ là một lồi hoa đẹp
có giá trị về mặt tinh thần mà cịn có giá trị kinh tế cao và hiện đang có thị
trường tiêu thụ mạnh trong nước cũng như xuất khẩu. Ngày nay, chúng ta có
thể thấy hoa lan ở khắp mọi nơi và dễ bị choáng ngợp trước vẻ đẹp quyến rũ,
biến hóa mn màu,mn vẻ của các lồi hoa như: Cattleya, Hồ Điệp,
Dendrobium, Vanda, Cymbidium. Hoa lan được ưa chuộng phải chăng bởi đó
là biểu tượng của niềm khao khát cuộc sống phong lưu và hạnh phúc bền bỉ.

Trên thế giới có hơn 25.000 giống khác nhau, cùng với những lồi mới
được khám phá và mơ tả theo hàng năm. Chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới
và Việt Nam. Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang,
vua của các loài hoa. Hoa lan khơng những đẹp về màu sắc mà cịn đẹp cả về
hình dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao
nhã đến dạng hình thân, lá, cành dun dáng ít có lồi hoa nào sánh nổi.
Màu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt
như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho
đến chấm phá, loang sọc vằn…
Hình dáng đa dạng phong phú, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc
chung quanh một cái môi elip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác
thường. Hoa lan có loại cánh trịn, có loại cánh dài nhọn hoắt, có loại cụp
vào, có loại xoè ra có những đường chun xếp, vịng vèo, uốn éo, có loại có


2

râu, có vịi quấn qt, có những hoa giống như con bướm, con ong. Hoa lan
có những bơng nhỏ nhưng cũng có bụi lan rất lớn và nặng gần một tấn.
Ngồi ra lan rừng có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích. Tuy
nhiên, hầu hết các lồi lan rừng chỉ được khai thác và nuôi trồng trong điều
kiện tự nhiên, chưa được áp dụng các biện pháp kỹ thuật nên năng suất, chất
lượng hoa không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng.
Trong khi các giống lan nhập nội lại có các ưu điểm như sinh trưởng,
phát triển khỏe, sản lượng hoa cao, chất lượng hoa tốt: Hoa to, màu sắc đẹp,
đa dạng, độ bền hoa kéo dài và điều khiển ra hoa được vào các dịp lễ tết, nên
đã mang lại hiệu quả cao cho người trồng lan.
Trên cơ sở đó tơi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật
gây trồng, chăm sóc và phịng trừ sâu bệnh hại các lồi lan rừng: Sóc ta
(Rhynchostylis Retusa), Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii), Hoàng

thảo nghệ tâm (Dendrobium loddigesii) tại vƣờn lan Hồ Núi Cốc”. Đề tài
hoàn thành là tài liệu tham khảo cho cán bộ sinh viên quan tâm và yêu thích
lan rừng, góp phần hồn thành khố luận tốt nghiệp đại học, khoa Lâm nghiệp
trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được kỹ thuật gây trồng và chăm sóc 03 lồi lan: Sóc ta, Hài
điểm ngọc, Hoàng thảo nghệ tâm.
- Xác định khả năng sinh trưởng của 03 lồi lan: Sóc ta, Hài điểm ngọc,
Hồng thảo nghệ tâm tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất được một số biện pháp chăm sóc các lồi lan được nghiên cứu.


3

1.3 Ý nghĩa đề tài
1.3.1 Ý nghĩa về khoa học
- Việc nghiên cứu về một số kỹ thuật gây trồng và chăm sóc kỹ thuật
phịng trừ sâu bệnh hại của các loài lan nhằm đề suất một số biện pháp bảo tồn.
- Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn và những vai trị
mà lồi lan mang lại cho cuộc sống. Tuyên truyền cho nhân dân và các cán bộ
quản lý tài nguyên rừng cần có biện pháp bảo vệ và bảo tồn các loại lan một
cách hợp lý.
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Giúp tôi hiểu thêm các kỹ thuật gây trồng và chăm sóc lan: Sóc ta, Hài
điểm ngọc, Hồng thảo nghệ tâm.
- Ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn.
- Hiểu được vai trò sinh thái của lan rừng trong tự nhiên.


4


PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Về cơ sở sinh học
Cơng việc nghiên cứu đối với bất kỳ lồi cây rừng nào chúng ta cũng
cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.Việc hiểu rõ về đặc tính sinh
học của lồi giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng
nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động vật quý
hiếm, từ đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật.
2.1.2 Cơ sở trồng, chăm sóc, bảo vệ lan rừng
Một trong những đặc điểm sinh học đặc trưng của lan là có khả năng
chịu cớm cao, ưa ẩm và bóng râm, nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảm năng
suất và phẩm chất.
Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào, đặc biệt
“kỵ” với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào).
Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây
và giá thể theo kinh nghiệm “2 ướt 1 khơ” trong ngày, đó là vào các thời điểm
trước bình minh và sau hồng hơn. Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt
rễ và dự trữ.
Đối với địa lan: Chăm sóc như đối với phong lan, cần chú ý đảm bảo đất
nền tơi xốp, nhiều màu ở thể hữu cơ đang hoại mục là tốt nhất. Nên bổ sung từ
10-20% vụn gỗ mục (cả vỏ), 10-20% (theo khối lượng tổng thể) các mẫu than
gỗ nhỏ, luôn ẩm (nhưng không ướt sũng) để nhử rễ ăn ra (gọi là hồ rễ).
Tránh gió khơ, nóng lùa qua phần nổi của cây. Làm mát đất bằng phun
tưới nước loang theo bóng tán. Cần loại bỏ ngay những lá già để ngăn chặn
sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ đã hết chức năng hấp thụ hơi nước và
cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nuôi cây.



5

Không nên dùng NPK – loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để
bón cho lan. Để cây tươi lâu, đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể
thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) với nước gạo mới vo, nước ngâm tro
và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp). Nếu có điều kiện lấy bông
(hoặc vải cotton) nhúng vào dung dịch glycerin 10-15% cuốn vào cổ rễ để giữ
ẩm cho cây.
Kỹ thuật chăm sóc lan ra hoa: Cây sau khi ra hoa nếu không đáp ứng độ
ẩm sẽ khiến rễ, lá teo nhăn lại rất khó hồi phục. Nếu mới trồng, nên tưới phân
số 1 (phân nhiều đạm) hay phân số 2 (phân trung hịa đạm và NPK) nồng độ 12g/lít nước. Trung bình nên tưới nước cho cây hai lần/ngày, tưới vào buổi sáng
sớm và buổi chiều mát. Làm đúng như vậy thì cây sẽ ra hoa. [12]
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngồi nƣớc
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới
Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan
Orchidales, lớp thực vật một lá mầm.
Lan thuộc vào lồi hoa đơng đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000
giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay
thiên tạo. Hoa lan (Orchidaceae) là một lồi hoa đơng đảo vào bậc thứ nhì sau
hoa cúc (Asteraceae).
Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan. Hoa lan
mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại:
1. Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống.
2. Terestrials: Địa lan mọc dưới đất.
3. Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá.
4. Saprophytes: Loại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục.
Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay,
người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang



6

trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn lồi lan đã phát hiện
có một số lồi cịn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên
liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng. Trong số những lồi đó người ta
đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan Kim tuyến có chứa một loại hoạt
chất để sản xuất thuốc chữa ung thư. Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay rất
cao như lan Thạch hộc tía lên tới hàng triệu đồng/kg. [15]
- Phân bố:
Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố
nhiều nơi trên thế giới. Gần như có mặt trong mọi mơi trường sống, ngoại trừ
các xa mạc và sông băng. Phần lớn các lồi được tìm thấy trong khu vực
nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ. Chúng cũng được tìm
thấy tại các vĩ độ cao hơn vịng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí
trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Nó chiếm khoảng 6–11% số
lượng lồi thực vật có hoa.
Theo Helmut Bechtel (1982) [9] hiện nay trên thế giới có hơn 750 lồi lan
rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan
lai không thể thống kê chính xác số lượng. Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 5
khu vực:
+ Vùng nhiệt đới châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe,
Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis,
Vanda, Anoectochillus…
+ Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya,
Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis.
+ Châu Phi gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa…
+ Châu Úc gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Phaius,
Cymbidium, Eria, Dendrobium, Pholidota, Sarchochilus…



7

+ Vùng ôn đới của châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc châu Á gồm các
giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes…
Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae:
Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi
Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi
Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi
Châu Đại Dương: 50 - 70 chi
Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi
Bắc Mỹ: 20 - 25 chi
-Những nghiên cứu về lan:
Cây hoa lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 TCN, trải qua lịch sử
phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được
giống mới đem lại kinh tế cao. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản xuất
hoa lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt
nhất là Thái lan.
Thái Lan có lịch sử nghiên cứu và lai tạo phong lan cách đây khoảng
130 năm (Arjan Germy, 2005), hiện nay là nước đứng đầu về xuất khẩu hoa
phong lan trên thế giới (kể cả cây giống và hoa lan cắt cành) trong đó các
giống phong lan thuộc chi lan Hoàng Thảo Dendrobium chiếm 80%.
Cây lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến lan (được tìm ra đầu
tiên ở Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một lồi bán địa lan. Ở
phương Đông, lan được chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương
thơm tuyệt vời của hoa. Vì vậy trong thực tế lan được chiêm ngưỡng trước
tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy
chuộng tao nhã chứ không ưa phô trương sặc sỡ).
Lan đối với người Trung Hoa hay lan đối với người Nhật, tượng trưng
cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, tất cả thuộc về phái yếu, quý



8

phái và thanh lịch như có người đã nói “Mùi hương của nó tỏa ra trong sự
n lặng và cơ đơn”. Khổng Tử đề cao lan là vua của những lồi cây cỏ có
hương thơm. Phong trào chơi phong lan và địa lan ở Trung Quốc phát triển
rất sớm, từ thế kỷ thứ V trước cơng ngun đã có tranh vẽ về phong lan cịn
lưu lại từ thời Hán Tơng.
Ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong lan từ thế kỷ thứ 18, sau Trung Quốc
đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà phong
lan đã đi khắp các miền của địa cầu. Lúc đầu là Vanny sau đó đến Bạch Cập,
Hạc Đính rồi Kiến Lan... lan chính thức ra nhập vào ngành hoa cây cảnh trên
thế giới hơn 400 năm nay.
Địa lan (Cymbidium) hay còn gọi Thổ lan là một loại hoa lan khá phổ
thơng, vì hội đủ điều kiện: Có nhiều hoa, to đẹp, đủ màu sắc và lâu tàn, rất
thông dụng cho việc trang trí trưng bày. Hiện nay nước Mỹ có nhiều vườn địa
lan dùng cho kỹ nghệ cắt bông như Gallup & Tripping ở Santa Barbara
nhưng cũng phải nhập hàng triệu đô la mỗi năm từ các nước Âu Châu và Á
châu để cung ứng cho thị trường trong nước.
Trước năm 1930, nước Mỹ khơng có nhiều giống lan và cũng khơng có
nhiều người thích chơi lan hay vườn lan. Nói riêng về California thì chỉ có 23 vườn lan ở Oakland và San Francisco, nhưng chỉ dùng cho kỹ nghệ cắt
bơng, khơng có bán cây. Lúc bấy giờ các vườn lan chỉ có Cát lan (Cattleya) hay
địa lan (Cymbidium) nhưng cũng khơng có nhiều giống lan hay hoa đẹp, những
giống này được nhập cảng từ nước Anh.
2.2.2 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.2.1 Tổng quan về nghiên cứu sinh thái
Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng,
đây là cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên,



9

ngăn ngừa suy thối các lồi nhất là những lồi động, thực vật quý hiếm, ngăn
ngừa ô nhiễm môi trường...
Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, Lê Mộng Chân (2000) [2].
Đã nêu tóm tắt khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Sinh thái thực vật
nghiên cứu tác động qua lại giữa thực vật với ngoại cảnh. Mỗi loài cây sống
trên mặt đất đều trải qua quá trình thích ứng và tiến hố lâu dài, ở hồn cảnh
sống khác nhau các lồi thực vật thích ứng và hình thành những đặc tính sinh
thái riêng, dần dần những đặc tính được di truyền và trở thành nhu cầu của
cây đối với hồn cảnh.
Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của lồi cây để gây trồng, chăm
sóc, ni dưỡng, sử dụng và bảo tồn các loài cây đúng lúc, đúng chỗ đồng
thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên và mơi trường
Ngồi ra điều kiện sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến tính đa dạng
của hệ sinh thái rừng Việt Nam. Lãnh thổ lục địa trải dài từ vĩ tuyến 23º24’B
đến vĩ tuyến 8º35’B, nằm trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu tiếp cận gần
với xích đạo.Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đơng lạnh và cận
xích đạo. Bờ biển dài 3.260 km từ Móng Cái đến Hà Tiên, nơi có rừng ngập
mặn, nơi có rừng phi lao trên cát.
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [8] nước ta có khoảng 11.373 loài
thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ. Các nhà thực vật học dự đốn con số lồi
thực vật ở nước ta cịn có thể lên đến 15.000 lồi. Trong các lồi cây nói trên
có khoảng 7.000 lồi thực vật có mạch, số lồi thực vật đặc hữu của Việt Nam
chiếm khoảng 30% tổng số loài thực vật ở miền Bắc và chiếm khoảng 25%
tổng số loài thực vật trên tồn quốc (Lê Trần Chấn, 1997), có ít nhất 1.000
lồi cây đạt kích thước lớn, 354 lồi cây có thể dùng để sản xuất gỗ thương
phẩm. Các lồi tre nứa ở Việt Nam cũng rất phong phú, trong đó có ít nhất 40
lồi có giá trị thương mại. Sự phong phú về loài cây đã mang lại cho rừng
Việt Nam những giá trị to lớn về kinh tế và khoa học.



10

Phan Kế Lộc (1970) [7]. Đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có
5.609 lồi thuộc 2.000 lồi thuộc 1.660 chi và 240 họ,tác giả đã đề nghị áp
dụng cơng thức đánh giá tổ thành lồi rừng nhiệt đới. Theo thống kê của Viện
Dược liệu (2013) hiện nay đã phát hiện được 3.850 loài cây dùng làm dược
liệu chữa bệnh, trong đó chữa được cả những bệnh nan y hiểm nghèo. Theo
thống kê ban đầu, đã phát hiện được 76 loài cây cho nhựa thơm, 600 loài cây
cho tananh, 500 loài cây cho tinh dầu và 260 loài cây cho dầu béo.
 Sóc ta (Rhynchostylis Retusa)
Cịn có tên gọi khác Đuôi chồn, là loại lan họ Ngọc Điểm, Sóc ta cũng
như Đai Châu có các sọc trắng mờ chạy dọc mặt dưới của lá, không rõ rệt như
Đai Châu, mặt dưới màu nhạt hơn mặt trên lá, lá rất dày và mọng thường dài
khoảng 20-40 cm, bề rộng lá 2-3 cm và xếp khép chữ V chứ không mở phẳng,
đầu lá non chia 2 thùy nhọn hoắt, đầu lá già thì tù hơn nhiều. Lá xếp sát nhau
nhìn dáng cây chắc chắn.
Rễ Sóc ta to mập, thường cỡ cây bút chì, cây to được chăm tốt rễ có thể to
bằng ngón tay út, có màu trắng bạc, đầu rễ đang phát triển có màu xanh sẫm.
Hoa có dạng chùm dài khoảng 30-45 cm gồm nhiều bơng đơn kích cỡ
khoảng 2 cm, về cơ bản dáng hoa Sóc ta cũng giống con chim đang sà xuống
như Đuôi Cáo nhưng cánh bên nhỏ và môi hoa nhỏ hơn, nhiều chấm tím hơn.
Mùa hoa khoảng tháng 4-6 dương lịch, hoa có mùi thoang thoảng đặc
trưng, độ bền khoảng 20-25 ngày tùy sức cây. [14]
 Hài điểm ngọc (Paphiopedilum emersonii)
Cỏ lâu năm, Lá rất giống P. hangianum, chất da, có hình thn - bầu
dục, mặt trên màu lục bóng, mặt dưới màu lục nhạt. Cụm hoa có cuống dài 10
- 15 cm, mang 1 hoa. Lá bắc hình bầu dục rộng, màu trắng.
Hoa thơm dịu, lá đài và cánh hoa dày, màu trắng, có lơng ngắn ở cả 2

mặt. Lá đài ở gần trục hoa hình bầu dục trứng, lá đài kia hình bầu dục rộng


11

gần trịn. Cánh hoa hình bầu dục rộng, ở gốc có lơng dài và chấm tía, mép
bên đơi khi uốn vào trong, môi màu vàng hay da cam nhạt. Gân hình cầu với
các chấm to và trắng đục như hạt ngọ, mép cuốn vào trong với mạng gân
lõm, nhị lép màu vàng với 2 vệt màu đỏ cam. Bầu dài khoảng 3 cm, có lơng
nhung trắng.
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-6. Tái sinh bằng hạt. Mọc rải
rác dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá
rộng trên núi đá vôi, ở độ cao 400-600 m, trong các khe nứt ít đất của các
vách dốc đứng ở sườn gần đỉnh núi. [1]
 Hoàng thảo nghệ tâm (Dendrobium loddigesii)
Hay còn gọi là thạch học duyên dáng có tên khoa học là Dendrobium
Loddigesii là một trong những dịng lan hồng thảo rất đáng sưu tầm. Hoàng
thảo nghệ tâm sinh sống ở những khu rừng nguyên sinh, rừng lá kim có nhiều
rêu, ẩm ướt ở độ cao 1.000-1.500m. Chúng phân bố chủ yếu ở các cách rừng
Tây Bắc Việt Nam, các tỉnh phía nam của Trung Quốc, Lào,… Nhiệt độ ưa
thích 20-30 độ C, cây ưa ẩm. [10]
Nguồn gen hoa phong lan của Việt Nam rất phong phú trong đó lan Hồng
Thảo chiếm khoảng 30-40% trong tổng số các loài lan của Việt Nam- Võ Văn
Chi, Lê Khả Kế, (1969) [3]. Chi lan Hoảng thảo chúng được biết đến như loài
hoa tràn đầy sức sống rất mạnh mẽ, sống bám trên những thân cây. Được trải
rộng trên một diện tích lớn từ địa đầu Móng Cái xuống tới những khu rừng
ngập mặn vẫn cịn tìm thấy hồng thảo.
Như những dịng lan thân thịng khác, Hồng thảo nghệ tâm cũng cần
có 1 thời gian ngủ đơng trước khi ra hoa. Nhưng điểm khác biệt ở đây là
Hoàng thảo nghệ tâm không rụng hết lá mà chỉ rụng 1/4 - 1/3 số lượng lá trên

thân. Do đó, vào mùa hoa, chúng ta vẫn được chứng kiến những cánh hoa


12

xinh xắn xen lẫn với màu xanh của cành lá. Đây khơng phải là đặc điểm mà
dịng lan hồng thảo nào cũng có. [4]
2.2.2.2 Tổng quan về các lồi lan rừng ở Việt Nam
Lan rừng Việt Nam – Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học đã được rất
nhiều tác gia để cập đến. Có thể tóm tắt đặc điểm thực vật học của lan rừng
Việt Nam theo tiêu trí chính sau:
 Rễ
Khi sống ở đất, chúng thường có củ giả, rễ mập và xum x hoặc có
chân rễ bị dài hay ngắn. Tuy nhiên, nét độc đáo của họ lan là lối sống phụ (bì
sinh) bám, treo lơ lửng trên các thân cây gỗ khác. Hoa lan phát triển thân rễ
nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai (tuỳ thuộc vào từng lồi) đưa cơ thể bị đi
xa hay chụm lại thành các bụi dày. Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào
hình dạng chung của cơ thể. Nhiều lồi lan rất nhỏ bé, hình dạng xấu xí, khó
khăn lắm mới nhận được chúng trong kẽ nứt của vỏ cây gỗ, trên các cành,
nhánh cao tít. Hệ rễ cũng nhỏ, đan thành búi, ngược lại ở các loài phong lan
có kích thước lớn hay trung bình, hệ rễ khí sinh phát triển rất phong phú, mọc
rất dài, mập, khoẻ vừa giữ cho cơ thể khỏi bị gió làm lung lay, vừa làm cột
chống đỡ cho thân vươn cao.
Để làm nhiệm vụ hấp thu dinh dưỡng, chúng được bao bọc bởi một lớp
mô hút dày, ẩm, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy khơng khí. Với lớp
mơ xốp đó, rễ khơng những có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc trên vỏ
cây mà còn lấy được nước lơ lửng trong khơng khí (sương sớm hay hơi nước).
Nhiều lồi có hệ rễ đan, bện chằng chịt, là nơi thu gom mùn để làm
nguồn dự trữ chất dinh dưỡng cho cây. Ngược lại, có lồi mọc bị dài, hệ rễ có
khi bng thõng xuống theo các đoạn thân, cứng hoặc mảnh mai, treo lơ lửng

trong khơng khí kéo dài xuống tận đất và hoạt động phá rễ của cây khác. Ở
một số lồi lan có thân, lá kém phát triển (thậm chí tiêu giảm hồn tồn) hệ rễ


13

phá triển dày đặc và kiêm nhiệm luôn cả vai trị quang hợp. Rễ có dạng dẹt,
bị rất dài, màu xanh như lá.
Đặc biệt các loài phong lan sống hoại, bộ rễ có hình dạng, cấu trúc khá
độc đáo. Nó có dạng búi nhỏ với những vịi hút ngắn, dày đặc để lấy được
dinh dưỡng từ những đám xác thực vật thơng qua hoạt động của nấm. Tuy
nhiên, có một ít lồi tuy sống hoại, nhưng cây có thể dài đến vài chục mét, nó
có khả năng leo, bị rất cao.
 Thân
- Lan có 2 loại thân: đa thân và đơn thân
- Ở các lồi lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả
hành). Đó là bộ phận dự trữ nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây trong
điều kiện khô hạn khi sống bám trên cao.
- Củ giả rất đa dạng: Hình cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hay rải
rác đều đặn hoặc hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả.
- Cấu tạo củ giả: Gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía ngồi là
lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nước do mặt
trời hun nóng. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó làm
nhiệm vụ quang hợp. [16]
- Thân rất ngắn hay kéo dài, đôi khi phân nhánh, mang lá hay không
mang lá. Theo M.E. Pfizer (1882)- dẫn theo Trần Hợp, 1990) [5], phong lan
có 2 loại thân, mà đa số thuộc loại sinh trưởng hợp trục (nhóm khơng thân).
Thân này gồm hệ thống của nhiều nhánh lâu năm, với bộ phận nằm ngang, bò
dải trên giá thể hay ẩn sâu trong lòng đất, gọi là thân rễ. Ngược lại, rất ít khi
gặp các lồi phong lan sinh trưởng đơn trục (nhóm có thân) nghĩa là sự sinh

trưởng của trục chính khơng giới hạn, làm cho thân rất dài, cơ thể khó có khả
năng duy trì được tư thế thẳng đứng, nó phải nhờ đến các rễ chống đỡ để
vươn cao, nếu khơng, nó đành phải bị dài hay leo cuốn. Đơi khi thân của một
số loài lan rất ngắn, bị che khuất bởi hệ thống lá hay rễ mọc thành bụi dày.


14

- Ở các lồi phong lan sống phụ, có nhiều đoạn phình lớn, tạo thành củ
giả. Đó là bộ phận dự trữ nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây trong hồn
cảnh khơ hạn khi sống bám trên cao. Củ giả rất đa dạng, hoặc hình cầu, thn
dài, xếp sát nhau hay rải rác, đều đặn (Bulbophylum) hay hình trụ xếp chồng
chất lên nhau thành một thân giả (Dendrobium). Kích thước của củ giả cũng
rất biến động, từ dạng củ rất nhỏ chỉ lớn bằng đầu chiếc kim găm
(Bulbophylum) đến to bằng chiếc mũ người lớn (Peristeria elata). Đa số củ
giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp.
 Lá
- Hầu hết các loài phong lan đều là cây tự dưỡng, do đó nó phát triển rất
đầy đủ hệ thống lá, lá mềm mại, duyên dáng và hấp dẫn. Lá mọc đơn độc,
hoặc xếp dày đặc ở gốc, hay xếp cách đều đặn trên thân, trên củ giả. Hình
dạng lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nước, nạc, dài hình kim, hình trụ
dài, tiết diện trịn hay có rãnh, đến loại lá hình phiến mỏng, dài màu xanh
bóng, đậm hay nhạt tuỳ theo vị trí sống của cây, đặc biệt rất hiếm loại lá hình
trịn thn dài thành bẹ ơm lấy thân. Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các
gân vòng cung (như cái quạt hay chỉ gấp lại theo gân giữa, hình chữ V),
những lá dưới sát gốc thường tiêu giảm đi chỉ cịn những bẹ khơng có phiến
hay giảm hẳn thành các vẩy.
- Về màu sắc: Phiến lá thường có màu xanh bóng, nhưng đơi khi hai
mặt lá có màu khác nhau thường mặt dưới lá có màu xanh đậm hay tía, mặt
trên lá khảm thêm nhiều màu sắc sặc sỡ. Nhiều lồi lan lại có lá màu hồng và

nổi lên các đường vẽ trắng theo các gân rất đẹp.
 Hoa
- Hoa đối xứng qua một mặt phẳng.
- Bên ngồi có 6 cánh hoa, trong đó 3 cánh ngồi cùng là 3 cánh đài,
thường có màu sắc và kích thước giống nhau. Một cánh đài nằm ở phía trên


15

hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lý, hai cánh đài nằm ở 2 bên gọi là cánh
đài cạnh. Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa, chúng
giống nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc. Cánh cịn lại nằm ở phía trên
hay phía dưới, có hình dạng và màu sắc khác hẳn với các cánh cịn lại gọi là
cánh mơi. Cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ của hoa lan.
- Ở giữa hoa có một trụ nổi lên, đó là bộ phận sinh dục của cây, giúp
cây duy trì nòi giống. Trụ gồm nhị và nhuỵ. Sau khi thụ phấn, các cánh hoa
héo, cuống hoa hình thành quả lan.
 Quả và hạt
- Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3-6 đường nứt dọc, có dạng từ
quả cải dài (Vanilla) đến dạng hình trụ ngắn phình ở giữa (ở đa số các lồi
khác). Khi chín, quả nở ra và mảnh vỏ cịn dính lại với nhau ở phía đỉnh và
phía gốc. Ở một số lồi, quả chín nở theo 1-2 khía dọc, thậm chí khơng nứt ra
mà hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này bị mục nát.
- Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti (do đó trước đây gọi họ phong lan là họ vi
tử). Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp,
chứa đầy khơng khí. Phải trải qua 2-18 tháng hạt mới chín. Phần lớn hạt
thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm. Do đó hạt nhiều
có thể theo gió bay rất xa, nhưng hạt nảy mầm thành cây lại rất hiếm. Chỉ ở
trong những khu rừng già ẩm ướt, vùng nhiệt đới mới đủ điều kiện cho hạt lan
nảy mầm. Khối lượng toàn bộ hạt trong một quả chỉ bằng 1/10 đến 1/1000

miligam. Trong đó khơng khí chiếm khoảng 76-96% thể tích của hạt. Rõ ràng
hạt cây lan hầu như khơng có khối lượng. [11]
2.2.2.3 Các nghiên cứu gây trồng và chăm sóc các lồi lan rừng ở Việt Nam
 Các nghiên cứu về gây trồng
Theo cuốn Phong lan Việt Nam của Trần Hợp (1998) [6] thì Việt Nam
có 137-140 chi gồm trên 800 loài lan rừng. Hiện tại ngoài hoa lan mọc hoang


16

dã, lan còn được gây trồng đại trà tại một số nơi, nhiều nhất là ở Tây Nguyên
trong đó Đà Lạt là một trong những nơi hoa lan được trồng rộng rãi nhất.
Khi Đà Lạt mới được khám phá, hoa lan đã được thu hoạch tự nhiên.
Đến thập niên 1960, việc nhập giống mới đã giúp phát triển nghề trồng hoa
này tại đây.
Các cây lan nhập nội được nuôi trồng ở Đà Lạt nằm trong các chi:
Catleya,

Cymbidium,

Dendrobium,

Paphiopedillum,

Oncidium,

Odontoglossum, Vanda. Các cây lan nhập nội được trồng trọt nhiều nhất là
trong chi Cymbidium với trên 300 giống. Các giống Bengal Bay Golden Hue,
Suva Royal Velvet, Sayonara Raritan, Balkis, Eliotte được nhập nội từ thập
niên 1960 cho đến nay vẫn còn được ưa chuộng và trồng trọt khá nhiều tại các

vườn lan.
Các loài lan nội địa cũng đã được sưu tập và trồng trọt phổ biến tại Đà
Lạt từ thập niên 1940 cho đến nay.
Các loài lan được ưa chuộng tại các vườn lan Đà Lạt - Tây Nguyên là:
Long tu (Dendrobium primulinum Lindl.)
Kim điệp (Den. Chrysotosum Lindl. var. Delacourii Gagn.)
Thủy tiên trắng (Den. Farmeri Paxton)
Thủy tiên vàng (Den. Thyrsiflorum Rchb. f.)
Thủy tiên mỡ gà (Den. Densiflorum Wall)
Long nhãn kim điệp (Den. Fimbriatum Hook, var. oculatum Hook)
Giả hạc (Den. Superbum Reich. in Walp)
Ý thảo (Den. gratiotissimum Rchb. f.)
Các loại Lọng (Bulbophyllum sp.)
Ngoài ra còn một số tỉnh thành khác như ở Yên Bái với tiểu vùng khí
hậu tương đối ơn hịa nóng ẩm mưa nhiều, rất thích hợp cho việc phát triển
thảm thực vật nói chung và phong lan nói riêng. Trên khắp các cánh rừng của


×