BÀI TẬP THẢO LUẬN LUẬT HÌNH SỰ
PHẦN CÁC TỘI PHẠM
LẦN 3
Tài liệu được biên soạn, tổng hợp từ các bài tập học thuật của các sinh viên được đào tạo chuyên ngành
luật trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hà Nội. Xin cảm ơn các đọc giả đã theo dỏi.
Đề bài:
I.
Nhận định đúng sai.
30. Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124
BLHS).
31. Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là tình tiết
định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS.
33. Chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS) chỉ là
người khơng có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người.
36. Đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải
người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc người
lao động của các cơ quan Nhà nước.
40. Mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hơn với người khác đều cấu thành
Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS).
42. Giao cấu thuận tình với người có cùng dòng máu về trực hệ là hành vi chỉ quy
định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.
Bài tập
Bài tập 15
A và B cùng đi săn. A nhìn thấy một con gà rừng liền giơ súng lên ngắm bắn. B thấy
gần đó có một người đang bẻ măng nên ngăn đừng bắn và nói rằng: “Thơi đừng bắn
nữa, nhỡ trúng người ta thì chết”. A tiếp tục rê súng theo con gà rừng và đáp lại: “Mày
chưa biết tài bắn của tao à! Chưa bao giờ tao bắn trượt cả”. Nói xong, A bóp cị, không
ngờ đạn trúng vào người bẻ măng.
Hãy xác định A phạm tội gì nếu:
-
Nạn nhân chết;
Nạn nhân bị thương nặng;
Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 21%.
Bài tập 16
Ông M và bà H lấy nhau đã được 30 năm nhưng hai người khơng có con chung. Ơng
M thường xun vắng nhà, có khi nhiều ngày khơng hề về nhà. Quan hệ của M và H cứ
như thế đã nhiều năm. Cuộc sống tẻ nhạt của bà H thật sự trở thành địa ngục khi bà biết
ông M lừa dối bà: ơng M đang có vợ bé và đang có một con chung với người vợ này.
Đúng vào ngày sinh nhật thứ 53 của bà H, ông M trở về nhà chìa vào mặt bà H tờ
đơn xin ly hơn. Bà H buồn rầu nói qua hai hàng nước mắt: “Ơng thật tàn ác, hơm nay là
sinh nhật tôi cơ mà! Tôi hận ông đã lừa dối tôi suốt bấy nhiêu năm. Không cần đơn chi
hết. Tôi sẽ chết cho ông rảnh nợ mà đi lấy người ta. Ơng đừng có cản tơi, tơi đã quyết
vậy rồi”.
2
Ơng M bng lời lạnh lùng: “Bà làm gì mặc xác bà. Tôi cần một chữ ký của bà vô tờ
đơn gửi tịa thơi”.
Nghe vậy bà H leo lên thành cửa sổ (đang mở sẵn), ông M vẫn ngồi yên ở ghế salon
mà khơng nói gì thêm. Khoảng cách giữa chỗ ông M ngồi và thành cửa sổ là 5m. Bà H
nhảy xuống, đầu đập xuống nền xi măng, vỡ hộp sọ và chết (Nhà ông M và bà H ở tầng
5 chung cư T). Theo tin báo của nhân dân, công an đã tạm giữ ông M để làm rõ cái chết
của bà H.
Hãy xác định ơng M có tội khơng? Nếu có là tội gì?
Bài tập 19
A và B là vợ chồng có một đứa con chung là C (8 tháng tuổi). Cuộc sống gia đình
khó khăn, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập
mẹ con chị B. Đêm 29/7, sau khi đi nhậu về, A tiếp tục đánh đập, chửi bới chị B rồi vứt
quần áo đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà mặc dù ngoài trời đang mưa bão. Chị B khóc van
xin A mở cửa nhưng A kiên quyết không chịu. Quá tuyệt vọng, chị B bế con ra bờ sông
gần nhà nhảy xuống sông tự sát. Lúc này, ông X đi ngang qua thấy vậy nhảy xuống sông
cứu hai mẹ con nhưng chỉ cứu được chị B, cháu C chết do ngạt nước.
Trong tình huống trên, ai phạm tội? Nếu có phạm tội gì? Tại sao?
3
BÀI LÀM
PHẦN BÀI TẬP NHẬN ĐỊNH:
30. Hậu quả nạn nhân chết là dấu hiệu định tội của Tội vứt bỏ con mới đẻ (Điều
124 BLHS).
Nhận định sai.
Đối với Tội phạm tại Điều 124, dấu hiệu định tội bắt buộc là hồn cảnh giết con.
Nếu người mẹ khơng bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh
khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con mới đẻ dẫn đến hậu quả nạn nhân chết thì sẽ cấu
thành tội giết người tại Điều 123 BLHS.
Do đó hậu quả nạn nhân chết nhưng người mẹ hay người thực hiện hành vi không
ở trong trường hợp khách quan đặc biệt thì chưa đủ là dấu hiệu định tội của tội vứt bỏ
con mới đẻ tại Điều 124 BLHS.
31. Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác chỉ được quy định là
tình tiết định khung của Tội giết người tại điểm h khoản 1 Điều 123 BLHS.
Nhận định sai
Hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác mà những bộ phận đó là
những bộ phận quyết định sự sống của nạn nhân thì cấu thành nên tội giết người ở điểm
h khoản 1 Điều 123 BLHS. Còn hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác mà
những bộ phận này dù mất đi cũng khơng làm nạn nhân chết thì sẽ cấu thành nên tội
mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể con người Điều 154.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt bộ phận cơ thể của người khác khơng chỉ là tình tiết
định khung của tội phạm tại Điều 154 mà còn là tính tiết định khung tăng nặng tại khoản
1 Điều 123 BLHS
33. Chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS)
chỉ là người không có thẩm quyền mà thực hiện việc bắt, giữ hoặc giam người.
Nhận định sai.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 157 BLHS vì Luật khơng đề cập cụ thể về phân loại
người phạm tội cho nên ta hiểu rằng Chủ thể của Tội bắt, giữ hoặc tạm giam người trái
pháp Luật theo Điều 157 cịn có thể là người có chức vụ quyền hạn..
Ví dụ: Hành vi của người có chức vụ quyền hạn đã tạm giữ người không tuân thủ
quy định của tạm giữ người theo thủ tục hành chính theo quy định của Điều 122 Luật
Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi bổ sung bởi Khoản 1 Điều 102 Luật Hải
quan năm 2014)
Như vậy, chỉ cần người nào có hành vi bắt, giữ hoặc tạm giam người trái pháp
luật, khơng phân biệt có thẩm quyền hay khơng có thẩm quyền đều quy vào Điều 157.
4
36. Đối tượng tác động của Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải
người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) chỉ là công chức, viên chức hoặc
người lao động của các cơ quan Nhà nước.
Nhận định sai.
Tội phạm này xâm phạm đến Khách thể là quyền lao động của công dân. Đồng
thời căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 162 BLHS không quy định cụ thể là
các đối tượng người lao động thuộc cơ quan Nhà nước.
Như vậy, đối tượng tác động của tội phạm này không chỉ là công chức, viên chức
hoặc người lao động của cơ quan nhà nước mà còn bao hàm người lao động của tổ chức
xã hội, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
Ví dụ: Người lao động ở các cơng ty có vốn đầu tư nước ngồi hoạt động tại Việt
Nam thì vẫn phải tuân thủ luật Lao động. Nếu vi phạm trong việc sa thải người lao động
trái pháp luật làm ảnh hưởng nặng nề về mặt kinh tế, tinh thần của người đó thì phải
chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 162 BLHS.
40. Mọi trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác đều cấu
thành Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS).
Nhận định sai
Trường hợp đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác để cấu thành nên tội
vi phạm chế độ một vợ, một chồng Điều 182 BLHS chỉ khi hành vi khách quan dẫn tới
hệ quả là làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử
phạt hành chính về hành vi này mà vẫn tiếp tục vi phạm.
Ví dụ: Trong trường hợp, ơng A kết hơn với bà B, sau đó kết hơn giả với C. Khi B
phát hiện, ơng A vẫn có cơ hội thay đổi, và nếu bà B chấp nhận việc này và vẫn duy trì
mối quan hệ hơn nhân với ơng A thì ông A không phải chịu trách nhiệm Hình sự. Trong
trường hợp khác, nếu bà B quyết định ly hôn, tức hành vi kết hôn giả của ông A với bà C
là tác nhân, lúc này, ông A phải chịu TNHS theo Điều 182 BLHS.
42. Giao cấu thuận tình với người có cùng dịng máu về trực hệ là hành vi chỉ
quy định trong cấu thành Tội loạn luân được quy định tại Điều 184 BLHS.
Nhận định sai.
Trường hợp hành vi giao cấu thuận tình với người cùng dịng máu về trực hệ
nhưng được thực hiện với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì khơng truy cứu trách
nhiệm về tội loạn luân mà truy cứu TNHS về tội Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan
hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điểm c khoản 2 Điều 145
BLHS năm 2015).
5
PHẦN BÀI TẬP TỰ LUẬN:
Bài tập 15
A và B cùng đi săn. A nhìn thấy một con gà rừng liền giơ súng lên ngắm bắn. B
thấy gần đó có một người đang bẻ măng nên ngăn đừng bắn và nói rằng: “Thơi đừng
bắn nữa, nhỡ trúng người ta thì chết”. A tiếp tục rê súng theo con gà rừng và đáp lại:
“Mày chưa biết tài bắn của tao à! Chưa bao giờ tao bắn trượt cả”. Nói xong, A bóp cị,
khơng ngờ đạn trúng vào người bẻ măng.
Hãy xác định A phạm tội gì nếu:
a. Nạn nhân chết;
b. Nạn nhân bị thương nặng;
c. Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 21%.
Bài làm
a. Nạn nhân chết:
A phạm tội vô ý làm chết người theo Điều 128.
-
-
Khách thể:
o Quan hệ xã hội bị xâm hại: Tính mạng của người bẻ măng
o Đối tượng tác động: Người bẻ măng
Mặt khách quan: Tội vơ ý làm chết người có cấu thành vật chất
o Hành vi khách quan: A có hành vi vô ý làm chết người bẻ măng,
o Hậu quả: Người bẻ măng chết
o Mối quan hệ nhân quả: Hành vi bóp cịi của A vơ ý làm chết người bẻ
-
măng
Mặt chủ quan: Lỗi vơ ý vì q tự tin.
o A nhận thức được hành vi của mình có thể nguy hiểm đến tính mạng của
-
người bẻ măng nhưng A cho rằng hậu quả đó sẽ khơng xảy ra vì tin mình
chưa bao giờ bắn trượt
Chủ thể: A đủ tuổi và có NLTNHS
b. Nạn nhân bị thương nặng:
A phạm tội do vô ý. Với tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân từ 31% trở lên thì
A phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 138 BLHS.
-
-
Khách thể:
o Quan hệ xã hội bị xâm hại: sức khỏe của người bẻ măng
o Đối tượng tác động: người bẻ măng
Mặt khách quan:
o Hành vi khách quan: A có hành vi vơ ý dẫn đến gây thương tích người bẻ
măng.
o Hậu quả: Người bẻ măng bị tổn hại sức khỏe
6
o Mối quan hệ nhân quả: Hành vi bóp cịi của A vô ý làm người bẻ măng bị
-
thương
Mặt chủ quan: Lỗi vơ ý vì q tự tin
o A biết và nhận thức được rằng hành vi sử dụng súng của mình là nguy
hiểm cho xã hội.
o A nhìn thấy trước được hậu quả xảy ra, đã cân nhắc, tính tốn và cho rằng
-
việc bắn lệch sẽ khơng xảy ra. A không muốn muốn hậu quả thiệt hại cho
nạn nhân
Chủ thể: A đủ tuổi và có NLTNHS
c. Nạn nhân bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 21%.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân dưới 31%, cụ thể ở đây nạn nhân bị tổn
thương cơ thể 21% và vì A phạm tội do vơ ý nên khơng có tội phạm hình sự. Như vậy, A
sẽ bị xử lý theo Điều 590 BLDS.
Bài tập 16
Ông M và bà H lấy nhau đã được 30 năm nhưng hai người khơng có con chung.
Ơng M thường xun vắng nhà, có khi nhiều ngày không hề về nhà. Quan hệ của M và
H cứ như thế đã nhiều năm. Cuộc sống tẻ nhạt của bà H thật sự trở thành địa ngục khi bà
biết ông M lừa dối bà: ông M đang có vợ bé và đang có một con chung với người vợ
này.
Đúng vào ngày sinh nhật thứ 53 của bà H, ơng M trở về nhà chìa vào mặt bà H tờ
đơn xin ly hôn. Bà H buồn rầu nói qua hai hàng nước mắt: “Ơng thật tàn ác, hôm nay là
sinh nhật tôi cơ mà! Tôi hận ông đã lừa dối tôi suốt bấy nhiêu năm. Không cần đơn chi
hết. Tôi sẽ chết cho ông rảnh nợ mà đi lấy người ta. Ơng đừng có cản tơi, tơi đã quyết
vậy rồi”.
Ơng M bng lời lạnh lùng: “Bà làm gì mặc xác bà. Tơi cần một chữ ký của bà vơ
tờ đơn gửi tịa thơi”.
Nghe vậy bà H leo lên thành cửa sổ (đang mở sẵn), ông M vẫn ngồi n ở ghế
salon mà khơng nói gì thêm. Khoảng cách giữa chỗ ông M ngồi và thành cửa sổ là 5m.
Bà H nhảy xuống, đầu đập xuống nền xi măng, vỡ hộp sọ và chết (Nhà ông M và bà H ở
tầng 5 chung cư T). Theo tin báo của nhân dân, công an đã tạm giữ ông M để làm rõ cái
chết của bà H.
Hãy xác định ông M có tội khơng? Nếu có là tội gì?
Bài làm
Ơng M phạm tội bức tử bà H theo Điều 130 BLHS.
-
Khách thể: Tính mạng của bà H
Hành vi khách quan: Ông M thường xuyên đối xử bất công với bà H thơng qua
việc Ơng M vắng nhà trong nhiều năm và có con riêng bên ngồi, bà H khi biết
7
-
chuyện thì cuộc sống của bà như trở hành địa ngục. Từ đó, dẫn đến sự tự sát của
bà là khi đúng vào sinh nhật bà thì Ơng M u cầu ly hơn với Bà H.
Chủ thể: Ơng M – Chồng của Bà H ( Mối quan hệ hôn nhân)
Mặt khách quan: Lỗi cố ý gián tiếp
o Ông M nhận thức rõ được hành vi buông lời lạnh lùng đối với bà H có thể
làm cho bà H tự sát (trước lúc này bà H cũng đã có ý định tự sát cộng
thêm câu nói của ơng M làm tăng khả năng tự sát của bà H hơn)
o Tuy Ông khơng mong muốn bà H chết nhưng có ý thức để mặc việc tự sát
xảy ra (Khi bà H trèo lên thành cửa sổ, đang mở sẵn mà Ông M vẫn ngồi
yên ở ghế cách cửa sổ 5m nhưng vẫn khơng có hành vi ngăn cản bà H).
Bài tập 19
A và B là vợ chồng có một đứa con chung là C (8 tháng tuổi). Cuộc sống gia đình
khó khăn, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. A thường nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập
mẹ con chị B. Đêm 29/7, sau khi đi nhậu về, A tiếp tục đánh đập, chửi bới chị B rồi vứt
quần áo đuổi hai mẹ con ra khỏi nhà mặc dù ngoài trời đang mưa bão. Chị B khóc van
xin A mở cửa nhưng A kiên quyết không chịu. Quá tuyệt vọng, chị B bế con ra bờ sông
gần nhà nhảy xuống sông tự sát. Lúc này, ông X đi ngang qua thấy vậy nhảy xuống sông
cứu hai mẹ con nhưng chỉ cứu được chị B, cháu C chết do ngạt nước.
Trong tình huống trên, ai phạm tội? Nếu có phạm tội gì? Tại sao?
Bài làm
Trong tình huống trên cả A và B đều phạm lỗi
Đối với A: A phạm tội bức tử chị B theo Điều 130 BLHS
- Khách thể:
Quan hệ xã hội bị xâm hại: Tính mạng chị B
Đối tượng tác động: Chị B
- Mặt khách quan:
Hành vi: A thương xuyên nhậu nhẹt say xỉn về đánh đập mẹ con chị
B, vứt quần áo và đuổi mẹ con chị B ra khỏi nhà mặc dù ngoài trời
đang mưa bão
- Mặt chủ quan: A có lỗi vơ ý.
- Chủ thể: A đủ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS (quan hệ vợ chồng
với B)
Đối với B: B phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS đối với C
- Khách thể:
Quan hệ xã hội bị xâm hại: Tính mạng của C
Đối tượng tác động: C
- Mặt khách quan: Tội giết người có cấu thành vật chất
Hành vi: B có hành vi giết C, B đã bế ra bờ sông gần nhà để tự sát
8
-
Hậu quả: C chết
Mối quan hệ nhân quả: Hành vi của B đã gây ra cái chết cho C
Mặt chủ quan: lỗi cố ý trực tiếp.
B nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm đến tính mạng
của C và biết trước hậu quả C chết có thể xảy ra và mong muốn hậu
quả đó xảy ra
o Khách thể: B đủ tuổi và có NLTNHS
9