Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP BÁC SĨ (HẠNG III)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 93 trang )

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
BỒI DƯỠNG THEO TIÊU CHUẨN
CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP
BÁC SĨ (HẠNG III)
GV biên soạn: Ths. Bs. Huỳnh Ngọc Linh

Trà Vinh, 2021

Lưu hành nội bộ


MỤC LỤC

PHẦN I. KIẾN THỨC VỀ CHÍNH TRỊ, QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VÀ CÁC
KỸ NĂNG CHUNG ............................................................................................. 1
Chuyên đề 1. NHÀ NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM................ 1
1. Những vấn đề cơ bản về nhà nƣớc ................................................................ 1
2. Một số vấn đề cơ bản về Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 10
Chuyên đề 2. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VÀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ................................ 23
1. Một số vấn đề cơ bản về pháp luật .............................................................. 23
2. Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa việt nam............................................ 27
3. Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ...................................................... 34
Chuyên đề 3. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ Y TẾ .............................................. 43
1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về y tế.................................................. 43
2. Vị trí, vai trị, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực y tế ................... 44
3. Quản lý nhà nƣớc về y tế trong cơ chế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa và phân cấp quản lý nhà nƣớc về y tế ................................................... 50


4. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động nghề nghiệp và chức danh nghề nghiệp
của viên chức y tế ............................................................................................ 54
Chuyên đề 4. CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC VÀ ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG LĨNH VỰC Y TẾ ................................. 57
1. Những vấn đề chung về cải cách hành chính nhà nƣớc .............................. 57
3. Cải cách hành chính nhà nƣớc ở Việt Nam ................................................ 58
4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế ..................................... 60
Chuyên đề 5. THỂ THỨC VÀ KỸ THUẬT TRÌNH BÀY, SOẠN THẢO VĂN
BẢN .................................................................................................................... 65
1. Những vấn đề chung về văn bản quản lý nhà nƣớc .................................... 65
2. Thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản ....................................................... 65
3. Kỹ năng soạn thảo một số loại văn bản thông dụng ................................... 68
Chuyên đề 6. KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN VÀ LÀM VIỆC NHÓM ................ 73
1. Kỹ năng quản lý thời gian ........................................................................... 73
2. Kỹ năng làm việc nhóm .............................................................................. 77


KIẾN THỨC, KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VÀ ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP .................................................. Error! Bookmark not defined.
Chuyên đề 1. NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG ....... Error! Bookmark not defined.
1. Tổng quan về y học thực chứng và giá trị của các loại hình nghiên cứu
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
2. Tổng quan về cỡ mẫu cho một số nghiên cứu trong lâm sàng ............ Error!
Bookmark not defined.
3. Các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu lâm sàngError!
defined.

Bookmark

not


Chuyên đề 2. QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ .... Error! Bookmark not defined.
1. Nguyên tắc quản lý trang thiết bị y tế (TTBYT) tại các cơ sở y tế ..... Error!
Bookmark not defined.
2. Quy trình quản lý TTBYT trong chăm sóc sức khỏeError! Bookmark not
defined.
3. Một số định hƣớng của Bộ/ngành trong quản lý TTBYT trong chăm sóc
sức khỏe ........................................................... Error! Bookmark not defined.
Chuyên đề 3. KỸ NĂNG TƢ VẤN VÀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE ........... Error!
Bookmark not defined.
1. Nhu cầu giáo dục và tƣ vấn sức khỏe ......... Error! Bookmark not defined.
2. Lập kế hoạch giáo dục, tƣ vấn sức khỏe cho ngƣời bệnh, khách hàng tại các
cơ sở chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân, khách hàng.Error! Bookmark not
defined.
3. Thực hành thực hiện kế hoạch giáo dục, tƣ vấn sức khỏe cho ngƣời bệnh
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
Chuyên đề 4. ĐẢM BẢO AN NINH TRONG CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH ..... Error!
Bookmark not defined.
1. Thực trạng an ninh bệnh viện...................... Error! Bookmark not defined.
2. Các yếu tố liên quan đến bảo đảm an ninh bệnh việnError! Bookmark not
defined.
3. Các giải pháp tăng cƣờng bảo đảm an ninh bệnh việnError!
not defined.

Bookmark

Chuyên đề 5. AN TOÀN NGƢỜI BỆNH .......... Error! Bookmark not defined.
1. Đại cƣơng về quản lý chất lƣợng ................ Error! Bookmark not defined.
2. Thiết lập hệ thống tổ chức, quản lý triển khai công tác quản lý chất lƣợng ............... Error!
Bookmark not defined.



3. Bảo đảm an toàn ngƣời bệnh....................... Error! Bookmark not defined.
Chuyên đề 6. BAO PHỦ SỨC KHỎE TOÀN DÂNError!
defined.

Bookmark

not

1. Khái niệm, nguyên tắc và tầm quan trọng của bao phủ sức khỏe tồn dân .............. Error!
Bookmark not defined.
2. Những khó khăn và thách thức hƣớng tới bao phủ sức khỏe toàn dân tại
Việt Nam ......................................................... Error! Bookmark not defined.
3. Những giải pháp hƣớng tới bao phủ sức khỏe toàn dân tại Việt Nam Error!
Bookmark not defined.
Chuyên đề 7. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG
Y TẾ .................................................................... Error! Bookmark not defined.
1.
Khái
quát
chung
về
đạo
đức

đạo
nghiệp………..………………...Error! Bookmark not defined.

đức


nghề

2. Một số nguyên tắc cơ bản của đạo đức y tế Error! Bookmark not defined.
3. Nguyên tắc, ƣu điểm, hạn chế của các cách tiếp cận đạo đức ............ Error!
Bookmark not defined.
Chuyên đề 8. TỔNG QUAN VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU . Error!
Bookmark not defined.
1. Các vấn đề về đạo đức nghiên cứu trƣớc khi nghiên cứuError! Bookmark
not defined.
2. Một số vấn đề đạo đức nghiên cứu trong quá trình thực hiện nghiên cứu
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
3. Các vấn đề về đạo đức nghiên cứu sau khi nghiên cứuError!
not defined.

Bookmark

Chuyên đề 9. TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬError! Bookmark not
defined.
1. Khái quát chung về giao tiếp, ứng xử ......... Error! Bookmark not defined.
2. Một số nguyên tắc về giao tiếp, ứng xử tại nơi làm việcError! Bookmark
not defined.
3. Một số nguyên tắc về giao tiếp ứng xử của cán bộ y tếError!
not defined.

Bookmark


1


PHẦN I

KIẾN THỨC VỀ CHÍNH TRỊ, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ CÁC
KỸ NĂNG CHUNG
Chuyên đề 1
NHÀ NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Những vấn đề cơ bản về nhà nước
1.1. Nguồn gốc nhà nước
1.1.1. Các học thuyết phi Mác-xít về nguồn gốc của nhà nước
– Thuyết thần quyền cho rằng thƣợng đế chính là ngƣời sắp đặt trật tự xã hội, thƣợng đế đã
sáng tạo ra nhà nƣớc nhằm bảo vệ trật tự chung, nhà nƣớc là một sản phẩm của thƣợng đế.
– Thuyết gia trƣởng cho rằng nhà nƣớc xuất hiện chính là kết quả sự phát triển của gia đình và
quyền gia trƣởng, thực chất nhà nƣớc chính là mơ hình của một gia tộc mở rộng và quyền lực nhà
nƣớc chính là từ quyền gia trƣởng đƣợc nâng lên thành hình thức tổ chức tự nhiên của xã hội loài
ngƣời.
– Thuyết bạo lực cho rằng nhà nƣớc xuất hiện trực tiếp từ các cuộc chiến tranh xâm lƣợc chiếm đất,
là việc sử dụng bạo lực của thị tộc đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng đặt ra một hệ thống
cơ quan đặc biệt - nhà nƣớc - để nô dịch kẻ chiến bại.
– Thuyết tâm lý cho rằng nhà nƣớc xuất hiện do nhu cầu về tâm lý của con ngƣời nguyên thủy
luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sĩ,…
– Thuyết khế ƣớc xã hội cho rằng sự ra đời của nhà nƣớc là sản phẩm của một khế ƣớc xã hội
đƣợc ký kết trƣớc hết giữa những con ngƣời sống trong trạng thái tự nhiên khơng có nhà nƣớc. Chủ
quyền nhà nƣớc thuộc về nhân dân, trong trƣờng hợp nhà nƣớc không giữ đƣợc vai trị của mình ,
các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ƣớc sẽ mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nƣớc và
ký kế khế ƣớc mới.
1.1.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn gốc của nhà nước
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nƣớc không phải là những hiện tƣợng vĩnh cữu,
bất biến. Nhà nƣớc chỉ xuất hiện khi xã hội loài ngƣời đã phát triển đến một giai đoạn nhất định.
Chúng luôn vận động, phát triển và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn taị và
phát triển của chúng khơng cịn nữa. Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện của nhà nƣớc. Sự

phát triển không ngừng của lực lƣợng sản xuất đã tạo tiền đề làm thay đổi phƣơng thức sản xuất cộng
sản nguyên thủy và dẫn tới sự phân công lao động xã hội. Sau 03 lần phân công lao động xã hội, đã
phân chia xã hội thành các giai cấp đối lập nhau, luôn mâu thuẩn và đấu tranh gay gắt với nhau, xã
hội này địi hỏi phải có một tổ chức đủ sức dập tắt các xung đột công khai giữa các giai cấp và giữ
cho các xung đột ấy trong vòng “trật tự”. Tổ chức ấy gọi là nhà nƣớc. Nhƣ vậy, nhà nƣớc đã xuất
hiện một cách khách quan, là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định.
Nhà nƣớc phân chia dân cƣ theo lãnh thổ và thiết lập quyền lực công cộng. So với tổ chức thị tộc
trƣớc đây, nhà nƣớc có hai đặc trƣng cơ bản khác biệt với thị tộc:


2
– Nhà nước tổ chức dân cư theo lãnh thổ. Nhà nƣớc xuất hiện đã lấy sự phân chia lãnh thổ làm
điểm xuất phát. Cách tổ chức công dân theo lãnh thổ là đặc điểm chung của tất cả các nhà nƣớc (thị
tộc hình thành và tồn tại trên cơ sở huyết thống).
– Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt thay cho quyền lực xã hội trong chế độ
Cộng sản nguyên thủy. Quyền lực này sau khi có nhà nƣớc thì nó thuộc về giai cấp thống trị, phục vụ
lợi ích của giai cấp thống trị.

1.2. Bản chất của nhà nước
Nhà nƣớc là một hiện tƣợng xã hội, nó sinh ra từ hai nhu cầu cơ bản là nhu cầu tổ chức quản lí
xã hội và nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị về kinh tế, nên khi tìm hiểu bản chất nhà nƣớc,
cần tập trung vào hai phƣơng diện: phƣơng diện xã hội và phƣơng diện giai cấp. Nhà nƣớc là một tổ
chức đặc biệt của quyền lực chính trị, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị, lợi ích của giai cấp thống trị
trong xã hội và quản lí, duy trì trật tự xã hội, vì sự tồn tại và phát triển của cả xã hội. Do vậy, việc
xác định, đánh giá bản chất nhà nƣớc phải xuất phát từ việc xem xét cơ sở kinh tế và xã hội của nhà
nƣớc. Ở mỗi thời kì phát triển khác nhau, thì nội dung bản chất của nhà nƣớc cũng biến đổi dựa trên
cơ sở kinh tế và xã hội của nhà nƣớc.
* Tính xã hội của nhà nước
Theo Ăngghen, những hoạt động về mặt xã hội “là cơ sở của sự thống trị chinh trị và sự thống
trị chỉnh trị củng chỉ kéo dài chừng nào mà nó cịn thực hiện những hoạt động về mặt xã hội của nó”.

Nhƣ vậy, những hoạt động về mặt xã hội của nhà nƣớc khơng mang tính chất thuần t xã hội nhƣ
của tổ chức thị tộc, bộ lạc, mà nó vẫn biểu hiện ở mức độ này hay mức độ khác lợi ích của giai cấp
thống trị, bởi suy cho cùng, nó cũng bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị. Nhƣ vậy, nhà nƣớc là
tổ chức quyền lực công, tổ chức nhân danh xã hội thực hiện việc quản lí xã hội, nhà nƣớc khơng thể
tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà khơng tính đến lợi ích, nguyện vọng của các
giai cấp, các lực lƣợng khác trong xã hội.
Mặc dù đƣợc sinh ra, tồn tại trong lòng xã hội nhƣng nhà nƣớc có vị trí đặc biệt trong xã hội,
nó tựa hồ nhƣ đứng trên xã hội, đại diện cho cả xã hội để giải quyết những cơng việc mang tính xã
hội. Do vậy, tính xã hội của nhà nƣớc là một thuộc tính mang tính khách quan. Tuy nhiên, mức độ và
phạm vi tính xã hội của nhà nƣớc đƣợc biểu hiện trong mỗi kiểu nhà nƣớc, trong mỗi nhà nƣớc
không hoàn toàn giống nhau. Điều này tùy thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ
thể.
Nhà nƣớc chủ nô, nhất là các nhà nƣớc chủ nô phƣơng Đông, do điều kiện kinh tế - xã hội khá
khắc nghiệt nên đã phải thực hiện khá nhiều các hoạt động kinh tế - xã hội để duy trì tồn tại phát
triển của xã hội. Nhà nƣớc phong kiến trong việc giải quyết những cồng việc của xã hội vừa xuất
phát từ nhu cầu đòi hỏi của xã hội phong kiến, vừa phụ thuộc mong muôn và nguyện vọng của cƣ
dân và cả từ ý chí chủ quan, lịng tốt của những ngƣời cầm quyền. Với sự phát triển của xã hội, sự ra
đời của nhà nƣớc tƣ sản đã bắt đầu một sự biến đổi lớn trong bản chất nhà nƣớc: tính xã hội của nhà
nƣớc dần nổi trội hơn, tính giai cấp của nhà nƣớc đƣợc che giấu kín đáo hơn. Nhà nƣớc tƣ sản tiến bộ
hơn rất nhiều so với nhà nƣớc chủ nô và phong kiến; giai đoạn gần đây nhà nƣớc tƣ sản can thiệp sâu
hơn, nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế - xã hội, tạo ra những điều kiện để xã hội phát triển tốt hơn,
văn minh hơn. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, các giai cấp bóc lột bị xóa bỏ, chỉ cịn lại cơng nhân,
nơng dân, trí thức và những ngƣời lao động khác có lợi ích và địa vị xã hội tƣơng đối thống nhất nên
các quan hệ sản xuất mới đƣợc thiết lập và củng cố dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về tƣ liệu sản
xuất - đó là kiểu quan hệ sản xuất thể hiện sự hợp tác, tƣơng trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa những ngƣời


3
lao động. Cơ sở kinh tế - xã hội đó đã làm cho mục đích ra đời, tồn tại và bản chất của nhà nƣớc xã
hội chủ nghĩa khác hẳn so với các nhà nƣớc trƣớc đây. Nếu các nhà nƣớc chủ nô, phong kiến, tƣ sản

đều ra đời, tồn tại nhằm bảo vệ quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản
xuất, từ đó duy trì bảo vệ sự thống trị, áp bức, bóc lột của giai cấp bóc lột là một thiểu số dân cƣ đối
với ngƣời lao động là số đơng trong xã hội, thì nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa tìm cách xố bỏ dần chế độ
tƣ hữu, thiết lập chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất để tiến tới xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột trong
xã hội. Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa là nhà nƣớc của nhân dân, nó tồn tại và hoạt động đƣợc sự ủng hộ,
giúp đỡ của cả xã hội. Mục đích cuối cùng của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa là cải tạo xã hội cũ, xây
dựng thành công xã hội mới tốt đẹp hơn về mọi mặt.
* Tính giai cấp của nhà nước
Ở phƣơng diện này nhà nƣớc là cơng cụ bảo vệ lợi ích cho các giai tầng trong xã hội, mà chủ
yếu là của giai cấp thống trị, thực hiện các mục đích mà giai cấp thống trị đề ra.
Nhà nƣớc bị giai cấp chiếm địa vị chủ yếu trong hệ thống sản xuất xã hội nắm giữ và lợi dụng.
Theo các nhà kinh điển thì, nhà nƣớc theo nghĩa chung nhất chỉ là sự thể hiện (dƣới hình thức tập
trung nhất) những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất. Những điều kiện kinh tế bảo
đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội có giai cấp và những mâu thuẫn khơng thể điều hồ đƣợc
do chúng tạo ra giữa các giai cấp đối kháng đã sinh ra sự cần thiết khách quan buộc giai cấp thống trị
trong những quan hệ kinh tế đó phải tập trung sức mạnh của mình vào nhà nƣớc. Nói cách khác, giai
cấp thống trị về kinh tế của xã hội trong điều kiện tồn tại mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp đòi
hỏi phải trở thành giai cấp thống trị về chính trị và thực hiện sự thống trị về chính trị thơng qua nhà
nƣớc và các tổ chức chính trị xã hội khác. Sự thống trị về chính trị của giai cấp cịn gọi là chun
chính giai cấp. Giai cấp có kinh tế sử dụng nhà nƣớc để chống lại các giai cấp khác, bảo vệ lợi ích
cho giai cấp mình.
Tuy nhiên, để thực hiện quyền lực chính trị của mình, trong những điều kiện nhất định, bên
cạnh nhà nƣớc, giai cấp thống trị còn sử dụng các tổ chức chính trị - xã hội khác, song, nhà nƣớc là
cơng cụ quan trọng nhất, để thực hiện sự thống trị giai cấp một cách có hiệu quả. Thơng qua nhà
nƣớc, giai cấp thống trị xây dựng hệ tƣ tƣởng của mình thành hệ tƣ tƣởng thống trị trong xã hội, bắt
các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội phải tuân theo, phải làm theo điều mà giai cấp thống trị mong
muốn.
Có thể nói, tính giai cấp là thuộc tính bản chất của bất kì một nhà nƣớc nào, song mức độ thể
hiện của nó trong mỗi kiểu nhà nƣớc và trong mỗi nhà nƣớc cụ thể lại rất khác nhau, tùy thuộc vào
điều kiện, hoàn cảnh và tƣơng quan lực lƣợng của các giai tầng trong xã hội. Khi một giai cấp có đủ

điều kiện và sức mạnh để trở thành giai cấp thống trị thì tự nó sẽ nắm lấy quyền lực nhà nƣớc, cịn
nếu khơng thể tự mình cầm quyền thì các giai cấp sẽ thoả hiệp, chia sẻ quyền lực nhà nƣớc với các
giai cấp và lực lƣợng khác trong xã hội để bảo vệ vị thế và lợi ích của giai cấp và của xã hội.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, chủ nô sử dụng cơng cụ chun chính chủ yếu của mình để
cƣỡng bức, đầy đọa, đàn áp một cách có tổ chức, công khai đối với nô lệ, bảo vệ sự thống trị về kinh
tế, chính trị và tinh thần của chủ nơ đối với nơ lệ, duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội chiếm hữu
nô lệ. Các nhà nƣớc phong kiến thƣờng cơng khai thể hiện tính giai cấp thơng qua các thể chế và q
trình tổ chức, hoạt động của nhà nƣớc. Nhiều nhà nƣớc phong kiến cịn liên kết chặt chẽ với các tổ
chức tơn giáo thành một chế độ cai trị cực kì chuyên chế để đàn áp, áp bức, bóc lột nơng dân về thể
xác cũng nhƣ về tinh thần. Do vậy, “... trên thực tế địa vị của nông dân chỉ khác rất ít địa vị của nơ lệ
trong xã hội chiếm hữu nô lệ”. So với các nhà nƣớc của các thời đại trƣớc, nhà nƣớc tƣ sản có rất
nhiều tiến bộ, nhƣng vẫn khơng thể thốt khỏi những hạn chế lịch sử của nó là duy trì, bảo vệ sự áp


4
bức, bóc lột của thiểu số dân cƣ thống trị đối với đa số quần chúng nhân dân trong xã hội. Vì vậy,
cho dù phát triển đến giai đoạn nào, dù cố gắng cải biến đến đâu để thích nghi với điều kiện mới, nhà
nƣớc tƣ sản cũng không thể thay đổi tính giai cấp hay cịn gọi là bản chất của mình, nó vẫn là cơng
cụ mà giai cấp tƣ sản dùng để duy trì, bảo vệ sự thống trị của giai cấp tƣ sản.
Sự ra đời của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa đánh dấu bƣớc phát triển mới trong bản chất của nhà
nƣớc, bởi vì nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa khơng cịn là nhà nƣớc theo đúng nghĩa nữa, mà nó trở thành
“nửa nhà nƣớc”. Khác với các giai cấp trƣớc kia, giai cấp vô sản sau khi trở thành giai cấp thống trị,
nắm trong tay quyền lực nhà nƣớc, khơng có mục đích dùng nhà nƣớc để duy trì mãi địa vị thống trị
của mình, mà là để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, xố bỏ mọi sự áp bức bóc lột và mọi sự
thống trị giai cấp. Vì vậy, trong quá trình tổ chức và thực thi quyền lực, giai cấp vô sản thực hiện sự
liên minh với mọi lực lƣợng lao động của xã hội để thiết lập những nguyên tắc và cơ chế vận hành
quyền lực nhà nƣớc dựa trên cơ sở quyền lực nhân dân, không ngừng mở rộng dân chủ và phát huy
vai trò làm chủ của nhân dân.
Nhƣ vậy, nhà nƣớc xét dƣới giác độ giai cấp thể hiện ở chỗ nó nằm trong tay giai cấp thống trị
và chủ yếu phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị. Điều đó cho thấy nhà nƣớc là công cụ thực hiện

những nhiệm vụ kinh tế, chính trị của giai cấp thống trị, duy trì sự thống trị trên mọi lĩnh vực đời
sống xã hội của giai cấp thống trị đối với các giai cấp khác.
Tóm lại, tính xã hội và tính giai cấp là hai mặt cơ bản thống nhất thể hiện bản chất của bất kì
nhà nƣớc nào, chúng ln gắn bó chặt chẽ, đan xen nhau. Dù trong xã hội nào, nhà nƣớc cũng phải
chú ý đến lợi ích chung của tồn xã hội và ở những mức độ khác nhau bảo vệ lợi ích của giai cấp
cầm quyền. Lịch sử phát triển của nhà nƣớc cho thấy từ chỗ công khai thể hiện tính giai cấp tới chỗ
kín đáo hơn đối với vấn đề giai cấp, tăng dần vai trò xã hội, trách nhiệm của nhà nƣớc đối với xã hội.
Việc giải quyết các vấn đề xã hội và giai cấp không chỉ trong nội bộ một quốc gia mà ngày càng
mang tính chất quốc tế. Đây cũng là sự phát triển của văn minh nhân loại, của tri thức con ngƣời từ
mông muội, dã man đến văn minh, nhân đạo.

1.3. Chức năng của Nhà nước
1.3.1. Khái niệm chức năng nhà nước
Là phương hướng hoạt động chủ yếu của Nhà nước thể hiện bản chất, vai trò, sứ mệnh xã hội
và mục tiêu của Nhà nước. Do chức năng của Nhà nƣớc xuất phát từ bản chất giai cấp, vai trò, sứ
mệnh xã hội của Nhà nƣớc nên chức năng là một phạm trù tồn tại thƣờng trực và có tính lâu dài.
Chức năng của Nhà nƣớc có thể đƣợc phân chia thành chức năng đối nội và chức năng đối
ngoại. Chức năng đối nội là những hoạt động chủ yếu của Nhà nƣớc về mặt đối nội nhƣ chức năng
chính trị, chức năng kinh tế, chức năng quản lí văn hố, giáo dục, chức năng quản lí khoa học, kĩ
thuật và công nghệ, chức năng bảo vệ các quyền công dân và quyền con ngƣời; chức năng bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và môi trƣờng. Chức năng đối ngoại là những hoạt động chủ yếu của Nhà nƣớc
trong quan hệ với các quốc gia, các dân tộc và các tổ chức quốc tế nhƣ phòng thủ đất nƣớc, thiết lập
các quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế, đấu tranh vì hồ bình, tiến bộ và dân chủ trên phạm vi
toàn thế giới…Mặc dù đƣợc diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, song, có thể quan niệm: Chức năng
nhà nước là những mặt hoạt động cơ bản của nhà nước, phù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ
của nhà nước và được xác định bởi điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong những giai đoạn phát
triển của nó.
Giữa chức năng và nhiệm vụ của nhà nƣớc vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác biệt, đồng
thời có mối liên hệ mật thiết với nhau. Trong đó, nhiệm vụ của nhà nƣớc là những cơng việc đặt ra



5
đòi hỏi nhà nƣớc phải giải quyết theo những mục tiêu đã định sẵn. Nhiệm vụ của nhà nƣớc có thể là
nhiệm vụ trƣớc mắt, vừa có thể là nhiệm vụ chiến lƣợc, lâu dài. Nhiệm vụ trƣớc mắt là những công
việc mà nhà nƣớc phải giải quyết trong ngắn hạn để thực hiện một chức năng nào đó của nhà nƣớc.
Trong trƣờng họp này, nhiệm vụ trƣớc mắt có phạm vi hẹp hơn so với chức năng nhà nƣớc. Nhiệm
vụ chiến lƣợc là những vấn đề nhà nƣớc phải giải quyết trong suốt chặng đƣờng phát triển của đất
nƣớc. Nhiệm vụ chiến lƣợc đƣợc thực hiện thông qua các chức năng nhà nƣớc, trong trƣờng hợp này
chức năng nhà nƣớc có phạm vi hẹp hơn so với nhiệm vụ của nhà nƣớc. Ngoài ra, cần phân biệt chức
năng của nhà nƣớc với vai trò của nhà nƣớc. Chức năng của nhà nƣớc thƣờng đề cập nhà nƣớc sinh
ra để làm gì, cịn vai trị của nhà nƣớc thƣờng đề cập đến công dụng, tác dụng của nhà nƣớc. Trong
trƣờng hợp này, chức năng của nhà nƣớc và vai trò của nhà nƣớc có ý nghĩa gần nhƣ tƣơng tự nhau.
Tuy nhiên, ngồi ý nghĩa nêu trên, vai trị của nhà nƣớc cịn đƣợc sử dụng để nói về tầm quan trọng
của nhà nƣớc (chẳng hạn vai trò của nhà nƣớc đối với xã hội)...
Chức năng của nhà nƣớc trƣớc hết phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của đất nƣớc
trong từng thời kì phát triển của nó. Thực tế cho thấy, nhà nƣớc phải làm gì, làm nhƣ thế nào, điều đó
phụ thuộc rất lớn vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nƣớc, vì vậy, các nhà nƣớc khác nhau có thể
có chức năng khác nhau. Trong một nhà nƣớc cụ thể, trong các giai đoạn phát triển khác nhau, số
lƣợng chức năng, tầm quan trọng của mỗi chức năng, nội dung, cách thức thực hiện từng chức năng
cũng có thể khác nhau. Đồng thời chức năng của nhà nƣớc cũng phụ thuộc vào bản chất, mục tiêu,
nhiệm vụ của nhà nƣớc. Tuy nhiên, chức năng của nhà nƣớc cũng là sự thể hiện bản chất của nhà
nƣớc, thông qua những hoạt động của nhà nƣớc, bản chất của nhà nƣớc đƣợc thể hiện một cách đầy
đủ, rõ nét nhất.
Các nhà nƣớc có thể có nhiều chức năng, các chức năng đó có liên hệ mật thiết, chặt chẽ với
nhau, việc thực hiện chức năng này thƣờng có ảnh hƣởng đến việc thực hiện chức năng khác. Chẳng
hạn, nhà nƣớc chỉ có thể thực hiện tốt việc tổ chức và quản lí kinh tế khi thực hiện tốt hoạt động bảo
vệ Tổ quốc, tƣơng tự các hoạt động về mặt xã hội nhƣ phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật, bảo trợ xã
hội... chỉ có thể thực hiện tốt khi thực hiện có hiệu quả hoạt động tổ chức và quản lí kinh tế.
Chức năng nhà nước được thực hiện thông qua các hình thức cơ bản là xây dựng pháp luật, tổ
chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật.

Đời sống xã hội vốn vơ cùng đa dạng, phức tạp, vì vậy, để tổ chức và quản lí các mặt của đời
sống xã hội, cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, xác định rõ những việc đƣợc làm, không
đƣợc làm. Thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, hệ thống pháp luật đƣợc từng bƣớc hình thành
và hồn thiện. Khi thực hiện các chức năng nhà nƣớc ở từng lĩnh vực khác nhau, cần thiết phải có
quy định chung, thống nhất để đảm bảo cho các mặt hoạt động của nhà nƣớc đƣợc đồng bộ, nhịp
nhàng và hiệu quả.
Pháp luật sau khi đƣợc ban hành nó thƣờng khơng thể tự đi vào đời sống. Trong nhiều trƣờng
hợp, các cá nhân, tổ chức trong xã hội không tự thực hiện đƣợc các quy định trong hệ thống pháp
luật. Vì vậy, nhà nƣớc phải tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm tổ chức cho các chủ thể trong xã
hội thực hiện các quy định trong pháp luật, chẳng hạn, nhà nƣớc tiến hành phổ biến pháp luật cho
ngƣời dân, giải thích, tuyên truyền, động viên, khuyến khích tính tích cực của họ, tháo gỡ những khó
khăn vƣớng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật... Có nhƣ vậy, những mong
muốn, u cầu, địi hỏi của nhà nƣớc mới có thể đƣợc thực hiện một cách có hiệu quả.
Trong q trình thực hiện pháp luật, vì những lí do khác nhau, việc vi phạm pháp luật là khó
tránh khỏi. Khi đó, nhà nƣớc phải thực hiện các hoạt động nhằm xử lí ngƣời vi phạm, giáo dục cải


6
tạo họ cũng nhƣ răn đe phòng ngừa chung nhằm bảo đảm tính tơn nghiêm của pháp luật, bảo đảm các
yêu cầu của nhà nƣớc đƣợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác.
Để thực hiện chức năng nhà nƣớc, có hai phƣơng pháp cơ bản là giáo dục, thuyết phục và
cƣỡng chế. Giáo dục, thuyết phục là việc nhà nƣớc sử dụng các biện pháp tác động lên ý thức con
ngƣời, làm cho họ biết, hiểu, tự giác, chủ động, tích cực thực hiện các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nƣớc.
Cƣỡng chế là việc nhà nƣớc bắt buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải thực hiện nghiêm chỉnh
các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nƣớc. Các biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc rất đa dạng, trong đó ngƣời bị
cƣỡng chế ln phải gánh chịu sự bất lợi nào đó, có thể là bất lợi về thân thể, về tài sản, thậm chí cả
tính mạng của họ...
1.3.2. Phân loại chức năng nhà nước
Trong khoa học pháp lí hiện nay có nhiều cách phân loại chức năng của nhà nƣớc. Căn cứ vào
phạm vỉ hoạt động của nhà nƣớc, chức năng của nhà nƣớc đƣợc phân thành các chức năng đối nội và

các chức năng đối ngoại.
- Các chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nƣớc trong quan hệ với các
cá nhân, tổ chức trong nƣớc, chẳng hạn chức năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng trấn áp, chức
năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân.
- Các chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nƣớc trong quan hệ với các
quốc gia, dân tộc khác, chẳng hạn chức năng tiến hành chiến tranh xâm lƣợc, chức năng phòng thủ,
bảo vệ đất nƣớc, chức năng thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế.
Căn cứ vào hoạt động của nhà nƣớc trong các lĩnh vực xã hội, chức năng của nhà nƣớc đƣợc
phân theo từng lĩnh vực cụ thể. Theo đó, tƣơng ứng mỗi lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội là một
chức năng của nhà nƣớc. Chẳng hạn:
- Chức năng kinh tế: đây là chức năng của mọi nhà nƣớc. Thực hiện chức năng này nhằm củng
cố và bảo vệ cơ sở tồn tại của nhà nƣớc, ổn định và phát triển kinh tế.
- Chức năng xã hội: đó là toàn bộ hoạt động của nhà nƣớc trong việc tổ chức và quản lí các vấn
đề xã hội nhƣ vấn đề về môi trƣờng, giáo dục, y tế, lao động, việc làm, thu nhập của ngƣời dân,
phòng chống thiên tai... Đây là các hoạt động góp phần củng cố và bảo vệ lợi ích chung của tồn xã
hội, bảo đảm sự ổn định, phát triển xã hội.
- Chức năng trấn áp: trong điều kiện có đấu tranh giai cấp, chức năng trấn áp sự phản kháng
của giai cấp bị trị là rất cần thiết nhằm bảo vệ sự tồn tại vững chắc của nhà nƣớc, bảo vệ lợi ích về
mọi mặt của giai cấp thống trị.
- Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược: đây là chức năng đặc trƣng của các nhà nƣớc chủ
nô, nhà nƣớc phong kiến, nhà nƣớc tƣ sản giai đoạn chủ nghĩa đế quốc trở về trƣớc. Các nhà nƣớc đó
thực hiện chức năng này nhằm xâm chiếm và mở rộng lãnh thổ, bóc lột nhân dân cũng nhƣ áp đặt sự
nô dịch đối với các dân tộc khác.
- Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
trong xã hội: đây là chức năng của các nhà nƣớc nói chung. Thực hiện chức năng này, nhà nƣớc phải
sử dụng nhiều biện pháp, nhất là các biện pháp pháp lí nhằm phịng, chống tội phạm và các vi phạm
pháp luật khác, đảm bảo ổn định, trật tự xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể
trong xã hội.



7
- Chức năng bảo vệ đất nước: đây là chức năng của mọi nhà nƣớc. Trƣớc đây, nhiều nhà nƣớc
thƣờng phát động chiến tranh xâm lƣợc nƣớc khác, ngày nay, nhiều nhà nƣớc vẫn tìm cách áp đặt ý
chí của mình đối với nƣớc khác. Trong điều kiện đó, các nhà nƣớc phải thực hiện các hoạt động
nhằm bảo vệ đất nƣớc, chống lại các cuộc chiến nanh xâm lƣợc cũng nhƣ các ảnh hƣởng tiêu cực
khác từ bên ngoài.
- Chức năng quan hệ với các nước khác: các nhà nƣớc thực hiện chức năng này nhằm thiết lập
các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hố... với các quốc gia khác để trƣớc hết phát triển kinh tế, văn
hoá, giáo dục trong nƣớc, qua đó có thể cùng nhau giải quyết những vấn đề có tính chất quốc tế.
Ngồi các cách phân loại nêu trên, chức năng nhà nƣớc cịn có thể đƣợc phân loại theo những
căn cứ khác. Chẳng hạn, dựa vào bản chất của nhà nƣớc, chức năng của nhà nƣớc đƣợc phân chia
thành các chức năng thể hiện tính giai cấp và các chức năng thể hiện tính xã hội; dựa vào mục đích
thực hiện, chức năng của nhà nƣớc đƣợc chia thành chức năng cai trị và chức năng phục vụ; dựa vào
hình thức thực hiện, chức năng của nhà nƣớc đƣợc chia thành chức năng lập pháp, chức năng hành
pháp, chức năng tƣ pháp...
Tóm lại, để thực hiện hai chức năng trên, nhà nƣớc sử dụng nhiều hình thức và phƣơng pháp
hoạt động khác nhau, trong đó có ba hình thức chính là: xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp
luật và bảo vệ pháp luật và hai phƣơng pháp chính là thuyết phục và cƣỡng chế. Nhà nƣớc là một tổ
chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cƣỡng chế và thực hiện các
chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp
thống trị trong xã hội.

1.4. Hình thức nhà nước
Hình thức nhà nƣớc là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Kết quả của việc
tiến hành sự thống trị về chính trị phục thuộc phần lớn vào việc giai cấp thống trị tổ chức thực hiện
quyền lực nhà nƣớc theo hình thức nào. Hình thức nhà nƣớc là cách tổ chức quyền lực và những
phƣơng pháp để thực hiện quyền lực đó. Hình thức nhà nƣớc là một khái niệm chung đƣợc hình
thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nƣớc và chế độ chính trị.
1.4.1. Hình thức chính thể
Đây là cách tổ chức và trình tự để lập ra các cơ quan tối cao của nhà nƣớc và xác lập những

mối quan hệ cơ bản của các cơ quan đó. Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân
chủ và chính thể cộng hịa. Chính thể qn chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nƣớc
tập trung toàn bộ (hay một phần) trong tay ngƣời đứng đầu nhà nƣớc theo ngun tắc thừa kế. Chính
thể cộng hịa là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nƣớc thuộc về một cơ quan đƣợc bầu ra
trong một thời gian nhất định. Cả hai hình thức đều có những biến dạng của mình. Chính thể qn
chủ đƣợc chia thành chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế. Trong các nƣớc
quân chủ tuyệt đối, ngƣời đứng đầu nhà nƣớc (vua, hồng đế,…) có quyền lực vơ hạn; cịn trong các
nhà nƣớc qn chủ hạn chế ngƣời đứng đầu nhà nƣớc chỉ nắm một phần quyền lực tối cao và bên
cạnh đó cịn có một cơ quan quyền lực khác nữa, nhƣ nghị viện trong các nhà nƣớc tƣ sản có chính
thể qn chủ. Chính thể cộng hịa cũng có hai hình thức chính là cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý
tộc. Trong các nƣớc cộng hòa dân chủ, quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện (quyền lực)
của nhà nƣớc đƣợc quy định về mặt hình thức pháp lý đối với các tầng lớp nhân dân lao động (mặc
dù trên thực tế, các giai cấp thống trị của các nhà nƣớc bóc lột thƣờng đặt ra nhiều quy định nhằm
hạn chế hoặc vơ hiệu hóa quyền này của nhân dân lao động). Trong các nƣớc cộng hòa quý tộc,
quyền đó chỉ quy định đối với tầng lớp quý tộc.


8
Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do nhiều yếu tố khác nhau tác động, các hình thức chính thể
cũng có những đặc điểm khác biệt. Vì vậy, khi nghiên cứu hình thức chính thể của một nhà nƣớc
nhất định cần phải gắn bó với những điều kiện lịch sử cụ thể. Tất cả các nƣớc xã hội chủ nghĩa đều là
nhà nƣớc cộng hòa dân chủ đƣợc đặc trƣng bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc
thành lập các cơ quan đại diện của mình.
1.4.2. Hình thức cấu trúc nhà nước
Đây là sự cấu tạo của nhà nƣớc thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập những mối
quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nƣớc, giữa trung ƣơng với địa phƣơng. Có hai hình thức cấu
trúc nhà nƣớc chủ yếu là hình thức nhà nƣớc đơn nhất và hình thức nhà nƣớc liên bang. Nhà nước
đơn nhất là nhà nƣớc có chủ quyền chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lí thống nhất từ
trung ƣơng đến địa phƣơng và có các đơn vị hành chính bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã
(phƣờng). Ví dụ: Việt Nam, Lào, Ba Lan, Pháp … là các nhà nƣớc đơn nhất. Nhà nước liên bang là

nhà nƣớc có từ hai hay nhiều nƣớc thành viên hợp lại. Nhà nƣớc liên bang có hai hệ thống cơ quan
quyền lực và quản lý; một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nƣớc thành
viên; có chủ quyền quốc gia chung của nhà nƣớc liên bang và đồng thời mỗi thành viên cũng có chủ
quyền riêng. Ví dụ: Mỹ, Đức, Ấn Độ, Malaixia … là các nƣớc liên bang.
Cần phân biệt nhà nƣớc liên bang với nhà nƣớc liên minh. Nhà nƣớc liên minh là sự liên kết
tạm thời của các nhà nƣớc với nhau nhằm thực hiện một số mục đích nhất định. Sau khi đã đạt đƣợc
các mục đích đó, nhà nƣớc liên minh có thể giải tán hoặc có thể phát triển thành nhà nƣớc liên bang.
Ví dụ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ 1776 đến 1787 là nhà nƣớc liên minh, sau đó trở thành nhà nƣớc
liên bang.
1.4. 3. Chế độ chính trị
Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp, thủ đoạn mà các cơ quan nhà nước sử dụng để
thực hiện quyền lực nhà nước. Trong lịch sử, từ khi nhà nƣớc xuất hiện cho đến nay, các giai cấp
thống trị đã sử dụng nhiều phƣơng pháp và thủ đoạn để thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Những
phƣơng pháp và thủ đoạn đó trƣớc hết xuất phát từ bản chất của nhà nƣớc đồng thời phụ thuộc vào
nhiều yếu tố của mỗi giai đoạn trong mỗi nƣớc cụ thể. Vì vậy, có rất nhiều phƣơng pháp thủ đoạn
khác nhau nhƣng tựu trung chúng đƣợc phân thành hai loại chính là: Phƣơng pháp dân chủ và
phƣơng pháp phản dân chủ. Những phƣơng pháp dân chủ cũng có nhiều loại, thể hiện dƣới nhiều hình
thức khác nhau nhƣ những phƣơng pháp dân chủ thật sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi và dân chủ
hạn chế; dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Cần phân biệt chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa đƣợc đặc
trƣng bằng việc sử dụng các hình thức dân chủ thật sự, rộng rãi, khác với chế độ dân chủ tƣ sản, đặc
trƣng bằng các phƣơng pháp dân chủ hạn chế và hình thức. Các phƣơng pháp phản dân chủ thể hiện
tính chất độc tài cũng có nhiều loại, đáng chú ý nhất là khi những phƣơng pháp này khi phát triển đến
mức độ cao sẽ trở thành những phƣơng pháp tàn bạo, qn phiệt và phát xít.
Tóm lại, hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nƣớc ln có liên quan mật thiết với chế
độ chính trị. Ba yếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau tạo thành khái niệm hình thức nhà nƣớc,
phản ánh bản chất và nội dung của nhà nƣớc. Nhƣng trong một số trƣờng hợp, ba yếu tố này có thể
khơng phù hợp với nhau. Ví dụ: chế độ chính trị phát xít, quân phiệt có thể có hình thức chính thể
cộng hịa dân chủ. Đây cũng là điều thƣờng gặp trong các nhà nƣớc bóc lột. Trong các nhà nƣớc xã
hội chủ nghĩa, ba yếu tố này phải phù hợp với nhau, phản ánh đúng bản chất và nội dung của nhà
nƣớc xã hội chủ nghĩa.



9

1.5. Tổ chức bộ máy nhà nước
1.5.1. Bộ máy nhà nước
Trong sách báo pháp lý Việt Nam hiện nay, có khá nhiều định nghĩa bộ máy nhà nƣớc. Dƣới
góc độ pháp lí : bộ máy nhà nƣớc là hệ thống các cơ quan nhà nƣớc từ trung ƣơng tới địa phƣơng,
đƣợc tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
nhà nƣớc.
1.5.2. Tổ chức bộ máy nhà nước
Các kiểu nhà nƣớc khác nhau có thể tổ chức bộ máy nhà nƣớc khác nhau mang tính đặc thù.
Đa số nhà nƣớc chiếm hứu nô lệ và nhà nƣớc phong kiến đều thiết lập bộ máy nhà nƣớc theo nguyên
tắc: quyền lực tối cao thuộc về một ông Vua (Chúa), ngôi vua(chúa) đó đƣợc thiết lập theo kế truyền;
cơng chúa chỉ đƣợc truyền ngơi khi khơng có hồng tử; khi có nhiều hồng tử thì ƣu tiên truyền ngơi
cho hồng tử trƣởng; ngôi vị hang đế chỉ truyền cho một ngƣời để lãnh thổ không bị phân chia.
Nhà nƣớc tƣ sản đƣợc tổ chức theo nguyên tắc: quyền lực nhà nƣớc xuất phát từ nhân dân
(hoặc chủ quyền nhà nƣớc thuộc về nhân dân); phân chia quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành
pháp, tƣ pháp; đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập trong bầu cử nghị viện và tổng thống; tôn trọng
và bảo vệ các quyền công dân và quyền con ngƣời; xây dựng nhà nƣớc pháp quyền.
Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa đƣợc thiết lập theo quyên tắc: tất cả quyền lự nhà nƣớc thuộc về
nhân dân; quyền lực nhà nƣớc là thống nhất và có sự phân công và phối hợp hoạt động giữa các cơ
quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp; Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nƣớc và xã
hội; tập trung dân chủ; đảm bảo sự bình đẳng và đồn kết giữa các dân tộc, tơn trọng và bảo vệ quyền
công dân và quyền con ngƣời; xây dựng pháp chế và nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân
do dân và vì dân.
- Tổ chức bộ máy nhà nƣớc theo cấp bậc hành chính - lãnh thổ. Đó là cơ cấu tổ chức bảo đảm
cho hệ thống hành chính nhà nƣớc thơng suốt từ trên xuống tận cơ sở. Theo đó, hệ thống hành chính
nhà nƣớc chia ra làm hai nhóm:
+ Bộ máy hành chính trung ƣơng, bao gồm các cơ quan hành chính nhà nƣớc trung ƣơng có vai

trị quản lý hành chính nhà nƣớc trên phạm vi tồn quốc;
+ Bộ máy hành chính địa phƣơng, bao gồm các cơ quan hành chính nhà nƣớc tại địa phƣơng
nhằm thực thi nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nƣớc tại địa phƣơng.
- Tổ chức bộ máy nhà nƣớc theo chức năng. Cơ cấu tổ chức theo chức năng đƣợc phân định
theo chức năng và chun mơn hố, tạo thành những cơ quan quản lý các ngành, các lĩnh vực khác
nhau của nền hành chính nhà nƣớc. Theo khái niệm này, bộ máy hành chính trung ƣơng (Chính phủ)
chia ra thành các bộ; bộ máy hành chính địa phƣơng các cấp lại chia ra thành nhiều đơn vị với các
tên gọi và thẩm quyền khác nhau. Tƣơng tự nhƣ vậy, cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, tổ chức thuộc
bộ máy hành chính nhà nƣớc lại đƣợc phận chia thành các đơn vị nhỏ hơn. Đó là cấu trúc bên trong
của từng cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc trên các lĩnh vực
khác nhau.


10

2. Một số vấn đề cơ bản về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1. Bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm 1975 miền Nam đƣợc giải phóng, đất nƣớc thống nhất, Nhà nƣớc Việt Nam đổi tên thành
Nhà nƣớc Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện cơng cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi cả nƣớc. Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những mơ hình đã
đƣợc tìm tịi, sáng tạo dựa hên cơ sở lí luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về nhà nƣớc kiểu mới, vừa mang đầy đủ những yếu tố của một nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa nói
chung, vừa mang những đặc trƣng riêng gắn liền với điều kiện đất nƣớc và con ngƣời Việt Nam. Bản
chất của Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đƣợc biểu hiện ở những nội dung
cơ bản sau:
Thứ nhất, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc xây dựng dƣới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Nhà nƣớc đƣợc tổ chức và hoạt động theo tinh thần đề cao chủ quyền nhân dân,
những vấn đề quan trọng nhất của đất nƣớc do nhân dân quyết định. Nhà nƣớc coi con ngƣời là giá

trị cao nhất trong xã hội, ln phấn đấu vì hạnh phúc của con ngƣời theo tinh thần “tất cả cho con
ngƣời, tất cả vì con ngƣời”; quyền lực nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân cơng, phối hợp, kiểm soát
giữa các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp; thừa nhận
vị trí tối thƣợng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội. Nhà nƣớc tổ chức và hoạt động
trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, quản lí xã hội bằng pháp luật; thực hiện nguyên tắc bình đẳng
trong các mối quan hệ giữa nhà nƣớc và công dân. Nhà nƣớc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm
các quyền con ngƣời, quyền cơng dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội. Dân giàu, nƣớc
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, độc lập, tự do, hạnh phúc vừa là mục tiêu vừa là động lực để
Nhà nƣớc và xã hội phấn đấu vƣơn tới; Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh và có thiện chí
các cam kết quốc tế...
- Là nhà nƣớc của dân: các cơ quan nhà nƣớc ở Việt Nam nhận quyền lực từ nhân dân. Còn
nhân dân Việt Nam “thực hiện quyền lực nhà nƣớc bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện
thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nƣớc” (Điều 6 Hiến
pháp năm 2013).
- Là nhà nƣớc do dân: nhân dân Việt Nam gồm giai cấp cơng nhân, nơng dân, đội ngũ trí thức
và những ngƣời lao động khác tổ chức thành nhà nƣớc. Nhân dân Việt Nam trực tiếp bầu ra đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân theo nguyên tắc phổ thơng, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu
kín, là những cơ quan đại biểu của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của
nhân dân, chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân, để phục vụ lợi ích của nhân dân. Nhân dân không chỉ lập
ra các cơ quan nhà nƣớc mà còn trực tiếp làm việc trong các cơ quan đó để trực tiếp nắm giữ và thực
hiện quyền lực nhà nƣớc.
- Là nhà nƣớc vì dân: tất cả mọi chính sách, pháp luật, hoạt động, mọi cố gắng của Nhà nƣớc
đều vì lợi ích của nhân dân, phục vụ nhân dân. Nhà nƣớc vì dân, do vậy, các cơ quan nhà nƣớc, cán
bộ, công chức, viên chức nhà nƣớc phải luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ
chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
Thứ hai, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trực tiếp tố chức và quản li hầu hết
các mặt quan trọng của đời sống xã hội.


11

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu dân đói thì Đảng, Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt
thì Đảng, Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm Đảng, Chính phủ có lỗi và nếu dân rét thì Đảng, Chính phủ
cũng có lỗi. Từ đó cho thấy, Nhà nƣớc Việt Nam khơng chỉ là tổ chức chính trị của nhân dân Việt
Nam mà còn là tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội... đã và đang trực tiếp tổ chức và thống nhất quản lí
nền kinh tế quốc dân, sự nghiệp văn hoá, hệ thống giáo dục quốc dân, nhà nƣớc đầu tƣ, phát triển và
thống nhất quản lí sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, sự nghiệp thể dục, thể thao, du lịch... của
đất nƣớc nhằm “bảo đảm và phát huy quyền ỉàm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và
bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, mọi ngƣời có cuộc sổng ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện'
(Điều 3 Hiến pháp năm 2013). Trên thực tế, Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và
đang bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi
hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân, xây dựng đất nƣớc giàu mạnh, bảo đảm
an sinh xã hội, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, phấn đấu để tiến tới xố bỏ mọi sự áp bức, bóc
lột và bất cơng.
Thứ ba, Nhà nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước dân chủ, một công cụ
thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nhà nƣớc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện mục tiêu “điều kiện tự
do của mỗi ngƣời là điều kiện tự do cho tất cả mọi ngƣời”, làm cho mọi ngƣời có cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển tồn diện. Bộ máy nhà nƣớc Việt Nam luôn đƣợc tổ chức và
hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ, tôn trọng quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc,
từng bƣớc tiến tới nền dân chủ thực sự theo tinh thần: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân
thụ hƣởng. Nhà nƣớc đã và đang “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo
đảm tất cả quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân; mọi đƣờng lối, chủ trƣomg của Đảng, chỉnh sách,
pháp luật của Nhà nƣớc đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, cơng chức phải hồn thành tốt chức
trách, nhiệm vụ đƣợc giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân”. Đẩy mạnh thể chế hố và
nâng cao chất lƣợng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện: “Dân chủ phải
đƣợc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhăn dân
tham gia ở tất cả các khâu của quả trình đƣa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của
nhân dân”. Cùng với việc phát huy dân chủ phải tăng cƣờng pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân,
giữ vững kỉ luật, kỉ cƣơng và đề cao đạo đức xã hội.

Thứ tư, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân
tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
Điều 5 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là quổc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh song trên đất nƣớc Việt Nam”. Do vậy, Nhà nƣớc
Việt Nam là tổ chức quyền lực chính trị của nhân dân, biểu hiện tập trung khối đại đồn kết các dân
tộc Việt Nam bình đẳng về mọi phƣơng diện, các dân tộc đồn kết, tơn trọng và giúp đỡ nhau cùng
phát triển. Nhà nƣớc có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển sự bình đẳng, đồn kết, tƣơng trợ giữa các dân
tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nƣớc thực hiện chính sách phát triển tồn
diện, tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nƣớc. Trong giai
đoạn hiện nay cân nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nƣớc Việt Nam hồ bình,
độc lập, thống nhất, tồn vẹn lãnh thể, dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm
tƣơng đồng.


12
Thứ năm, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân
dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Hiến pháp Việt Nam hiện hành đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam, đại biểu trung thành
lợi ích của giai cấp cơng nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tƣ tƣởng, là lực lƣợng lãnh đạo Nhà nƣớc và xã hội. Mọi hành vi
chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị Nhà nƣớc Việt Nam nghiêm trị theo pháp luật. Bảo
đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ đối với nhân dân đồng thời ln
chun chính với kẻ thù của nhân dân, bởi chỉ có nhƣ vậy mới bảo vệ đƣợc tự do và dân chủ của
nhân dân.
Thứ sáu, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam vẫn đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội - thời kì vừa có chủ nghĩa xã hội

vừa chƣa có chủ nghĩa xã hội, thời kì cái cũ đang mất đi nhƣng chƣa mất hẳn, cái mới đã ra đời
nhƣng chƣa hồn chỉnh. Vì thế, Nhà nƣớc cũng mới chỉ là nhà nƣớc của thời kì quá độ, nên những
ƣu việt của một nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa vẫn chƣa đƣợc bộc lộ rõ, chƣa trở thành hiện thực, mọi
thứ vẫn đang cịn ở phía trƣớc. Do vậy, giai đoạn hiện nay cần: “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và
hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nƣớc ta thực sự là của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lí kinh tế, quản lí xã hội;
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nƣớc với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với
nhân dân, với thị trƣờng. Nâng cao năng lực quản lí và điều hành của Nhà nƣớc theo pháp luật, tăng
cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỉ luật, kỉ cƣomg. Nhà nƣớc chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo
đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi ngƣời dân”. Đồng thời".. đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật
gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nƣớc pháp quyền xã
hội chủ nghĩa. Bảo đảm pháp luật vừa là cơng cụ để Nhà nƣớc quản lí xã hội, vừa là công cụ để nhân
dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nƣớc”.
Kể từ khi ra đời cho đến nay, Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang vƣợt
qua rất nhiều thử thách, khó khăn, khơng ngừng phát triển và hồn thiện để từng bƣớc hiện thực hố
những lí tƣởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

2.2 Chức năng của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.2.1. Chức năng đối nội
Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nƣớc trong nội bộ đất nƣớc. Ví dụ:
Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ chế độ kinh tế …là những
chức năng đối nội của các nhà nƣớc.
2.2.1.1. Chức năng bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội.
Đây là một trong những chức năng căn bản nhất của nhà nƣớc ta. Muốn tiến hành sự nghiệp
đổi mới thuận lợi, Nhà nƣớc ta phải bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội trên tồn bộ đất
nƣớc. Nhà nƣớc phải có đủ sức mạnh và kịp thời đập tan mọi âm mƣu chống đối của các thế lực thù
địch, đảm bảo điều kiện ổn định cho Nhân dân sản xuất kinh doanh. Muốn vậy, Nhà nƣớc phải quan
tâm xây dựng các lực lƣợng an ninh, các cơ quan bảo vệ pháp luật, đồng thời phải phát huy sức mạnh



13
tổng hợp của hệ thống chính trị, tính tích cực cách mạng của khối đại đoàn kết toàn dân, phối hợp lực
lƣợng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
2.2.1.2. Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân.
Đây là một trong những chức năng đặc biệt quan trọng của Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, bởi vì, việc thực hiện chức năng này thể hiện đầy đủ nhất bản chất của nhà nƣớc kiểu mới, nhà
nƣớc của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đồng thời, việc thực hiện chức năng này sẽ đảm bảo
sức mạnh của Nhà nƣớc trong việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nƣớc, quan hệ đến
sự tồn tại, phát triển của bản thân Nhà nƣớc và chế độ. Đảng ta nhấn mạnh: Nhà nƣớc có mối liên hệ
thƣờng xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát
của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng,
lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân.
2.2.1.3. Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Đây là chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng của nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa, liên quan trực tiếp
đến việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nƣớc. Pháp luật là phƣơng tiện quan trọng để
Nhà nƣớc tổ chức thực hiện có hiệu quả tất cả các chức năng của mình, do đó, bảo vệ trật tự pháp
luật, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa là hoạt động thƣờng xuyên, có ý nghĩa quyết định đối với
việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nƣớc. Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho
pháp luật đƣợc thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội bằng pháp luật.
2.2.1.4. Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế.
Tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nƣớc, xét đến cùng là chức năng hàng đầu và là cơ bản nhất
của Nhà nƣớc ta, nhằm xây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật phát triển cao. Nhà
nƣớc ta là ngƣời đại diện cho ý chí, quyền lực của Nhân dân lao động, là ngƣời chủ sở hữu đối với
các tƣ liệu sản xuất chủ yếu; là ngƣời nắm trong tay các công cụ, phƣơng tiện quản lý (chính sách, kế
hoạch, pháp luật, tài chính, ngân hàng…) và quản lý việc sử dụng tài sản quốc gia. Trên cơ sở đó,
Nhà nƣớc có đủ điều kiện để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong nƣớc cũng
nhƣ hợp tác quốc tế.
2.2.1.5. Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục.

Xã hội mới mà Nhân dân ta đang xây dựng là xã hội do Nhân dân lao động làm chủ; có nền
kinh tế phát triển trên cơ sở một nền khoa học và công nghệ tiên tiến; có nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc; con ngƣời đƣợc giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột, bất cơng, có cuộc sống ấm no,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển tồn diện cá nhân. Muốn xây dựng xã hội đó, Nhà nƣớc ta phải tổ
chức, quản lý sự nghiệp giáo dục đào tạo, văn hóa, phát triển khoa học và cơng nghệ. Đó là quốc
sách hàng đầu để phát huy nhân tố con ngƣời, phát huy vai trò then chốt của khoa học và cơng nghệ.
Đó chính là những động lực trực tiếp của sự phát triển, tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các
chức năng khác của Nhà nƣớc, vừa nhằm tổ chức quản lý văn hóa, khoa học, giáo dục vừa nhằm thực
hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Trƣớc mắt, cần chuẩn bị cho đất nƣớc bƣớc vào những giai
đoạn phát triển tiếp theo trong tƣơng lai, hòa nhập với sự phát triển của nền văn minh thế giới.
2.2.2. Chức năng đối ngoại của nhà nước
Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nƣớc trong quan hệ với các nhà nƣớc và dân tộc
khác. Ví dụ: Phịng thủ đất nƣớc, chống xâm lƣợc từ bên ngoài, thiết lập các mối bang giao với các
quốc gia khác …Nhà nƣớc ta thực hiện chức năng đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và


14
giúp đỡ của nhân dân thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng thế giới.
Đảng ta nhấn mạnh: Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung
của nhân loại thế giới vì hịa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tất cả chức năng đối nội của nhà nƣớc chỉ có thể đƣợc triển khai thực hiện tốt khi Tổ quốc
đƣợc bảo vệ vững chắc. Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc là chức năng cực kỳ quan trọng nhằm giữ gìn thành
quả cách mạng, bảo vệ cơng cuộc xây dựng hịa bình của nhân dân, tạo điều kiện ổn định triển khai
các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Chức năng đối ngoại còn nhằm củng cố, tăng
cƣờng tình hữu nghị và hợp tác với các nƣớc xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng quan hệ với các
nƣớc khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hịa bình, khơng can thiệp vào công
việc nội bộ của nhau. Tƣ tƣởng chỉ đạo thực hiện chức năng này của Nhà nƣớc ta là, trên cơ sở kiên
trì đƣờng lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là

giữ vững hịa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cơng cuộc đấu
tranh chung của nhân dân thế giới vì hịa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội . Chức năng
đối ngoại còn nhằm ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động ở các nƣớc tƣ bản, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và
mới. Chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chống chính sách gây chiến và chạy đua vũ trang, góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hịa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội.
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của mỗi nƣớc phụ thuộc vào nhiều vào cộng đồng thế
giới. Vì vậy, bất cứ nhà nƣớc tiến bộ nào cũng đều có nghĩa vụ ủng hộ phong trào cách mạng và tiến
bộ trên thế giới. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam không tách rời sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của
nhân dân thế giới. Ngày nay, Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang mở rộng hợp tác
với tất cả các nƣớc trên thế giới cùng phấn đấu vì một thế giới hịa bình, ổn định, hợp tác và phát
triển.

2.3. Tổ chức bộ máy Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.3.1. Khái niệm, đặc điểm của bộ máy Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.3.1.1. Khái niệm bộ máy Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bộ máy Nhà nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơ quan Nhà nƣớc từ
Trung ƣơng đến địa phƣơng đƣợc tổ chức theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành một cơ chế
đồng bộ để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, bộ máy Nhà nƣớc không
phải là một tập hợp đơn giản các cơ quan Nhà nƣớc, mà là một hệ thống thống nhất các cơ quan có
mối liên hệ ràng buộc qua lại chặt chẽ với nhau vận hành một cách nhịp nhàng.
Bộ máy nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo chiều ngang, bao gồm 4 hệ
thống:
1. Các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đây là
các cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra theo ngun tắc bầu cử phổ thơng,
bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín;



15
2. Các cơ quan hành chính nhà nƣớc, cịn gọi là các cơ quan quản lí nhà nƣớc bao gồm Chính
phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan quản lí chun mơn của
Uỷ ban nhân dân nhƣ sở, phịng, ban và tƣơng đƣơng;
3. Các cơ quan xét xử bao gồm Tồ án nhân dân tối cao, các tịa án nhân dân địa phƣơng và các
toà án quân sự;
4. Các cơ quan kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các viện kiểm sát nhân dân
địa phƣơng và các viện kiểm sát quân sự. Ngoài bốn hệ thống nói trên cịn có một thiết chế đặc biệt
là Chủ tịch nƣớc - nguyên thủ quốc gia, ngƣời thay mặt nhà nƣớc về mặt đối nội cũng nhƣ đối ngoại,
có chức năng chủ yếu nghiêng về hành pháp nhƣng không nằm trong hệ thống cơ quan hành chính
nhà nƣớc.
Cũng nhƣ bộ máy nhà nƣớc của các nƣớc trên thế giới, bộ máy nhà nƣớc ta, theo chiều dọc, có
thể phân chia thành các cơ quan nhà nƣớc trung ƣơng và các cơ quan nhà nƣớc địa phƣơng. Các cơ
quan nhà nƣớc trung ƣơng gồm Quốc hội, Chủ tịch nƣớc, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Các cơ quan nhà nƣớc địa phƣơng gồm Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp: tỉnh (thành phố trực thuộc trung ƣơng), huyện
(quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), xã (phƣờng, thị trấn).
2.3.1.2. Đặc điểm của bộ máy Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Một là, việc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc dựa trên những nguyên tắc chung
thống nhất mà cơ bản bao trùm là nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Nghĩa là, nhân dân
có tồn quyền quyết định mọi cơng việc của Nhà nƣớc và xã hội, giải quyết tất cả mọi công việc có
liên quan đến vận mệnh quốc gia, đời sống chính trị, văn hố, tƣ tƣởng của đất nƣớc và dân tộc.
Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nƣớc thông qua hệ thống cơ quan Nhà nƣớc do nhân dân trực tiếp
bầu ra, đứng đầu là Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất và Hội đồng nhân dân – cơ quan quyền lực
Nhà nƣớc ở địa phƣơng.
Hai là, các cơ quan trong bộ máy Nhà nƣớc đều mang tính quyền lực Nhà nƣớc, đều có quyền
nhân danh Nhà nƣớc để tiến hành các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của mình. Tính quyền lực
Nhà nƣớc thể hiện ở chỗ các cơ quan quyền lực Nhà nƣớc đều có một phạm vi thẩm quyền đƣợc
pháp luật quy định. Tuỳ thuộc vào vị trí của cơ quan đó trong bộ máy Nhà nƣớc.
Ba là, đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy Nhà nƣớc là những ngƣời hết lịng, hết sức

phục vụ nhân dân, là cơng bộc của nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.
2.3.2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa. Bộ máy nhà nƣớc ta đƣơng nhiên đƣợc tổ chức và
hoạt động theo những nguyên tắc chung của chế độ xã hội chủ nghĩa và đồng thời tổ chức bộ máy
nhà nƣớc với sự vận dụng phù hợp theo từng giai đoạn lịch sử và theo từng phần hệ thống trong bộ
máy đó. Các ngun tắc đó ln ln đƣợc bổ sung bởi các nhận thức mới và vận dụng thích hợp với
từng điều kiện cụ thể.
* Nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa
Nội dung của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện ở chỗ: Mọi quyền lực nhà nƣớc
của nhân dân (ngoài những quyền đƣợc thực hiện bằng con đƣờng trực tiếp) đƣợc trao (uỷ quyền)
cho cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nƣớc của nhân dân. Đó là các Xơ viết (ở Liên Xô cũ),


16
Quốc hội (ở Trung Quốc, Việt Nam). Các quan này nắm giữ các quyền của quyền lực nhà nƣớc
thống nhất, có nghĩa là chúng nắm tất cả các quyền lập pháp, tƣ pháp và giám sát. Các cơ quan đại
diện này (ở trung ƣơng và địa phƣơng) là những cơ quan đại diện quyền lực nhà nƣớc duy nhất, là
hình thức chủ yếu thực hiện quyền lực nhà nƣớc của nhân dân. Hiện nay, theo tinh thần đổi mới,
nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đƣợc nhận thức lại và vận dụng hợp lý hơn. Đó là: về nguyên
tắc quyền lực nhà nước là thống nhất song có sự phân công, phối hợp giữa các Cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Quan điểm mới này đã đƣợc thể hiển
trong xây dựng bộ máy nhà nƣớc tại cả Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013. Ở đó Quốc hội vẫn là cơ
quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất thực hiện các quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề cơ
bản của đất nƣớc, giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nƣớc và xã hội; các cơ quan
nhà nƣớc khác do Quốc hội thành lập, giám sát hoạt động và chịu trách nhiệm trƣớc Quốc hội. Quốc
hội chỉ tập trung vào hoạt động lập pháp và giám sát, cịn các cơ quan khác nhƣ Chính phủ, Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, kể cả Chủ tịch nƣớc nếu cá nhân đƣợc phân định
chức năng nhiệm vụ rạch ròi hơn, có tính độc lập hơn, cùng nhau phối hợp thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Nói tóm lại, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản

xuyên suốt trong tổ chức bộ máy của nhà nƣớc ta.
* Nguyên tắc tập trung dân chủ
Hiến pháp nƣớc ta quy định “Nhà nƣớc đƣợc tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp
luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” (Điều 8
Hiến pháp 2013). Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nƣớc là sự kết hợp biện chứng giữa hai mặt: tập trung và dân chủ. Tập trung thống nhất là bản
chất chung của mọi Nhà nƣớc. Quyền lực nhà nƣớc phải đƣợc triển khai thống nhất, xuyên suốt trách
sự chia cắt vô chính phủ. Mặt khác, quyền lực đó trong chế độ xã hội chủ nghĩa là bắt nguồn từ nhân
dân, phục vụ nhân dân, phải chịu sự giám sát của nhân dân hay của các cơ quan đại diện. Trên tinh
thần đó tập trung khơng xa rời dân chủ. Ngun tắc này thể hiện trong cơ chế trực thuộc hai chiều.
Tính trực thuộc hai chiều thể hiện rõ nhất trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nƣớc. Các cơ quan này chịu sự lãnh đạo, chịu trách nhiệm trƣớc cấp trên, đồng thời chịu sự giám sát
và chịu trách nhiệm trƣớc cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng. Về việc thành lập các cơ quan
này có sự kết hợp giữa Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính cấp trên.
Trong q trình phát triển từ trƣớc đến nay, trong từng thời kỳ có sự vận dụng khác nhau tƣơng
quan giữa tập trung và dân chủ. Ở thời kỳ đầu (giai đoạn 1945-1960) mặt tập trung đƣợc đề cao hơn.
Sau này (giai đoạn những năm 1980) mặt dân chủ đƣợc tăng cƣờng. Hiện nay, tính tập trung đƣợc
chú trọng trở lại (thể hiện ở quyền của Thủ tƣớng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên đƣợc quyền
phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dƣới).
Trong các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, nguyên tắc tập
trung dân chủ thể hiện theo từng mức độ nhất định.
* Nguyên tắc bình đẳng dân tộc
Trong một Nhà nƣớc có nhiều dân tộc, việc bảo đảm bình đẳng dân tộc là hết sức cần thiết.
Hiến pháp nƣớc ta quy định: “Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của
các dân tộc cùng sinh sống trên đất nƣớc Việt Nam” (Điều 5 Hiến pháp 2013). Bảo đảm để trong các
cơ quan đại diện quyền lực nhà nƣớc (Quốc hội và Hội đồng nhân dân) các thành phần dân tộc thiểu
số có số đại biểu thích đáng (Điều 10 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (2001)); các đại diện
dân tộc đƣợc chú ý lựa chọn bầu giữ chức vụ trong chính quyền địa phƣơng.



17
Có các hình thức tổ chức trong các cơ quan quyền lực nhà nƣớc để thực hiện lợi ích dân tộc và
tham gia quyết định các chính sách dân tộc nhƣ Hội đồng dân tộc trong Quốc hội và các Ban dân tộc
trong Hội đồng nhân dân… Các cơ quan này, đặc biệt là Hội đồng dân tộc không chỉ đƣợc quyền
thẩm tra, giám sát, kiến nghị về các vấn đề dân tộc mà còn đƣợc quyền tham dự các phiên họp của
Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, các phiên họp của Chính phủ bàn về chính sách dân tộc, đƣợc Chính
phủ tham khảo ý kiến khi quyết định các chính sách dân tộc. Nhà nƣớc thực hiện chính sách bình
đẳng dân tộc, đồn kết tƣơng trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc;
thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bƣớc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
đồng bào dân tộc thiểu số.
* Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế là yêu cầu đặt ra đối với mọi nhà nƣớc hiện đại. Hiến pháp nƣớc ta quy định “Nhà
nƣớc đƣợc tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp
luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” (Điều 8 – Hiến pháp 2013). Nội dung chủ yếu của pháp
chế là hoạt động của Nhà nƣớc và xã hội dựa trên cơ sở pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa thể
hiện nhƣ sau:
– Tất cả cơ quan nhà nƣớc phải đƣợc xác định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm, đƣợc thành lập theo đúng quy định của pháp luật. Các chức danh đƣợc bầu, bổ nhiệm,
tuyển dụng theo đúng quy định.
– Các cơ quan nhà nƣớc, ngƣời có chức vụ và nhân viên nhà nƣớc phải tuân thủ nghiêm chỉnh
pháp luật trong thi hành nhiệm vụ của chính mình giải quyết các cơng việc hành chính, xét xử, xử
phạt, tránh sự lạm quyền và lộng quyền. Những vi phạm đều bị xử lý theo pháp luật và xử lý bình
đẳng đối với mọi sự vi phạm khơng kể ngƣời đó có vị thế nào.
Để đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc pháp chế địi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hồn
chỉnh, đồng bộ và đồng thời thơng qua các quy định của pháp luật để thực hiện cơ chế kiểm tra, giám
sát, xử lý kịp thời và công bằng các vi phạm pháp luật.
* Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng
Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định của sự tồn tại của chế độ Nhà
nƣớc ta. Cho nên, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng là một nguyên tắc. Hiến pháp xác định “Đảng Cộng

sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tƣ tƣởng,
là lực lƣợng lãnh đạo Nhà nƣớc và xã hội”. Điều 4- Hiến pháp 2013 là điều mà nhân dân Việt Nam
đã thảo luận một cách dân chủ, tranh luận công khai và thống nhất để thể hiện ý chí, nguyện vọng
của mình khi lựa chọn Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cách mạng
Việt Nam trong thời chiến cũng nhƣ trong thời bình. Vì thế chắc chắn là khơng có sự thay đổi về vai
trị, vị trí của Đảng trong sự nghiệp lãnh đạo đất nƣớc.
2.3.3. Hệ thống các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Bộ máy Nhà nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống cơ quan nhà nƣớc từ trung
ƣơng đến địa phƣơng, có tính độc lập tƣơng đối về cơ cấu tổ chức, đƣợc thành lập và có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật, nhân danh nhà nƣớc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc bằng


18
hình thức, phƣơng pháp đặc thù. Bộ máy Nhà nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm: Quốc
hội, Chính phủ, Chủ tịch nƣớc, Tịa án, Viện kiểm sát, chính quyền địa phƣơng.
Quốc hội: là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nƣớc cao nhất của
Bộ máy Nhà nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội có quyền lập pháp, quyết định
những vấn đề cơ bản quan trọng của đất nƣớc, quyền giám sát tối cao. Quốc hội là cơ quan nhà nƣớc
do nhân dân cả nƣớc bầu ra, có nhiệm kỳ là 05 năm. Hoạt động của Quốc hội thông qua kỳ họp là
chủ yếu. Quốc hội họp mỗi năm 02 lần, trong trƣờng hợp cần thiết Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội có
thể triệu tập kỳ họp bất thƣờng. Cơ cấu: Ủy ban thƣờng vụ quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ
ban.
Ủy ban thường vụ quốc hội: là cơ quan thƣờng trực của Quốc hội, do Quốc hội thành lập và
chịu trách nhiệm trƣớc Quốc hội. Cơ cấu: Chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên. Nhiệm vụ, quyền hạn: Tổ
chức, chuẩn bị, triệu tập và chủ trì kỳ họp Quốc hội; cơng bố và chủ trì đại biểu Quốc hội; điều hành
và phối hợp hoạt động của các Hội đồng và ủy ban; hƣớng dẫn và tạo điều kiện đại biểu Quốc Hội
hoạt động; thay mặt Quốc hội trong hoạt động đối ngoại; giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt

động cơ quan nhà nƣớc; ban hành pháp luật, Nghị quyết trong phạm vi vấn đề đƣợc giao thay mặt
Quốc hội, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn Quốc hội trong thời gian giữa 2 kỳ họp.
Hội đồng dân tộc: do Quốc hội thành lập, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc Quốc
hội, Ủy ban thƣờng vụ quốc hội. Cơ cấu: Chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên. Nhiệm vụ, quyền hạn:
nghiên cứu, kiến nghị với Quốc hội những vấn đề dân tộc; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính
sách dân tộc và chinh sách phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu
số. Chủ tịch Hội đồng dân tộc đƣợc tham gia phiên họp Ủy ban thƣờng vụ quốc hội bàn về chính
sách dân tộc, đƣợc Chính phủ tham khảo ý kiến khi thực hiện chính sách dân tộc. Hội đồng dân tộc
cịn có quyền hạn nhƣ ủy ban.
Các Uỷ ban (7 ủy ban): do Quốc hội thành lập, chịu trách nhiệm và báo cáo trƣớc Quốc hội.
Gồm: Ủy ban pháp luật, Ủy ban khoa học công nghệ và môi trƣờng, Ủy ban văn hóa giáo dục thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng, Ủy ban quốc phòng và an ninh, Ủy ban đối ngoại, Ủy ban các vấn đề xã
hội, Ủy ban kinh tế ngân sách. Cơ cấu: Chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên, đƣợc bầu trong kỳ họp đầu
tiên của mỗi khóa. Nhiệm vụ, quyền hạn: thẩm tra dự án luật, báo cáo đƣợc Quốc hội, Ủy ban thƣờng
vụ quốc hội giao; trình dự án luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi luật định; kiến
nghị những vấn đề thuộc thẩm quyền của Ủy ban.
Chủ tịch nước: Chủ tịch nƣớc là nguyên thủ Quốc gia, đƣợc bầu ra trong số đại biểu Quốc hội
theo giới thiệu của Ủy ban thƣờng vụ quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trƣớc Quốc hội.
Nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ Quốc hội.
Nhiệm vụ, quyền hạn: Nhóm quyền hạn liên quan đến hoạt động đối nội, đối ngoại. Ví dụ: cử
đại sứ, triệu hồi đại sứ, tiếp nhận đại sứ; nhóm quyền hạn liên quan đến sự phối hợp các thiết chế nhà
nƣớc trong việc thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tƣ pháp. Ví dụ: trình dự án luật, kiến nghị
sửa đổi luật; bổ nhiệm thẩm phán, đề nghị Quốc hội bầu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tham gia thành lập Chính phủ; ban hành luật, Quyết định
thực hiện quyền hạn của mình. Chủ tịch nƣớc là biểu tƣợng cho sự ổn định, bền vững và thống nhất
của quốc gia, thay mặt nhà nƣớc trong hoạt động đối nội, đối ngoại. Ủy ban quốc phòng và an ninh là
cơ quan thuộc chủ tịch nƣớc, do chủ tịch nƣớc làm chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên do Quốc
hội phê chuẩn trên cơ sở đề nghị của chủ tịch nƣớc; UB có quyền huy động tồn bộ lực lƣợng và khả
năng nƣớc nhà để bảo vệ Tổ quốc.



19
Chính phủ: là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nƣớc cao nhất của
nƣớc CHXHCN Việt Nam. Chính phủ do Quốc hội thành lập, chịu trách nhiệm trƣớc Quốc hôi, báo
cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thƣờng vụ quốc hội, chủ tịch nƣớc. Gồm: Thủ tƣớng, các phó thủ
tƣớng, bộ trƣởng và các thành viên khác thuộc chính phủ.
Nhiệm vụ, quyền hạn: thống nhất quản lý mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc
phịng và an ninh, đối ngoại. Tổ chức thực hiện và bảo đảm thực hiện Hiến pháp, pháp luật trên phạm
vi tồn quốc. Bảo đảm tính hiệu lực của bộ máy nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng. Phát huy
quyền làm chủ của nhân dân. Cơ cấu: Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ. Bộ trƣởng và
thành viên Chính phủ thống nhất quản lý trên phạm vi toàn quốc lĩnh vực, ngành mình phụ trách.
Trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, chủ tịch nƣớc, Ủy ban thƣờng vụ quốc hội,
Chính phủ, Bộ trƣởng và thành viên chính phủ ban hành thông tƣ, quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc
thực hiện những văn bản đó trên tồn quốc. Bộ trƣởng và thành viên chính phủ báo cáo công tác
trƣớc Quốc hội, Thủ tƣớng về lĩnh vực ngành mình.
Chính quyền địa phương:
Hội đơng nhân dân: là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí và
nguyện vọng của nhân dân địa phƣơng, quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phƣơng bầu ra,
chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân địa phƣơng. HĐND là một mắt xích quan trọng trong mối liên hệ cơ
quan nhà nƣớc với nhân dân địa phƣơng. Gồm: Thƣờng trực HĐND do HĐND thành lập (chỉ từ cấp
huyện trở lên). Các ban thuộc HĐND: giúp nghiên cứu, thẩm tra trƣớc báo cáo, nghị quyết( dự thảo);
giúp thực hiện Nghị quyết; vận động nhân dân thực hiện Nghị quyết. Trên cơ sở Hiến pháp, HĐND
ra quyết định về việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, đƣờng lối thực hiện chính sách kinh tế- xã hội
của địa phƣơng, nâng cao đời sống nhân dân. Hoạt động thông qua kỳ họp và tổ chức kinh tế ở cơ sở.
Ủy ban nhân dân: là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa
phƣơng. Chịu trách nhiệm trƣớc HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính cấp trên. Trong UBND có
các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực hành pháp thuộc UBND và cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cấp
trên (sở, phòng, ban). Nhiệm vụ: Quản lý mọi mặt của đời sống xã hội ở địa phƣơng. Thực hiện văn
bản cơ quan hành chính cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Tòa án: là cơ quan xét xử đảm bảo tính pháp chế, cơng bằng, duy trì trật tự pháp luật và ổn

định xã hội. Gồm: Tòa án nhân dân tối cao. Các tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ƣơng. Các tòa án nhân dân huyện, quân, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tòa án quân sự trung ƣơng.
Các tòa án quân sự quân khu. Các tòa án quân sự khu vực. Ngun tắc: Cơng khai trong xét xử. Xét
xử có hội thẩm nhân dân. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập, tn theo pháp luật. Mọi cơng
dân bình đẳng trƣớc pháp luật. Cơng dân có quyền dùng tiếng nói, chữ viết dân tộc mình. Bảo đảm
quyền bào chữa. Xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Thẩm phán do Chủ tịch nƣớc bổ nhiệm,
chánh án tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu theo giới thiệu của chủ tịch nƣớc. Tòa án chịu
trách nhiệm trƣớc HĐND cùng cấp. Chánh án tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trƣớc Quốc hội, Ủy ban thƣờng vụ quốc hội.
Viện kiểm sát: là cơ quan thực hiện chức năng công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động cơ quan nhà nƣớc. Gồm: VKS nhân dân tối cao; VKS nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ƣơng. VKS huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Các VKS quân sự. Nguyên tắc: Tập
trung thống nhất lãnh đạo trong ngành. Độc lập với cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng. Viện trƣởng do
Quốc hội bầu theo giới thiệu của Chủ tịch nƣớc; Có quyền bổ nhiệm, bãi miễn các thành viên khác.
Hoạt động theo chế độ thủ trƣởng.


20
2.3.4. Hệ thống các cơ quan, đơn vị quản lý công tác lưu trữ
2.3.4.1. Khái niệm: Lƣu trữ là giữ lại các loại văn bản, hồ sơ của cơ quan, của cá nhân để làm
bằng chứng và tra cứu khi cần thiết. Tài liệu lƣu trữ gồm: tài liệu về quản lý hành chính, tài liệu kỹ
thuật, các tài liệu về phim ảnh, ghi âm, tài liệu về văn học nghệ thuật, về chuyên môn, tài liệu về cá
nhân, gia đình, dịng họ v.v....
* Ý nghĩa: có tác dụng nghiên cứu lịch sử của cơ quan, phản ánh kinh nghiệm, thành tựu, là
nguồn tƣ liệu xây dựng phòng truyền thống. Làm hồ sơ, tổng kết, xây dựng chƣơng trình kế hoạch
thực hiện các nhiệm vụ, có tác dụng bảo mật, phòng gian.
2.3.4.2. Hệ thống cơ quan lưu trữ
- Cơ quan lƣu trữ ở trung ƣơng:
+ Cục lưu trữ nhà nước. Cục lƣu trữ là cơ quan giúp chính phủ thực hiện quản lý thống nhất
về công tác lƣu trữ. Hƣớng dẫn các cơ quan nhà nƣớc thực hiện đúng qui định của pháp luật về cơng

tác lƣu trữ.
+ Phịng lưu trữ cấp bộ: ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, thành lập phịng
lƣu trữ đặt trong văn phòng bộ.
- Tổ chức lưu trữ ở địa phương: Ở các tỉnh thành phố trực thuộc trung ƣơng thành lập trung
tâm lƣu trữ thuộc văn phòng UBND Tỉnh.
- Ở cấp Huyện: bố trí từ một đến hai ngƣời có trình độ từ trung học lƣu trữ trở lên làm cơng
tác lƣu trữ chun trách thuộc văn phịng UBND huyện.
- Ở cấp Xã: cán bộ văn phòng UBND kiêm nhiệm cơng tác lƣu trữ. Cán bộ văn phịng UBND
có nhiệm vụ: Thực hiện các văn bản hƣớng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan nhà nƣớc cấp trên, bảo
quản an toàn và phục vụ nhu cầu sử dụng của độc giả các tài liệu hình thành trong hoạt động của
UBND Xã.

2.4. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.4.1. Sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Một là, nhằm duy trì và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nƣớc Việt Nam, nâng cao năng lực
lãnh đạo, quản lý điều hành của tất cả các khâu trong hệ thống chính trị; đấu tranh chống quan liêu,
tham những, tiêu cực, lãng phí, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nƣớc. Chúng ta phát triển đi lên
chủ nghĩa xã hội từ chế độ phong kiến, nên ít nhiều còn ảnh hƣởng bởi tƣ tƣởng phong kiến, bộ máy
nhà nƣớc cũng vậy. Tệ tham ơ, lãng phí, quan liêu là cái xấu của xã hội cũ để lại, nó nhƣ một cái ung
nhọt cịn sót lại trên cơ thể (theo Hồ Chủ tịch). Vì vậy, xây dựng nhà nƣớc pháp quyền với mục đích
đề cao việc tuân thủ pháp luật, ngay cả cơ quan nhà nƣớc, để hạn chế những dƣ âm mà xã hội cũ để
lại.
Hai là, thúc đẩy mạnh mẽ cải cách kinh tế - xã hội, xây dựng nền kinh tế thị trƣờng, chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Tính tất yếu khách quan của vấn đề này xuất phát từ nhu cầu
phát triển kinh tế thị trƣờng, mà ở đó nếu pháp luật không bảo vệ ngƣời làm kinh tế hay pháp luật
khơng cơng bằng thì khơng thể phát triển đƣợc. Hơn nữa, nhu cầu hội nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta
phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách Nhà nƣớc, cải cách pháp luật, đảm bảo cho Nhà nƣớc khơng ngừng
vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững
độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế. Nói rõ hơn, là chỉ có pháp luật và nhà



21
nƣớc pháp quyền mới tạo ra hành lang pháp lý an tồn (vừa bảo vệ mình vừa bảo vệ đối tác) để xây
dựng mối quan hệ giao lƣu, hợp tác lành mạnh.
Ba là, sau nhiều năm đấu tranh chống ngoại xâm, quyền tự do, dân chủ, quyền con ngƣời
không lúc nào nhƣ hiện nay cần đƣợc đề cao. Mà muốn đảm bảo tự do, dân chủ và nhân quyền thì
khơng có con đƣờng nào khác là phải xây dựng nhà nƣớc pháp quyền. Đặc trƣng của nhà nƣớc pháp
quyền đã chứng minh điều này.
Tóm lại, tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xuất phát
từ định hƣớng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhằm
xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nƣớc mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh". Chúng ta ý thức
sâu sắc rằng, để xây dựng đƣợc một chế độ xã hội có tính mục tiêu nhƣ vậy thì cơng cụ, phƣơng tiện
cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trƣờng và một Nhà nƣớc pháp quyền dƣới sự lãnh đạo của Đảng
trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
2.4.2. Những định hướng cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định:“Tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Xây dựng Nhà nƣớc
trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng và hoàn thiện nền quản trị
quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả”. Định hƣớng trên thể hiện quyết tâm và ý chí cao của Đảng
trong xây dựng và hồn thiện Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Tính đúng đắn và cơ sở khoa học của định hƣớng xây dựng và hoàn thiện
Nhà nƣớc pháp quyền thể hiện ở các điểm sau đây:
- Nhà nƣớc pháp quyền với các giá trị của nó nhƣ tính thƣợng tơn pháp luật, bảo vệ quyền con
ngƣời - đã trở thành một giá trị phổ biến trong xã hội hiện đại, là biểu hiện cao của trình độ dân chủ,
văn minh nhân loại. Tính tất yếu khách quan trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền
XHCN ở Việt Nam thể hiện trong quá trình lịch sử của nƣớc ta: ngay từ thời mới lập nƣớc, Nhà nƣớc
ta đã luôn dựa trên nền tảng pháp luật, tôn trọng trật tự hiến pháp, pháp luật. Xây dựng Nhà nƣớc
pháp quyền là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, Nhà nƣớc ta trong bối cảnh hiện nay. Sự lựa chọn

Nhà nƣớc pháp quyền phù hợp với định hƣớng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nƣớc ta, ln phấn
đấu vì mục tiêu xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
- Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách Nhà nƣớc,
cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nƣớc không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có
hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội
nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.
- Tiếp tục xây dựng và từng bƣớc hoàn thiện nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam. Đó là Nhà nƣớc
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đƣa đất
nƣớc phát triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng nêu cao quyết tâm về xây dựng Nhà
nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam. Các Đại hội VIII, IX, X, XI, XII và Văn kiện Đại hội XIII tiếp
tục chủ trƣơng kiên định đó.
- Xây dựng Nhà nƣớc trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả - những
tiêu chí này phù hợp với yêu cầu về Nhà nƣớc trong bối cảnh kinh tế thị trƣờng, toàn cầu hoá hiện


×