Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Hành động trách của các nhân vật giao tiếp trong ca dao Nam Bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.26 MB, 8 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GỊN
SAIGON UNIVERSITY
TẠP CHÍ KHOA HỌC
SCIENTIFIC JOURNAL
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
OF SAIGON UNIVERSITY
Số 79 (01/2022)
No. 79 (01/2022)
Email: ; Website: />
HÀNH ĐỘNG TRÁCH CỦA CÁC NHÂN VẬT GIAO TIẾP
TRONG CA DAO NAM BỘ
Critical acts of characters in Southern folk songs
TS. Trần Đức Hùng(1), Trần Chánh Băng(2)
Trường Đại học Đồng Tháp

(1)

(2)Học

viên cao học Trường Đại học Đồng Tháp

TÓM TẮT
Ca dao Nam Bộ vốn là kho tàng văn hóa quý giá của dân tộc Việt Nam nói chung, người dân Nam Bộ
nói riêng. Những bài ca dao Nam Bộ từ trước đến nay đã đi vào tâm tư tình cảm, cách ứng xử của con
người nơi đây. Nghiên cứu hành động trách trong ca dao Nam Bộ không chỉ giúp khảo sát được số
lượng và tìm ra những đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của hành động trách mà cịn giúp chúng ta
thấy được những nét văn hóa, tính cách con người Nam Bộ thơng qua cứ liệu ngơn ngữ trong ca dao.
Từ khóa: ca dao, hành động trách, Nam Bộ, ngữ nghĩa, nhân vật
ABSTRACT
Southern folk songs are embedded in Vietnam’s cultural treasure in general and of the Southern people
in particular. This poetic genre has long been attached to the local people’s conducts and affections.


Research on critical acts in this corpus not merely provides the quantity of features regarding the
linguistic patterns and meanings of the act type, but also uncovers the Southern people’s culture and
qualities.
Keywords: folk songs, critical act, Southern, semantic, character

của con người Nam Bộ. CDNB với những
đặc trưng vốn có, đã trở thành một đề tài
mn thưở cho những ai yêu quý và cảm
mến vùng đất này. Đến với CDNB, ta bắt
gặp ngay những hình ảnh mộc mạc, chân
quê, những cách nói chân chất, thật thà của
con người vùng Nam Bộ nhưng cũng
không kém phần tinh tế, ý nhị. Sự mộc
mạc, giản đơn mà tinh tế, ý nhị ấy chính là
nét đẹp tâm hồn của con người Nam Bộ.
Những bài CDNB từ trước đến nay đã đi
vào tâm tư tình cảm, cách ứng xử của con
người nơi đây. Vì vậy, tìm hiểu CDNB là

1. Mở đầu
Ca dao Việt Nam được xem là tấm
gương phản ánh trung thực hình ảnh thiên
nhiên, đất nước, con người Việt Nam. Vì
thế, ca dao mỗi vùng miền ln có những
đặc trưng riêng biệt phản ánh đặc điểm xứ
sở, con người vùng đất ấy. Ca dao Nam Bộ
(CDNB) vốn là kho tàng văn hóa quý giá
của dân tộc Việt Nam nói chung, người
dân Nam Bộ nói riêng. Nó là kết tinh tinh
hoa sáng tạo tinh thần của nhân dân lao

động, là tấm gương phản chiếu môi trường
thiên nhiên, đời sống tư tưởng – tâm hồn
Email:

43


SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY

No. 79 (01/2022)

ta đã chạm đến những góc khuất trong tâm
hồn người dân ở miền sơng nước này.
Trong những năm gần đây, việc
nghiên cứu tiếng Việt dưới góc độ sử
dụng ngơn ngữ trong thực tế nói chung và
nghiên cứu hành động ngơn ngữ nói riêng
đã thu hút được nhiều sự quan tâm, nhất là
các hành động ngôn ngữ riêng biệt như
hành động khen, cam kết, điều khiển, bộc
lộ,... tuy nhiên, cần có những nghiên cứu
chuyên sâu về đặc điểm của các hành
động ngôn ngữ trong ca dao, nhất là ca
dao các vùng địa phương. Trong phạm vi
bài viết này, chúng tôi nghiên cứu những
đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của
hành động trách trong CDNB để thấy
được những thói quen tư duy, hành động,
cũng như nét văn hóa, tính cách riêng của
con người nơi đây.

2. Cấu trúc và ngữ nghĩa hành động
trách của các nhân vật giao tiếp trong ca
dao Nam Bộ

2.1. Cấu trúc hành động trách của các
nhân vật giao tiếp trong ca dao Nam Bộ
Hành động trách, theo sự phân loại của
Austin, thuộc lớp hành vi ứng xử. Từ điển
tiếng Việt định nghĩa: Trách “Tỏ lời khơng
bằng lịng về người có quan hệ nào đó, cho
là có hành vi, thái độ khơng đúng, khơng
hay, khơng tốt đối với mình hoặc có liên
quan đến mình” (Hồng Phê, chủ biên,
2003). Hành động trách khơng chỉ giới hạn
ở bản thân người nói (trách thân, tự trách)
mà cịn hướng tới các đối tượng xung
quanh có liên quan đến mình.
Khảo sát 5504 dịng thơ trong cuốn Ca
dao – dân ca Nam Bộ của tác giả Bảo Định
Giang (chủ biên), chúng tôi thống kê được
452 hành động trách. Căn cứ vào đặc điểm
cấu trúc, chúng tôi chia biểu thức ngữ vi
trách thành hai dạng cơ bản: biểu thức ngữ
vi trách đầy đủ và biểu thức ngữ vi trách
tỉnh lược. Số lượng cụ thể được thể hiện ở
bảng thống kê sau:

Bảng thống kê số lượng và tỉ lệ của các biểu thức ngữ vi trách
Cấu trúc hành động trách
Số lượng

Tỉ lệ %

Dạng đầy đủ

Dạng tỉnh lược

Tổng số

3

449

452

0.7%

99.3%

100%

chí của con người, nó thể hiện hoạt động
tư duy của mỗi cá nhân. Cấu trúc của
hành động trách dạng đầy đủ được cụ thể
hóa bằng mơ hình như sau:
Sp1+ ĐTNV trách + Sp2 + P
Trong đó:
- Sp1 (A): là vai nói - thực hiện hành
động trách
- ĐTNV trách (B): động từ ngữ vi
trách

- Sp2 (C): là vai nghe - người tiếp
nhận hành động trách

Bảng thống kê cho thấy, biểu thức ngữ
vi trách dạng đầy đủ có số lượng rất ít: chỉ
có 3/452 hành động, chiếm tỉ lệ 0.7%; còn
lại là biểu thức ngữ vi trách dạng tỉnh lược:
449/452 hành động, chiếm tỉ lệ 99.3%.
Những số liệu trên cho chúng ta thấy biểu
thức ngữ vi trách dạng tỉnh lược chiếm số
lượng ưu thế vượt trội so với biểu thức ngữ
vi trách dạng đầy đủ.
2.1.1. Biểu thức ngữ vi trách dạng đầy
đủ
Trách là dạng hành động thuộc về ý
44


TRẦN ĐỨC HÙNG - TRẦN CHÁNH BĂNG

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

tố P. Mặc dù yếu tố Sp1 đã bị khuyết
nhưng chúng ta vẫn đoán được người trách
là nhân vật nữ trong mối quan hệ tình cảm
với người nghe. Nội dung trách dường như
bị khuyết, bởi vì đây là hành động gián
tiếp, người nói (Sp1) mượn ơng tơ để nói
về số phận hẩm hiu, tình dun khơng
khơng thành (vì những nguyên nhân khác

nhau) của mình.
Trong một số biểu thức ngữ vi có hiệu
lực ở lời là trách nhưng lại khơng có động
từ ngữ vi trách. Cấu trúc này rất đa dạng,
có thể mở đầu bằng đại từ ai dùng để hỏi,
hoặc dùng các từ “sao...” / “... sao...”,
“tại…” / “... tại...”, “bởi...” / “... bởi...”,
“vì...” / “... vì...” hoặc cấu trúc “Hồi nào....
Bây giờ” ...

- P (D): là nội dung trách
Trong CDNB, các nhân vật giao tiếp
sử dụng hành động này rất ít, chỉ có 0.7%.
Điều này cho chúng ta thấy được đây là
kiểu công thức khuôn phép, có tính trung
hịa về sắc thái:
(1) Tơi trách anh bạn đảo điên [CDNB, tr. 239]
A B
C
D
(2) Em trách ai non dạ kiếm tìm [CDNB, tr. 249]
A B C
D
(3) Đêm nằm em trách ơng trời xanh,
A B
C
Ơng sắp làm chi anh đầu non, em góc núi,
Để kẻ đi tắt về quanh một mình. [CDNB,
tr. 312]
D

Như vậy, biểu thức ngữ vi trách đầy đủ
thường dùng ở những đối tượng giao tiếp
mang tính chất xã giao, những người chưa
thân thiết và thường không phân biệt vị thế
cao thấp trong giao tiếp. Do đó, các nhân
vật mặc dù trách đối phương nhưng vẫn thể
hiện phép lịch sự theo văn hoá giao tiếp
ứng xử hằng ngày.
2.1.2. Cấu trúc hành động trách dạng
tỉnh lược
Trách thuộc nhóm hành động đe dọa
thể diện người nghe, do đó người nói phải
lựa cách nói như thế nào đó để tránh được
mức tối đa đến việc làm mất lịng người
nghe. Vì vậy, trong thực tế giao tiếp, các
nhân vật thường dùng nhiều biểu thức ngữ
vi trách dạng tỉnh lược.
Cấu trúc của biểu thức ngữ vi trách
này có thể tỉnh lược thành tố Sp1 hoặc tỉnh
lược cả Sp1 và P. Ví dụ:
(4)
Đêm nằm phiền trách ơng tơ,
Biểu ơng xe đây vợ, đó chồng, ông không.
[CDNB, tr. 260]
Trong bài ca dao trên, biểu thức ngữ vi
trách ông tơ được thể hiện thành mô hình:
ĐTNV trách + Sp2. Trong mơ hình này,
chúng ta thấy khuyết thành tố Sp1 và thành

(5)


(6)

(7)

Ai làm cho đó bỏ đăng,
Cho con áo trắng bỏ thằng áo xanh.
[CDNB, tr. 155]
Con cá lành canh bỏ hành thơm nhẹ,
Sao em nỡ đành bỏ mẹ theo trai.
[CDNB, tr. 461]
Hồi nào một gối đôi đầu,
Bây giờ bỏ thảm bỏ sầu cho em.
[CDNB, tr. 299]

Như vậy, trong ca dao Nam Bộ, hành
động trách dạng tỉnh lược được các nhân
vật sử dụng nhiều và có cấu trúc đa dạng.
Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú nên
hành động trách cũng có nhiều cách biểu
hiện khác nhau. Mỗi hành động trách là
một chiến lược riêng của nhân vật giao tiếp.
Điều này cho thấy tác giả dân gian đã sử
dụng từ ngữ một cách khéo léo, linh hoạt.
2.2. Các nhóm ngữ nghĩa của hành
động trách qua lời thoại nhân vật trong
ca dao Nam Bộ
Trong ca dao, ngữ nghĩa của hành
động ngơn ngữ có thể là nghĩa tường mình
hay hàm ngơn. Trong đó, nghĩa hàm ngơn

45


SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY

No. 79 (01/2022)

được hiểu là: “nghĩa thực của một phát
ngơn có thể suy ra trên một cấu trúc bề mặt
cụ thể, gắn với một ngữ cảnh cụ thể” (Đỗ
Thị Kim Liên, 1999).
2.2.1. Trách những việc làm, cách đối
xử không đúng, không hay
Những cách đối xử không phải, những
cách xử sự không hay, không đúng cũng
được thể hiện khá nhiều trong ca dao. Khi
gặp những việc làm cảm thấy không phải,
không đúng người ta cũng thường buông
lời trách móc.
(8)
Bậu khoe nhan sắc bậu đắt chồng,
Qua khơng ế vợ, bậu đừng hịng bẻ bai.
[CDNB, tr. 184]
Ví dụ (8) là hành động trách của nhân
vật nam đối với nhân vật nữ. Theo Từ điển
Từ ngữ Nam Bộ, bậu có nghĩa là: “Tiếng
gọi người tiếp chuyện với mình, khác giới
tính, có ý thương mến, thân mật, cách nói
xưa “qua, bậu” được dùng xưng gọi trong
quan hệ vợ chồng, người yêu” (Huỳnh

Cơng Tín, 2009); qua có nghĩa là: “Từ
người lớn dùng để tự xưng một cách thân
mật với người nhỏ, hoặc cách tự xưng có
đơi tính chất khách quan, nhưng thân tình”
(Huỳnh Cơng Tín, 2009). Ở đây, chàng trai
trách cơ gái khoe nhan sắc để hàm ý chê
bai chàng trai không phù hợp. Tuy đây là
lời trách nhẹ nhàng nhưng lại sâu sắc của
chàng trai. Điều này đã thể hiện tính cách
thẳng thắn của người dân Nam Bộ.
2.2.2. Trách vì khơng được hiểu ý,
khơng hài lịng, khơng thỏa mãn
Như đã nói ở trên, trách là hành động
ngơn ngữ nhằm nói lên, nói ra những điều
khơng vừa ý, khơng bằng lịng của bản
thân. Vì thế, khi khơng hài lịng, nhân vật
trữ tình sẽ thể hiện hành động trách.
(9)
Ngó lên sao tỏ trăng lờ,
Duyên đây bớ bậu, bậu chờ duyên đâu?
[CDNB, tr. 332]

Ví dụ (9) là hành động trách của nhân
vật nam đối với nhân vật nữ vì đã khơng để
ý đến mình. Chàng trai trong bài ca dao
này đem lịng thương cơ gái, nhưng cơ gái
lại khơng đáp lại tấm chân tình của chàng
trai.
2.2.3. Trách con cái bất hiếu
CDNB phản ánh mọi mặt đời sống xã

hội của con người Nam Bộ, hầu hết các
vấn đề trong cuộc sống đều được đưa vào
ca dao và khi nói về hành động trách trong
ca dao thì các chủ đề liên quan đến tình
cảm gia đình, đạo đức, lối sống... luôn
được đặt lên hàng đầu.
(10) Con cá lành canh bỏ hành thơm nhẹ,
Sao em nỡ đành bỏ mẹ theo trai.
[CDNB, tr. 461]
Trong ví dụ (10), đây là lời trách của
nhân vật nam đối với nhân vật nữ vì đã bất
hiếu với người mẹ của mình. Từ đành
trong tiếng Việt là từ đa nghĩa: “1. Miễn
cưỡng bằng lịng vì suy tính thấy khơng
thể khác được; 2. Vừa lịng; 3. Đang tâm”
(Hồng Phê, chủ biên, 2003). Từ đành
trong bài ca dao trên dùng ở nghĩa thứ ba
là đang tâm. Điều này cho thấy nhân vật
nữ đã phụ lòng, quên đi công lao dưỡng
dục của người mẹ, một người đã sớm hơm
tần tảo ni nấng chăm sóc. Cơ gái vì
tiếng gọi của tình yêu mà bỏ mẹ bơ vơ
một mình.
2.2.4. Trách lịng người phụ bạc, thay
đổi
Trong tình cảm, chuyện hợp rồi tan
khơng phải là điều q mới mẻ. Có những
người yêu nhau, đến với nhau hạnh phúc,
cũng có những người yêu nhau nhưng
không thể đến được với nhau. Nguyên

nhân có thể từ phía người nam hoặc người
nữ. Tuy nhiên, suy cho cùng, khi khơng
đến được với nhau thì họ thường đổ lỗi và
trách móc nhau.
46


TRẦN ĐỨC HÙNG - TRẦN CHÁNH BĂNG

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Kể từ ngày anh đau bịnh ban cua
lưỡi trắng, miệng đắng cơm hôi,
Em đến đây đỡ đứng bồng ngồi,
Sao giờ anh ở bạc,
Duyên nợ đổi dời không vui.
[CDNB, tr. 440]
Bài cao dao (11) là lời trách của nhân
vật nữ đối với nhân vật nam vì đã phụ bạc
mình. Nhân vật nữ nhớ lại quá khứ cuộc
sống gắn bó, trải qua nhiều gian nan vất vả
của hai người. Cơ gái đã từng phải cực khổ
để chăm sóc chàng trai khi bị đau ốm, cơ
hàn. Tuy nhiên, chàng trai đã khơng giữ
tình nghĩa trọn vẹn mà thay lịng đổi dạ,
quên đi những ngày tháng cực khổ mà hai
người đã từng trải qua. Điều này cho chúng
ta thấy được trong chuyện tình cảm, phụ nữ
thường ln phải chịu thiệt thịi. Bên cạnh
đó, các nhân vật trữ tình cịn thể hiện hành

động trách vì lịng người cũng có khi thay
đổi.
(12)
Áo bà ba cái ngắn, cái dài,
Sao anh không bận, bận chi hồi
chiếc áo bành tơ.
[CDNB; 175]
Người dân Nam Bộ từ những ngày
đầu lập nghiệp đã tạo ra chiếc áo bà ba để
thích nghi, thuận tiện trong lao động sản
xuất. Áo bà ba được dùng phổ biến, lâu
dần trở thành trang phục thân quen của
người dân vùng đất này. Theo quan hệ
hoán dụ, áo bà ba dùng để chỉ người Nam
Bộ. Cho nên, áo bà ba thể hiện cách sống
dung dị, phóng khoáng của con người
trên vùng đất phương Nam Tổ quốc.
Ngược lại, áo bành tô là sản phẩm được
du nhập từ phương Tây, nên nó được dùng
biểu trưng cho sự sang trọng, q phái.
Qua những hình ảnh đó, cơ gái muốn trách
chàng trai vì ham cuộc sống giàu sang mà
đã thay lòng, đổi dạ, quên đi quá khứ cực
khổ mà hai người đã vượt qua.

2.2.5. Trách hành động của cha mẹ
đối với con cái
Cha mẹ là đấng sinh thành có cơng lao
nuôi dưỡng và luôn mong muốn những
điều tốt đẹp đến với con của mình. Tuy

nhiên, trong cuộc sống, có những lúc quan
hệ gia đình khơng cịn ngun vẹn vì cha
mẹ và con cái khơng hịa hợp với nhau
hoặc có những cha mẹ vì cuộc sống của
bản thân mình mà bỏ rơi con cái...
(13)
Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo, đôi ta chút bẻo lại gần,
Tại cha với mẹ bng cần đứt dây.
[CDNB, tr. 415]
Ở ví dụ (13) này, qua cách xưng hơ,
chúng ta có thể nhận ra mối quan hệ gần
gũi của các nhân vật. Sp1 xuất hiện trong
ví dụ trên đang ở vai dưới, tức là vai con có
hành động trách đối với Sp2 đang ở vai
trên, tức là cha, mẹ. Nội dung trách ở đây
là tại cha với mẹ buông cần đứt dây. Đây
là cách dùng ẩn dụ để trách cha mẹ đã có
hành động ngăn cản làm cho tình dun
đơi lứa từng trải qua bao khó khăn, gian
khổ nay lại bị đứt dây. Bên cạnh đó, hình
ảnh cầu ván và cầu tre khơng chỉ biểu
trưng cho sự khó khăn vật chất trong cuộc
sống mà cịn biểu trưng cho sự khó khăn,
trắc trở trong quan hệ tình yêu nam nữ.
Cuộc sống vốn dĩ như vậy, những người
nghèo khổ thường phải chịu thiệt thịi,
ngay cả trong tình yêu.
Truyền thống gia đình là điều đáng để
nâng niu, trân trọng. Ni nấng con cái

chính là nền tảng đạo đức, là trách nhiệm
của người bố người mẹ. Tuy nhiên, trong
cuộc sống, khơng phải bậc làm cha mẹ nào
cũng làm trịn trách nhiệm của mình. Hình
ảnh cha mẹ bỏ rơi chính những đứa con
của mình vẫn thường diễn ra trong cuộc
sống hiện thực và được tái hiện lại trong
CDNB.

(11)

47


SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY

No. 79 (01/2022)

Nước nóng đổ miệng bình vơi,
Tơi ngồi tơi nghĩ tía tơi, tơi buồn.
Tía tơi dở dại dở khôn,
Say mê tinh chồn bỏ mẹ con tôi.
[CDNB, tr. 468]
Con cái trách cha mẹ là điều không
nên, nhưng đối với những việc làm sai trái
thì đáng để lên án. Người cha trong ví dụ
(14) đã say mê tinh chồn mà bỏ rơi con cái,
bỏ lại cả hạnh phúc gia đình sau lưng.
Trong bài ca dao, nhân vật tôi mặc dù trách
nhưng vẫn gọi đấng sinh thành của mình là

tía - một cách xưng hơ thân mật, dân dã
của người Nam Bộ. Theo Từ điển Từ ngữ
Nam Bộ, tía được hiểu là: “cha, cách xưng
gọi người đàn ơng có con, trong quan hệ
cha - con” (Huỳnh Cơng Tín, 2009). Người
dân Nam Bộ vốn là người dân miệt vườn
với bản tính hiền hậu, chất phác, khơng
phơ trương hoa mỹ. Cách xưng hô ấy phần
nào biểu hiện sự chất phác, mộc mạc, thật
thà trong con người họ.
2.2.6. Trách đấng siêu nhiên
Từ xa xưa, đối với con người, đấng
siêu nhiên là đối tượng ln được kính
trọng, được tơn thờ, là chủ đề của nhiều tác
phẩm văn học nghệ thuật và là nguồn cảm
hứng của rất nhiều cơng trình nghệ thuật
khác nhau. Trong ca dao, đấng siêu nhiên,
mà cụ thể là Trời, Đất xuất hiện nhiều và
mang ý nghĩa trữ tình, chuẩn bị tâm cảnh
để nhân vật chính bộc lộ cảm xúc. Tuy
nhiên, các đấng siêu nhiên đôi khi cũng trở
thành đối tượng bị trách cứ.
(15) Cây da trốc gốc, thợ mộc đang cưa,
Gặp em đứng bóng ban trưa,
Trách ơng trời vội tối, phân chưa hết lời.
[CDNB, tr. 208]
Trong tình yêu, khi tình cảm của hai
người khơng được trọn vẹn thì bất cứ mọi
thứ cản trở đều trở thành đối tượng trách.
Trong ví dụ (15), người thực hiện hành


động trách là nhân vật nam. Ở đây ông trời
cũng trở thành đối tượng cản trở cuộc gặp
gỡ trị chuyện của các cặp đơi. Đối với
những người yêu nhau thì thời gian khi họ
ở bên nhau trôi rất nhanh, nên lúc nào họ
cũng muốn thời gian được kéo dài thêm.
Tuy nhiên, sự vận động của mặt trời vẫn
luôn theo một quỹ đạo nhất định. Thực
chất, người con trai mượn cớ trách ông trời
là để thể hiện tình cảm của mình đối với
người con gái mình u mà thơi.
Trong hành động trách, người dân Nam
Bộ rất linh hoạt ở việc lựa chọn những từ
ngữ chỉ mức độ giảm nhẹ, giảm về kích
thước để nhằm thể hiện thái độ, tình cảm
của mình. Những từ được lựa chọn ở đây
vừa gợi hình, gợi cảm, lại vừa bình dị, gần
gũi, thân thương. Từ đó, chúng ta có thể
thấy được một nét đẹp trong tính cách cũng
như văn hóa ứng xử của người Việt ở vùng
đất Nam Bộ đó là trọng tình cảm. Cho nên,
nếu có trách khơng tốt thì đối tượng bị
trách cũng khơng có cảm giác nặng nề,
khó chịu.
2.2.7. Trách người mai mối
Trong các bài ca dao, hành động trách
liên quan đến ông tơ bà nguyệt xuất hiện
tương đối nhiều. Chủ đề này thể hiện một
quan niệm về hơn nhân, đó là định số. Việc

kết hơn khơng phải muốn là được, cũng
không phải từ chối là xong, phải chăng tất
cả đều do một lực lượng siêu nhiên huyền
bí sắp đặt. Niềm tin này thực chất là tiếng
vang của chế độ hôn nhân cổ truyền, một
chế độ hôn nhân mà đơi nam nữ trong cuộc
khơng có quyền quyết định. Vì vậy, nhân
vật trữ tình trong ca dao ứng xử với ơng tơ
bà nguyệt theo quy luật: khi tình u tốt
đẹp thì các chàng trai và cơ gái chấp nhận
định số, ông tơ bà nguyệt đã quyết định
đúng đắn; khi tình u tan vỡ hoặc khơng
thành thì họ sẽ oán trách ông tơ bà nguyệt,

(14)

48


TRẦN ĐỨC HÙNG - TRẦN CHÁNH BĂNG

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GỊN

có nghĩa định số là một cái gì đó sai lầm,
bất cơng của tạo hóa.
(16)
Đêm nằm phiền trách ơng tơ,
Biểu ơng xe đây vợ, đó chồng, ơng khơng.
[CDNB, tr. 260]
Ví dụ (16) là lời của nhân vật nữ trách

ơng tơ vì khơng xe dun cho cơ với người
thương. Trong dân gian, ông tơ được xem
là “người chuyên dùng dây tơ hồng xe
duyên cho người đời, theo một truyền
thuyết Trung Quốc; Nguyệt Lão” (Hoàng
Phê, chủ biên, 2003). Trong bài ca dao
trên, qua cách dùng từ biểu, chúng ta có thể
thấy được sự mộc mạc giản dị trong cách
nói của người dân Nam Bộ. Tác giả dân
gian dùng cách nói trên để thể hiện những
tâm sự của mình. Điều này cho chúng ta
thấy được tâm hồn những con người Nam
Bộ hồn hậu, họ là những chàng trai, cô gái
rất cụ thể. Những nhân vật trữ tình ấy đã
trở thành biểu tượng của tình u, của lịng
chung thủy, của cốt cách, phẩm hạnh. Tuy
nhiên, có những đơi lứa phải sống xa cách,
gặp bất trắc trong tình yêu.
(17)
Xa nàng vì bởi mối mai,
Ơng mai ít tiếng, bà mai ít lời.
[CDNB, tr. 419]
Ông mai, bà mai cũng là hai nhân vật
chuyên làm môi giới cho việc hôn nhân
theo cách gọi của người Nam Bộ. Bài ca
dao (17) là lời trách cứ nhẹ nhàng của nhân
vật nam đối với ông mai, bà mai vì ít lời,
khơng làm trịn nhiệm vụ của mình. Thơng
qua hành động trách, chúng ta có thể thấy
được tâm trạng đau khổ của chàng trai khi

không thể đến được với người mình u.
Do đó, việc trách ơng mai, bà mai được
xem như là lời biện hộ cho một câu chuyện
tình u có kết thúc khơng đẹp.
2.2.8. Tự trách
Nếu những nhóm hành động trách đã
nêu ở trên, người trách đều hướng tới một

đối tượng cụ thể, đối tượng ấy thường ở
ngôi thứ hai hoặc ngơi thứ ba thì đối với
hành động tự trách, người trách lại hướng
nội dung trách vào chính bản thân mình, tức
là ngơi thứ nhất. Hành động tự trách trong
ca dao thường mang ý nghĩa khơng hài lịng
hay cảm thấy hối hận của các nhân vật trữ
tình vì những điều tự mình đã gây ra.
(18)
Ngó lên đàng tóc rẽ tư,
Tại bụng em từ, chẳng phải tại anh.
[CDNB, tr. 331]
Ví dụ (18) là lời trách của nhân vật nữ
tự trách bản thân mình. Đây có lẽ là sự kết
thúc không đẹp của một mối quan hệ giữa
cô gái và chàng trai. Tuy nhiên, thay vì trách
chàng trai, trách những ngun nhân khác,
cơ gái lại tự trách bản thân mình, nghĩa là tự
nhận phần thiệt thịi về mình. Đó là lời bộc
lộ rất chân thành được thốt ra từ đáy lịng
của một con người giản dị và có suy nghĩ
chín chắn trong tình u. Chính cách nói tự

nhiên, khơng trau chuốt, gọt dũa, khơng cầu
kỳ đó mà bài ca dao đã giành được nhiều
tình cảm của người tiếp nhận.
2.2.9. Trách yêu
Trách yêu cũng là một hành động
mang nội dung trách nhưng lại khơng
nhằm mục đích là trách. Trách u là một
cách nói để thể hiện tình cảm với đối tượng
một cách tế nhị, sâu sắc, kín đáo. Nội dung
của những bài ca dao trách yêu không phải
để tỏ lời không hài lịng, khơng thỏa mãn
mà trái lại, đó là những điều mà người
trách đang thể hiện sự hài lòng, thỏa mãn
và thích thú đối với đối tượng được trách.
Đây là hành động hướng tới sự tích cực.
Mối quan hệ giữa người trách và người
được trách thường là những mối quan hệ
gần gũi thân thiết.
(19)
Trời sanh cái nón đội đầu,
Sao anh không đội, nhức đầu ai nuôi.
[CDNB, tr. 408]
49


SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY

No. 79 (01/2022)

Ví dụ (19) là hành động trách yêu của

nhân vật nữ dành cho nhân vật nam. Cô gái
đã dùng đại từ nghi vấn sao và ai để hờn
trách chàng trai. Ở đây, cô gái muốn tỏ ra
mạnh mẽ, thẳng thắn đối với chàng trai
nhưng bên trong lại yếu đuối muốn được
người mình yêu quan tâm, chăm sóc, chia
sẻ. Đây là hành động trách nhẹ nhàng vừa
thể hiện sự quan tâm, vừa thể hiện tình u
gắn bó của cơ gái đối với chàng trai.
(20)
Tóc em dài sao em khơng bới,
Để chi hồi bối rối dạ anh.
[CDNB, tr. 494]
Tục ngữ Việt Nam có câu: "Cái răng
cái tóc là góc con người". Đúng vậy, mái
tóc là một trong những hình thức bên ngồi
của con người tạo ấn tượng tốt trong q
trình tiếp xúc. Thơng thường mái tóc dài
được xem là một trong những “tiêu chuẩn
cứng” để các chàng trai chọn người yêu,
chọn bạn đời. Một cô gái có mái tóc dài
đẹp thường gắn với hình dáng đẹp, thùy
mị, dễ thương… nên rất dễ được các anh
chàng để ý. Trong ví dụ (20), hình ảnh mái
tóc dài của cô gái là cái cớ để thể hiện hành
động trách yêu. Đây là cách chàng trai
dùng để bày tỏ tình cảm của mình.
3. Kết luận
Tóm lại, trách là một hành động tất


yếu trong cuộc sống của con người. Trong
hành động trách của mỗi nhân vật, sự tốt,
xấu, tích cực hay tiêu cực của sự vật phụ
thuộc vào quan hệ trong từng tình huống
giao tiếp cụ thể, cũng như thái độ, tình cảm
của các nhân vật giao tiếp và cịn bị chi
phối bởi đặc trưng văn hóa của vùng miền.
Nội dung của hành động trách trong CDNB
được thể hiện rất đa dạng, phong phú, thể
hiện “khả năng lựa chọn từ ngữ của tác giả
dân gian với sắc thái ngữ nghĩa tinh tế
nhằm phản ánh các mặt của đời sống tâm
hồn, đồng thời thể hiện tư tưởng, tình cảm,
cảm xúc của chủ thể trữ tình mang đặc
trưng riêng của vùng đất Nam Bộ” (Trần
Đức Hùng và Trần Thanh Vân, 2019). Qua
khảo sát hành động trách trong CDNB,
chúng tôi cũng rút ra được một số nét đặc
trưng văn hóa vùng miền của người Nam
Bộ. Đó là lối ứng xử mang đậm bản sắc
văn hóa của cư dân vùng sơng nước: ln
lấy tình cảm làm trọng, sống cởi mở,
phóng khống. Nội dung ngữ nghĩa và cách
thể hiện hành động trách gắn liền với
những nếp nghĩ, thói quen sử dụng từ ngữ
hàng ngày và văn hóa ứng xử mang đặc
trưng riêng của người Việt ở vùng đất Nam
Bộ, một vùng đồng bằng rộng lớn ở phía
Nam của Tổ quốc.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Thị Kim Liên (1999). Ngữ nghĩa lời hội thoại. Hà Nội: NXB Giáo dục.
Hoàng Phê (chủ biên) (2003). Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng.
Huỳnh Cơng Tín (2009). Từ điển từ ngữ Nam Bộ. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.
Trần Đức Hùng và Trần Thanh Vân (2019). Từ địa phương trong thơ ca dân gian Nam Bộ,
những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.
NGỮ LIỆU
Bảo Đình Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh và Bùi Mạnh Nhị (1984). Ca dao - dân
ca Nam Bộ. TP Hồ Chí Minh: NXB TP Hồ Chí Minh.
Ngày nhận bài: 10/9/2021

Biên tập xong: 15/01/2022
50

Duyệt đăng: 20/01/2022



×