1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế có vị trí, vai trò quan trọng
trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nhất là, trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay, phát triển kinh tế tư nhân
là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng và
Nhà nước ta.
Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, là sản phẩm lý luận gắn liền với thực tiễn. Những
thành tựu kinh tế quan trọng đạt được, qua gần 30 năm đổi mới của đất nước
là bằng chứng sinh động, xác nhận một cách thuyết phục, sự khởi sắc của
nền kinh tế nói chung và triển vọng tiềm năng của kinh tế tư nhân nói riêng.
Bởi vậy, có thể khẳng định, đối với nước ta, phát triển kinh tế tư nhân là vấn
đề có ý nghĩa chiến lược, lâu dài và là nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình
xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế tư nhân phát triển đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển
chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội như: Huy động được nhiều nguồn vốn
đầu tư với số lượng lớn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh; góp phần
nâng cao sức sản xuất của xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới, vừa làm tăng
của cải vật chất cho xã hội, vừa làm giảm áp lực giải quyết việc làm cho
người lao động; Thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại thị trường, làm
tăng sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước; Tạo ra sự cạnh tranh
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trên thị trường; Vừa góp phần tạo nên
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa tham gia giải quyết nhiều vấn đề xã hội,
khơi dậy và phát huy được tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm
sản xuất của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Do vậy, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng
2
vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc
dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, kể từ sau khi tỉnh được tái lập
(năm 1997) đã trở thành Trung tâm Chính trị - kinh tế - văn hóa lớn nhất của
tỉnh Vĩnh Phúc. Trong những năm gần đây, kinh tế tư nhân trên địa bàn
Thành phố đã có bước phát triển tích cực, nhất là sau khi Luật doanh nghiệp
có hiệu lực từ năm 2005 đến nay. Kinh tế tư nhân trong các ngành, các lĩnh
vực trên địa bàn thành phố đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội như: Đóng góp vào nguồn thu ngân sách của Thành phố và Tỉnh; giải
quyết việc làm, giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người lao
động; huy động vốn cho đầu tư phát triển; góp phần thực hiện thắng lợi sự
nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Vĩnh phúc.
Tuy nhiên, do đặc thù là một thị xã nhỏ bé trước đây, sau khi trở thành
đô thị loại III vào năm 2004 và thành phố năm 2006, Vĩnh Yên mới có sự
khởi sắc rõ rệt. Hiện tại Vĩnh Yên có 9 đơn vị hành chính, việc phát triển kinh tế
tư nhân cịn có những hạn chế nhất định như: quy mơ sản xuất kinh doanh cịn
nhỏ, trình độ khoa học - cơng nghệ cịn lạc hậu, việc đổi mới công nghệ chậm.
Vấn đề quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trên địa bàn còn chưa được
quan tâm nhiều, nhất là công tác định hướng, hỗ trợ. Việc chấp hành các quy
định pháp luật đối với các doanh nghiệp còn hạn chế, vấn đề cạnh tranh trong
kinh doanh, vấn đề mơi trường, nhận thức dân cư cịn nhiều bất cập, hệ thống kết
cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều yếu kém v.v... Về
cơ chế chính sách đối với các doanh nghiệp cũng cịn có những vướng mắc.
Chính vì thế, cần thiết phải có những giải pháp đồng bộ, để khuyến
khích kinh tế tư nhân ở thành phố phát triển đúng hướng, hiệu quả, góp phần
thúc đẩy kinh tế - xã hội của thành phố cũng như của tỉnh phát triển nhanh
hơn, bền vững hơn. Với những lý do trên: “Kinh tế tư nhân ở thành phố
Vĩnh yên, tỉnh Vĩnh Phúc” được tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của
3
luận văn thạc sĩ kinh tế. Với mong muốn góp phần nghiên cứu, làm rõ vai trò
của thành phần kinh tế này trên địa bàn, đồng thời đưa ra một số giải pháp
nhằm đưa kinh tế tư nhân của thành phố Vĩnh Yên ngày càng phát triển mạnh
hơn nữa, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ của thành
phố và của Tỉnh Vĩnh phúc đã đề ra.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kinh tế tư nhân ở nước ta đã được nhiều tác giả nghiên cứu với những
góc độ, phạm vi khác nhau. Có thể nêu ra những cơng trình tiêu biểu có liên
quan đến đề tài như:
- GS, TS Hồ Văn Vĩnh (năm 2001), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà
nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta. Đề tài cấp Bộ - Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh; tác giả đã khẳng định vai trị to lớn của kinh tế tư nhân,
nêu ra những định hướng phát triển kinh tế tư nhân và những giải pháp về pháp
luật, về chính sách, về tổ chức để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển.
- GS, TS Tơ Xuân Dân và TS Nghiêm Xuân Đạt (Chủ biên), Phát
triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh - Nxb Khoa học và Kỹ
thuật. Nội dung cơng trình nghiên cứu này đã nêu tình hình và các giải pháp
phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đồng thời, đề ra các yêu cầu
về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
- PGS, TS Nguyễn Huy Oánh, Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế. Bài nghiên cứu đã khẳng định vai trò
quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân (trong đó có các doanh nghiệp tư
nhân) và những yêu cầu, giải pháp để phát huy vai trò của kinh tế tư nhân
đối với nền kinh tế của nước ta.
- PGS, TS Nguyễn Đình Kháng (Năm 2002), Kinh tế tư nhân và xu
hướng phát triển của nó trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách tổng kết xu hướng
phát triển kinh tế tư nhân của các nền kinh tế nói chung. Vận dụng trong quá
4
trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Luận giải rõ quan điểm của
Đảng cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trị của kinh tế tư nhân; đề xuất giải
pháp cho giai đoạn 2005 - 2010.
- Đào Quang Vinh (Năm 2002), Doanh nghiệp tư nhân và khả năng giải
quyết việc làm qua một cuộc điều tra, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 190.
Trong bài viết, tác giả đánh giá tổng quan về khả năng giải quyết việc
làm của các doanh nghiệp tư nhân.
- Đoàn Xuân Triếm (Năm 2002), Doanh nghiệp ngồi quốc doanh ở
Quảng Bình: Thực trạng và một số đề xuất về công tác quản lý , Tạp chí Tài
chính, tháng 6-2002. Bài này tác giả đề xuất một số giải pháp để tăng cường
cơng tác quản lý ngồi quốc doanh ở Quảng Bình có hiệu quả hơn.
- Hạ Tiểu Lâm (Năm 2002), Khu vực kinh tế tư nhân Trung Quốc:
Chính sách, q trình phát triển và những trở ngại trước mắt, Tạp trí những
vấn đề kinh tế thế giới, tháng 2-2002.
- Nguyễn Thị Tâm (Năm 2002), Tài chính với sự phát triển của khu
vực tư nhân, Tạp chí Tài chính, số 7-2002.
- TS. Vũ Thị Bạch Tuyết (Năm 2003), Con đường nào cho kinh tế tư
nhân của Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Tài chính, số tháng 4-2003.
Trong cơng trình này, tác giả đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân, từ đó đề
xuất nhằm tháo gỡ những vướng mắc hiện nay, cho khu vực kinh tế tư nhân.
- TS. Nguyễn Hồng Nhung (Năm 2003), Vai trị của Chính phủ trong việc
phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước ASEAN, Tạp chí Nghiên cứu
Đơng Nam Á, số 3. Trong bài viết, tác giả đã phân tích chính sách hỗ trợ, tác giả
rút ra bốn nhận xét quan trọng trong các chính sách hỗ trợ của các nước này.
- TS Nguyễn Minh Phong, Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tổng kết sự phát triển của kinh tế tư nhân trước đổi
mới; Vai trò, ý nghĩa của phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nôi. Đặc biệt nhấn
mạnh yêu cầu và tính tất yếu của phát triển kinh tế tư nhân với phát triển Kinh
tế - xã hội ở Hà Nội.
5
- Nguyễn Thế Quang (Năm 2004), Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước đối với các doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Hà Nội , Tạp
chí Quản lý nhà nước, số 10.
- PGS,TS Vũ Văn Phúc (Năm 2005), Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Tác giả đề cập đến quan niệm về kinh tế tư nhân; bản chất kinh tế tư
nhân; tính tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường; tính hai mặt của sự phát triển kinh
tế tư nhân; thực trạng kinh tế tư nhân và một số giải pháp cơ bản thúc đẩy sự
phát triển kinh tế tư nhân.
- PGS,TS Trịnh Thị Hoa Mai (Năm 2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam
trong tiến trình hội nhập, Nxb Thế giới, Hà Nội. Tác giả đề cập đến những vấn
đề chung về khu vực kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân trong điều kiện
hội nhập, các loại hình doanh nghiệp tư nhân, vốn thực tế của doanh nghiệp tư
nhân thư thế nào, số lượng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.
- Ngơ Thị Hồi Thu (Năm 2005), Mối quan hệ giữa cơ chế tài chính và cơ
chế quản lý đối với doanh nghiệp dân doanh, Tạp chí Thuế Nhà nước, số 4.
Và một số bài báo, tạp chí, luận văn, luận án nghiên cứu về kinh tế tư
nhân ở các Bộ, Ngành, địa phương.
Nhìn chung, các cơng trình, đề tài trên đều nghiên cứu về kinh tế tư nhân
theo nhiều góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, ở nhiều cấp độ khác nhau,
về vị trí, vai trị, thực trạng và đề ra những giải pháp để phát triển kinh tế tư nhân
ở nước ta. Đồng thời, do giới hạn lịch sử các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân
đã có sự thay đổi so với địi hỏi thực tiễn hiện nay. Tuy nhiên, cho đến nay chưa
có một đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu một cách có hệ thống về kinh tế tư
nhân trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, Tỉnh Vĩnh phúc dưới góc độ kinh tế
chính trị.
6
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ vai trị của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế tư
nhân ở thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc, đề xuất giải pháp phát triển kinh
tế tư nhân trên địa bàn thành phố đến năm 2020.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố
Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh phúc trong những năm qua. Từ đó, đánh giá những kết
quả, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của kinh tế tư nhân trên
địa bàn thành phố nói riêng và tỉnh Vĩnh phúc nói chung.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế
tư nhân trên địa bàn thành phố, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh, xứng đáng là trung tâm tỉnh lị của Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: kinh tế tư nhân ở thành phố
Vĩnh Yên dưới góc độ kinh tế chính trị.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu kinh tế tư
nhân, bao gồm DNTN, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc
sở hữu tư nhân và Hộ kinh doanh cá thể (trừ doanh nghiệp nước ngoài) trên địa
bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Các số liệu, tư liệu chủ yếu từ năm
2006 đến năm 2012.
7
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận kinh tế chính trị của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các đường lối, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Và
kết quả tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua hơn 25 năm đổi mới.
Đồng thời, kế thừa có chọn lọc các cơng trình nghiên cứu khoa học đã được
cơng bố có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, các phương pháp của kinh tế chính trị học,
kết hợp với phương pháp lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn và khảo sát thực
tế, phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra, so sánh qua biểu đồ, sơ đồ, đồ thị
minh họa nhằm phản ánh và đánh giá đúng sự phát triển của thành phần kinh
tế tư nhân trên địa bàn thành phố.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Phân tích rõ thêm cơ sở lý luận kinh tế tư nhân trong phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đánh giá khoa học, khách quan thực trạng kinh tế tư nhân trên địa
bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006 -2012.
- Đề ra những giải pháp thiết thực, có tính khả thi, nhằm thúc đẩy kinh tế
tư nhân trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Khi đã được Hội đồng khoa học thơng qua, luận văn này có thể dùng
làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo thành phố và các sở, ban, ngành của tỉnh
8
để hoạch định chiến lược phát triển kinh tế tư nhân và làm tài liệu tham khảo
nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu, nhất là
nhu cầu đầu tư trên địa bàn.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, 08 tiết.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1.1. Quan niệm và bản chất của kinh tế tư nhân
1.1.1.1. Quan niệm về kinh tế tư nhân
* Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong lịch sử thế giới, có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế tư
nhân. Tuy vậy, tiếp cận dưới góc độ lịch sử về kinh tế tư nhân trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin cho thấy: Trước và
sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) trong bối cảnh kinh tế - xã hội của
nước Nga lúc bấy giờ, Lênin cho rằng: có thể chuyển trực tiếp lên Chủ nghĩa
xã hội mà khơng cần phải duy trì nền kinh tế nhiều thành phần, không cần
thiết phải sử dụng quan hệ hàng - tiền v.v.. Vì vậy, sau Cách mạng Tháng
Mười Nga thành công, dựa vào vào đường lối kinh tế trong Luận cương
Tháng Chín do Lênin vạch ra. Song song với việc củng cố chính quyền của
giai cấp vơ sản, Nhà nước Xô Viết đã chuẩn bị tiền đề để xây dựng nền kinh
tế Xã hội chủ nghĩa, thực hiện quốc hữu hố ngay và nhanh chóng tồn bộ
nền kinh tế quốc dân.
Đầu năm 1918, Lênin đã đề ra kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế
trong thời gian trước mắt: Kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng đến
cuối năm 1918, nội chiến nổ ra ở nước Nga (bọn địa chủ, tư bản bị lật đổ đã
nổi dậy chống chính quyền Xơ Viết). Từ bên ngồi 14 nước đế quốc do Anh,
Pháp cầm đầu đã can thiệp vũ trang hịng bóp chết nhà nước Xơ Viết non trẻ.
Cuộc nội chiến nổ ra và sự can thiệp của nước ngoài làm cho nước Nga vốn
đã khó khăn nay lại chồng chất khó khăn hơn. Trước tình hình đó, Lênin đã
10
nêu ra khẩu hiệu: Tất cả cho tiêu diệt kẻ thù và thi hành chính sách Kinh tế
cộng sản thời chiến, mà Nhà nước Xơ Viết có lương thực để cung cấp cho
quân đội và nhân dân đánh thắng thù trong, giặc ngoài. Cuối năm 1920, nội
chiến kết thúc, nước Nga chuyển sang thời kỳ xây dựng chế độ mới, chính
sách Kinh tế cộng sản giờ đây khơng cịn phù hợp, khơng kích thích sản xuất,
nơng dân nhiều nơi đã tỏ ra bất mãn (thể hiện ở cuộc bạo loạn Cronxtat gần
Lêningrat ); khối liên minh cơng nơng có nguy cơ tan vỡ. Trước tình hình đó,
Lênin đã nhận thấy chủ trương quốc hữu hố nhanh chóng, xố bỏ thương
nghiệp tư nhân, nhà nước độc quyền quản lý toàn bộ nông sản và trực tiếp
quản lý nông nghiệp, duy nhất thành một thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa
với hai hình thức sở hữu quốc doanh và tập thể… đã dẫn đến nền kinh tế nước
Nga sau chiến tranh vốn đã kiệt quệ nay lại kiệt quệ hơn. Từ những khó khăn
và thực tế đó, Lênin đã kết luận: khơng thể nơn nóng xố bỏ các thành phần
kinh tế, trực tiếp chuyển sang nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được. Mà phải trải
qua một thời kỳ quá độ và tương ứng với nó là nền kinh tế quá độ nhiều thành
phần. Lênin đã nghiêm khắc phê phán cơ chế kế hoạch hố tập trung, ngăn
sơng cấm chợ. Người nói: chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với
đảng nào muốn áp dụng nó; dại dột vì về phương diện kinh tế, chính trị, chính
sách ấy khơng thể nào thực hiện được; tự sát vì những đảng nào định thị hành
một chính sách như thế nhất định sẽ bị phá sản. Cho nên cần phải trở lại thực
hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội do Lênin đề ra năm 1918. Đại hội X
của Đảng Cộng sản Bơnsêvích Nga (tháng 03/1921) đã chủ trương thay đổi
chính sách Kinh tế cộng sản thời chiến bằng chính sách Kinh tế mới. Lênin
vạch rõ việc chuyển sang chính sách Kinh tế mới chính là chỗ:
Sau cuộc thí nghiệm trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong điều
kiện khó khăn chưa từng thấy, trong điều kiện nội chiến, trong điều
kiện giai cấp tư sản buộc chúng ta phải tiến hành cuộc đấu tranh ác
liệt. Thì đến mùa Xuân 1921 chúng ta thấy rõ chưa nên xây dựng
11
trực tiếp chủ nghĩa xã hội, mà trong nhiều lĩnh vực kinh tế chúng ta
cần phải lùi về chủ nghĩa tư bản nhà nước, từ bỏ biện pháp tấn cơng
chính diện [18, tr.176].
Trong chính sách Kinh tế mới, nội dung cơ bản là bãi bỏ chế độ trưng
thu lương thực. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Những xí
nghiệp nhỏ trước đây đã quốc hữu hố, nay cho tư nhân thuê hay mua lại để
kinh doanh tự do (chủ yếu là xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng). Cho phép tự
lưu thơng hàng hố, cải cách tiền tệ và nâng cao vai trò quản lý kinh tế của
nhà nước.
Từ một nước kinh tế tiểu nông đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất thiết phải
trải qua một thời kỳ quá độ đặc biệt, đầy khó khăn và phức tạp. Lênin cho
rằng: một nước càng ít phát triển thì thời kỳ đó càng dài. Trong thời kỳ quá
độ, tất yếu còn tồn tại những thành phần kinh tế khác nhau. Theo Lênin trong
thời kỳ quá độ: đảng cầm quyền phải nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc
rằng, sự tồn tại và phát triển các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh dựa trên những chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất
và do đó, đối lập nhau về lợi ích là điều hiển nhiên. Không thể dùng ý chí chủ
quan, hay sức mạnh hành chính mà xố bỏ những thành phần kinh tế đó.
Lênin coi sự hình thành, tồn tại và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần trong thời kỳ quá độ là cần thiết và hợp quy luật. Lênin cho rằng: ở một
mức độ nào đó CNTB là khơng thể tránh khỏi và tương ứng với nó vẫn là sở
hữu tư nhân và kinh tế tư nhân. Các thành phần thuộc kết cấu kinh tế - xã hội
thời đó bao gồm: “Nơng dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính
chất tự nhiên; sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó đại đa số nông dân bán lúa
mỳ); CNTB tư nhân; CNTB nhà nước; CNXH” [18, tr.284].
Tuy đã khái quát 5 thành phần kinh tế của nước Nga như vậy, song
V.I.Lênin đã khái quát trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội tại các nước khác
nhau, số lượng và tỷ trọng các thành phần kinh tế tồn tại ở các nước đó cũng
12
không nhất thiết giống nhau, trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Song về
cơ bản đối với các nước có 3 thành phần kinh tế chủ yếu là: Thành phần kinh tế
xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế tư bản tư nhân, thành phần kinh tế sản
xuất hàng hố nhỏ.
Như vậy, Lênin khơng khẳng định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là
cơ cấu bất biến mà đó là cơ cấu động và mở. Từ đó, phải quan niệm và xác
định mỗi nước trong thời kỳ quá độ có bao nhiêu thành phần kinh tế, phải tuỳ
thuộc vào trình độ phát triển của mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản
xuất và lực lượng sản xuất của từng nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Trong cơ cấu các thành phần kinh tế đó, mỗi thành phần kinh tế là một bộ
phận, một mảnh, một kiểu kết cấu kinh tế - xã hội có vị trí quan trọng nhất
định và có quan hệ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn có tác động lẫn
nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất. Vị trí, vai trò của từng thành
phần kinh tế sẽ thay đổi cùng với sự biến đổi của cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó, Lênin cho rằng khơng
chỉ và khơng thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng những người cộng sản. Mà
phải biết sử dụng, kế thừa lực lượng sản xuất đã có của chủ nghĩa tư bản. Đây
là một trong những căn cứ lý luận quan trọng đối với các quốc gia đi lên chủ
nghĩa xã hội, khi xác định cơ cấu các thành phần kinh tế, cũng như vị trí của
các thành phần kinh tế, nhằm khai thác sử dụng một cách hiệu quả các nguồn
lực và sức mạnh tổng hợp của chúng, để phát triển sản xuất, nâng cao đời
sống của nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Lênin đã chủ
trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, và kinh tế tư nhân là một
trong những thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
* Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về kinh tế tư nhân
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, sau
13
Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định rằng:
Nền kinh tế nước ta (vùng tự do) cịn tồn tại nhiều loại hình kinh tế. Trong
"Thường thức chính trị" (1953), Người viết: Trong chế độ dân chủ mới, có 6
loại hình kinh tế khác nhau:
- Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tơ.
- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội vì nó là của chung của nhân dân).
- Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp có tính chất nửa chủ
nghĩa xã hội, và sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội.
- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ cơng nghệ (có thể tiến dần vào
hợp tác xã tức là nửa chủ nghĩa xã hội).
- Kinh tế tư bản tư nhân.
- Kinh tế tư bản quốc gia là nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để
kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là
chủ nghĩa tư bản, tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội.
Trong sáu loại hình kinh tế nêu trên thì kinh tế quốc doanh là kinh tế
lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế nước ta sẽ phát triển theo
hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo chủ nghĩa tư bản [23, tr.221].
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thừa nhận sự tồn tại khách quan, lâu
dài của các thành phần kinh tế. Người cho rằng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội là của toàn dân, vì lợi ích của tồn dân. Do đó, tơn trọng sự tồn tại và
phát triển các thành phần kinh tế sẽ huy động và sử dụng có hiệu quả mọi
nguồn lực của các giai cấp như (sức lao động, đất đai, vốn, kinh nghiệm tổ
chức quản lý để đi lên chủ nghĩa xã hội).
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể
cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta ln khẳng định: Nền kinh tế
trong thời kỳ quá độ ở nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần. Song, trong
từng giai đoạn lịch sử cụ thể của cách mạng, việc xác định số lượng các
thành phần kinh tế, vai trò, vị trí của chúng cũng như tổ chức thực hiện
chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự khác nhau.
14
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đánh dấu một bước
chuyển biến quan trọng trong đổi mới tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn
của Đảng ta. Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hố nhiều thành
phần, trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, nhằm giải phóng và khai
thác mọi tiềm năng sẵn có, để phát triển lực lượng sản xuất.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đã khẳng định 5 thành
phần kinh tế, đó là: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư
nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tư nhân.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1986) đã khẳng định: "Thực
hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần", "kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng lâu dài. Giúp đỡ
kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết khó khăn về vốn, về khoa học và cơng
nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm..." [6, tr.16].
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), đã xác định ở nước ta có 6
thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ;
kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước
ngồi. Tại Hội Nghị Trung ương 5 (khóa IX) tháng 12 - 2002 đã xác định:
Kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt
động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư
nhân; và khẳng định: Phát triển kinh tế tư nhân là chiến lược lâu dài trong
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế tư nhân được
phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật
không cấm, không hạn chế về qui mô.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) khẳng định nền kinh tế nước
ta tồn tại năm thành phần kinh tế là: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế
tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân); kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài.
15
Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp
thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh
tranh lành mạnh...kinh tế tư nhân có vai trị quan trọng, là một trong
những động lực của nền kinh tế [8, tr.83].
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng tiếp tục đề ra những
chủ trương, chính sách nhằm:
Hồn thiện cơ chế chính sách để phát triển kinh tế tư nhân trở thành
một trong những động lực của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại
hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy
định của pháp luật. Tạo điều kiện thành lập các tập đồn kinh tế tư
nhân và tư nhân góp vốn vào kinh tế nhà nước…hỗ trợ các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, hộ sản xuất kinh doanh, đặc biệt
trong nơng nghiệp và khu vực nơng thơn… khuyến khích phát triển
các loại hình doanh nghiệp với nhiều hình thức sở hữu hỗn hợp như:
Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công
ty hợp danh… [11, tr.209].
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, từ Đại hội VI đến nay là Đại hội XI,
quan niệm, nhận thức của Đảng ta về kinh tế tư nhân và vai trò của kinh tế tư
nhân ngày càng rõ, nó thực sự được khẳng định là một bộ phận hợp thành
quan trọng, không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, nó cần được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển, để trực tiếp
đóng góp vào sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hóa hiện đại hóa đất nước.
* Quan niệm của các nhà nghiên cứu về kinh tế tư nhân
Nhìn chung quan niệm về kinh tế tư nhân cịn có những ý kiến khơng
đồng nhất. Có thể thấy 3 quan niệm về kinh tế tư nhân như sau:
Quan niệm 1: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất và tương ứng với cách quản lý, phân phối phù hợp
với hình thức sở hữu đó.
16
Quan niệm 2: Kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên
sở hữu tư nhân về toàn bộ các yếu tố sản xuất được đưa vào sản xuất kinh doanh.
Quan niệm 3: Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế dựa trên sở hữu toàn
bộ hay đại bộ phận tư liệu sản xuất, thuộc sở hữu tư nhân và lao động làm
thuê, người chủ chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra.
Ở đây, các quan điểm có cách tiếp cận không thống nhất, chưa rõ ràng
và cũng không nhất quán, dẫn đến quan niệm, định nghĩa về kinh tế tư nhân
cịn có khác biệt.
* Quan niệm và cách tiếp cận của tác giả luận văn
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
cùng với thực tiễn mà Đảng và nhà nước ta đã tổng kết qua các kỳ Đại hội về
kinh tế tư nhân, quan niệm của một số nhà nghiên cứu đường lối, chính sách,
tác giả luận văn hồn tồn đồng ý với quan niệm của Đảng ta về nội hàm của
kinh tế tư nhân và hiểu: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư
nhân; tất cả đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Với nhận thức này, kinh tế tư nhân được tồn tại và phát triển như một
tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Nó sẽ đóng góp
một phần quan trọng, trong q trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Kinh tế tư nhân
không bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể (hoạt động
theo Luật hợp tác xã, các tổ hợp tác và các chủ thể sản xuất nơng nghiệp hoạt
động theo luật), các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.1.1.2. Bản chất của kinh tế tư nhân
Khi nghiên cứu cơ sở lý luận về thành phần kinh tế cho thấy tiêu chí cơ
bản để xác định một thành phần kinh tế hay một loại hình tổ chức sản xuất,
kinh doanh thuộc về thành phần kinh tế nào chính là dựa trên quan hệ sản xuất
mà trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai trị quyết định. Do vậy,
17
khi nghiên cứu bản chất của kinh tế tư nhân phải xem xét trên ba mặt của quan
hệ sản xuất đó là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và
quan hệ về phân phối.
Thứ nhất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
Kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đều dựa trên hình thức
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Song mỗi loại hình khác nhau lại có phạm
vi và mức độ khác nhau. Do đó, khi xem xét quan hệ sở hữu cần xuất phát từ
những hình thức cụ thể để phân tích và tiếp cận.
Đối với kinh tế cá thể dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về TLSX của
chính người lao động. Đó là hình thức sở hữu của những người lao động tự
do, sản xuất ra sản phẩm chủ yếu bằng sức lao động của chính mình và các
thành viên trong gia đình. Đây khơng phải là hình thức đặc trưng của một
phương thức sản xuất nhất định mà nó tồn tại trong nhiều phương thức sản
xuất khác nhau.
Đối với bộ phận kinh tế tiểu chủ về cơ bản cũng dựa trên sở hữu tư
nhân nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có sự thuê mướn sức lao động ngoài sức
lao động của người chủ.
Kinh tế tư bản tư nhân là loại hình kinh tế được tổ chức qui mơ, theo
hình thức như: doanh nghiệp, cơng ty, tập đồn...hoạt động dựa trên cơ sở sở
hữu tư nhân về TLSX và thuê mướn lao động. Qui luật chi phối hoạt động
của doanh nghiệp tư nhân là các qui luật kinh tế thị trường.
Kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tiểu chủ giống nhau ở chỗ: cùng thuê
mướn lao động, lao động làm thuê tạo ra một lượng giá trị thặng dư nhất
định cho người chủ. Như vậy, tiêu chí chung để xác định một ơng chủ là tư
bản ở chỗ: họ có th mướn nhân cơng và bóc lột giá trị thặng dư do lao
động làm thuê tạo ra. Nhưng không phải bất cứ người nào thuê mướn lao
động cũng trở thành nhà tư bản. Sự phân biệt giữa nhà tư bản và người tiểu
chủ được thể hiện ở chỗ: khi người chủ còn trực tiếp tham gia lao động và
chưa phải là chủ của một số tiền nhất định đủ để:
18
+ Mua các tư liệu sản xuất cần thiết.
+ Thuê sức lao động để hoạt động sản xuất, kinh doanh và lợi nhuận họ
thu được phải đủ đảm bảo cho gia đình và bản thân họ có mức sống cao trong
xã hội; có tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, thì họ vẫn là người tiểu chủ.
Như vậy, kinh tế tiểu chủ khác với kinh tế tư bản tư nhân ở chỗ: Người
chủ sở hữu tư liệu sản xuất vẫn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Bản
thân họ và các thành viên trong gia đình vẫn là lực lượng lao động chính trong
mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Số lao động làm thuê không nhiều và giá
trị thặng dư do lao động tạo ra ở mức độ nhất định. Quy mô vốn đầu tư thấp
hơn so với kinh tế tư bản tư nhân. Do đó, mặc dù có thuê lao động nhưng
nguồn thu nhập của kinh tế tiểu chủ vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động của
bản thân và gia đình người chủ. Trong khi đó, kinh tế tư bản tư nhân có khả
năng phát triển, thu nhiều giá trị thặng dư và tạo điều kiện để tích luỹ tư bản.
Thứ hai, về quan hệ tổ chức và quản lý quá trình sản xuất
Đối với bộ phận kinh tế cá thể và tiểu chủ. Do dựa trên quan hệ sở hữu
tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý của bộ phận kinh tế này có
đặc điểm: Dựa vào sự tự điều hành, tổ chức quản lý và phân công cơng việc
trong nội bộ gia đình dựa trên quyền lực của người chủ trong gia đình họ hay
bản thân chủ thể tham gia trực tiếp. Các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ
phục tùng sự phân cơng, điều khiển của người chủ đối với các vấn đề sản
xuất, kinh doanh. Quan hệ giữa người chủ gia đình với các thành viên trong
gia đình khơng phải là quan hệ chủ thọ hay quan hệ bóc lột mà là quan hệ
mang tính chất gia trưởng. Tuy nhiên, trong q trình hoạt động sản xuất kinh
doanh, nhiều hộ cá thể, tiểu chủ do nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất đã th
nhân cơng. Như vậy, đã xuất hiện mầm mống bóc lột, nhưng chừng nào người
chủ vẫn trực tiếp tham gia lao động sản xuất, nguồn thu nhập chủ yếu vẫn dựa
vào lao động của họ và gia đình thì ranh giới giữa bóc lột và bị bóc lột vẫn
chưa được xác định rõ ràng.
19
Đối với kinh tế tư bản tư nhân: quan hệ tổ chức và quản lý có điều khác
biệt, bởi một bên là ơng chủ, cịn bên kia là lao động làm thuê. Khi sức lao
động của người công nhân là hàng hố thì phải đáp ứng u cầu của người
mua (người chủ). Vì vậy, cơng nhân phụ thuộc vào ơng chủ, chịu sự quản lý,
kiểm sốt của ơng chủ. Sự phụ thuộc này không chỉ trong lĩnh vực sản xuất
mà cả trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân của người công nhân.
Thứ ba, về quan hệ phân phối
Quan hệ phân phối về thực chất là giải quyết mối quan hệ về lợi ích
kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào q trình sản xuất và tái sản xuất. Mục
đích của phân phối là phải đảm bảo được lợi ích của các chủ thể, nâng cao
được hiệu quả kinh doanh. Phân phối phải dựa trên quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất và do quan hệ sở hữu quyết định.
Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ do dựa vào sức lao động của bản thân là
chủ yếu, nên sản phẩm và kết quả lao động chủ yếu thuộc về chính họ hay cá
nhân đó. Ở đây, quan hệ phân phối là sự tự phân phối trong nội bộ gia đình
của các hộ kinh doanh nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của các thành viên
trong gia đình.
Đối với các hộ tiểu chủ có th mướn nhân cơng thì phân phối kết quả
sản xuất còn căn cứ vào giá trị sức lao động của lao động làm thuê.
Với quan hệ phân phối như vậy, nên các loại hình kinh tế cá thể, tiểu chủ
đã gắn kết lợi ích vật chất của các thành viên trong hộ với kết quả sản xuất,
kinh doanh, phát huy được khả năng sáng tạo, lịng nhiệt tình lao động của từng
thành viên, nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ đối với tài sản, nguồn vốn và
hiệu quả kinh doanh của cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể, tiểu chủ.
Đối với kinh tế tư bản tư nhân, phân phối cho người lao động theo thoả
thuận trong hợp đồng lao động. Trong lý luận giá trị thặng dư của C.Mác đã
phân tích rất kỹ vấn đề trên thơng qua việc trình bày về q trình sản xuất giá
trị thặng dư và hai phương pháp nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tuyệt
20
đối và tương đối. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhận thức và quan niệm về phạm trù "bóc
lột" trong kinh tế tư bản tư nhân cần đầy đủ hơn ngồi tính chất tiêu cực của
phạm trù bóc lột. Cần bổ sung thêm tính chất tích cực của phạm trù "bóc lột"
theo nghĩa người bị bóc lột cũng có lợi. Nghĩa là người cơng nhân làm th
trong bộ phận kinh tế tư bản tư nhân cũng đem lại thu nhập và thơng qua đó có
thể trực tiếp hay gián tiếp học tập được các kinh nghiệm tổ chức sản xuất, kinh
doanh, kỹ năng, trình độ tay nghề, có thể nói, đó là việc hy sinh lợi ích trước
mắt nhỏ hơn, vì lợi ích lâu dài lớn hơn trong tương lai.
1.1.2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1.2.1. Về quy mô
Kinh tế tư nhân của nước ta phần lớn có quy mơ nhỏ và vừa, trình độ
cơng nghệ lạc hậu, khả năng đầu tư hạn chế cả chiều rộng và chiều sâu. Căn cứ
tiêu chí xếp loại doanh nghiệp theo quyết định số 56/2009/NĐ-CP ngày
30/6/2009 của Chính Phủ cho thấy: Năm 2008 trong tổng số 205689 doanh
nghiệp các loại, thì có đến 127180 doanh nghiệp siêu nhỏ, chiếm 61,83%;
72530 doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 35,26%; 5979 doanh nghiệp lớn, chiếm
2,9%. Trong làng Doanh nghiệp, lượng chủ thể tham gia làm kinh tế tư nhân rất
đông , nhưng chưa có doanh nghiệp nào tầm cỡ, có khả năng cạnh tranh với các
doanh nghiệp nước ngoài, trong những năm 2010, 2011 đã có những doanh
nghiệp tư nhân phát triển nhanh, nhưng chưa đủ mạnh. Chính vì vậy, khơng thể
dành được ưu thế trên thị trường khu vực, mà cịn có nguy cơ “thua thiệt” ngay
trên sân nhà, nhất là khi chúng ta thực hiện cam kết tham gia khu vực thương
mại tự do của Hiệp hội các nước Đơng Nam Á (AFTA) và là thành viên chính
thức của tổ chức thương mại quốc tế (WTO).
Riêng về nguồn vốn, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân khó tiếp cận
được nguồn vốn lớn từ các tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng thương mại, chưa
21
hình thành mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa người sản xuất, cung ứng dịch vụ
và người tiêu dùng. Được sự quan tâm của nhà nước, những năm gần đây vốn
đăng ký kinh doanh thuộc khu vực tư nhân tăng nhanh; Năm 2000 chiếm
22,9% trong tổng số vốn đầu tư theo thành phần kinh tế, thì đến năm 2010 đã là
36,1%. Tuy vậy, vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của khu vực này.
Bảng 1.1: Vốn đầu tư theo thành phần kinh tế (Theo giá thực tế)
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm
Tổng số
Kinh tế nhà
nước
2000
Chiếm tỷ trọng
2005
Chiếm tỷ trọng
2010
Chiếm tỷ trọng
151.183
100%
343.135
100%
830.278
100%
89.417
59,1
161.635
47,1
316.285
38,1
Kinh tế ngồi
nhà nước
34.594
22,9
130.398
38,0
299.487
36,1
Kinh tế có
vốn đầu tư
nước ngồi
27.172
18,0
51.102
14,9
214.506
25,8
Nguồn: Webside của Tổng cục thống kê.
1.1.2.2. Về lĩnh vực hoạt động
Hiện nay kinh tế tư nhân có mặt ở nhiều ngành kinh tế như: nông
nghiệp, lâm nghiệp thủy sản, công nghiệp, xây dựng, nhưng nhiều nhất tập
trung ở các ngành thương nghiệp - dịch vụ, công nghiệp chế biến, đánh bắt và
nuôi trồng thủy sản, xây dựng, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc, khách sạn
nhà hàng, kinh doanh bất động sản, dịch vụ tư vấn, tài chính tín dụng. Những
năm đầu đổi mới, xu hướng chủ yếu của kinh tế tư nhân là đầu tư vào những
lĩnh vực, ngành nghề có hiệu quả ngay, có tính ngắn hạn, phịng khi bất chắc
xảy ra. Từ khi có luật doanh nghiệp mới ra đời, thể hiện rõ quan điểm, chính
sách và giải pháp của nhà nước với kinh tế tư nhân, làm cho các nhà đầu tư yên
tâm sản xuất, kinh doanh lâu dài, giảm tư tưởng làm ăn cầm trừng, về cơ bản
đã hạn chế được tình trạng làm ăn chụp dật, tâm lý “đánh nhanh rút gọn”, “có
lợi rồi chuồn, sống chết mặc bay”.
22
1.1.2.3. Về loại hình tổ chức kinh doanh
Trước đây, loại hình kinh tế phổ biến là hộ cá thể, tiểu chủ và doanh
nghiệp tư nhân. Sau khi có luật cơng ty và luật doanh nghiệp tư nhân, các loại
hình doanh nghiệp đã phát triển đa dạng, với nhiều hình thức như: Công ty
TNHH nhiều thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh và được đăng ký
theo luật, quá trình này được triển khai đã giúp cho việc quản lý nhà nước về
kinh tế tư nhân được thuận lợi, chính xác và hiệu quả hơn. Theo số liệu Tổng
cục thống kê về Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ XXI và số liệu báo
cáo thường niên năm 2010, của phịng Cơng Nghiệp Việt Nam VCCI cho thấy,
số doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân tăng lên nhanh chóng, chỉ
trong 10 năm số Doanh nghiệp tư nhân tăng lên 2,66 lần, công ty trách nhiệm
hữu hạn tư nhân tăng 18 lần, đặc biệt công ty cổ phần khơng có vốn của nhà
nước tăng 118,5 lần, cơng ty hợp danh mặc dù số lượng không lớn, nhưng
trong 10 năm cũng tăng lên 17 lần.
Bảng 1.2: Số doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư
nhân qua các năm
Đơn vị: Doanh nghiệp
Năm
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân
Công ty TNHH tư nhân
Cơng ty CP khơng có vốn nhà nước
Cơng ty hợp danh
2000
2005
2010
20.548
10.458
4.52
4
34.646
52.505
10.549
37
54.761
189.188
53.603
68
Nguồn: Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ XXI (Tổng cục
Thống kê) và Tạp chí VCCI - phịng Công nghiệp Việt Nam: Báo cáo thường
niên Doanh nghiệp Việt Nam năm 2010.
1.1.2.4. Về nhân lực
Về đội ngũ cán bộ quản lý, nhìn chung trình độ cịn thấp và khơng đồng
đều, kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh trong kinh tế thị trường hạn chế; kỹ
23
năng quản trị, hiểu biết pháp luật, nhất là luật pháp quốc tế còn thiếu. Trong
điều kiện hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, những tồn tại, hạn chế
này thực sự là thách thức lớn, là khoảng trống và là một trong những nguyên
nhân đẩy nhiều doanh nghiệp tư nhân vào tình trạng nợ nần, phá sản, thậm chí
vi phạm pháp luật.
Về lực lượng lao động trực tiếp, phần lớn là trình độ tay nghề thấp hoặc
trung bình. Một mặt, tâm lý người lao động cũng chưa hồn tồn thơng suốt về
làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân; mặt khác, từ khi có thành phần kinh tế
đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài đã tiến hành tuyển dụng, sàng
lọc và giữ lại hầu hết lao động có trình độ, kỹ năng. Bên cạnh đó, một số cán
bộ nghiên cứu khoa học muốn làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân, nhưng lại
không đủ điều kiện nghiên cứu hoặc vấn đề thu nhập không đáp ứng. Đây cũng
là những đặc điểm cần được xem xét một cách khách quan và tồn diện.
1.1.3. Các loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân
1.1.3.1. Kinh tế cá thể
Loại hình kinh tế cá thể là những hộ kinh doanh nhỏ, bao gồm những cá
nhân kinh doanh và nhóm cá nhân kinh doanh thuộc phạm vi điều chỉnh của
Nghị định 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Chính
Phủ), các hộ chun sản xuất nơng, lâm, ngư nghiệp có tính chất tự sản tự tiêu và
các hộ bn bán hàng hóa nhỏ. Như vậy, kinh tế cá thể được quy định bởi hai
tiêu thức là trình độ thấp và sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Dưới góc độ kinh tế chính
trị có thể hiểu: Kinh tế cá thể là loại hình kinh tế của một hộ gia đình hay một cá
nhân những người nơng dân, thợ thủ công, những người buôn bán kinh doanh
dịch vụ…hoạt động dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao
động chủ yếu của chính bản thân họ.
1.1.3.2. Kinh tế tiểu chủ
Kinh tế tiểu chủ là những hộ kinh doanh cá thể, nhỏ, khơng địi hỏi vốn
lớn, không đăng ký vốn pháp định, do vậy các hộ này khơng cần có mức vốn
24
cao hơn mức vốn pháp định như các doanh nghiệp tư nhân. Đây là loại hình có
tổ chức đơn giản, để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc đăng ký
kinh doanh cũng rất đơn giản, chỉ cần UBND xã, UBND huyện cấp giấy phép
kinh doanh. Trong quá trình hoạt động, các trang trại, các làng nghề hoặc các
hộ sản xuất, kinh doanh cũng có thể thuê mướn thêm lao động, ngồi số lao
động trong gia đình. Loại hình này gần đây phát triển rất nhanh, một phần vì nó
phù hợp với nhiều ngành nghề, một phần vì nó khơng cần lượng vốn lớn.
1.1.3.3. Kinh tế tư bản tư nhân
Bao gồm các doanh nghiệp được hoạt động theo quy định của nhà nước,
mà ở đó khơng có vốn đầu tư của nhà nước và nước ngoài.
- Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh [28, tr.174]. Theo quy định, người muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân
phải có một số vốn nhất định, số vốn này không được thấp hơn số vốn quy định
đối với từng ngành nghề kinh doanh (Nghị định 221/HĐBT ngày 23/7/1991).
Trong q trình hoạt động có thể được th mướn lao động, kể cả thuê người
khác quản lý, điều hành doanh nghiệp.
- Cơng ty trách nhiệm hữu hạn: là loại hình doanh nghiệp trong đó, các
thành viên là tư nhân cùng góp vốn để thực hiện việc kinh doanh, cùng chia sẻ
lợi nhuận, cũng chịu lỗ theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của cơng ty trong phạm vi vốn góp của mình. Theo
điều 38, Luật doanh nghiệp quy định:
Cơng ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó: thành viên
có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không quá 50 người,
thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh
nghiệp; phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo
quy định của luật [28, tr.48].
25
- Công ty cổ phần: theo điều 77 Luật doạnh nghiệp quy định “Công ty cổ
phần là doanh nghiệp, trong đó: vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần; cổ đơng có thể là tổ chức hay cá nhân, số lượng cổ đông
tối thiểu là ba, không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn
đã góp vào doanh nghiệp; cổ đơng có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình
cho người khác theo luật định”; Đây là loại hình có tư cách pháp nhân và có
quyền huy động vốn bằng cách phát hành chứng khốn.
- Công ty hợp danh: Theo khoản 1, Điều 130 Luật doanh nghiệp thì cơng
ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng
nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp
danh), ngoài các thành viên hợp danh cịn có các thành viên góp vốn;
thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng tồn bộ
tài sản của mình về các nghĩa vụ của cơng ty; thành viên góp vốn chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn đã
góp vào cơng ty [28, tr.160].
Đây là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, kể từ ngày được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, song khơng được phép phát hành bất
kỳ loại chứng khốn nào.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế tư nhân
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến q trình phát triển kinh tế tư nhân.
Song, có thể đề cập đến một số nhân tố chủ yếu sau đây:
1.1.4.1. Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay xu thế tồn cầu hố và khu vực hố đang diễn ra hết sức
mạnh mẽ. Việt Nam cũng đang ở trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế với
các mối quan hệ đa phương hoá, đa dạng hoá. Nhờ đó kinh tế đối ngoại của
Việt Nam ngày càng phát triển, nó cũng làm gia tăng sức ép cạnh tranh về mọi