Tải bản đầy đủ (.doc) (108 trang)

Vốn đối với phát triển kinh tế xã hội huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (615.71 KB, 108 trang )

1
BẢN ĐỒ PHÚ QUỐCMỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là tiền đề quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một địa
phương nói riêng và quốc gia nói chung. Khơng có vốn cũng khơng thể sử
dụng được các nguồn lực khác như: tài nguyên, lao động, khoa học công
nghệ… để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các nước nghèo, thiếu vốn
thường nằm trong vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ. Việt Nam vừa vượt qua
ngưỡng của nước có thu nhập thấp nên tình trạng thiếu vốn để phát triển kinh
tế - xã hội ở các địa phương khá phổ biến, đặc biệt trong q trình đẩy mạnh
CNH, HĐH và chuyển đổi mơ hình phát triển kinh tế.
Phú Quốc là một huyện đảo thuộc tỉnh Kiên Giang và là đảo lớn nhất
của cả nước. Thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây rất nhiều tiềm năng và lợi
thế phát triển du lịch, đặc biệt là phát triển du lịch sinh thái và du lịch biển.
Bởi vì, cảnh vật nơi đây rất thơ mộng và hùng vĩ với nhiều bãi biển đẹp và đồi
rừng phong phú; giao thông ngày nay cũng rất thuận lợi, nếu đi bằng đường
hàng khơng từ thành phố Hồ Chí Minh đến Phú Quốc chỉ mất 45 phút, từ
Rạch Giá đến Phú Quốc khoảng 35 phút, từ thành phố Cần Thơ đến Phú Quốc
là 45 phút, còn đi bằng tàu cao tốc từ Rạch Giá đến Phú Quốc mất 2 giờ 30
phút, từ Hịn Chơng đến Phú Quốc khoảng 30 phút. Và khi kinh đào Kra của
Thái Lan mở ra thì nơi đây là đầu mối giao thông đường biển quốc tế rất
thuận lợi. Chính vì những tiềm năng và lợi thế đó, ngày 05/10/2004 Chính
phủ đã có quyết định số 178/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc đến 2010 và tầm nhìn đến năm
2020; theo đó cho phép Phú Quốc phát triển thành khu du lịch sinh thái và du
lịch biển chất lượng cao mang tầm cở quốc tế và khu vực. Trước yêu cầu đó,
nhu cầu về vốn để đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội ở Phú Quốc rất lớn.


2


Song, Kiên Giang vẫn là tỉnh chưa đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn
đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội của Phú Quốc theo mong muốn của
Chính phủ. Thực trạng những năm qua, việc thu hút v ốn đầu tư vào Phú
Quốc còn thiếu sự định hướng cụ thể, chưa nhiều, hiệu quả chưa cao, chưa đạt
mục tiêu đã được xác định. Việc thu hút vốn đầu tư cịn mang nặng tính tự phát,
thiếu những giải pháp vững chắc. Do đó, việc tìm ra những giải pháp cơ bản để
huy động có hiệu quả các nguồn vốn càng trở nên bức thiết, có ý nghĩa to lớn
đối với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng an ninh đối với một tỉnh
biển, đảo nằm ở vùng Tây Nam của Tổ quốc nói chung và Phú Quốc nói riêng.
Do đó, nghiên cứu Vốn và vai trị của nó trong phát triển kinh tế - xã hội
ở Phú Quốc là cần thiết. Với ý nghĩa đó tơi chọn đề tài: “Vốn đối với phát
triển kinh tế - xã hội huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” để viết luận
văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vốn để phát triển kinh tế - xã hội là một vấn đề được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm và đã có nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học, bài viết, luận
văn thạc sĩ, tiến sĩ được công bố. Cụ thể là:
- Đinh Văn Phượng (2000),“Thu hút và sử dụng vốn đầu tư để phát triển
kinh tế miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Văn Hiến: “Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA
trong tiến trình CNH, HĐH nền kinh tế ở nước ta”, Tạp chí Ngân hàng, số 102003, tr. 58-62.
- Lê Đăng Quang (2007), “Vốn đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật ở tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
- Viện Khoa học xã hội, Viện Kinh tế chính trị thế giới, TS. Nguyễn
Hồng Sơn: Điều tiết sự di chuyển của dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài
ở một số nước đang phát triển, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.



3
- TS. Trần Xuân Kiên: Một số giải pháp tạo vốn trong kinh doanh, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Nguyễn Văn Lai: Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn trong
nước phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam. Luận án TS Khoa học kinh tế, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996.
- "Kinh nghiệm thu hút FDI của các nước đang phát triển Châu Á và
khả năng vận dụng vào Việt Nam" của tác giả Hoàng Xuân Hải (Luận án PTS
KHKT) đã nghiên cứu những kết quả đạt được của nước ta trong lĩnh vực thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
- "Thu hút đầu tư trực tiếp của các cơng ty xun quốc gia" của tác giả
Hồng Thị Bích Loan viết về vai trị của các cơng ty xuyên quốc gia trong lưu
chuyển FDI toàn cầu, chiến lược đầu tư trực tiếp của công ty xuyên quốc gia
và viết về toàn cảnh thực trạng đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc
gia gần 20 năm qua, triển vọng, phương hướng, giải pháp thu hút FDI của các
công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam trong những năm tới.
- "Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam" của tác giả Lê
Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh, năm 2006 đã nêu ra được tác động tích
cực, tác động chưa tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam.
- "Một số biện pháp thức đẩy việc triển khai thực hiện các dự án FDI tại
Việt Nam" của tác giả Bùi Huy Nhượng (Luận án TS kinh tế, năm 2006) đánh
giá việc triển khai thực hiện các dự án FDI và đưa ra một số giải pháp nhằm
thúc đẩy việc triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
- "Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các nước ASEAN và
vận dụng vào Việt Nam" của tác giả Nguyễn Huy Thám (Luận án Tiến sĩ kinh
tế, năm 1999) đã đưa ra một số kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài của các nước ASEAN, đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài của Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.



4
- "Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển khu công nghiệp" của tác
giả Lê Xuân Trinh đăng trên tạp chí Cơng sản năm 1998 viết về tác động của
đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự phát triển của các khu cơng nghiệp.
Nhìn chung các cơng trình trên tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả
về lý luận và thực tiễn. Song chưa có cơng trình nào nghiên cứu vấn đề vốn
cho phát triển kinh tế - xã hội của Phú Quốc. Vì vậy, đề tài tác giả nghiên cứu
không trùng lặp với các đề tài đã được cơng bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm góp phần làm rõ vai trò của vốn, nhu cầu
huy động vốn và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm thu hút vốn cho phát triển
kinh tế - xã hội Phú Quốc.
Từ mục tiêu đó luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ vai trò vốn và nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế -xã
hội Phú Quốc.
- Đánh giá thực trạng huy động các nguồn vốn và các vấn đề đặt ra cần
giải quyết để huy động các nguồn vốn cho phát triển kinh tế-xã hội Phú Quốc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vốn cho phát triển kinh tế - xã hội có khái niệm rất rộng, khơng chỉ là
tiền bỏ vào đầu tư sản xuất, kinh doanh nhằm thu lợi nhuận mà còn bao gồm
các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm
hàng hóa tồn kho... được biểu hiện dưới dạng giá trị, mà còn bao gồm cả
nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, đặc biệt là lao động trí tuệ. Với
nghĩa rộng như vậy người ta chia vốn thành hai loại. Một là, loại vốn hữu
hình: là vốn được biểu hiện dưới dạng vật chất, giá trị. Hai là, loại vốn vơ
hình: bao gồm các phát minh sáng chế, mẫu, kiểu dáng cơng nghiệp, uy tín
thương hiệu, lợi thế địa lý...
Với khái niệm về vốn rộng như vậy, nên luận văn này chỉ tập trung vào

đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:


5
- Đối tượng nghiên cứu là vốn hữu hình đầu tư cho phát triển kinh tế-xã
hội Phú Quốc.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về không gian nghiên cứu việc thu hút các nguồn vốn hữu hình cả
trong nước và ngồi nước, đầu tư nguồn vốn đó cho phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn huyện Phú Quốc, chứ không phải đầu tư các huyện khác hoặc cả
tỉnh Kiên Giang. Không nghiên cứu các nguồn vốn đầu tư cho quốc phịng an ninh và các mục đích khác.
Về mặt thời gian, phần thực trạng lấy số liệu từ khi Thủ tướng Chính
phủ cho phép Phú Quốc phát triển thành khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và
du lịch biển lớn nhất nước với chất lượng cao mang tầm cở quốc tế và khu
vực từ năm 2005 đến nay; những giải pháp được đề xuất cho năm 2020 và
tầm nhìn đến 2050.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin; các quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng ta;
các lý thuyết của kinh tế học hiện đại về vai trò của vốn đầu tư cho phát triển
kinh tế - xã hội; đồng thời, dựa trên việc tổng kết kinh nghiệm của một số địa
phương trong nước và quốc tế cũng như các cơng trình nghiên cứu khoa học
có nội dung gần gũi với đề tài.
- Về phương pháp: vận dụng các phương pháp chung của kinh tế chính
trị, kinh tế phát triển và kinh tế học nói chung; đó là các phương pháp duy vật
biện chứng và lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp
phân tích, tổng hợp thống kê, so sánh, phương pháp thực chứng.
Ngồi những phương pháp nêu trên cịn áp dụng những kinh nghiệm,
khảo sát thực tiễn để làm rõ các vấn đề, nội dung nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của luận văn

- Về mặt lý luận, luận văn hệ thống hóa những vấn đề chung về vốn và
vai trị của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần cung cấp thêm


6
những cơ sở khoa học cho các nhà quản lý hoạch định các giải pháp huy động
vốn phát triển kinh tế - xã hội nói chung và huyện Phú Quốc nói riêng.
- Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp cái nhìn tổng qt về vai trị
của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế - xã hội Phú Quốc để giú p các nhà
quản lý của tỉnh Kiên Giang hoạch định chính sách thu hút vốn đầu tư phát
triển kinh tế -xã hội Phú Quốc. Thông qua l u ậ n v ă n còn nh ằm cung cấp
cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước cơ sở nhận định tình hình
đầu tư trên địa bàn huyện Phú Quốc, từ đó có chiến lược đầu tư thích hợp.
Ngồi ra, cịn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo phục vụ giảng
dạy, học tập ở các trường.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.


7
Chương 1
VỐN VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. VỐN VÀ VAI TRỊ CỦA NĨ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

1.1.1. Khái quát chung về vốn
1.1.1.1. Khái niệm về vốn
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Trong lịch sử phát triển
kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Nó được

tung vào thị trường rồi luồn lách đi theo khắp các ngõ ngách của nền kinh tế.
Cổ nhân ta đã có câu: “Buôn tài không bằng dài vốn”.
Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái kinh tế học trước Mác đã
dày công nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là
phạm trù kinh tế.
Xuất phát từ học thuyết tiền tệ, các nhà kinh tế thuộc chủ nghĩa trọng
thương chưa xác định được khái niệm vốn, họ cho rằng: “Nhiệm vụ trung tâm
là tích lũy tiền, chứ khơng phải tích lũy tư bản trong sản xuất và lưu thơng”
[6, tr.50]. Có thể thấy rằng, các nhà kinh tế trọng thương vẫn còn lẫn lộn giữa
tiền và tư bản.
Cịn chủ nghĩa trọng nơng, mà đại biểu là Phrăngxoakênê lại coi tư bản
không phải là tiền tệ mà là TLSX mua được từ tiền tệ đó. Đó chính là yếu tố vật
chất đưa vào sản xuất nơng nghiệp như: máy kéo, nông cụ, hạt giống...[41, tr.294].
Các nhà kinh tế tư sản cổ điển đã có quan niệm khoa học hơn về vốn
hay tư bản. Nhà kinh tế học A.Smith cho rằng: “Tư bản là cái bộ phận dự trữ nhờ
đó mà con người “trơng mong nhận được thu nhập” [7, tr.153]. Còn D.Ricacdo
quan niệm: “Tư bản là một bộ phận của cải trong nước, được dùng vào việc


8
sản xuất bao gồm thức ăn, đồ mặc, các công cụ, nguyên liệu, vật liệu, máy
móc… để lao động” [7, tr.242].
Nhìn chung, các nhà kinh tế trước C.Mác đều tiếp cận các khái niệm
vốn thông qua phạm trù tư bản. Tuy nhiên, họ chưa lý giải và làm rõ được
khái niệm khoa học về vốn.
Khắc phục những hạn chế của các nhà kinh tế trước đó, bằng phương
pháp khoa học C.Mác đã khái quát và lý giải làm rõ khái niệm phạm trù về tư
bản hay vốn. Mác cho rằng: Vốn hay tư bản là khởi đầu của quá trình sản xuất
kinh doanh TBCN. “Giá trị được ứng ra lúc ban đầu không những được bảo
tồn trong lưu thông, mà cịn thay đổi đại lượng của nó, cịn cộng thêm một giá

trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá trị. Chính sự vận động ấy đã biến giá trị
đó thành tư bản” [24, tr.228].
Với quan niệm như trên, C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của
tư bản (vốn) trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để giá trị ứng ra ban đầu trở
thành tư bản và tư bản sinh lời phải trải qua quá trình vận động. Thông qua sự
vận động, tư bản sinh sôi nảy nở, tiền đẻ ra tiền và lớn lên khơng ngừng.
C.Mác nói:
Giá trị luân chuyển từ hình thái này sang hình thái khác nhưng nó
khơng bao giờ mất đi trong cuộc vận động ấy, và như vậy nó biến
thành một thể tự động... Sự vận động trong đó đẻ ra giá trị thặng dư,
là sự vận động của bản thân nó, nên sự tăng lên của nó là một sự tự
tăng lên. Nó có được cái thuộc tính thần bí là tạo ra giá trị, do chỗ
bản thân nó là giá trị. Nó sinh con đẻ cái hay ít ra cũng đẻ trứng
vàng [24, tr.232].
Từ đó C.Mác đưa ra kết luận:
Giá trị trở thành giá trị tự vận động, thành những đồng tiền tự vận
động và với tư cách như thế nó trở thành tư bản. Nó ra khỏi lĩnh vực
lưu thơng, rồi trở lại lĩnh vực lưu thơng, tự duy trì và sinh sôi nảy nở


9
trong lưu thông, quay về dưới dạng tự lớn lên và khơng ngừng bắt
đầu cũng một vịng chu chuyển ấy [24, tr.234].
Hay nói cách khác, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Tuy
nhiên, chúng phải không ngừng được vận động và chuyển hố hình thái từ tư
bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hố và cuối cùng trở về hình thái tư
bản tiền tệ với lượng lớn hơn. Nếu không thông qua sự vận động và chuyển
hố hình thái đó, thì nó khơng phải là tư bản nữa.
Đến đây mọi vấn đề về khái niệm vốn đã được C.Mác làm rõ. Theo
ông: Tư bản là giá trị, giá trị chỉ trở thành tư bản khi nó được sử dụng nhằm

mục đích mang lại giá trị thặng dư. Giá trị là lao động trừu tượng của con
người kết tinh trong hàng hóa. Trong nền kinh tế hàng hóa chứa đựng giá trị
gồm: hàng hóa vật chất như: máy móc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu; tiền;
hàng hóa sức lao động; hàng hóa dịch vụ; hàng hóa vơ hình như: vị trí kinh
doanh, bản quyền, phát minh sáng chế, thành tựu khoa học…
Như vậy, theo C.Mác vốn ở đây được coi là tư bản, và nó bao gồm: Giá
trị của các yếu tố lao động và TLSX được bỏ vào quá trình sản xuất kinh
doanh nhằm mang lại giá trị thặng dư mới là tư bản. Vốn có thể là tiền hay tài
sản được giá trị hố. Nó đại diện về mặt giá trị cho những tài sản hoạt động,
được đưa vào đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Những tài sản đó
được biểu hiện ở hai dạng: Tài sản hữu hình và tài sản vơ hình.
- Tài sản hữu hình gồm hai bộ phận: Một là, bộ phận trực tiếp phục vụ
sản xuất như: máy móc, thiết bị, cơng cụ, nhà xưởng… Hai là, những tài sản
chỉ phục vụ gi¸n tiÕp sản xuất nh: trụ sở cơ quan, phương tiện đi lại…
Trong hai bộ phận nêu trên thì bộ phận trực tiếp phục vụ sản xuất giữ vai trò
quyết định tới hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh. Nên ở các nước đang phát
triển rất cần quan tâm sử dụng đồng vốn trong việc mua sắm các tài sản trực
tiếp phục vụ trong sản xuất kinh doanh.


10
- Tài sản vơ hình: Tài sản vơ hình bao gồm: vị trí địa điểm kinh doanh,
những bản quyền phát minh sáng chế, thành tựu ứng dụng khoa học kỹ thuật…
Tài sản vơ hình ngày càng có vai trị quan trọng trong cơ cấu vốn, mỗi quốc gia
cần có chiến lược sử dụng và tăng cường qui mô của vốn vơ hình. Cần lưu ý:
Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng không phải tất cả tiền đều là vốn. Trường
hợp tiền để tiêu dùng hàng ngày hoặc để cất trữ không được coi là vốn. Đối với
nước ta, rất cần được khắc phục tình trạng thiếu vốn. Do đó việc sử dụng tiền để
tập trung cho đầu tư sản xuất kinh doanh chính là mục đích hiệu quả nhất để
đồng vốn được sinh lời trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Ngày nay, do yêu cầu cao của sự phát triển, vốn là yếu tố đóng vai trị
quan trọng của hầu hết các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Vì vậy,
phạm trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục
nghiên cứu và tiếp cận nó trên nhiều bình diện khác nhau.
Theo từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng (Nhà xuất bản Tài chính, Hà
Nội, 1996), vốn sản xuất (production cappital) là biểu hiện bằng tiền của
những tài sản nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Theo Đại từ điển tiếng Việt - Vốn hay “Tiền gốc, tiền bỏ ra để sản xuất,
kinh doanh làm cho có lãi” [47, tr.1829].
Tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín, trong ấn phẩm “Chú giải
thuật ngữ kế toán Mỹ” cho rằng: vốn là “tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc
hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và
lợi tức” [26, tr.29].
Dưới góc độ tài sản, cuốn “Dictionnary of Economic” - Từ điển Kinh tế
của Penguin Reference, do Phạm Đăng Bình và Nguyễn Văn Lập dịch lại đưa
ra khái niệm: “Vốn là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân
nó cũng được cái khác tạo ra” [32, tr. 56].
Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm “Lịch sử tư tưởng kinh
tế”, I.Đ.Uđanxốp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là “một trong ba yếu tố đầu


11
vào phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn). Vốn bao gồm các sản
phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (tức là máy móc, công cụ,
thiết bị, nhà cửa, kho dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm)” [6, tr. 300].
Còn theo Luật đầu tư năm 2005, vốn là “tiền và các tài sản hợp pháp
khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc
đầu tư gián tiếp”. Theo quan niệm này, có thể hiểu rằng vốn ở đây chính là
“vốn đầu tư”.
Theo từ điển thuật ngữ Tài chính tính dụng, xuất bản năm 1996: Đầu tư

là việc bỏ trước một khoản tiền hoặc hiện vật để kinh doanh nhằm thu lợi
trong tương lai. Những khoản tiền và hiện vật dùng vào đầu tư, thường là
khơng có thời hạn, thu lời nhiều hay ít tuỳ thuộc vào việc phân phối sử dụng
trong quá trình kinh doanh tốt hay xấu, người đầu tư phải gánh chịu rủi ro
nhất định về đầu tư. Đầu tư là một tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá. Trong
điều kiện của chủ nghĩa tư bản, đầu tư gắn liền với quá trình chuyển hố tiền
thành các yếu tố của các q trình sản xuất. Tiền đã trở thành tư bản hay tiền
vốn đầu tư và là phương tiện thu được giá trị thặng dư.
Tác giả cho rằng, vốn đầu tư là một phạm trù của kinh tế thị trường phản
ánh việc sử dụng tiền tệ để chuyển hoá thành các yếu tố của quá trình sản xuất
nhằm thu về số tiền lớn hơn hay thực hiện mục đích sinh lợi của chủ đầu tư. Với
quan niệm như vậy thì vốn hay tư bản đều vận động theo công thức:
TLSX
T- H

…SX…H’ -T’
SLĐ

Tuy nhiên, vốn đầu tư để sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá và vốn đầu
tư để xây dựng kết cấu hạ tầng có sự khác nhau ở sự chuyển hố H’ - T’. Đối
với các hàng hố thơng thường, thực hiện được bước chuyển hoá này là thu
về số tiền lớn hơn số tiền ứng ra ban đầu. Còn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng là sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ cho sản xuất và đời sống, cho nên


12
việc chuyển hố H’ - T’ là một q trình lâu dài, phải thông qua tiêu dùng các
dịch vụ mới biết được hiệu quả của nó hay hiệu quả kinh tế - xã hội.
Những cách tiếp cận trên đây cho thấy vốn rất đa dạng, nhiều vẻ về
hình thái tồn tại của nó. Vốn có thể là tiền hay tài sản được giá trị hóa. Mặt

khác, với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động
sản xuất - kinh doanh để tạo ra hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập
trong tương lai. Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức
năng sinh lời.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu, vốn là một phạm trù kinh tế, phản ánh
giá trị bằng tiền của các nguồn lực đang và sẽ vận động trong quá trình tái
sản xuất để bảo tồn và đảm nhiệm chức năng sinh lời.
1.1.1.2. Phân loại vốn
Khi nghiên cứu tư bản, C.Mác đã dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để
phân loại tư bản (vốn). Cách phân loại vốn của C.Mác có ý nghĩa quan trọng
trong quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, đó là nguyên lý kinh tế để vận
dụng vào nước ta hiện nay.
Một là, căn cứ vào chức năng của các bộ phận tư bản trong quá trình
tạo ra giá trị. Theo tiêu chí này, bộ phận tư bản tồn tại dước hình thức TLSX
mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị khơng biến đổi
trong q trình sản xuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến (ký hiệu là c). Tư
bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện hết sức cần thiết
để tạo ra giá trị thặng dư. Còn bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động
không tái hiện ra nhưng thông qua lao động trừu tượng của người công nhân
mà tăng lên, tức biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất, được C.Mác gọi
là tư bản khả biến (ký hiệu là v). Nhìn dưới góc độ vốn, ta có thể thấy nguồn
gốc sinh lời của vốn chính là từ bộ phận tư bản khả biến.
Hai là, căn cứ vào tính chất chu chuyển của tư bản và phương thức
chuyển dịch giá trị của các bộ phận tư bản sang giá trị hàng hóa mới, C.Mác


13
chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động. Hay vốn cố định và vốn
lưu động.
- Tư bản cố định bao gồm những yếu tố của tư bản sản xuất, tham gia

tồn bộ vào q trình sản xuất nhưng nó chỉ chuyển dần từng phần vào giá trị
sản phẩm (hàng hóa mới) theo mức độ hao mịn của nó. Đó là vốn ứng trước
để mua tư liệu lao động như: máy móc, nhà xưởng…[28, tr.123].
Vốn cố định là giá trị biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định trong các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Vốn cố định trong thời gian chu chuyển
dài phải tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất mới khôi phục lại được, thời gian
thu hồi vốn cố định tùy thuộc vào mức độ khấu hao cơ bản. Việc xác định tỷ
lệ khấu hao cơ bản phải căn cứ vào mức độ hao mịn hữu hình đồng thời cũng
phải tính đến các yếu tố hao mịn vơ hình. Hao mịn vơ hình là do tiến bộ
khoa học, kỹ thuật gây nên.
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội, là
điều kiện cơ bản nói lên năng lực sản xuất của các doanh nghiệp. Chất lượng
và số lượng tài sản cố định cộng với kết cấu, phương thức sử dụng tài sản cố
định có tác dụng to lớn đến việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Máy móc
thiết bị hiện đại cùng với công nghệ cao không chỉ làm cho giá thành hạ mà còn
tạo ra một khối lượng, chất lượng sản phẩm hàng hóa lớn, mẫu mã đẹp có tính
cạnh tranh cao để chiếm lĩnh được thị trường, thị phần, vững vàng tham gia hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Để nâng cao hiệu quả vốn cố định khi
đầu tư cần đặc biệt quan tâm đến tỷ lệ tài sản cố định tham gia trực tiếp vào q
trình sản xuất đồng thời cịn quan tâm đến sự cân đối với vốn lưu động.
- Tư bản lưu động bao gồm các yếu tố của tư bản sản xuất. Về hình
thức vật thể: tư bản lưu động là những nguyên, nhiên, vật liệu và cả bộ phận
tư bản ứng trước để mua hàng hóa sức lao động.
Vốn lưu động có đặc điểm là trong q trình sản xuất nó được chuyển
ngay, chuyển tồn bộ giá trị vào hàng hóa mới. Để nâng cao hiệu quả vốn lưu


14
động người ta tìm biện pháp để tăng nhanh vịng quay vốn lưu động mà
không cần tăng thêm vốn lưu động.

Ngày nay, cùng xu thế phát triển và hội nhập của nền kinh tế thế giới,
nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội ngày càng đa dạng và phong
phú. Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cách tiếp cận khác nhau cho ta những
quan niệm khác nhau về vốn, song, nhận thức về vốn, xét về bản chất là thống
nhất. Việc phân chia vốn thành nhiều loại khác nhau nhằm mục đích hiểu rõ
bản chất của phạm trù vốn - vốn là hình thái giá trị, là thứ hàng hố đặc biệt,
có mối liên hệ mật thiết với thời gian. Cùng với việc hiểu rõ bản chất của vốn
cịn nhận thức được tính đa dạng, nhiều vẻ và rất phức tạp của vốn trong nền
kinh tế thị trường. Đó là những căn cứ khoa học giúp các chủ thể kinh doanh
nắm bắt và chủ động trong kế hoạch huy động, sử dụng các loại vốn, đẩy
mạnh phát triển sản xuất - kinh doanh. Dưới đây là một số tiêu chí và cách
phân loại vốn cơ bản:
- Căn cứ vào hình thức tồn tại, vốn được chia thành các nguồn: vốn tiền
tệ và các tài sản. Trong các tài sản được chia ra thành tài sản hữu hình và tài
sản vơ hình.
- Căn cứ vào chủ sở hữu nguồn vốn, vốn được chia ra thành vốn chủ sở
hữu (vốn tự có) và vốn vay (vốn huy động từ bên ngoài).
- Căn cứ vào thời gian cho vay người chủ sở hữu và thời gian trả nợ của
người sản xuất kinh doanh, vốn được chia ra thành: vốn dài hạn, vốn trung
hạn và vốn ngắn hạn.
- Căn cứ vào giá trị của vốn đầu tư trong thực tế và “bản sao” (giấy
chứng nhận sở hữu vốn đầu tư - chứng khoán) vốn được chia ra thành vốn
thực và vốn ảo hay tư bản và tư bản giả.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng, khơng chỉ có vốn sản xuất trực tiếp
phục vụ cho quá trình sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ, hàng hóa mà còn


15
cần vốn phục vụ gián tiếp cho sản xuất, bao gồm khối lượng lớn và phong
phú hệ thống kết cấu hạ tầng, các cơng trình cơng cộng...

- Căn cứ vào đặc điểm vận động, vốn có hai loại: vốn cố định và vốn lưu
động. Vốn cố định được biểu hiện bởi giá trị những tài sản cố định, bao gồm:
nhà xưởng, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, kết cấu hạ
tầng, dụng cụ đo lường... Vốn lưu động được biểu hiện bởi giá trị của những
tài sản lưu động, bao gồm: nguyên - nhiên liệu, sản phẩm dở dang, hàng hóa
dự trữ, các khoản tiền tệ đáp ứng nhu cầu thanh toán...
- Căn cứ vào lãnh thổ quốc gia, vốn được chia ra thành vốn trong nước
và vốn nước ngồi.
1.1.2. Vai trị của vốn đối với phát triển kinh tế xã hội
Vốn luôn được coi là một trong những yếu tố quyết định cho quá trình
sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Đặc biệt với các
nước đang phát triển với điều kiện nền kinh tế phát triển thấp, có xuất phát
điểm thấp, khoa hoc kỹ thuật lạc hậu nguồn vốn hạn hẹp, năng suất lao động
thấp, trình độ dân trí cũng thấp nến rất khó có thể thực hiện cơng nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước. Trên bình diện vĩ mơ tất cả các chiến lược, các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội đều rất cần đến vốn. Trong q trình CNH,
HĐH việc thực hiện chun mơn hóa, hợp tác hóa áp dụng các tiến bộ của
khoa học kỹ thuật được diễn ra nhanh chóng thì nhu cầu vốn càng trở nên bức
thiết. Vốn có vai trị quan trọng đặc biệt nó trở thành chìa khóa cho sự thành
cơng CNH, HĐH nói riêng và của sự tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội
nói chung.
Với một huyện đảo, yêu cầu phấn đấu đến 2015 đưa Phú Quốc trở
thành đặc khu hành chính trực thuộc Trung ương thì vai trò của vốn đối với
phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn, được thể hiện ở các khía cạnh sau:


16
Thứ nhất, vốn góp phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH của huyện
Phú Quốc
Q trình CNH, HĐH địi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn. Do đó, việc

huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một trong những điều
kiện, tiền đề quan trọng cho sự thắng lợi CNH, HĐH. Trong đó, nguồn vốn
trong nước giữ vai trị quyết định vì nó là nhân tố bên trong đảm bảo cho việc
xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; là tiền đề để huy động và sử dụng hiệu
quả nguồn vốn nước ngoài. Nguồn vốn nước ngoài là nguồn vốn có vai trị
quan trọng, khơng những giúp các nước nghèo khắc phục một phần khó khăn
trong thời kỳ đầu mà cịn góp phần nâng cao trình độ quản lý và công nghệ,
tạo việc làm cho người lao động…
Đối với Phú Quốc hiện nay, FDI sẽ giải quyết được nhiều khó khăn về
vốn, bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán. Việc tiếp
nhận vốn FDI khơng phát sinh nợ cho nước ngồi. Nhà đầu tư sẽ được nhận
phần lợi nhuận thích đáng khi cơng trình đầu tư hoạt động hiệu quả.Vốn FDI
vào Phú Quốc cịn góp phần hình thành nhiều doanh nghiệp mới, tăng quy mô
các đơn vị kinh tế hoạt động trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh, phát triển thêm
nhiều ngành nghề mới, nhất là những ngành nghề đòi hỏi kĩ thuật, cơng nghệ
cao cần nhiều vốn. FDI cịn tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng nguồn thu nhập
cho người lao động đồng thời mức cung và cầu hàng hóa trong huyện ngày một
nâng cao, tạo ra sự phân công mới trong lao động xã hội. FDI còn giúp cho
huyện đảo Phú Quốc nắm bắt được công nghệ sản xuất tiên tiến, bí quyết quản
trị sản xuất, kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư nước ngồi, nhờ đó giúp
cho huyện đảo Phú Quốc chuyển dịch được CCKT theo hướng CNH, HĐH và
đưa nền kinh tế của huyện tiến kịp với trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế, chống
nguy cơ tụt hậu. Song với huyện đảo Phú Quốc hiện nay, FDI tuy chưa chiếm
tỷ trọng lớn trong toàn bộ CCKT của huyện nhưng nó đang có vai trị tích cực
hỗ trợ cho việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của huyện, tạo ra tiền đề


17
quan trọng để Phú Quốc phát triển vào năm 2015 và trở thành đặc khu kinh tế hành chính trực thuộc Trung ương.
Với Phú Quốc, ODA khơng hồn lại đã giúp cho huyện có nguồn lực

quan trọng để phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi
trường, hỗ trợ ngân sách… Phần ODA có hồn lại đã thật sự góp phần quan
trọng trong việc hồn thành các chương trình mục tiêu, dự án xây dựng và nâng
cấp cơ sở hạ tầng kinh tế kĩ thuật thuộc các lĩnh vực giao thông vận tải, thơng tin
liên lạc, năng lượng, cấp thốt nước, và một số dự án sản xuất khác. Việc tạo lập
kết cấu hạ tầng phục vụ cho đời sống sản xuất kinh doanh đã làm thay đổi có
tính chất quan trọng về mặt kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội của huyện, tạo cơ
sở để phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tiếp theo.
Thứ hai, vốn là điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện
nâng cao đời sống của toàn dân cư trên huyện đảo
Như chúng ta đã biết, một trong những khó khăn nan giải nhất đối với
sản xuất, kinh doanh là vấn đề thiếu vốn. Đặc biệt đối với một huyện đảo như
Phú Quốc thì vốn càng có vai trị quan trọng, có vốn đầu tư vào sản xuất kinh
doanh sẽ giúp tăng trưởng, phát triển kinh tế. Đối với các hộ gia đình có vốn họ
sẽ mở rộng và phát triển các ngành nghề, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng
thế mạnh hiện có, tạo điều kiện để họ ổn định nơi ăn chốn ở, góp phần xố đói
giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
Thứ ba, vốn là điều kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
Có vốn tạo điều kiện để Phú Quốc chuyển dịch CCKT phù hợp với đặc
điểm, thế mạnh của từng vùng và đáp ứng yêu cầu của nền KTTT. Thông qua
việc đầu tư của các chương trình dự án cho phát triển các ngành, vườn, đồi,
rừng, chăn ni… góp phần khai thác có hiệu quả tiềm năng các nguồn lực
của huyện, tạo ra vốn tích luỹ để tái sản xuất mở rộng.


18
Thứ tư, vốn góp phần xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, xây dựng các
cửa khẩu quan trọng tạo sự giao lưu với các tỉnh, các nước.
Hệ thống KCHT có vai trị quan trọng đặc biệt nó khơng chỉ đáp ứng,

bảo đảm những điều kiện cần thiết cho sản xuất, tái sản xuất mở rộng mà còn
đáp ứng nhu cầu của đời sống con người. C.Mác đã khẳng định: “Trong quá
trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội, các nhân tố KCHT sản xuất
(kỹ thuật) có vai trị và ý nghĩa hết sức to lớn. Nếu thiếu chúng, q trình sản
xuất sẽ khơng thể diễn ra hoặc sẽ bị gián đoạn” [22, tr.327]. Như vậy vai trò
của KCHT được biểu hiện ở các nội dung:
Một là, KCHT phục vụ trực tiếp cho sản xuất, tái sản xuất thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. KCHT cung cấp sản phẩm đầu vào cũng như dịch vụ đầu ra cho
mỗi ngành kinh tế, nhờ đó khai thác sử dụng, phát huy hết mọi tiềm năng để
sản xuất, kinh doanh nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, là cơ hội để
kinh tế vùng, địa phương phát triển cao, bền vững. Tạo điều kiện nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho người dân tạo đà phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, KCHT tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước
thúc đẩy CNH, HĐH nhanh hơn. KCHT là xương cốt của CNH, HĐH nếu
KCHT càng phát triển nhanh, hiện đại, đồng bộ càng giúp cho q trình đầu
tư làm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận của suất đầu tư. Vì
thế các nhà đầu tư nước ngồi rất quan tâm đến đầu tư vào KCHT ở nước ta
dưới nhiều hình thức như: BOT, BT, BTO,…
Ba là, KCHT phát triển góp phần tích cực bảo vệ mơi trường, nâng cao
chất lượng cuộc sống, nâng cao trình độ dân trí và tiếp cận được nhiều hơn
với nền văn minh nhân loại.
Bốn là, KCHT góp phần củng cố an ninh quốc phịng, bảo đảm trật tự
an tồn xã hội…
Tóm lại, KCHT là điều kiện vơ cùng cần thiết và có ảnh hưởng quan
trọng đối với tăng trưởng kinh tế - xã hội. KCHT càng hiện đại, đồng bộ càng


19
thu hút được nhiều vốn đầu tư kể cả trong và ngoài nước, thúc đẩy tốc độ tăng
trưởng kinh tế - xã hội, đẩy nhanh tiến độ CNH, HĐH. Nó góp phần khắc

phục đói nghèo, lạc hậu, do đó việc đầu tư xây dựng KCHT được coi là khâu
đột phá để phát triển kinh tế - xã hội.
Vốn góp phần xây dựng các khu kinh tế tạo điều kiện để huyện giao
lưu với các địa phương khác trong nước và với các nước khác. Từ đó mở rộng
thị trường xuất nhập khẩu, giảm chi phí lưu thơng, nâng cao sức cạnh tranh
của hàng hoá, dịch vụ trao đổi. Sự lưu thơng giữa các khu vực thị trường cịn
có tác động đẩy nhanh q trình phân cơng lao động xã hội, tạo thêm nhiều
ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người dân khơng chỉ ở Phú
Quốc mà cịn ở các vùng lân cận.
Thứ năm, vốn góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục
vụ cho phát triển kinh tế - xã hội Phú Quốc
Trong nền kinh tế nào cũng vậy, nguồn lực con người đều giữ vai trò
quyết định với các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Đặc biệt đối với
Phú Quốc vốn đầu tư phát triển tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần
tạo lập kỹ năng, kiến thức tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo …tạo ưu
thế trong cạnh tranh.
Thứ sáu, vốn góp phần tái tạo mơi trường sinh thái, bảo vệ rừng, biển
Phú Quốc. Có vốn sẽ đẩy mạnh việc ứng dụng, đổi mới công nghệ mới, tiên
tiến, nhờ đó tiết kiệm nguồn nguyên liệu, góp phần bảo vệ môi trường sinh
thái, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững, nhờ đó bảo vệ được mơi trường sinh
thái, bảo vệ rừng, biển Phú Quốc.
Thứ bảy, vốn có vai trò quan trọng trong xây dựng tuyến phòng thủ
biên giới quốc gia, bảo vệ an ninh quốc phòng
Thực tiễn đã minh chứng điều này, với một huyện đảo có bờ biển dài,
có vị trí chiến lược qn sự quan trọng, tiếp giáp với nhiều nước, tình hình an
ninh trên biển phức tạp thì cơng tác an ninh quốc phịng gặp nhiều khó khăn.


20
Do đó cơng tác an ninh quốc phịng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy nguồn vốn

đầu tư cho Phú Quốc ngồi ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội cịn có ý nghĩa
quan trọng trong việc xây dựng tuyến phịng thủ biên giới quốc gia, góp phần
bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh hải quốc gia.
1.2. CÁC NGUỒN VỐN VÀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC

1.2.1. Các nguồn vốn
Trong một đơn vị kinh tế cơ sở hay xét trên phạm vi rộng lớn - toàn bộ
nền kinh tế quốc dân, điều hiển nhiên là: muốn có vốn cần phải đầu tư và
muốn có vốn đầu tư phải tìm ra nguồn. Cắt nghĩa cho vấn đề này, nhiều nhà
kinh tế học, điển hình là nhà kinh tế người Mỹ P.A. Samuelson cho rằng:
“nhịn tiêu dùng hiện tại, dành vốn đầu tư cho sản xuất sẽ có thu nhập trong
tương lai” [34, tr. 362]. Về bản chất, “nhịn tiêu dùng” chính là hành động tiết
kiệm (hay tích lũy vốn) của một chủ thể kinh tế. Chính tiết kiệm là nguồn gốc
cơ bản để hình thành vốn đầu tư.
Thực tế đã chứng minh, những nước có nền kinh tế phát triển ở trình độ
tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản, các nước Liên minh châu Âu có mức thu nhập
bình qn đầu người cao, quy mơ và tỷ lệ tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế
quốc dân lớn sẽ dễ dàng gia tăng nhanh tiết kiệm để tái đầu tư, mở rộng sản
xuất. Trái lại, những nền kinh tế đang phát triển và kém phát triển, mức thu
nhập đầu người thấp, quy mơ và tỷ lệ tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc
dân nhỏ nên việc gia tăng tích lũy vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư là cơng việc
khá khó khăn, phức tạp. Sự thiếu vốn sẽ là một cản trở đơn giản nhưng quan
trọng nhất đối với với việc đẩy nhanh phát triển kinh tế [16, tr.4] ở các nước
đang phát triển và kém phát triển.
Như vậy, vốn đầu tư phát triển của một chủ thể kinh tế được huy động
từ hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước. Tuy nhiên, ở
những nước khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau trong huy động vốn:



21
có những nước hồn tồn dựa vào ngoại lực và ngược lại có những nước quyết
tâm phát huy nội lực, dựa vào “sức mình”; cũng khơng ít nước kết hợp huy động
cả hai nguồn vốn trong nước và ngoài nước để đẩy mạnh phát triển kinh tế.
1.2.1.1. Nguồn vốn trong nước
Vốn trong nước được hình thành từ tiết kiệm trong nước, nó bao gồm:
tiết kiệm của ngân sách nhà nước, tiết kiệm của doanh nghiệp và tiết kiệm của
dân cư (hộ gia đình)
- Tiết kiệm của ngân sách Nhà nước:
Tiết kiệm của ngân sách Nhà nước là số thu ngân sách nhà nước (khơng
tính các khoản: viện trợ khơng hồn lại của chính phủ các nước và các tổ chức,
cá nhân nước ngoài; các khoản vay trong nước và ngoài nước của Chính phủ để
bù đắp bội chi ngân sách nhà nước) còn lại sau khi đã đáp ứng nhu cầu chi
thường xuyên, đó là phần được dành để chi cho đầu tư phát triển từ thu của
ngân sách Nhà nước. Nguồn thu cơ bản của NSNN là thu nhập quốc dân được
sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh để hình thành nên quỹ tiền tệ tập
trung của nhà nước dựa trên những tất yếu kinh tế, chính trị, xã hội trong mỗi
thời kỳ. Quỹ này được hình thành thơng qua những hình thức huy động như:
các khoản thu thuế, các khoản thu dịch vụ và thực hiện lợi ích từ các tài sản nhà
nước quản lý (phí, lệ phí, nhượng bán tài sản quốc gia như lợi tức cổ phần, thu
về hợp tác lao động, các khoản thu khác…).
Tiết kiệm ngân sách nhà nước chi cho đầu tư phát triển thông qua cấp
phát vốn trực tiếp (Nhà nước đầu tư trực tiếp) và cung ứng tín dụng nhà nước
(Nhà nước đầu tư gián tiếp). Đầu tư gián tiếp của Nhà nước qua tín dụng là rất
cần thiết trong nền kinh tế thị trường và nó cũng là cơ sở quan trọng để hình
thành các loại vốn có nguồn gốc từ ngân sách, như: tín dụng ngân hàng, các
quỹ đầu tư tài chính, các quỹ hỗ trợ vốn cho phát triển... qũy tín dụng nhân
dân,… là những tổ chức tín dụng quan trọng bậc nhất trong việc cung ứng
vốn đầu tư cho phát triển.



22
- Tiết kiệm của doanh nghiệp:
Tiết kiệm của doanh nghiệp nhà nước và tiết kiệm của doanh nghiệp tư
nhân, là phần lãi sau thuế (lãi thuần) được doanh nghiệp để lại dành cho đầu
tư phát triển. Trên thực tế, nguồn tự tài trợ cho hoạt động tái đầu tư, mở rộng
sản xuất của doanh nghiệp còn cộng với khoản thu được từ khấu hao tài sản
cố định.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng của tiết kiệm doanh nghiệp phụ thuộc
vào quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và
chính sách của Nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp, như chính sách
thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp), chính sách khuyến khích đầu tư và chính
sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước,
vấn đề phân phối lợi nhuận cịn chịu sự chi phối bởi chính sách phân phối lợi
nhuận của Nhà nước.
- Tiết kiệm của dân cư (hộ gia đình):
Nguồn vốn hình thành từ tiết kiệm của dân cư là phần dôi ra sau khi đã trừ đi
chi tiêu của các hộ gia đình. Nói cách khác nguồn vốn của dân cư là khoản tiết
kiệm thu nhập của dân cư. Nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào trình độ thu nhập
của mỗi hộ gia đình, phụ thuộc vào phong tục tập quán, tâm lý cuộc sống của mỗi
quốc gia và xu hướng biến đổi của tính nhân văn trong xã hội. Trong nền kinh tế
thị trường, tiết kiệm của dân cư là bộ phận chủ yếu và ngày càng khẳng định được
vị trí, tầm quan trọng của nó trong việc hình thành tổng nguồn vốn đầu tư phát
triển của một quốc gia.
Như vậy, nguồn vốn trong nước được hình thành từ các nguồn tiết kiệm
của NSNN, tiết kiệm của doanh nghiệp và tiết kiệm trong dân cư. Để nguồn
vốn đầu tư trong nước ngày càng phát triển bền vững địi hỏi phải thực hiện
tốt chính sách tiết kiệm: Bao gồm tiết kiệm ngay từ khâu chi NSNN, tiết kiệm
ở các doanh nghiệp và tiết kiệm trong các khu dân cư.
1.2.1.2. Nguồn vốn nước ngoài



23
Nguồn vốn đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phát triển của nền
kinh tế, bởi lẽ kinh tế càng phát triển thì càng có điều kiện để gia tăng tiết
kiệm và dành cho đầu tư. Ở nước ta hiện nay, thu nhập bình qn người cịn
thấp nên quy mơ và tỷ lệ tiết kiệm cịn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu đầu
tư rất lớn và ngày càng gia tăng để phát triển kinh tế. Vì vậy, cần phải thu hút
các nguồn đầu tư từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư.
Nguồn vốn nước ngoài gồm có vốn tài trợ của các quốc gia, các tổ chức
quốc tế và cá nhân người nước ngoài, vốn đầu tư trực tiếp của các nhà sản
xuất kinh doanh, vốn tín dụng của các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế.
Đối với nước ta cịn có vốn do người Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi về
cho gia đình hoặc đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ở trong nước.
Có thể khái quát thành các nguồn vốn chủ yếu sau:
- Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) - là nguồn vốn đầu tư của tư
nhân nước ngoài vào một nước khác để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích thu
lợi nhuận. Nó được thể hiện dưới nhiều hình thức như: hợp đồng hợp tác kinh
doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngồi. Hình thức
phổ biến của đầu tư trực tiếp là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, xí
nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nước ngồi, hợp đồng xây dựng - kinh
doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), và
xây dựng - chuyển giao (BT)
- Nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) - là nguồn tài chính do
các cơ quan chính thức của Chính phủ một số nước hoặc của các tổ chức quốc
tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy, hỗ trợ quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của các nước này. ODA một phần nhỏ là viện trợ khơng
hồn lại, phần lớn là những khoản cho vay ưu đãi kèm theo sự ràng buộc (về
cách thức sử dụng hoặc mục đích sử dụng) và nhạy cảm về chính trị. Tuy là
những khoản ưu đãi song nếu sử dụng khơng có hiệu quả sẽ trở thành gánh

nặng, nợ nần cho các quốc gia tiếp nhận.


24
- Nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) - thường là viện
trợ khơng hồn lại, dưới dạng viện trợ vật chất hoặc tài chính thơng qua các
chương trình phát triển có mục tiêu dài hạn. Nhìn chung nguồn vốn này cũng
đóng vai trị tích cực, song cũng là vấn đề nhạy cảm về chính trị. Ngồi ra,
trong thực tế cịn có các nguồn đầu tư gián tiếp khác của nước ngồi như:
thơng qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu tín dụng, thơng qua ngân hàng thương
mại, các tổ chức tài chính và tín dụng thương mại.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường và nhất là trong điều kiện hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc thu hút nguồn vốn từ nước ngồi là rất
quan trọng, song nguồn vốn trong nước là quyết định đến việc phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta. Vì vậy, Nhà nước cần có các chính sách phù hợp để
khơi dậy các tiềm năng tài chính trong dân cư và thu hút vốn đầu tư nước
ngoài để thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2. Các phương thức huy động vốn
Đối với tất cả mọi quốc gia vốn được tiềm ẩn ở rất nhiều hình thức
khác nhau và cũng được hình thành từ các nguồn khác nhau với các chủ sở
hữu khác nhau. Nhưng để biến các nguồn vốn đó nhằm tập trung cho sản xuất
kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội … cần phải có nhiều hình thức huy
động vốn đa dạng, phong phú trên cơ sở sử dụng hợp lý các công cụ huy động
vốn phù hợp với tính chất, đặc điểm của các nguồn vốn khác nhau trong xã
hội. Do đó: Phương thức huy động vốn là những cách thức, những phương
pháp sử dụng những công cụ thích hợp để huy động, thu hút các nguồn vốn từ
các chủ sở hữu vèn để đầu tư thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội, tăng cường, nâng cao mức sống của nhân dân .
PTHĐV khác với phương thức đầu tư. PTHĐV thuộc phạm trù tạo lập
vốn để kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, còn phương thức đầu tư vốn là

phạm trù sử dụng vốn. Do đó, PTHĐV phụ thuộc vào mục tiêu huy động vốn,
khối lượng vốn cần huy động, lợi ích của chủ thể có vốn nhàn rỗi cho vay. Có


25
nhiều cách tiếp cận để phân loại PTHĐV. Dưới đây, xin đề cập đến một số
PTHĐV cơ bản thường sử dụng.
* Phương thức Nhà nước huy động vốn cho đầu tư, phát triển kinh tế xã hội thông qua NSNN.
Để NSNN ngày càng phát triển ổn định, bền vững, nhà nước huy động
vốn từ nguồn tài trợ ODA. Ngoài ra nhà nước cịn huy động vốn tiền tệ trong
nước thơng qua các phương thức:
- Thực thi chính sách thuế: Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của
NSNN. Song thuế bị giới hạn bởi sự tăng trưởng của GDP và những quy định
có tính chất cưỡng chế của pháp luật. Nhà nước không thể tùy ý gia tăng thuế
để đáp ứng nhu cầu huy động vốn mà phải có biện pháp thơng thống, can
thiệp vào nền KTTT, nhằm ni dưỡng nguồn thu.
Thông qua hệ thống thuế bao gồm: thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,
thuế tài sản, thuế nhà đất, thuế sử dụng đất công nghiệp, thuế tài nguyên, thuế
xuất nhập khẩu …Việc động viên thu các nguồn thuế cần kết hợp giữa
phương thức cưỡng chế có tính pháp lý cao (các luật thuế) với kích thích vật chất
tạo ra sự quan tâm của các chủ thể kinh tế. Nhằm giúp họ nâng cao hiệu quả
trong sản xuất kinh doanh và nâng cao được thu nhập cho người lao động trên cơ
sở đó từng bước tạo lập được nguồn thu lớn mang tính ổn định, bền vững.
Để đảm bảo công tác thu thuế và thực hiện tốt chính sách thuế ở Phú
Quốc ngành tài chính đã phối hợp với các ngành chức năng triển khai tốt công
tác phối kết hợp giữa các ngành nhằm kiểm tra tăng cường công tác chống
thất thu ngân sách, chống buôn lậu, gian lận thương mại.
- Huy động vốn vào NSNN thông qua thu dịch vụ của các tổ chức bộ
máy nhà nước, bao gồm các loại phí, lệ phí và các khoản phụ thu khác. Nguồn

thu này nhằm thực hiện phân phối lại các nguồn tài chính của các đối tượng
được hưởng dịch vụ từ các tổ chức nhà nước, nhằm giảm bớt sự đóng góp


×