Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

SKKN BIỆN PHÁP GIÚP NÂNG CAO CÔNG tác CHỦ NHIỆM năm 2022

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.53 MB, 25 trang )

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TRƯỜNG TIỂU HỌC

An Giang, ngày 24 tháng 12 năm 2021

BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I.

Sơ lược lý lịch tác giả:

- Họ và tên: Nam/Nữ: Nam
- Ngày tháng năm sinh:
- Nơi thường trú:
- Đơn vị công tác:
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên dạy lớp
- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5D
II.

Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị :

Trường Tiểu học Trần Phú được thành lập từ năm 1951 nằm bên cạnh quốc lộ 91
thuộc phường Mỹ Thạnh ngoại ô thành phố Long Xuyên, năm 2006 trường được công
nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ I.
Cơ sở vật chất : Trường gồm 39 lớp học từ khối 1 - 5, hiện tại trường có đầy đủ
các phịng học để thực hiện dạy 2 buổi / ngày cho tất cả các lớp và 4 phòng chức năng,


trường được trang bị đầy đủ các thiết bị cần thiết để phục vụ cho cơng tác giảng dạy
đạt hiệu quả tốt nhất.
Tình hình dạy và học : Giáo viên luôn biết cách phát huy tính học tập tích cực,
chủ động trong học tập của các em học sinh, khơi lên được trong các em tính tích cực
học tập, tích cực tham gia xây dựng bài, đóng góp ý kiến, phát biểu xây dựng bài học,
học sinh chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức, có tinh thần tự giác trong học tập,
trong quá trình học tập học sinh ln năng động và hiểu biết sâu về kiến thức, tự tin về
kỹ năng, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy hiệu quả giảng dạy luôn đạt được
kết quả tốt nhất. giáo viên luôn thực hiện tốt công tác chủ nhiệm nhằm vận động học
sinh không bỏ học và đi học đều luôn ra sức giáo dục các em thành người tốt.
Đặc điểm giáo viên :
 Giáo viên luôn không ngừng học hỏi nâng cao tay nghề trình độ chun mơn kỹ năng
nghiệp vụ để luôn đáp ứng được những nhu cầu về chuyên môn.
 Tăng cường học hỏi các đồng nghiệp để ngày càng hoàn thiện bản thân.
 Tạo mối quan hệ thật tốt giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh để kịp thời phản ánh
và tìm hiều về đặc điểm cá nhận của từng học sinh từ đó có biện pháp giáo dục các em
tốt hơn.
1


Trước những đặc điểm của trường ở gốc độ là một giáo viên chủ nhiệm lớp 5D
tôi xin nêu ra một số thuận lợi và khó khăn trong cơng tác chủ nhiệm ở lớp 5 cụ thể
như sau:
1. Thuận lợi:

+ Luôn được sự quan tâm Ban giám hiệu (BGH), Tổ chuyên môn, sự phối hợp
thuận lợi với bộ phận khác của nhà trường và ngoài xã hội, sự học tập tích cực của
học sinh, và sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh học sinh.
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ dạy và học sinh được trang bị khá đầy
đủ đáp ứng được các nhu cầu dạy và học.

2. Khó khăn:

+ Đầu năm học 2021-2022 được Ban Giám Hiệu nhà trường phân công giảng
dạy và chủ nhiệm lớp NĂM D. GVCN cũ cho biết đây là lớp có nhiều em chưa thật sự
hứng thú học tập, nhiều em học tập chưa tích cực nhất là mơn Lịch sử.
+ Chỉ một số ít các phụ huynh quan tâm đến việc học của các em.
+ Một số phụ huynh phải tất bật lo cho cuộc sống, ít có điều kiện để quan tâm,
chăm sóc con cái (như đi làm xa tận TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương, vài tháng mới
về 1 lần, gởi con ở nhà ngoại, nội, dì, cậu, chú, bác, …)
+ Nhiều em có hồn cảnh khó khăn. Ngồi giờ học cịn phải phụ giúp gia đình,
nhà xa, ít dành thời gian cho việc học.
+ Đa số học sinh chưa ý thức tự học tập ở nhà.
-

Tên sáng kiến: “ Dạy học Lịch sử theo hướng tích cực để tạo hứng thú học tập cho
học sinh lớp năm D ở trường Tiểu học Trần Phú”.
- Lĩnh vực: Nghiên cứu phương pháp dạy và công tác chủ nhiệm ở lớp năm.
III.
1

Mục đích yêu cầu của sáng kiến
Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến.

Để dạy tốt môn Lịch sử ở trường tiểu học đạt hiệu quả cao, địi hỏi người giáo
viên phải có kiến thức lịch sử, phải nắm chắc nội dung và phương pháp tổ chức quá
trình dạy học. Đây là một hoạt động nhận thức về lịch sử mà nhất là lịch sử nước nhà,
nếu giải quyết được vấn đề này sẽ có tác dụng khơng nhỏ vào việc nâng cao chất
lượng dạy học cho mơn Lịch sử nói chung và mơn Lịch sử lớp 5 nói riêng.
Đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học là cả một vấn đề rất quan
trọng, đây là con đường giúp học sinh tiếp cận với tri thức mới. Nhằm thay đổi phương

pháp học tập của học sinh từ xưa tới nay là: “thầy giảng - trò nghe; thầy đọc - trò
chép” và cách ghi nhớ máy móc. Theo quan niệm dạy học mới, dạy học là quá trình
phát triển, là quá trình học sinh tự khám phá, tự tìm ra chân lý.
Cũng như các môn học khác, phương pháp dạy học lịch sử cũng đổi mới theo
định hướng đó. Tuy vậy, cần xem xét những yếu tố đặc trưng của bộ môn. Mà đặc
2


trưng nổi bật của nhận thức lịch sử là con người khơng thể tri giác trực tiếp những gì
thuộc về quá khứ. Mặt khác, lịch sử là những việc đã diễn ra, là hiện thực đã tồn tại
trong quá khứ, là tồn tại khách quan không thể dùng cách phán đốn, suy luận,… để
biết lịch sử. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của việc dạy lịch sử là tái tạo lịch sử,
tức là cho học sinh tiếp nhận những thông tin từ sử liệu, tiếp xúc với những chứng cứ
vật chất, những dấu vết của quá khứ, tạo ra ở học sinh những hình ảnh cụ thể, sinh
động, chính xác về các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Những biểu tượng về con người và
hành động của họ trong bối cảnh thời gian, không gian xác định, trong những điều
kiện lịch sử cụ thể. Vậy tái tạo lịch sử bằng những phương thức nào? Trước hết phải
kể đến lời nói sinh động, giàu hình ảnh của giáo viên. Đó là tường thuật, miêu tả, kể
chuyện, nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử.
Trong thời gian qua, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông và đi thi đại học
có điểm thi mơn Lịch sử khơng những thấp mà cịn có kiến thức rất mơ hồ về lịch sử.
Chứng tỏ các em không trú trọng việc học môn lịch sử từ những năm học ở tiểu học
nên các em bị hổng kiến thức một cách nghiêm trọng.
Bác Hồ cũng đã từng nhắc nhở: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước
nhà Việt Nam”. Nhưng hầu hết các em khơng thích học mơn Lịch sử, nắm kiến thức
lịch sử còn rất mơ hồ. Điều này rất đáng lo ngại và là một câu hỏi lớn cho những
người làm cơng tác giáo dục.
Chính vì lẽ đó mà tơi đã tìm tịi, học hỏi để tìm ra một số giải pháp dạy học theo
hướng tích cực mơn Lịch sử lớp 5. Nhằm làm cho việc học tập của các em trở nên lí
thú, gắn bó với thực tiễn và phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của các em. Để phát huy

tính tích cực, chủ động, sáng tạo theo phương pháp đổi mới “lấy học sinh làm trung
tâm”, thay đổi thói quen học tập thụ động theo hình thức bấy lâu nay giáo viên chúng
ta thường áp dụng như: “Thầy giảng trò chép và về nhà học thuộc” nhằm để trả bài lấy
điểm, ghi nhớ máy móc. Đó là “học vẹt”, học xong là quên ngay theo hướng học để
lấy điểm mà các em bị gị ép. Đó cũng là lí do để tơi chọn đề tài: Dạy học Lịch sử theo
hướng tích cực để tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp năm.
Giáo viên cần kích thích và phát huy được tính học tập tích cực, chủ động trong
học tập của các em học sinh, khơi lên được trong các em sự hứng thú khi học, khơi lên
được tính tích cực học tập, tích cực tham gia xây dựng bài, đóng góp ý kiến, phát biểu
xây dựng bài học, chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức, có tinh thần tự giác trong
học tập, khi trên lớp hoặc ở nhà hay bất cứ nơi nào mà các em có thể lĩnh hội kiến thức
của mơn học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy để hiệu quả giảng dạy đạt được
một kết quả tốt nhất.
Trong quá trình giảng dạy và tìm hiểu phương pháp dạy lịch sử của rất nhiều
đồng nghiệp tôi được biết: Đa số giáo viên lên lớp với hình thức thầy truyền thụ kiến
thức có sẵn trong tài liệu, sách giáo khoa với các phương pháp dạy học cũ. Một số
trường có giáo viên lên lớp khơng có đồ dùng dạy học, chỉ có một số rất ít giáo viên có
ý thức nghiên cứu bài dạy trước khi lên lớp và sử dụng hợp lý đồ dùng dạy học, giáo
3


viên rất ít định hướng việc học tập ở nhà của học sinh, cuối tiết học việc dặn dò về nhà
củng rất ít. Nhìn chung các giáo viên chưa đi sâu nghiên cứu để khám phá phương
pháp dạy học cho phù hợp để đạt hiệu quả, hay nói một cách khác là giáo viên dạy lịch
sử chưa biết đổi mới phương pháp dạy học để phát huy khả năng vốn có của học sinh,
chưa tạo điều kiện hoặc động lực để giúp các em tự nâng cao chất lượng học tập của
mình. Điều đáng buồn hơn là đại đa số giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và
ngay cả giáo viên chủ nhiệm hiện vẫn còn xem nhẹ phân mơn lịch sử vì cho rằng mơn
lịch sử chỉ là một môn phụ không gây ảnh hưởng đến kết quả học lực của học sinh, ít
tác động đến chất lượng giáo dục từ đó bản thân học sinh và một số giáo viên lịch sử

còn thật sự chưa hứng thú với phân mơn của mình chưa thật sự phát huy hết khả năng
giảng dạy, chưa đầu tư kĩ chuyên môn. Một số giáo viên không thật sự quan tâm đến
học sinh, khơng tìm hiểu đặc điểm cá nhân của mỗi học sinh, không hiểu được tâm tư
nguyên vọng của học sinh, từ đó việc dạy và học bị sao lãng. Có thể nói đây là vấn đề
bức xúc, là trở ngại lớn để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cá nhân học sinh.
Để thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về bộ môn lich sử ở trường Tiểu học, tôi đã đi xâm nhập thực tế và dự giờ ở một số
trường có giáo viên , khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh tại trường, từ đó rút ra
một số phương pháp áp dụng giảng dạy nhằm phát huy tính học tập tích cực, chủ động
và sáng tạo của học sinh khi học lịch sử ở bậc Tiểu học.
Ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành thăm lớp, dự giờ nhằm tham khảo quá trình
dạy và học của một số trường và tìm hiểu tình hình học lịch sử, về việc học sinh có
thật sự u thích môn học này hay không, khảo sát chất lượng của học sinh ở trường
và các trường lân cận bằng hình thức dự giờ, tôi thấy một kết quả thật đáng buồn. Kết
quả khảo sát của tất cả các lớp dự giờ cho thấy chỉ có một số ít em và một ít lớp của các
trường là thực hiện tốt cịn lại là không đạt. Xét về hứng thú học tập thì các em học sinh
đều khơng thích học mơn này, xét về tính học tập tích cực chủ động thì còn rất hạn chế
các em còn lơ là thụ động thậm chí chán nản khơng tích cực học tập đây là một thực
trạng rất đáng lo ngại đối với kết quả học tập của học sinh đối với môn học này . Nếu
đội ngũ giáo viên của chúng ta không biết đổi mới phương pháp dạy học, không tạo điều
kiện phương tiện để giúp đỡ các các em trong việc học tập tích cực chủ động thì sẽ
khơng có được kết quả cao trong việc dạy và học.
Từ những vấn đề trên tơi đã tìm hiểu ra ngun nhân để có hướng khắc phục
những tồn tại trong việc dạy và học.
 Nguyên nhân và các yếu tố tác động:
- Nguyên nhân lớn vẫn là giáo viên chưa biết phối, kết hợp các phương pháp
sao cho hợp lý để áp dụng vào trong bài dạy, truyền thụ kiến thức phải mang tính vừa
sức, phù hợp với lứa tuổi để giúp các em học sinh chưa hoàn thành, các em chưa theo
kịp xoá bỏ những mặc cảm tự ti .
- Trong quá trình giảng dạy đa số giáo viên vẫn sử dụng các phương pháp cũ

trong tiết dạy không biết sử dụng đồ dùng dạy học, chưa thu hút được sự yêu thích,
ham muốn của học sinh đối với mơn học này.
4


- Do học sinh không nắm bắt kiến thức từ lớplớp dưới và không được giúp đỡ
trong việc học ở nhà nên chưa nắm được kiến thức của bài chưa thực hiện theo yêu cầu
của bài đưa ra nên các em cảm thấy chán khơng thích học mơn này nữa do đó chất
lượng dạy và học của mơn học cũng khơng thể có kết quả tốt được.
- Quan trọng là giáo viên thật sự chưa tạo được sự hứng thú ở học sinh khi học
lịch sử nên không phát huy được tính tích cực học tập ở học sinh ngay cả trên lớp học
và ở nhà, học sinh chưa tìm thấy được sự hứng thú khi học vì thế chưa chủ động trong
giờ học nên hiệu quả học tập không cao.
- Ngành giáo dục, nhà trường, giáo viên dạy nhạc, phụ huynh học sinh thật sự
chưa hỗ trợ đầy đủ để giúp cho học sinh có thể phát huy tính học tập tích cực và chủ
động của mình một cách có hiệu quả để các em thích thú với phân môn lịch sử.
- Đa phần giáo viên âm nhạc chưa vận dụng CNTT vào việc giảng dạy và hỗ trợ
giúp đỡ học sinh của mình.
- Giáo viên chưa thực hiện và phát huy vai trò của đồ dùng dạy học tự làm để
nâng cáo chất lượng giảng dạy.
Vậy làm thế nào để có thể kích thích được sự hứng thú ham học tập ở học sinh
khi học môn lịch sử, làm thế nào để học sinh lớp năm thật sự có thể phát huy tính học
tập tích cực chủ động của mình để mạng lại hiệu quả cao trong học tập, làm thế nào để
có thể giúp đỡ các em trong việc tự học hay chủ động học tập khi học lịch sử ở tiểu
học? Điều đó phụ thuộc rất lớn vào phương pháp, cách tổ chức dạy học của giáo viên.
Mỗi chúng ta đều phải biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học và đổi mới
phương pháp giảng dạy thì mới phát huy được hết khả năng của học sinh, tự các em
tìm ra kiến thức cho bản thân mình mới thật sự đạt hiệu quả cao trong học tập.
Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến.
Bản thân dựa trên các Thông tư, Quyết định, Công văn do Bộ giáo dục và đào

tạo, Sở giáo dục và đào tạo Tỉnh An Giang, Phòng giáo dục và đào tạo Thành phố
Long Xuyên ban hành để làm căn cứ cho công tác hoạt động giáo dục và làm mục tiêu
để chất lượng giáo dục đạt được các kết quả tốt nhất.
Trong tình hình hiện nay, việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm nó địi hỏi ở
học sinh một yêu cầu cao là học sinh phải chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập.
Q trình dạy học này gồm hai mặt quan hệ hữu cơ với nhau: Hoạt động dạy của giáo
viên và hoạt động học của học sinh. Người giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy với
hai chức năng tiếp thu và tự chỉ đạo, tự tổ chức. Điều cần chú ý trong học tập là phải
hoạt động một cách tích cực chủ động có nhận thức sâu sắc. Bằng hoạt động học tập
học sinh tự hình thành và phát triển nhân cách của mình khơng ai có thể làm thay
được.
Như vậy, dạy học phải xây dựng trên nhu cầu hứng thú, thói quen, năng lực của
học sinh ở các trình độ khác nhau nhằm làm cho học sinh lĩnh hội được những kiến
thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ giá trị cần thiết, phát huy được đầy đủ năng lực của các
em.Vai trò của giáo viên là truyền đạt tri thức, là người hướng dẫn, người cố vấn là
2

5


người hỗ trợ người định hướng trong việc học tập cho học sinh trong việc học tập tích
cực chủ động.
Hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin nên việc học sinh tiểu
học được tiếp cận với lịch sử rất thuận lợi, Nên trong các giờ học nếu không tạo được
hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu kiến thức cơ bản sẽ làm cho học sinh nhàm
chán, khơng thích học vì vậy tơi nghĩ, nếu giáo viên phát huy được tính học tập tích
cực và chủ động trong giờ dạy sẽ giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức tốt hơn trong
quá trình học tập và sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn.
Từ những lý do nói trên, bản thân tơi nhận thấy việc học tập tích cực ở học sinh
để nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử ở lớp năm là một trong những giải pháp

hết sức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học . Vì vậy nó là động lực
giúp tơi đi sâu nghiên cứu đề tài này.
Học tập tích cực để thu hút sự hứng thú nhằm nâng cao chất lượng giáo dục,
nuôi dưỡng ở các em lịng tự giác học hỏi tính chủ động trong việc không ngừng vươn
tới những đỉnh cao của việc nắm bắt kiến thức, ln tìm tịi học tập cái mới, tích cực
sáng tạo cái đã học vào hoạt động thực tiễn.
Là một giáo viên giảng dạy bản thân tôi nhận thấy việc “ Dạy học Lịch sử theo
hướng tích cực để tạo hứng thú học tập cho học sinh lơp năm nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy ” là một trong những yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết.
3









Nội dung sáng kiến.

Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của việc “ Dạy học tích cực để tạo hứng
thú học tập môn Lịch sử ở học sinh lớp năm để nâng cao chất lượng dạy học ” tôi đã
nghiên cứu và đổi mới phương pháp dạy bằng cách hướng vào giải quyết những vấn
đề sau:
Bản thân giáo viên khơng ngừng tự hồn thiện bản thân để ln là người thầy gương
mẫu về đức tính học tập tích cực chủ động và sáng tạo để các em noi theo.
Giáo viên luôn không ngừng học hỏi nâng cao tay nghề trình độ chun mơn kỹ năng
nghiệp vụ để luôn đáp ứng được những nhu cầu về chuyên môn.
Cung cấp cho các em đầy đủ các yếu tố cần thiết để các em có thể chủ động lĩnh hội

kiến thức mọi lúc mọi nơi .
Giúp giáo viên và học sinh chuẩn bị và sử dụng tốt đồ dùng dạy học và một số phương
pháp như sử dụng đồ dùng dạy học, giảng dạy bằng bài giảng điện tử, tổ chức cnhiều
buổi học ngoại khóa….
Ln tìm hiểu và nghiên cứu để tạo ra nhiều đồ dùng dạy học tự làm để phục vụ cho
tiết dạy đạt hiệu quả cao.
Cải thiện phương pháp dạy mơn Lịch sử để có phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học đạt hiệu quả cao nhất.
Xuất phát từ nhận thức trên, người giáo viên tập trung hết tâm trí, tình cảm của
mình vào cơng việc quan trọng này. Từ đó có thể xây dựng được những phương pháp
giảng dạy có hiệu quả và áp dụng cho bất cứ năm học nào.
6


Và sau đây là những giải pháp, những kinh nghiệm về công tác giảng dạy mà
tôi đã và đang áp dụng nhằm tạo được sự hứng thú cho học sinh lớp năm khi học môn
lịch sử.
Biện pháp 1: Điều tra, khảo sát để đưa ra các các mơ hình dạy học, các hình thức
dạy học, các giải pháp dạy học tích cực khi dạy lịch sử lớp năm.

3.1.

Sau khi đi đến quyết định nghiên cứu để tìm hướng đi cho phương pháp dạy
học lịch sử lớp năm theo hướng tích cực, tôi bắt đầu lên phương án, kế hoạch cho việc
điều tra, khảo sát một số giáo viên và học sinh.
- Về phía giáo viên: Khi được hỏi về phương pháp dạy học môn Lịch sử, đa số
giáo viên chỉ trả lời là chủ yếu dùng phương pháp hỏi đáp để học sinh tìm hiểu và rút
ra được nội dung bài học. Cịn về kiến thức lịch sử thì chưa được tìm hiểu sâu sắc về ý
nghĩa của sự kiện và nhân vật tiêu biểu của lịch sử từng giai đoạn đó.
- Về phía học sinh: Hầu hết các em được hỏi đều trả lời là khơng thích học mơn

Lịch sử. Tơi hỏi vì sao? Các em đều trả lời là do môn học hơi khô khan và làm sao mà
nhớ hết thời gian và các mốc diễn ra các sự kiện. Hơn nữa khi tơi hỏi thì học sinh tìm
trong SGK để trả lời, song về đến nhà là qn ngay. Trước những vấn đề đó thì tơi đã
đưa ra các tiêu chí giải pháp khi dạy học mơn Lịch sử như sau.
3.1.1.

Các tiêu chí chọn giải pháp dạy môn Lịch sử.
Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường tiểu học là quá trình áp dụng
phương pháp dạy học hiện đại vào nhà trường, trên cơ sở phát huy những yếu tố tích
cực của phương pháp dạy học truyền thống nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học
tập của học sinh: Chuyển từ học tập thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang học tập
tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Để đổi mới phương pháp học tập của học sinh,
tất nhiên phải đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên. Đổi mới phương pháp dạy
học là quá trình:

-

-

3.1.2.

Chuyển từ giáo dục truyền thụ một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến
thức để đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng hình
thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên.
Đổi mới hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học tập của học sinh trở nên lí thú,
gắn với thực tiễn, gắn với cuộc sống; kết hơp dạy học cá nhân với dạy học theo nhóm
nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa học sinh trong quá trình học tập.
Muốn làm tốt được những vấn đề trên, việc đầu tiên giáo viên phải đưa ra được
một “mơ hình dạy học” theo quan điểm đổi mới. Tơi xin đưa ra “mơ hình dạy học theo

quan điểm đổi mới như sau:
Mơ hình dạy học tích cực
- Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập:
Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt, phần nêu vấn
đề của giáo viên phải đạt được các yêu cầu sau:
7


+ Lời dẫn phải súc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh.
+ Phải đề cập tới cốt lõi của bài học.
+

Tạo ấn tượng, gợi trí tị mị của học sinh.

- Tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu:

Việc tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (kênh chữ, kênh hình)
trong SGK, giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, nhân vật lịch sử. Đây là
khâu cực kỳ quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu khơng dựa trên các
hình ảnh của sự kiện thì học sinh không thể nhận thức được tư duy. Ở bước này có thể
thực hiện bằng các biện pháp sau:
+ Giáo viên trình bày các sự kiện, nhân vật lịch sử bằng phương pháp tường
thuật, miêu tả, kể chuyện kết hợp với các phương pháp trực quan để học sinh thấy rõ
được hình ảnh quá khứ.
+ Trong tiết học thế này thì đồ dùng dạy học góp phần vơ cùng quan trọng, giáo
viên có thể sử dụng tranh minh họa, video hoặc mơ hình về nhân vật hoặc sự kiện lịch
sử để học sinh có thể tiếp nhận một cách trực quang từ đó học sinh sẽ rất thích thú với
tiết học và lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất.
+ Học sinh làm việc với các sự kiện được trình bày trong SGK.


8


.

-

Giáo viên sử dụng Tranh và bảng đồ để dạy học trong giờ học Lịch sử

Tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập:

+ Bước 1: Giáo viên tồ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ
học tập mà bản thân đã nêu ở đầu giờ học hoặc đầu mỗi phần bài học. Ở bước này ta
có thể cho học sinh tự giải quyết vấn đề một mình hoặc có thể tổ chức hoạt động học
tập theo nhóm của lớp để cùng giải quyết vấn đề mà giáo viên đưa ra.

Học sinh báo cáo vấn đề mà giáo viên đưa ra
9


+ Bước 2: Học sinh có thể trình bày ý kiến cá nhân (viết hoặc nói) cũng có thể trao
đổi, thảo luận trong nhóm để rút ra những ý kiến chung.
-

Kết luận vấn đề:

Giáo viên cho học sinh nhận xét đánh giá những ý kiến cá nhân hoặc nhóm xem
các bạn nói đúng hay sai, cần bổ sung thêm gì khơng? Sau đó giáo viên kết luận:
+ Khẳng định những kết quả học tập của những học sinh.
+ Chốt lại những vấn đề cần nắm chắc của bài học.

+ Tuyên dương những học sinh hoàn thành tốt nhiệm vụ.

3.1.3.

Dựa vào mơ hình bài học và nội dung bài học, giáo viên sẽ đưa ra được các hình
thức dạy học phù hợp, linh hoạt. Nội dung cụ thể trong SGK môn Lịch sử lớp 5 chủ
yếu đưa ra hai loại bài cơ bản, đó là:
Hình thức dạy học tích cực
+ Loại bài cung cấp kiến thức mới.
+ Loại bài ôn tập tổng kết.
+ Loại bài cung cấp kiến thức mới đề cập tới các nội dung:
+ Tình hình kinh tế - chính trị, văn hố - xã hội...
+ Hoạt dộng của một số nhân vật lịch sử...
+ Các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến dịch, tiến công...

3.1.4.

Các giải pháp dạy học các dạng bài theo hướng tích cực
- Bài học có nội dung về tình hình kinh tế - chính trị, văn hố - xã hội...
+ Trong chương trình lớp 5 là các bài: bài 4; bài 12; bài 13; bài 16; bài 19; bài
21; bài 27 và bài 28.
+ Dạng bài này có nhiều ở phần Lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho học sinh
những hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta sau mỗi thời kỳ (mỗi
giai đoạn nhất định). Để dạy tốt dạng bài này giáo viên cần:

 Phải mô tả được tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó) như thế nào?

Tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân như thế nào?
 Trong tình cảnh đó, chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như
thế nào?

 Kết quả của việc làm đó ra sao?
+ Vì vậy, khi dạy loại bài này giáo viên triệt đề sử dụng phương tiện trực
quan: tranh ảnh, kênh hình kết hợp với mơ tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh
động về sự kiện, hiện tượng, rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, cảm
nhận và liên hệ để học sinh thấy rõ giá trị văn hoá nghệ thuật trong đời sống tinh thần.

10


Giáo viên cho học sinh xem phim tài liệu về lịch sử trong giờ học lịch sử

+ Ví dụ: Khi dạy bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” giáo viên phải giúp học
sinh nắm được:
 Tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám như thế nào? (Khó khăn chồng chất: Các

đế quốc, các thế lực phản động chống phá cách mạng; lũ lụt, hạn hán, nơng nghiệp
đình đốn dẫn tới nạn đói, nạn dốt...)
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để giải quyết nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm?
(Lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”, kêu gọi tăng gia sản xuất với khẩu
hiệu: “Không một tấc đất bỏ hoang!”, “Tấc đất tấc vàng”, phát động “Tuần lễ vàng”.
Phát động phong trào xoá nạn mù chữ; Ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo...).
 Kết quả của những biện pháp đó là gì? (Từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt và giặc
ngoại xâm).
- Dạng bài có nội dung về nhân vật lịch sử:
+ Trong chương trình SGK Lịch sử lớp 5, dạng bài này có ở các bài: bài 1, bài
2, bài 5, bài 6.
+ Ở dạng bài này, trong chương trình tiểu học lớp 5 không giới thiệu tiểu sử của
các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiệp của các nhân vật để
làm sáng tỏ lịch sử dân tộc. Như vậy, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự


11


kiện lịch sử. Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện lịch sử để làm nổi bật những
hoạt động và công lao to lớn của nhân vật.
+ Khi dạy những bài này, giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:
 Mỗi một bài đều có hình ảnh (tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử để giúp học

sinh nhận biết diện mạo cũng như hình thức bên ngồi của nhân vật. Giáo viên cần sử
dụng và khai thác tốt những bức ảnh này để phục vụ nội dung bài học.
 Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là người như thế
nào? (Sinh ra khi nào? Ở đâu? Làm gì? Có đặc điểm, tính cách gì nổi bật?…)
 Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ sở cho việc
đánh giá khách quan công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử dân tộc.
 Trên cơ sở khai thác những nội dung đó, giáo viên tiến hành giáo dục tư tưởng, tình
cảm, thái độ cho học sinh về lịng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật
lịch sử.
+ Thông thường đối với dạng bài này, giáo viên nên sử dụng các phương pháp
như kể chuyện, sắm vai,… giáo viên có thể vừa là người dẫn truyện, trực tiếp kể
chuyện, có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp học sinh nắm vững cốt truyện. Ngồi ra có
thể cho học sinh sắm vai.
+ Ví dụ: Khi dạy bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” giáo viên có thể
dùng nhiều phương pháp như:
 Phương pháp kể chuyện: Tìm hiểu về quê hương và thời niên thiếu của Nguyễn Tất

Thành.
 Phương pháp sắm vai: Ở cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Tất Thành và anh tư Lê.

- Dạy học các bài có nội dung đề cập tới các cuộc khỡi nghĩa, kháng chiến,


chiến dịch,
tiến cho
công,…
Giáo viên
học sinh đóng vai các nhân vật lịch sử trong giờ học lịch sử
12


+ Trong sách giáo khoa là các bài: Bài 3, bài 7, bài 8, bài 9, bài 14, bài 15, bài
17, và bài 20.
+ Đây là loại bài có nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Do đó,
giáo viên phải tái hiện sự kiện sinh động cụ thể. Sử dụng câu hỏi về sự phát sinh của
sự kiện: nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh, bối cảnh lịch sử
của sự kiện. Đây là một đặc điểm tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học
sinh.
+ Mặt khác, đối với loại bài này phần quan trọng nhất là trình bày diễn biến,
phát triển của sự kiện lịch sử. Vì vậy phải cho học sinh nắm vững mốc thời gian bắt
đầu diễn ra sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, các đường tiến công, diễn biến trận
đánh bằng cách nêu vấn đề, câu hỏi,… sử dụng lược đồ hoặc có trình chiếu bằng ti
vi.
+ Sau phần diễn biến là hướng dẫn học sinh tìm hiểu kết quả sự kiện đó và rút
ra ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm. Đối với loại bài này giáo viên giúp học sinh
nhận thức mối quan hệ nhân quả của sự kiện, thắng lợi hay thất bại đều có ảnh hưởng
nhất định đối với lịch sử.
+ Với dạng bài này thì miêu tả, tường thuật kết hợp với trực quan, sử dụng lược
đồ hoặc trình chiếu qua ti vi là chủ đạo. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự tìm
hiểu về tư liệu lịch sử rồi mô tả, tường thuật lại diễn biến của sự kiện. Giáo viên có vai
trị hỗ trợ, bổ sung, giúp học sinh tái hiện lại lịch sử, xây dựng lại biểu tượng lịch sử
một cách hồn chỉnh hơn.
+ Ví dụ: Khi dạy bài “Chiên thắng lịch sử Điện Biên Phủ”, giáo viên cần kết

hợp trực quan với tường thuật để tái hiện 3 đợt tấn công của quân ta vào Điện Biên
Phủ (sử dụng lược đồ hoặc mơ hình chiến dịch Điện Biên Phủ - giáo viên vừa tường
thuật vừa chỉ trên lược đồ).

- Dạng
bàiviên
ôn sử
tập,dụng
tổnglược
kết:đồ và tranh để dạy trong giờ học lịch sử
Giáo
13


+ Đây là loại bài học nhằm hệ thống hoá và củng cố lại những kiến thức đã học
cho học sinh sau mỗi một thời kỳ (mỗi giai đoạn lịch sử), giúp các em nắm vững kiến
thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn.
+ Đối với loại bài này giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho học sinh, lựa chọn
phương pháp phù hợp đề mang lại hiệu quả tiết dạy cao. Đặc biệt giáo viên dựa vào
câu hỏi trong SGK, thiết kế hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị trước. Trong tiến
trình dạy học, giáo viên phải thu hút học sinh vào cơng việc, phát huy cao nhất tính
tích cực của học sinh trong việc trao đổi những câu hỏi mà giáo viên đặt ra, thực hiện
các công việc như vẽ sơ đồ, lập bảng niên biểu, thống kê tìm các dẫn chứng,... Đây là
yêu cầu quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng rèn luyện bộ môn.
+ Thông thường đối với dạng bài ôn tập, tổng kết, giáo viên vận dụng tổng hợp
nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái quát hoá) kết hợp với vấn đáp, tìm tịi,
tổ chức làm việc theo nhóm. Tuỳ từng phần nội dung cụ thể mà giáo viên lựa chọn
phương pháp cho phù hợp. Trong đó, hoạt động nhóm, báo cáo kết quả là những
phương pháp chiếm nhiều thời gian nhất, ngồi ra có thể sử dụng trị chơi lịch sử.
+ Ví dụ: Khi dạy bài ơn tập: “Chín năm kháng chiến, bảo vệ độc lập dân tộc

(1945- 1954). Sau khi vào bài giáo viên có thể nêu hệ thống câu hỏi (dựa vào SGK) để
học sinh suy nghĩ và tập trung giải quyết các vấn đề:





Tình hình đất nước sau Cách Mạng Tháng 8 thành cơng?
Chín năm kháng chiến chống Pháp bất đầu năm nào? Kết thúc vào năm nào?
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch thể hiện điều gì?
Hệ thống một số sự kiện tiêu biểu nhất trong chín năm chống thực dân Pháp xâm lược.
Về hệ thống sự kiện, giáo viên có thể cho học sinh làm theo nhóm để hồn thành.
Chẳng hạn:
Mốc lịch sử

Sự kiện lịch sử

Đêm 18 rạng sáng
19/12/1946

Trung ương Đảng họp, quyết định phát động tồn quốc kháng
chiến

Sáng 20/12/1946

Đài tiếng nói Việt Nam phát lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

Tháng 10/1947

Pháp tấn công lên Việt Bẳc


Ngày 16/9/1950

Quân ta tấn công cụm cứ điểm Đơng Khê

Tháng 2/1951

Đại hội đại biểu tồn Quốc của Đảng lần thứ II

Ngày 01/05/1952

Đai hội chiến sĩ thi đua...

* Nếu cịn thời gian, sau phần ơn tập, hệ thống hố, giáo viên có thể cho học
sinh chơi trị chơi “Ơ chữ” đế củng cố kiến thức:

14


1

N

2

G

À

Y


Đ



N

G

T

Â

M

B

Ì

N

H

D

Â

N

H




C

V



C



M

C

H

Ơ

N

G

N

C




3
4

M



5

C

H

Ơ

N

Đ

Ơ

N

G

K

H


Ê

L

A

V

Ă

Đ



T

G

I

Ĩ

6
7
8

P

H


A

N

Đ

Ì

N

H

U

T

* Dựa vào các gợi ý sau để tìm chữ cái cho mỗi ơ chữ:
1.Để đẩy lùi giặc đói, Bác Hồ tổ chức ngày này?
2.Để đẩy lùi giặc dốt Bác Hồ tổ chức lớp học này?
3.Nhân dân Phú Thọ đã làm gì để chống qn Pháp nhảy dù?
4.Thu - Đơng 1947, Việt bắc trở thành: “… giặc Pháp”.
5.Ngày 16/09/1950, quân ta nổ súng tấn công cứ điềm này?
6.Tên của người anh hùng “chặt cánh tay phá đồn địch”?
7.Ngày 01/05/1954, ta mở “...” tấn công lần thứ 3 đánh chiếm các cứ điểm còn
lại trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
8.Tên của người anh hùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai?
* Tất cả các chữ cái ở cột dọc ghép lại tạo thành từ “Thắng lợi”.
3.2. Biện pháp 2 : GVCN cần cố gắng đạt được một số yêu cầu sư phạm cơ
bản:
Có thể nói thế kỉ thứ XXI là thế kỉ của khoa học cơng nghệ, con người phải

nhanh chóng trở thành trung tâm của sự phát triển. Con người vừa là mục tiêu vừa là
động lực của sự phát triển. Vì vậy người giáo viên phải khơng ngừng nâng cao hiệu
quả giáo dục để đào tạo thế hệ trẻ có đầy đủ phẩm chất đáp ứng nhu cầu của xã hội
muốn đảm bảo tốt vai trị ấy thì giáo viên nói chung và GV nói riêng phải có phẩm
chất và năng lực phù hợp trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, người GV lớp phải có lịng u nghề mến trẻ, phải am hiểu nắm bắt
sâu sắc chủ trương đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thời kì đổi mới,
phải có niềm tin ở các em. Chính niềm tin ấy sẽ tiếp thêm nghị lực để giáo viên hồn
thành tốt nhiệm vụ của mình.
15


Thứ hai là người GV phải có “chữ tín” với phụ huynh và HS, phải khéo léo đối
xử sư phạm, mà biểu hiện cụ thể là phải tôn trọng và u mến HS. Khi u mến và tơn
trọng HS thì ta mới thực sự cảm hóa được các em, bởi con đường tác động đến tình
cảm theo tơi chỉ là con đường tình cảm, chúng ta cho như thế nào thì chúng ta cũng sẽ
nhận được những tình cảm như thế ấy.
Thứ ba, người GV lớp phải là người có chun mơn vững vàng có tay nghề cao.
Có dạy tốt, có kiến thức sâu thì HS mới phục và chấp nhận sự giáo dục của mình. Mỗi
ngày xung quanh chúng ta có bao nhiêu là kiến thức mới lạ nếu chúng ta khơng “Học,
học nữa, học mãi” thì sẽ khơng theo kịp, không đáp ứng được yêu cầu của thời đại
cũng như của HS.
Thứ tư là GV phải là tấm gương sáng cho các em noi theo, phải là ngọn đèn soi
đường dẫn lối cho các em. Vậy muốn làm được điều đó thì từng lời nói cử chỉ, điệu bộ
đến thái độ ứng xử phải có chuẩn mực, đúng đắn tránh để HS “Coi nhẹ, xem thường”.
Thực tế cho thấy giáo viên được sự tơn trọng kính u của HS thì cơng tác giáo dục sẽ
dễ dàng đạt hiệu quả.
Nói tóm lại, GV phải là một cơng dân gương mẫu có lối sống lành mạnh, biết
sống vì mọi người, khơng chỉ cần có cái “tài” mà cịn phải có một cái “tâm” rất lớn.
Chỉ có như thế ta mới đáp ứng và thực hiện tốt yêu cầu giáo dục mà xã hội đã tín

nhiệm giao phó.
3.3. Biện pháp 3 : Xây dựng người giáo viên dạy học tích cực để thu hút
sự hứng thú học tập ở học sinh khi học lịch sử.
Để kích thích và phát huy được tính tích cực chủ động học tập cho học sinh
trước tiên ta cần phải xây dựng một giáo viên là tấm gương tốt về đức tính đó để các
em cảm thấy người thầy người cơ của mình là một thần tượng rồi từ đó học hỏi và làm
theo. Vậy người giáo viên để được như vậy thì một thầy giáo gương mẫu là không thể
thiếu. Và người thầy như thế nào mới là một người thầy giáo gương mẫu? Theo tơi để
có được một người thầy giáo gương mẫu ta cần xây dựng một người thầy có đầy đủ cả
hai yếu tố, đó là yếu tố “ tài và đức” của người thầy giáo trong môi trường giáo dục.
“Đức” là yếu tố nói đến phẩm chất đạo đức, thái độ tác phong lối sống của
người thầy giáo. Người thầy phải có lối sống trong sáng lành mạnh, tác phong giản dị,
trung thực, hòa đồng với mọi người trong cơ quan, đơn vị, giữ gìn sự đồn kết trong
nội bộ, cơ quan, đồng nghiệp. Ln giữ gìn tư cách đạo đức, gương mẫu của người
giáo viên. Luôn thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh”, vận dụng một cách phù hợp vào công việc và trong cuộc sống. Đấu
tranh chống các biểu hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng ảnh hưởng đến uy tín của cơ
quan, đơn vị. Khách quan, trung thực trong nhận xét học sinh. Xây dựng tình thương
u tơn trọng, giúp đỡ bạn bè cùng tiến bộ. Quan hệ nhiệt tình, trách nhiệm, trong sáng
đúng mực với đồng nghiệp, phải gần gũi và tạo cảm giác thân thiện với học sinh,
khơng phân biệt đối xử với các em có hồn cảnh khó khăn hoặc các em học tập cịn
hạn chế, luôn công bằng trong nhận xét học sinh, tạo điều kiện giúp đỡ các em vượt
16


qua mặc cảm tự tin hơn trong học tập. Luôn là người thầy có tâm với nghề xem cơng
việc dạy học là một nghề cao quý, phải biết yêu nghề mến trẻ.
“Tài” là yếu tố nói đến năng lực chuyên môn và kỹ năng sư phạm của người thầy
giáo. Một giáo viên phải là người có năng lực chun mơn tốt và kỹ năng sư phạm tốt.
3.3.1. Kỹ năng sư phạm


Kỹ năng nghiệp vụ sư phạm là những kỹ năng cần có của người giáo viên.
Trong đó có các kỹ năng cơ bản sau:
3.3.1.1. Kỹ năng phát âm chuẩn
Đặc thù của người giáo viên đó chính là việc nói rất nhiều trong các giờ lên
lớp. “Nói” có một vai trị rất quan trọng trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh
nhất là đối với giáo viên Lịch sử. Vì thế bản thân người giáo viên cần phải rèn luyện
cho mình kỹ năng phát âm chuẩn, phát âm khơng sai, phát âm truyền cảm thu hút học
sinh, từ đó sẽ cải thiện được chất lượng buổi học.
3.3.1.2. Kỹ năng xử lý tình huống sư phạm
Việc xử lý tình huống sư phạm lại đòi hỏi sự nhạy cảm, khả năng xử lý linh
hoạt trong giao tiếp để đạt tới kết quả giáo dục cao nhất. Thực tế cho thấy giáo viên
thường phải xử lí các tình huống có thể xảy ra giữa các mối quan hệ: giữa học sinh và
học sinh, giáo viên và học sinh, giữa giáo viên và giáo viên và giữa giáo viên và phụ
huynh. Tình huống đó có thể xảy ra ở trong nhà trường hay ngồi xã hội. Có rất nhiều
tình huống có thể xảy ra trong thực tế. Mỗi tình huống địi hỏi cách ứng xử khác nhau
mà muốn đạt hiệu quả cao trong giáo dục, người giáo viên cũng phải là một chuyên
gia trong lĩnh vực này.
3.3.1.3. Kỹ năng trình bày bảng
Bảng phấn chính là những công cụ, phương tiện mà người giáo viên sử dụng
để truyền tải kiến thức đến cho HS. Hiện nay, bảng phấn là những công cụ chủ yếu mà
giáo viên thường xun sử dụng. Chính vì vậy kỹ năng viết bảng vẫn là điều hết sức
cần thiết ở mỗi giáo viên. Trong thực tế có nhiều giáo viên đã không biết dùng bảng
như một công cụ trực quan để trình bày bài giảng của mình một cách sinh động. Điều
đó làm giảm rất nhiều chất lượng chun mơn của bài giảng.Viết bảng như thế nào?
Tư thế đứng ra sao? Kiểu chữ, cỡ chữ viết trên bảng là ra sao? Nội dung kiến thức cơ
đọng trên bảng là những gì? Đó là những vấn đề để mỗi giáo viên phải nghiên cứu, rèn
luyện, rất cơng phu.

3.3.1.4. Kỹ năng thuyết trình

17


Đối với phần giáo viên dạy lịch sử thì phần thuyết trình của giáo viên cũng góp
phần khơng nhỏ trong việc đem lại hiệu quả cho tiết học. Kỹ năng thuyết trình thể hiện
ở kỹ năng nắm bắt vấn đề hay dung lượng kiến thức cần trình bày, khả năng tổ chức,
sắp xếp vấn đề một cách logic, chặt chẽ để khi trình bày có thể thuyết phục được người
nghe. Để làm được điều này bên cạnh những kiến thức chun mơn vững vàng, người
giáo viên cần có năng khiếu của một diễn viên, thể hiện ở chỗ kết hợp nhuần nhuyễn
cử chỉ, điệu bộ, lời nói… ngay cả nụ cười, cách đi lại trên bục giảng. Đó là những yếu
tố giúp cho bài giảng đạt chất lượng cao.
3.3.2.

Năng lực chuyên môn.

Để chất lượng dạy và học môn lịch sử được nâng cao, đối với giáo viên cần
đảm bảo một số năng lực sau :
3.3.2.1. Năng lực truyền thụ kiến thức cho học sinh.
Tiết học có thành cơng và chất lượng hay khơng hồn tồn phụ thuộc vào năng
lực truyền thụ kiến thức cho học sinh, kiến thức phải đảm bảo được truyền thụ đến học
sinh, học sinh phải nắm được cơ bản nhất những yêu cầu cần đạt của bài do chuẩn kiến
thức kỹ năng đề ra.
3.3.2.2. Năng lực thiết kế bài giảng.
Trước khi lên lớp giáo viên cần chuẩn bị tốt bài giảng của mình, bài giảng phải
được thiết kế một cách chu đáo và cần phải có sự đầu tư và làm rõ, cụ thể như sau:
- Mục tiêu cần đạt được của mỗi bài phù hợp với năng lực của học sinh.
- Những hoạt động cụ thể của giáo viên và học sinh trên lớp.
- Thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý và phát huy tư duy, sáng tạo:
+ Câu hỏi kiểm tra kiến thức.
+ Câu hỏi gợi mở phát huy trí tuệ.

+ Câu hỏi luyện tập và củng cố kiến thức.
- Hướng dẫn học sinh học tập ở nhà.
- Phân bố thời gian hợp lý cho mỗi phần việc.
- Thể hiện được sự phân hóa học sinh.

18


- Có tích hợp đầy đủ những vấn đề giáo dục học sinh do ngành qui định như :
Tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục bảo vệ mơi trường, giáo dục kỹ năng sống..
cần được thể hiện rõ khi thíết kế bài giảng.
- Có phương pháp cụ thể đối với các học sinh chưa đạt yêu cầu.
3.3.2.3. Năng lực sử dụng phương tiện, thiết bị, dồ dùng dạy học.
Việc sử dụng phương tiện, thiết bị, đồ dùng dạy học góp phần khơng nhỏ trong
thành cơng của việc dạy – học. Vì vậy, đồ dùng dạy học phải chính xác, đẹp, phù hợp
trọng tâm từng bài dạy; khai thác triệt để tính tích cực của thiết bị, phương tiện dạy
học với tư cách là phương tiện nhận thức mà không đơn thuần chỉ là phương tiện minh
họa đơn giản.
3.3.2.4. Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin.
Sự bùng nổ của cơng nghệ thơng tin nói riêng và khoa học cơng nghệ nói chung
đang tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã
hội.Trong bối cảnh đó, để giáo dục phổ thơng đáp ứng được địi hỏi cấp thiết của cơng
nghiệp hố - hiện đại hoá đất nước, chúng ta nhất định phải cải cách phương pháp dạy
học theo hướng vận dụng Công nghệ thông tin (CNTT) và các trang thiết bị hiện đại
vào dạy học nhằm phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú
học tập của học sinh để nâng cao chất lượng dạy học.
Ứng dụng CNTT trong dạy học Lịch sử là việc làm mang lại hiệu quả cao
trong giảng dạy, giúp cho giáo viên chủ động có được những bài soạn mang tính hiện
đại, sinh động, chuyển tải được nhiều thông tin sống động, hấp dẫn lôi cuốn học sinh
vào các hoạt động học tập lịch sử.

Khi thực hiện những tiết dạy bằng giáo án ứng dụng công nghệ thông tin (lâu
nay thường gọi là giáo án điện tử) Giáo viên phải tự thiết kế, làm chủ trong quá trình
trình chiếu tránh tình trạng lâu nay vẫn thường diễn ra là giáo viên khi dạy bằng giáo
án điện tử khơng tự mình soạn, khơng xử lý được những tình huống kỹ thuật trong khi
trình chiếu làm cho tiết học khơng đạt kết quả như mong muốn.
Ngồi ra, chúng ta nên tìm kiếm thơng tin, tư liệu trên mạng internet. Internet là
nguồn tư liệu vơ tận chúng sẽ giúp ta dễ dàng tìm được những tư liệu cần thiết chính
xác, nhanh chóng và thuận tiện.
3.4. Biện pháp 4 : Phương pháp tạo sự thu hút học sinh bằng bài giảng điện
tử.
Bài giảng điện tử môn Lịch sử là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho giáo
viên, nhằm phát huy hết khả năng truyền thụ kiến thức theo chuẩn kiến thức của Bộ
19


GD & ĐT, phát huy tính tích cực trong học tập, phát triển khả năng tư duy, nâng cao
kiến thức, phát triển trí tuệ cho học sinh, ngày càng nâng cao trình độ nghiệp vụ của
giáo viên.
Việc đưa bài giảng điện tử vào việc giảng dạy môn lịch sử là một bước tiến lớn
của bộ mơn lịch sử vì nó thật sự mới mẻ đối với học sinh và cả giáo viên, hiệu quả mà
nó mang lại thật sự khơng nhỏ trong việc tạo hứng thú mạnh mẽ cho học sinh khi học
lịch sử, mở mang kiến thức cho học sinh, nâng cao tay nghề và tạo sự thuận lợi cho
giáo viên khi giảng dạy.
Học sinh sẽ thật sự bị cuốn hút với bài giảng điện tử vì bài giảng điện tử làm cho
tiết học trở nên sinh động với đầy đủ các hiệu ứng vui mắt, học sinh tiếp thu kiến thức
qua nhiều dạng như xem phim, xem hình ảnh, chạy hiệu ứng trình chiếu … những thứ
đó đối với học sinh tiểu học thật mới lạ và sinh động nên nó góp phần thu hút học sinh
hơn vào buổi học làm cho buổi học đạt kết quả cao như mong đợi.
Sau đây là hình ảnh sinh động đầy màu sắc của bài giảng điện tử góp phần thu
hút học sinh.


Giáo viên dạy học bằng bài giảng điện tử trong giờ học lịch sử

IV. Hiệu quả đạt được
Sau khi áp dụng các giải pháp đổi mới vào trong quá trình dạy tơi tiến hành
kiểm tra chất lượng và cho kết quả thu được như sau:
20


Qua kiểm tra khảo sát lần này đối chiếu với kết quả khảo sát đợt trước tôi thấy
chất lượng học sinh tiến bộ rõ rệt, học sinh đã được trang bị cho mình kiến thức về
lĩnh vực lịch sử các em yêu thích học hơn, chủ động hơn trong việc tự học ở nhà. Song
điều đáng chú ý là đa số học sinh tôi dạy đã chuyển biến tốt về chất lượng và thái độ
học tập tích cực, các em đã hiểu biết khá vững chắc kiến thức lịch sử, một số học sinh
chưa hồn thành đã có ý thức tự học, tự giác trong việc tự tìm hiểu kiến thức, tự giác
trong việc đống góp xây dựng bài học và thích học mơn lịch sử hơn. Bên cạnh đó vẫn
cịn số ít học sinh vẫn cịn lơ là và chưa nắm kịp kiến thức để khắc phục một số yếu
điểm đó của học sinh tơi tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy, nhằm hạn chế những yếu
điểm, từ đó kích thích và phát huy được tin thần tự học và học tập tích cực ở học sinh
để nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử ở tiểu học.
Về kết quả học tập đạt được thật đáng kinh ngạc, khi chưa thay đổi phương pháp
đa số thái độ học tập của các em con hạn chế ít hoạt động xây dựng bài, học tập thụ
động, khơng có tin thần tự học ở nhà, ít khám phá tìm tịi kiến thức bên ngồi, các em
cịn xa lạ với cơng nghệ thơng tin, trên lớp học thì các em thực hiện cịn mơ hồ, khơng
tự tin khi trả lời câu hỏi, và đặc biệt là các em chưa thật sự tích cực trong học tập, có
cảm giác chán nản lơ là và không tập trung. Nhưng khi thay đổi phương pháp, tơi nhận
thấy có một sự khác biệt rất lớn, nhất là sự tích cực học tập bộ mơn lịch sử, các em
năng động hơn, từ đó các em hiểu và nắm vững kiến thức và ln hồn thành tốt
nhiệm vụ được giao, bên cạnh đó vẫn cịn một vài bạn chưa thực hiện tốt, nhưng có sự
cố gắng học hỏi và các em cũng dần tiếp thu và dần dần thực hiện được những phần

mà giáo viên giao cho. Cũng nhờ như vậy mà kết quả học tập của các em về bộ môn
lịch sử được cải thiện rõ rệt tôi thật sự rất vui và hãnh diện về điều mà mình đã thực
hiện sau đây là bảng kết quả học tập của các em khi chưa đổi mới phương pháp và sau
khi đổi mới phương pháp.
Bảng kết quả học tập của HS trước và sau khi đổi mới phương pháp dạy
Kết quả cả năm đạt được như sau:
 Về Kiến thức, kĩ năng:

Năm học

Tổng
số

Hoàn thành tốt

học
sinh

SL

Nữ

33/17

6

3

2019–
2020

Chưa áp
dụng sáng
kiến

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

TL %

SL

Nữ

TL %

SL

Nữ

TL %

18,1
%

27

14

81,9%


0

0

0

21


2020–
2021

33/17

Đã áp dụng
sáng kiến

25

14

75,6%

8

3

24,4
%


0

0

0

 Về Năng lực, phẩm chất:

Tốt

Tổng số
Năm học

học
sinh

SL Nữ

Đạt

Cần cố gắng

TL %

S
L

N



TL %

SL

Nữ TL %

2019– 2020

N lực

33/17

6

3

18,1 %

27

14

81,9%

0

0

0


Trước áp
dụng sáng
kiến

Ph chất

33/17

6

3

18,1 % 27

14

81,9%

0

0

0

2020– 2021

N lực

33/17


25

14

75,6%

8

3

24,4 %

0

0

0

Đã áp dụng
sáng kiến

Ph chất

33/17

25

14


75,6%

8

3

24,4 %

0

0

0

V. Mức độ ảnh hưởng:
Đề tài sáng kiến có mức độ ảnh hưởng hầu hết tất cả các em học sinh tiểu học
trường Tiểu học Trần Phú và đối với việc áp dụng phương pháp đổi mới này hầu như
tất cả các trường điều có thể áp dụng được vì đề tài chỉ dựa trên những điều kiện cơ
bản nhất mà người giáo viên nào trường nào cũng có thể lĩnh hội và áp dụng được.
VI. Kết luận.
Ngày nay với nội dung chương trình đổi mới phương pháp dạy học, người giáo
viên phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ. Ngồi
những mơn học chính thì mơn học lịch sử giúp cho học sinh phát triển kiến thức hiểu
biết về tình hình đất nước Việt Nam, tạo đà cho sự giáo dục và phát triển toàn diện về
nhân cách cho học sinh.
22


Việc dạy môn lịch sử ở trường tiểu học trong q trình đổi mới ngày nay là vơ
cùng cần thiết. Tất cả các giáo viên đứng lớp, giáo viên chuyên biệt và các cấp chỉ đạo

cần hiểu rõ điều này để môn lịch sử ngày càng phát huy tác dụng, góp phần vào sự
nghiệp đào tạo các mầm non tương lai cho đất nước.
Từ thực trạng dạy học lịch sử ở trường tiểu học. Từ kiến thức được học trong
nhà trường và từ thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy phần lớn các yếu tố làm cho
học sinh hứng thú học tập đều phụ thuộc vào vai trò của giáo viên. Những cách thức,
những cung bậc gây hứng thú cho học sinh trong học tập là hết sức phong phú. Mỗi
người có một phương pháp, biện pháp của riêng mình sao cho phù hợp.
Qua quá trình khảo sát, nghiên cứu đổi mới phương pháp và phương pháp
giảng dạy tôi thấy các em thực hiện rất tốt trong giờ học các em giải quyết các vấn đề
học tập do giáo viên đề ra một cách rất nhẹ nhàng, các em yêu thích lịch sử hơn hơn,
học sinh học lịch sử một cách rất hứng thú và rất mong muốn được học bộ mơn này.
Vậy làm thế nào để kích thích và phát huy được tin thần học tập tích cực và chủ động
của học sinh đối với môn lịch sử? Điều đó cịn phụ thuộc phần lớn vào phương pháp,
kỹ năng truyền đạt kiến thức của thầy, đòi hỏi mỗi người giáo viên cần nghiên cứu kĩ
bài dạy, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học, biết tổng hợp các phương pháp dạy học
mới. Trong giờ dạy cần sử dụng linh hoạt các phương pháp phát huy khả năng sáng tạo
của học sinh, thực sự biết đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng các loại hình hoạt
động trong tiết dạy , lời giảng của giáo viên cần cô đọng, ngắn gọn, xúc tích để thu hút
sự chú ý của học sinh. Giáo viên cần tạo thật nhiều điều kiện để hỗ trợ giúp đỡ cho học
sinh trong việc tự đi tìm kiến thức, cung cấp nhiều dữ liệu để các em tự học, thiết kế
thật nhiều bài giảng điện tử, bài giảng trưc tuyến, update nhiều kiến thức lên trang
mạng nội bộ để các em truy cập và học tập.
Qua q trình giảng dạy, tơi nhận thấy kết quả đạt được như trên là rất khả
quan. Tuy nhiên để đạt được những kết quả này không phải trong một vài tiết học là
được. Giáo viên phải có sự kiên trì bền bỉ nhận xét, động viên, luyện tập. Có những em
cần phải động viên khích lệ các em để các em cảm thấy tự tin hơn chủ động hơn và
thích thú hơn tích cực hơn khi học. và sau đây là một số kinh nghiệm của bản thân.
 Bài học kinh nghiệm:

Bản thân tôi nhận thấy qua quá trình nghiên cứu đổi mới phương pháp và đi

vào vận dụng nơi mình dạy đến giờ này đây đã rút ra cho mình những bài học bổ
ích.
Để giúp nâng cao chất lượng học tập khi học môn lịch sử ở tiểu học” ta
nên đổi mới phương pháp dạy lịch sử bằng cách hướng vào giải quyết những vấn đề
sau:
 Bản thân giáo viên khơng ngừng tự hồn thiện bản thân để luôn là một người thầy giỏi
để các em nôi theo.
 Giáo viên luôn không ngừng học hỏi nâng cao tay nghề trình độ chun mơn kỹ năng
nghiệp vụ để luôn đáp ứng được những nhu cầu về chuyên môn.
23


 Tăng cường các hoạt động học tập trong lớp, trong trường bằng hình thức tổ chức đa







dạng các hình thức học tập như hoạt động nhóm, sắm vai, ngoại khóa…
Giúp giáo viên và học sinh chuẩn bị và sử dụng tốt đồ dùng dạy học, cụ thể như: bản
đồ , tranh minh họa, mơ hình sự kiện, video phóng sự về lịch sử….
Cải thiện phương pháp dạy môn Lịch sử để có phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học đạt hiệu quả cao nhất.
Muốn dạy học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà
nước. Đòi hỏi người giáo viên phải nổ lực ,sáng tạo, không ngừng cải tiến phương
pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.
- Về công tác giảng dạy:
Nghiên cứu kỹ kế hoạch bài học, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .

Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.
Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiệu quả.
Sử dụng tối đa đồ dùng học tập và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng mơn
học.
Giáo viên phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội nhất là CNTT.
Giáo viên cần tạo điều kiện đầy đủ nhằm giúp đỡ học sinh để phát huy tính học tập
tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức.
Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tơi ngay từ bây giờ tôi xác định
rằng muốn trở thành một người giáo viên gương mẫu thực sự thì trước hết phải có lịng
u nghề, mến trẻ, lịng say mê nghề nghiệp và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức
trách nhiệm đối với bản thân, đối với nghề nghiệp và xã hội.
Để chuẩn bị cho một giờ lên lớp, giáo viên cần phải chuẩn bị rất chu đáo về
mọi công việc như: Đồ dùng dạy học, kế hoạch bài học và thâm nhập kế hoạch bài học
một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ
truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng dẫn học sinh cho hiểu nội dung bài một cách dễ
dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo của học sinh.
Với những cách thức hướng dẫn như trên nên tiết học nào cũng vậy, học sinh
trong lớp đều tham gia học tập rất tích cực. Rất ít học sinh cịn rụt rè do sợ hát và gõ
đệm sai. Học sinh trong lớp đều được cuốn hút vào tiết học, điều đó đã tạo niềm vui
cho tôi khi bước vào lớp.
Trên đây tôi mới chỉ đề cập phần nào đến kinh nghiệm của bản thân tôi đã được
chắc lọc qua thực tế tham gia giảng dạy nhiều năm học. Nó được áp dụng đi vào từng
tiết dạy và thấy có chiều hướng tốt, học sinh học tốt hơn và có nhiều hứng thú hơn với
mơn học. Rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp, Hội
đồng sư phạm bổ sung chỉnh sửa nhằm hoàn thiện hơn những ý tưởng tơi vừa nêu trên
để tơi có thêm hành trang phục vụ chun mơn của mình ngày càng tốt hơn trong
những năm học tới.
 Kiến nghị:
a.
Đối với tổ bộ môn

Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.
Nên duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.

24


− Đề nghị Tổ bộ môn mở các chuyên đề minh họa, tổ chức các diễn đàn về môn Lịch sử







để các giáo viên cùng tham gia nghiên cứu, sẻ chia kinh nghiệm giúp nhau thực hiện
tốt nhiệm vụ được giao.
b. Đối với nhà trường
− Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.
− Có thêm nhiều sách tham khảo.
Trang bị đầy đủ đồ dùng học tập để các em có nhiều tư liệu, sử liệu để kiến thức lịch
sử được mở rộng từ đó hiệu quả học tập môn lịch sử sẽ được nâng cao.
c. Đối với địa phương, gia đình
Gia đình phải chú trọng quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.
Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em.
Cần mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.
Tóm lại, để làm tốt cơng tác dạy học, địi hỏi người giáo viên khơng chỉ là một
giáo viên dạy tốt văn hóa mà còn phải quan tâm đến sự phát triển ở học sinh cả những
giá trị đạo đức, thể chất, thẩm mĩ… Vì vậy, theo tơi, hai yếu tố cốt lõi khơng thể thiếu
đối với giáo viên là cái tài của một nhà tâm lí và cái tâm của một nhà giáo dục. Khi
làm tốt hai yếu tố này thì người giáo viên đều có thể làm tốt trách nhiệm của mình

trong thời đại mới ngày nay và luôn để lại ấn tượng tốt trong lòng mỗi thế hệ học trò
yêu dấu.
Trên đây tôi mới chỉ đề cập phần nào đến kinh nghiệm của bản thân tôi đã được
chắc lọc qua thực tế tham gia giảng dạy nhiều năm học. Nó được áp dụng đi vào từng
tiết dạy và thấy có chiều hướng tốt, học sinh học tốt hơn và có nhiều hứng thú hơn với
mơn học. Rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp, Hội
đồng sư phạm bổ sung chỉnh sửa nhằm hoàn thiện hơn những ý tưởng tơi vừa nêu trên
để tơi có thêm hành trang phục vụ chun mơn của mình ngày càng tốt hơn trong
những năm học tới.
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật.
Long Xuyên, ngày 24 tháng 12 năm 2021
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến

Người viết sáng kiến

…………………………………………………….
……………………………………………………
……………………………………………………
…………………………………………………..
……………………………………………………

25


×