Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ KẾT THÚC MÔN HỌC Đề tài Pháp luật quyền tiếp cận thông tin công dân Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (264.43 KB, 15 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ KẾT THÚC MƠN HỌC
Đề tài: Pháp luật về quyền tiếp cận thơng tin của công dân ở Việt Nam

HỌ VÀ TÊN: PHẠM DUY HẢI
MSSV: 20020292
MÃ HỌC PHẦN: 2122II_INT3514_20

Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2022

1


Mục lục
A. Các vấn đề liên quan đến quyền tiếp cận và cung cấp thông tin..................................4
I.

Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người sinh sống ở khu vực biên giới, hải

đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền
tiếp cận thông tin............................................................................................................4
II. Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận
thông tin.......................................................................................................................... 5
III.

Nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin......................................................6

IV.

Chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin...........................................................7



V. Thông tin công dân không được tiếp cận.................................................................7
VI.

Thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện.....................................................8

VII. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin.............................8
VIII.
IX.

Cách thức cung cấp thông tin............................................................................9
Trách nhiệm của đơn vị đầu mối cung cấp thông tin..........................................10

B. Các vấn đề liên quan đến thông tin cá nhân...............................................................11
I.

Nhận diện cơ bản về thông tin cá nhân và hành vi xâm phạm thông tin cá nhân. . .11

II. Về hành vi xâm phạm thông tin cá nhân................................................................13

2


Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã xác định được quyền thơng tin chính là một
trong những quyền cơ bản của công dân. Mặc dù Nhà nước đã ban hành bổ sung rất nhiều
các bộ luật, văn bản để hiện thực hóa, làm rõ các quy định các vấn đề trong Hiến pháp
nhằm thực hiện quyền được tiếp nhận, được đọc, được nghe thông tin từ các phương tiện
truyền thông, nhưng trên thực tế việc tiếp cận thông tin của cơng dân cịn hạn chế, việc
cơng khai và cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu
của người dân, chưa tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin một cách chủ động,

nhanh chóng và thuận tiện. Phạm vi, hình thức tuyên truyền. cách thức công khai thông
tin cũng như cách thủ tục, quy trình tiếp nhận và xử lý các yêu cầu và cung cấp các thông
tin cần thiết chưa được công khai minh bạch chưa được thống nhất trên cả nước, cách
thức xử lý còn phụ thuộc vào quyết định của mỗi cơ quan và chuyên viên xử lý hồ sơ.
Để khắc phục những điểm chưa tốt, điểm còn hạn chế, việc ban hành 1 bộ luật chung là rất cần thiết và
khẩn trương và đó là lý do Luật Tiếp cận thông tin ra đời. Luật Tiếp cận thơng tin là rất cần thiết đóng
một vai trị quan trọng góp phần bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin với tư cách là quyền cơ
bản của công dân, góp phần bổ sung và làm điều cơ bản để phát triền thêm và làm tiền đề cho các quy
định được ban hành trong Hiến pháp 2013. Luật Tiếp cận thông tin gồm 5 chương 37 điều chỉ rõ cách
nhân dân có thể tiếp cận thơng tin, phạm vi thoogn tin có thể tiếp nhận, các hành vi được phép và không
được phép trong cung cấp và tiếp nhận thông tin, các bước để công khai thông tin với xã hội. Để đảm
bảo thực hiện quyền được tiếp thu và nhận thức thông tin của công dân , Luật đã ban hành những quy
chế và quy định trách nhiệm của từng cơ quan trong việc xác định các đơn vị các cá nhân đủ tin tưởng,
đủ uy tín để cung cấp thông tin. Các thông tin cần phải được cơng khai, duy trì được cập nhật liên tục, và
đảm bảo thơng tin có hệ thống đầy đủ, tồn diện, kịp thời, dễ dàng tra cứu; rà soát, phân loại, kiểm tra
và bảo đảm tính bí mật của thơng tin trước khi cung cấp.
Hơn nữa, Đảng và Nhà nước đã đưa ra những phương pháp và cải cách để giúp công dân bị
khuyết tật hay công dân sống ở vùng hải đảo, vùng sâu vùng xa tiếp cận thông tin một cách dễ dàng.

Các vấn đề liên quan đến quyền tiếp cận và cung cấp thông tin

Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Việc cung cấp, quảng bá, truyền thông tin được thực hiện bằng nhiều phương
pháp, hình thức khác nhau để có thể phù hợp với trình độ trí thức, hồn cảnh, địa
hình của từng người dân, từng khu vực.
3



-

Xây dựng hệ thống chuyên in ấn tờ rơi, ấn phẩm, trong trường hợp cần thiết,
đặc biệt quan trọng thì có thể sử dụng ngơn ngữ địa phương, ngơn ngữ dân
tộc.

-

Tổ chức các buổi họp mặt, sinh hoạt thường xuyên định kỳ theo tuần hoặc
theo tháng để dễ dàng và nhanh hóng trao đổi thơng tin với mọi người khơng
thể đọc hoặc viết.

Tăng thời lượng truyền, phát bản tin đối với loại thơng tin liên quan đến cơ chế, chính sách của người
dân sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn.
Căn cứ vào loại thơng tin, đối tượng cần cung cấp thông tin, cơ quan nhà nước trên địa bàn quyết định
lựa chọn một hoặc các hình thức cung cấp thơng tin cơng khai rộng rãi hoặc các hình thức khác phù hợp
với khả năng tiếp cận thông tin của công dân

-

 Cơ quan nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá
nhân nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc xây dựng hệ
thống thông tin để giúp nhân dân ở các  khu vực biên giới, hải đảo, miền núi,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể tiếp nhận thơng tin một
cách nhanh chóng, thuận tiện và chính xác nhất.

4



Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin
Các loại thông tin liên quan mật thiết đến đời sống, sinh hoạt sản xuất của người khuyết tật phải được
th-ông báo trực tiếp hoặc qua các phương tiện truyền thông đại chúng một cách nhanh và chính xác
nhất, thuận lợi cho người khuyết tật có thể tiếp thu và sửa đổi.
Cung cấp hoặc mở những buổi chia sẻ, hướng dẫn nghề nghiệp để người khuyết tật có thể tiếp cận, sử
dụng cơng nghệ thơng tin và truyền thơng.
Bố trí thiết bị nghe, nhìn và các thiết bị phụ trợ phù hợp với dạng và mức độ khuyết tật của người yêu
cầu cung cấp thông tin và phù hợp với điều kiện thực tiễn của cơ quan mình
Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất như cung câp các thiết bị như trợ thính, xe lăn, các thiết bị phụ trợ và
các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để tiếp cận thông tin theo yêu cầu.
 Cơ quan cung cấp thông tin bố trí cán bộ, cơng chức hướng dẫn, giải thích và giúp đỡ người khuyết tật
gặp khó khăn 
Ngồi những kiến thức chun mơn thì cần phả lồng ghép những thơng tin bài học , kinh nghiệm đối với
người khuyết tật trong các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn cho bộ
phận đầu mối và cán bộ, công chức đầu mối cung cấp thơng tin của cơ quan.

Ngồi ra, cơng dân cịn có nghĩa vụ :
Tn thủ quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin

-

- Không làm sai lệch nội dung thông tin đã được cung cấp

-

Khơng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của
người khác khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Luật Tiếp cận thông tin được Đảng và Nhà Nước chấp nhận thông qua từ
6/4/2016, và sẽ đưa vào hoạt động từ ngày 01/07/2018. Luật ra đời là bước chuyển mạnh

mẽ trong minh bạch hóa thơng tin, góp phần xây dựng một xã hội cởi mở về thơng tin,
một Chính phủ cơng khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao trong hoạt động quản lý,
điều hành đất nước, tiếp tục đưa chủ trương “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đi
vào cuộc sống.
Sau đây là một số nội dung quy định trong Luật Tiếp cận thông tin:

5


1.

Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong các văn bản, hồ sơ, tài liệu ở
dạng văn bản hoặc tranh ảnh, băng đĩa, bang ghi hình.

2.

Thơng tin do nhà nước tạo ra là tin , dữ liệu được tạo ra trong q trình các cơ
quan có thẳm quyền được Nhà Nước cho phép trong quá trình nghiên cứu tiếp
nhận và xác minh được. Ngồi ra, cần phải có chữ ký, đóng dấu hoặc được xác
nhận bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền.

3.

Tiếp cận thơng tin là người dân có thể đọc, xem, tìm hiều , áp dụng được
thông tin.

4.

Cung cấp thông tin là đưa thông tin đến với nhân dân một cách nhanh và chính
xác nhất có thể để người dân có thể tiếp cận thơng tin một cách dễ dàng nhất.

Hơn nữa còn bao gồm việc cơ quan có thẩm quyền cơng khai và cung cấp
thông tin theo yêu cầu của nhân dân.

I.

Nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin
1. Mọi công dân không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tuổi tác. Tất cả đều
bình đẳng, cơng bằng, khơng bị phân biệt trong khi thực hiện quyền tiếp nhận
thông tin của bản thân.
2. Thơng tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ.
3. Việc cung cấp thơng tin phải nhanh chóng, kịp thời, phải được minh bạch,
cơng khai cho tồn bộ người dân để học có thể nắm rõ, hiểu chính xác nội
dung và tiếp nhận một cách dễ dàng nhất.
4. Việc hạn chế quyền tiếp cận phải được các cơ quan có thảm quyền cho phép
và thơng qua trong các trường hợp như: bảo vệ an ninh – quốc phòng của dân
tộc, nhưng thông tin mật liên quan đến phát triển kinh tế xã hội của quốc gia,
đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
5. Việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, nhân dân phải đảm bảo không được
dùng những thông tin đã được tiếp thu để xâm phạm lợi ích quốc gia, bí mật
dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác.

6


II.

Chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin
1. Công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin theo quy định của Luật này.
2. Người phạm tội liên quan đến hình sự, dân sự, người mất năng lực hành vi dân
sự thực hiện yêu cầu được tiếp cận thông tin thông qua người đại diện hoặc

người bảo lãnh.
3. Người khuyết tật hoặc người có khó khan về làm chủ hành vi thực hiện, có
vấn đề về nhận thức sẽ được thực hiện quyền thông qua người giám hộ.
4. Người dưới 18 tuổi hay người chưa đủ khả năng để chịu trách nhiệm hình sự
thì sẽ được tiếp nhận hay cung cấp thông tin thông qua người bảo lãnh hoặc
người giám hộ.

III.

Thông tin công dân không được tiếp cận
1. Thông tin thuộc bí mật quốc gia liên quan đến các yếu tố như chính trị, quốc
gia, quốc phịng – an ninh, có liên quan đến các vấn đề tranh cãi trên phương
diện quốc tế, làm ảnh hưởng đến quyền lợi, vị thế của Đất nước trên Thế giới.
Ngồi ra, cịn là những thông tin như đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ,

Trong một số trường hợp khẩn cấp hoặc cần thiết, các thơng tin này được giải
mật thì sẽ có những quy định, quy chế đặc biệt riêng.
2. Thông tin mà nếu bị tiếp cận hoặc bị bại lô sẽ gây ra ảnh hưởng lớn đến lợi ích
Quốc gia, ảnh hưởng xấu đến an ninh – quốc phòng, gây mất đoàn kết nội bộ,
ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại, đối nội,  đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng
đồng; gây nguy hại đến tính mạng, cuộc sống hoặc tài sản của người khác.
Ngồi ra những thơng tin nahan dân khơng được quyền tiếp cận cịn là nhưng
thơng tin thuộc bí mật công tác; thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà
nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ.

IV.

Thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện

7



1. Thông tin liên quan đến các vấn đề kinh doanh được tiếp cận nhưng trong
trường hợp được người sở hữu kinh doanh đó đồng ý và chấp thuận chia sẻ.
2. Các thơng tin liên quan đến các bí mật, vấn đề cuộc sống các nhân, đời tư của
một người nào đó được tiếp cận khi được cá nhân sở hữu vấn đề đó đồng ý.
Thơng tin liên quan đến tập thể thì phải được tất cả các thánh viên trong tập
thể đồng ý thì mới được quyền tiếp cận.
VD: Khi một công ty muốn chia sẻ thông tin cá nhân của từng thành viên thì
phải có chấp thuận của các thành viên thì mới đủ cơ sở và pháp lý để chia sẻ
thông tin cho bên thứ 3.
V.

Quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tiếp cận thông tin
1.

Quyền lợi nhân dận được hưởng:

-

Được cung cấp thông tin một cách đầy đủ, kịp thời , mang tính chính xác cao,
dễ dàng tiếp nhận.

-

Khiếu nại, khởi kiện, tố cáo các cá nhân và tập thể khi phát hiện ra vi phạm về
tiếp nhận thông tin (Tiếp nhận thôn tin khi chưa được người sở hữu thông tin
cho phép, gây ra những tổn thất cho các nhân đó) hay cugn cấp thông tin
(Cung cấp các thông tin giả mạo, chưa được kiểm chứng, gây ra ảnh hưởng
nghiêm trọng đến cá nhân hoặc tập thể)


2.

Các nghĩa vụ mà nhân dân phải tuân thủ

-

Đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các quy định của Nhà nước đã đề ra trong việc tiếp
cận thông tin hoặc cung cấp thông tin

-

Nghiêm cấm chỉnh sửa, thêm bớt những yếu tố gây hoang mang cho người
đọc, gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng cho xã hội.
VD: Trong đại dịch Covid 19 vừa qua, rất nhiều các chủ tài khoản mạng xã
hội (Facebook, …) đã lợi dụng không gian mạng để đưa những thông tin sai
lệch, không đúng với thực tế để câu like, câu view đã bị đưa ra để xét sử dân
sự. Ngồi ra, cũng có rất nhiều trường hợp gây ra hậu quả nghiêm trọng cho
cộng đồng đã bị xét xử hình xự.
8


-

Khơng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc của
người khác khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

VI.

Cách thức cung cấp thông tin

-

Luật tiếp cận thông tin quy định, trong những trường hợp đặc biệt thì sẽ có
cách giải quyết, khắc phục nhất định. Các trường hợp khác nhau sẽ có cách
giải quyết khác nhau chứ không dập khuôn giải quyết một cách cứng nhắc
khơng linh hoạt.

-

Theo đó, trong trường hợp người dân đến các trụ sở cơ quan Nhà nước yêu
cầu cung cấp thơng tin:
1. Nếu là thơng tin đơn giản thì cán bộ có thẩm quyền phải có nhiệm vụ và
trách nhiệm cung cấp nagy cho người dân.
2. Nếu là thông tin phức tạp, cần có thời gian và hỏi ý kiến cấp trên, cần tập
hợp các thông tin từ các bộ ban hành khác thì chậm nhất là trong vịng 10
ngày phỉa trả lời cho người dân để họ có thể tiếp cận thông tin một cách dễ
dàng và thuận lợi.

-

Người dân khi u cầu thơng tin thì có quyền được trực tiếp được đọc, được
nghe, được xem ,….

-

Trong trường hợp người dân có nhu cầu cung cấp thơng tin qua các phương
tiện truyền thông đại chúng, qua mạng điện tử:
1. Đối với thơng tin đơn giản, có sẵn thì cán bộ sẽ có 3 ngày để tiếp cận xác
minh và thông báo lại cho người dân
2. Với thông tin phức tạp, cần tập hợp từ các bộ phận của cơ quan đó hoặc

phải có ý kiến của cơ quan khác, phải mất thời gian đi xác minh, tìm hiểu
thì chậm nhất là 15 ngày làm việc
3. Việc cung cấp thông tin qua mạng điện tử được thực hiện bằng các cách
thức như: gửi tập tin đính kèm thư điện tử; cung cấp mã truy cập một lần
(chỉ dẫn địa chỉ truy cập để tải thông tin)

9


-

Luật Tiếp cận thơng tin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát huy tính
dân chủ theo đúng đề án mà Nhà nước cung cấp và đề ra, tạo điều kiện thúc
đẩy và bảo vệ quyền và lợi ích cá nhân, góp phần đảm bảo bình đẳng, cơng
bằng không phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội , cũng như sẽ đáp ứng đủ các
nhu cầu ngày càng cao của các cá nhân, công ty, doanh nghiệp. Và càng quan
trọng hơn, Việt Nam đang trên con đường hội nhập với Quốc tế nên việc u
cầu thơng tin đóng góp một vị trí quan trọng trong việc phát tiển thương mại
và kinh tế cho Đất nước.

VII.

Trách nhiệm của đơn vị đầu mối cung cấp thông tin
-

Cơ quan chức năng phải bố trí người làm đầu mối cung cấp thơng tin chính
thống (Thơng qua các trang báo uy tín, chương trình thuộc thảm quyền của
Đài truyền hình Quốc Gia và các phương tiện truyền thông khác) để thực hiện
việc cung cấp thông tin theo đúng quy định.


-

Tiếp nhận và xử lý các yêu cầu của người dân một cách linh hoạt, khơng nhất
thiếp phải q cứng nhắc. Chủ trì, phối hợp với các ban ngành, đơn vị có liên
quan để nhanh chóng xác minh tạo điều kiện tốt nhất cho việc xử lý yêu cầu
cung cấp thông tin và thực hiện cung cấp thông tin cho công dân theo yêu cầu
của từng cá nhân.

-

 Quan tâm tiếp nhận, trả lời hoặc phối hợp với các đơn vị liên quan trả lời
phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cơng dân.

-

Cán bộ, cơng chức có trách nhiệm hướng dẫn thủ tục cách thức cho người dân
một cách tự nguyện, vui vẻ để nhanh chóng hồn thành cơng việc của nhân
dân. Ngồi ra, cịn phải giải thích, giúp đỡ người khơng biết chữ, người khuyết
tật, người gặp khó khan khác trong việc điền phiếu. Trong trường hợp cụ thể
như là người dân không thể tự cung cấp thông tin cá nhân, khơng thể tự điền
các loại giấy tờ có liên quan thì cán bộ hướng dẫn có trách nhiệm điền hộ và
giúp đỡ người dân.

10


-

Theo dõi, đơn đốc các phịng ban, các chun viên giải quyết yêu cầu cung cấp
của người dân, xem xét, tổng hợp, tóm tắt lại tình hình, kết quả cơng tác cung

cấp thông tin thuộc phạm vi trách nhiệm của cơ quan; báo cáo định kỳ và đột
xuất tới người đứng đầu cơ quan cung cấp thông tin.

A. Các vấn đề liên quan đến thông tin cá nhân
I.

Nhận diện cơ bản về thông tin cá nhân và hành vi xâm phạm thông tin cá
nhân
-

Khái niệm thông tin cá nhân

1. Thông tin cá nhân là các thơng tin có đủ cơ sở pháp lý để xác định danh tính
một cá nhân (Ví dụ: Căn cước cơng dân có đầy đủ các thông tin về định danh
như: Họ tên, ngày sinh, địa chỉ thường trú, quê quán). Qua đó, có thể dễ dàng
nhận ra được, về khái niệm Thông tin cá nhân , mặc dù ở Việt Nam các định
nghĩa, khái niệm chưa được rõ rang, minh bạch nhưng Đảng và Nhà Nước đã
có cách tiếp cận đúng và giảm được khoảng cách với khái niệm được ghi nhận
trong các văn bản được Quốc tế công nhận là hợp pháp.
2. Thông tin cá nhân mang tính cá biệt (nhân thân): Tính riêng tư, cá nhân hóa
(Mỗi người sẽ có một mã định danh khác nhau, trên mỗi Căn cước cơng dân
có dấu vấn tay của mỗi công dân nên không thể nhần lẫn, mang tính xác thực
cao nhất) từ đó quyết định nhu cầu bảo vệ - gắn với quyền riêng tư. Tính hiện
thực nhằm xác định được chủ thể trong một quan hệ pháp luật về bảo vệ
TTCN nhất định.
3. Tính xác thực – liên kết (khả truy) của nội dung thông tin: Từ một hoặc nhiều
thông tin liên kết lại với nhau thì sẽ xác định được, nhận dạng được đó là cá
nhân cụ thể nào trong xã hội (Ví dụ: Từ Họ và tên, ngày tháng năm sinh ,quê
quán thì sẽ xác định được các thơng tin các như địa chỉ thường trú, cách thức
liên hệ, và các thông tin cá nhân khác). Tiêu chí này chỉ khơng tính đến các

thông tin mà pháp luật và Nhà nước không cần hoặc không quan tâm, không
thể bảo vệ như: Thông tin ẩn danh, thông tin không tồn tại, hay những thông
11


tin quá phổ biến, phổ thông của cá nhân, tổ chức mà khơng thể chỉ dựa vào nó
để xác định, nhận dạng được cá nhân đó là ai.
4. Tính đa dạng về nội dung và hình thức thể hiện của TTCN: Thông tin cá nhân
phát sinh từ nhiều mối quan hệ, từ nhiều mối quan tâm khác nhau của các cá
nhân, và thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau cả trong đời sống cá nhân lẫn đời
sống cơng việc như: hình sự, kinh tế, cơng nghệ ,….
-

Các nhóm Thơng tin cá nhân
1. Nhóm những thơng tin riêng:

+

Thơng tin mơ tả tự nhiên (dấu vân tay, sinh trắc học, di truyền)

+

Thông tin nhận dạng (Số căn cước công dân, Số bảo hiểm xã hội ,..)

+

Thơng tin về việc làm

+


Thơng tin hình sự

+

Thơng tin giáo dục

2. Nhóm thơng tin về đời sống riêng tư

+

Thông tin về nguồn gốc dân tộc, nguồn gốc xã hội

+

Thông tin về đời sống, tư tưởng, tinh thần

+

Thông tin về sức khỏe

+

Tư tưởng tơn giáo

+

Quan điểm chính trị

3. Nhóm thơng tin về gia đình


+

Thơng tin về đặc tính sức khỏe (Lịch sử sức khỏe gia đình, Tình

trạng sức khỏe hiện tại, Thơng tin bệnh di truyền)
+

Thơng tin bí mật của gia đình (Con riêng, con ni)

+

Thơng tin về dịng họ, gia tộc (Nguồn gốc, lịch sử, gia phả)

Qua những phân tích, cơ sở lí luận, pháp lý kể trên là các vấn đề trọng tâm xung
quanh nội hàm của khái niệm Thông tin cá nhân. Đây là kim chỉ nam đóng một vai trị
quan trọng to lớn trong việc nghiên cứu, khám phá và tìm hiểu các hành vi xâm phạm
Thơng tin cá nhân đã và đang có trong hiện trạng hiện nay.
12


II.

Về hành vi xâm phạm thông tin cá nhân
Việc xâm phạm để nhằm thực hiện nhiều mục đích khơng hợp pháp khác nhau
-

Để buôn bán kiếm lời: Khi đã lấy thành cơng và có một lượng lớn Thơng tin
cá nhân, với việc mãng xã hội ngày càng phát triển và khó kiểm sốt như hiện
trạng hiện nay thì người vi phạm có thể dễ dàng thực hiện hành vi bn bán
Thơng tin cá nhân, từ đó người mua sẽ tiếp tục sử dụng các Thông tin cá nhân

này cho các mụ đích riêng điển hình như là: quảng cáo hang hóa, mơi giới,
tiếp thị ,… nghiệm trọng hơn là những kẻ xấu có thể lợi dụng những lỗ hổng
trong hệ thống an ninh trên mạng để sử dụng Thông tin cá nhân nhằm lửa đả,
tống tiền, chiếm đoạt tài sản.

-

Nhằm bôi nhọ danh dự và nhân phẩm: Dựa vào những Thông tin cá nhân nhạy
cảm, viết những tiêu đề giật gân, độc lạ để thu hút sự chú ý của cộng đồng
mạng, có mục đích xấu hạ thấp uy tin, bơi nhọ danh dự, nhân phẩm.
(Ví dụ: Đào bới, tìm kiếm xâm phạm và sử hữu bất hợp pháp một số hình ảnh,
đoạn phim nhạy cảm của người khác rồi tung lên mạng với mục đích câu like ,
câu view nhằm hạ nhục, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của người khác,
gây ra những hậu quả nghiêm trọng.)

-

Để đe dọa, tống tiền: Thông tin cá nhân bao gồm nhiều loại thông tin khác
nhau và trong rất nhiều loại thông tin thì sẽ có những thơng tin xấu, thơng tin
bí mật mà người sở hữu thông tin không muốn lộ ra ngồi hoặc khơng muốn
q nhiều người biết vì đó có thể là điểm yếu, điểm nhạy cảm. Lợi dụng điều
đó, kẻ xấu đe dọa sẽ cơng khai, lan truyền những thông tin nhạy cảm này nếu
nạn nhân không đáp ứng được yêu cầu của chúng.

13


III.

Những cách thức xâm phạm thông tin cá nhân đã diễn ra trên thực tế

Trên thực tế, các hành vi xâm phạm Thông tin cá nhân đã và đang diễn ra bằng cách
những cách thức vô cùng đa dạng và ngày càng tinh vi, lợi dụng những lỗ hổng trên
không gian mạng, với nhiều mục đích, nhiều nhóm đối tượng khác nhau
-

Nhiều năm gần đây, việc mua bán Thông tin cá nhân đã diễn ra rất phổ biến
và dễ dàng hơn rất nhiều và với chi phí khơng q cao. Các thông tin bao gồm
cả những thông tin như là Số căn cước công dân, sô điện thoại, quê quán, họ
và tên. Các “sản phẩm” từ Thông tin cá nhân được rao bán khá đa dang, đầy
đủ dưới nhiều hình thức khác nhau, phong phú như : danh sách khác hàng đầu
tư chứng khoán, danh sách những cá nhân, hộ gia đình có hồn cảnh khó khan
hoặc đặc biệt khó khăn ở tùy khu vực, danh sách các khách hang mua bảo
hiểm, nhà và xe, ….Đặc biệt, Thông tin cá nhân người dung trong nhũng giao
dịch trực tuyến, online qua mạng để thanh tốn các hóa đơn khi tham gia vào
quá trình thương mại điện tử, mặc dù đã được mã hóa sau đó mới lưu vào hệ
thống dữ liệu của các doanh nghiệp, nhưng nếu hệ thống bảo mật thơng tin của
doanh nghiệp khơng được đánh giá cao thì các tin tặc tấn công dẫn đến mất cơ
sở duex liệu và ảnh hưởng đến các cá nhân đã sử dung hệ thống của doanh
nghiệp đó để thực hiện các giao dịch trên thương mại điện tử. Chính những
hành động kể trên đã dẫn đến việc bất kỳ cá nhân nào cũng có thể bị quấy rầy,
làm phiền bởi các cuộc gọi, tin nhắn “rác, bẩn” hằng ngày, phải đứng trước
nguy cơ bị lừa đảo, chiếm đoạt tài sản

-

Tiết lộ Thông tin cá nhân của người nổi tiếng: Trong thời gian qua, xuất hiện
rất nhiều các vụ việc các ngôi sao, người nổi tiếng bị các hacker nghe lén,
thâm nhập điện thoại, laptop rồi tiết lộ giấy khai sinh, công khai các tin nhắn
cá nhân, Mục đích của những việc làm này là để đánh bóng các fanpage, câu
like, câu view, hay chỉ đơn thuần là thỏa mãn tính tị mị về đời sống cá nhân

của những ngơi sao, người nổi tiếng. Việc tiết lộ như trên, thống qua thì trơng
có vẻ khơng nghiêm trọng, khơng gây ảnh hưởng gì quá nặng nề, nhưng thật
14


ra đã gây ra những hậu quả và ảnh hương nghiêm trọng đến đời sống riêng tư
cũng như công việc, hình ảnh và danh dự của nghệ sĩ.
-

Thu thập Thơng tin cá nhân từ việc xâm nhập, can thiệp một cách trái phép
vào hệ thống thông tin điện tử bằng mã độc:
Việc sử dụng mã độc, công nghệ cao để thu thập Thông tin các nhân đã trở
nên ngày càng nghiêm trọng, càng ngày càng tinh vi và khó kiểm sốt trong
mơi trường internet qua máy tính và điện thoại di động. Tổ chức Viễn thông
quốc tế (ITU) đã công bố Báo cáo Chỉ số an tồn thơng tin mạng toàn cầu
(Global Cybersecurity Index – GCI) của Việt Nam năm 2014 đứng thứ 76/193
quốc gia. Năm 2017, Việt Nam xếp hạng 100/193 quốc gia. Việc bị tụt 24 bậc
về Chỉ số an tồn thơng tin mạng đã thể hiện phần nào tình trạng mất an tồn
thơng tin, trong đó có TTCN ở nước ta hiện nay. Theo thống kê của cơ quan
Cảnh sát điều tra TP về tham nhũng, buôn lậu Cơng an TP. Hồ Chí Minh cho
biết, trong 11 tháng đầu năm 2018, cơ quan này đã thụ lý, tiếp nhận tổng cộng
213 vụ việc, tin báo tố giác TP liên quan đến TP trong lĩnh vực công nghệ cao.
Tài sản thiệt hại hơn 143 tỷ đồng và 1,9 triệu USD, trong đó lừa đảo qua điện
thoại chiếm nhiều nhất với 68 vụ. 

15




×