MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐÀU..................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ VÀ CHUẮN BỊ XÉT xử
vụ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI................................................... 6
1.1.
Khái niệm thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại..... 6
1.1.1.
Khái niệm về thụ lý vụ án kinh doanh thương mại........................................ 8
1.1.2.
Khái niệm về chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại........................ 9
1.2.
Đặc điếm của thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại..... 10
1.2.1.
Đặc điểm của thụ lý vụ án kinh doanh thương mại..................................... 11
1.2.2.
Đặc điểm của chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại...................... 12
1.3.
Ý nghĩa của thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại...... 12
1.3.1.
về mặt chính trị - xã hội............................................................................... 12
•
•
•
•
•
1.3.2. về mặt pháp lý và thực trạng áp dụng pháp luật........................................... 13
1.4.
Mối quan hệ giữa thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh
thương mại................................................................................................... 14
1.4.1.
Thụ lý vụ án là tiền đề của giai đoạn chuẩn bị xét xử, là điểm khởi đầu,
quyết định các hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.......................... 14
1.4.2.
Chuẩn bị xét xử là giai đoạn tiến hành các hoạt động tố tụng giải quyết
và hoàn thiện các vấn đề đặt ra ở giai đoạn thụ lý....................................... 15
1.5.
Các quy định của pháp luật tố tụng về thụ lý và chuấn bị xét xử vụ
án kinh doanh thương mại....................................................................... 17
Kết luận chương 1...................................................................................................21
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TÓ TỤNG DÂN Sự VÈ THỤ LÝ VÀ CHUẤN BỊ XÉT xử vụ
ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI........................................................ 22
2.1.
Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án kinh doanh
•
•
“
M
1
•
•
CJ
•
•
•
thương mại................................................................................................... 22
2.1.1.
Nhận đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo...............................................23
2.1.2.
Xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo......................... 26
2.1.3.
Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện...................................................... 30
2.1.4.
Các quy định về điều kiện thụ lý vụ án....................................................... 30
2.1.5.
Thụ lý vụ án................................................................................................... 38
2.1.6.
Thông báo về việc thụ lý vụ án................................................................... 41
2.1.7.
Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án...................................................... 43
2.2.
Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xủ’ vụ án kinh
doanh thương mại.......................................................................................44
2.2.1.
Quy định của pháp luật về thời hạn chuẩn bị xét xử.....................................44
2.2.2.
Quy định của pháp luật về lập hồ sơ vụ án................................................... 45
2.2.3.
Quy định của pháp luật về hòa giải............................................................... 50
2.2.4.
Cácquyết định trong giai đoạn chuấn bị xét xử............................................ 55
2.3.
Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thụ lý và chuấn
bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại................................................... 60
2.3.1.
Những kết quả đạt được trong thực tiễn áp dụng pháp luật về thụ lý và
chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại............................................. 60
2.3.2.
Những tồn tại, vướng mắc trong áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về
thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại và nguyên nhân ...64
Kết luận chương 2.................................................................................................... 81
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐÈ PHÁP LÝ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VÈ THỤ LÝ VÀ CHUẢN BỊ XÉT xử vụ
ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI........................................................ 82
3.1.
Một số vấn đề pháp lý về thụ lý và chuẳn bị xét xử vụ án kinh
doanh thương mại....................................................................................... 82
3.2.
Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý và chuẩn bị xét xử
vụ án kinh doanh thương mại................................................................... 83
Kết luận chương 3.................................................................................................... 86
KÉT LUẬN............................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................... 88
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
NGUN NGHĨA
BLDS
BƠ• lt
• dân sư•
BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
HĐTPTANDTC
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
KDTM
Kinh doanh thương mại
TAND
Tòa án nhân dân
MỎ ĐÀU
1. Tính câp thiêt của đê tài nghiên cứu
Việt Nam đang phát triển mạnh mể trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế,
văn hóa, xã hội. Sự phát triến này có những tác động cũng như đóng góp đáng kế
cho sự phát triền chung của đất nước. Bên cạnh đó các tranh chấp phát sinh từ các
quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân, hoạt động kinh doanh, thương mại, lao động
ngày càng nhiều hơn.
Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại tuy chiếm tỷ lệ không lớn so
với các loại vụ án khác mà Tòa án các cấp đang thụ lý, giải quyết, nhưng tính chất
lại rất đa dạng, phức tạp và số lượng ngày càng tăng qua các năm, đồng thời cũng
là một trong những loại vụ án có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh
doanh, đến môi trường đầu tư và việc thụ lý, giải quyết những tranh chấp về kinh
doanh, thương mại tại Tịa án tốt hay khơng tốt sẽ ảnh hưởng đến uy tín của nền tư
pháp, của Tịa án Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là một trong những vấn đề
mà hệ thống Tòa án nhân dân cần quan tâm trong quá trình cải cách tư pháp, hội
nhập quốc tế.
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tịa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chú nghĩa, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Chế định này đã
được quy đinh trong Hiến pháp năm 2013.
Để hoạt động xét xử được đúng đắn, Tòa án phải áp dụng đúng các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự trong q trình giải quyết vụ án dân sự nói
chung, vụ án KDTM nói riêng. Những quy định của pháp luật tố tụng dân sự chặt
chẽ, rõ ràng sẽ đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, công
minh và đúng pháp luật.
Những năm qua, mặc dù là địa phương có số lượng án thụ lý, giải quyết
đứng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng Tòa án hai cấp tỉnh Đồng
1
Tháp đã thực hiện tôt công tác xét xử. Vân đê thụ lý, giải quyêt các vụ việc dân sự
luôn được Tòa án chú trọng, các vụ việc đều được đưa ra giải quyết kịp thời và
đúng quy định của pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của đương sự.
Tuy nhiên thực trạng áp dụng vẫn còn nhiều tồn tại, vướng mắc đã làm ảnh hường
đến công tác thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng.
Do vậy học viên quyết định chọn đề tài “Thụ lỷ và chuẩn bị xét xử các vụ án kinh
doanh thương mại theo pháp luật Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp vỉ rất cần
thiết trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Hoạt động thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM có ảnh hưởng lớn đến việc
giải quyết vụ án. Ở nước ta thủ tục tổ tụng này được quy định khá sớm, để đáp ứng
được tình hình xã hội, trình độ dân trí thì pháp luật tố tụng ngày càng hoàn thiện
hơn theo thời gian như Pháp lệnh thú tục giải quyết các vụ án kinh tế, BLTTDS
năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và hiện nay là BLTTDS năm 2015, có
hiệu lực từ ngày 01/7/2016.
Từ trước đến nay, có rất nhiều luận văn, tài liệu, tạp chí, hội thảo khoa học
nghiên cứu về vấn đề trên, nhưng mồi đề tài chỉ nghiên cứu về thụ lý vụ án KDTM,
hòa giải tranh chấp về kinh doanh, thương mại hay chuẩn bị xét xử vụ án dân sự
trong Luật tố tụng dân sụ’ Việt Nam, v.v. Mỗi đề tài đều có nghiên cứu và phân tích
pháp luật tổ tụng theo cách riêng. Các đề tài nêu khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý
nghĩa của đề tài và phân tích các quy định cùa pháp luật có liên quan đến đề tài
nghiên cứu. Chẳng hạn:
- Nguyễn Thị Thanh Tâm (2020), “Thụ lỵ vụ án KDTM sơ thảm qua thực
tiễn tại TAND hai cấp tỉnh Kon Turn ”, Luận vãn thạc sĩ luật học, Trường Đại học
luật, Đại học Huế.
- Trương Thị Hai (2018), “Hòa giải tranh chấp hợp đồng tín dụng qua thực
tiễn giải quyết tại TAND thành phố Đà Nang”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường
Đại học luật, Đại học Huế.
•
•
•
X
•
•
- Phan Thị Thu Hiền (2016) “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong
2
Luật tô tụng dân sự Việt Nam ”, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quôc
gia Hà Nội.
Nhìn chung, BLTTDS hiện hành quy định khá đầy đủ những quy định, thù
tục về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án dân sự nói chung, vụ án KDTM nói riêng,
góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả của công tác xét xử sơ thấm. Tuy
nhiên thực trạng áp dụng pháp luật thời gian qua vẫn còn những tồn tại, vướng mắc
cần phải được giải đáp và hướng dẫn thi hành, vấn đề thực hiện pháp luật của một bộ
phận cán bộ Tòa án chưa đồng nhất nên ít nhiều gây phiền tối cho người dân, đương
sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do vậy việc chọn đề tài
“Thụ lý và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại theo pháp luật Việt
Nam” với mong muốn giải quyết được một phần vấn đề từ thực trạng nêu trên.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tống quát
Mục tiêu cuối cùng, chung nhất của đề tài luận văn “Thụ lý và chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án KDTM theo pháp luật Việt Nam” nhằm làm rõ cơ sở lý luận, các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự, thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng dân sự liên
quan đến đề tài nghiên cứu luận văn tại Tòa án hai Cấp tỉnh Đồng Tháp và qua đó nêu
một số kiến nghị hồn thiện pháp luật về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM.
3.2. Mục
• tiêu cụ
• thể
Bằng các số liệu thu thập được từ Tòa án, đề tài sẽ làm rõ thực trạng áp
dụng quy định của pháp luật về thụ lý và chuẩn bị xét xừ vụ án KDTM theo pháp
luật Việt Nam, qua đó sẽ nêu lên nhừng tồn tại, vướng mắc trong quá trình áp
dụng các quy định này và nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc để kiến nghị
hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án
KDTM nhàm nâng cao hiệu quả hoạt động thụ lý và chuẩn bị xét xừ loại vụ án
này trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của
BLTTDS năm 2015 gồm nhiều loại tranh chấp như tranh chấp về dân sự; hôn nhân
3
và gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động. Trong phạm vi đê tài này, học viên
tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM, thực
trạng pháp luật và áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ
án KDTM tại Tòa án hai cấp tỉnh Đồng Tháp.
Với đề tài nghiên cứu đã chọn, học viên chỉ tập trung nghiên cứu các hoạt
động thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án KDTM từ khi Tịa án có thấm quyền nhận đơn
khởi kiện đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử.
5. Nội dung, phương pháp và địa điểm nghiên cứu
5.7. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về thụ lý và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án KDTM.
- Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM.
- Áp dụng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM
tại Tòa án hai cấp tỉnh Đồng Tháp.
5.2. Phương pháp nghiên cún
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; chủ trương, quan điểm
cùa Đảng về cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Bên cạnh đó trong q
trình nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích,
tổng hợp số liệu, so sánh, diễn giải, thu thập thông tin để làm sáng tỏ những vấn đề
mà khóa luận cần giải quyết.
5.3. Địa bàn nghiên cún
Luận văn nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng về thụ lý và chuẩn bị xét
xừ sơ thẩm vụ án KDTM theo pháp luật Việt Nam và bằng những số liệu, vụ án cụ
thể của Tòa án hai cấp tỉnh Đồng Tháp.
6. Những điểm mới cùa luận văn
Kết quả nghiên cửu của luận văn sẽ cung cấp thêm những thơng tin, nội
dung thực tiễn, góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về thụ lý và
4
chuân bị xét xử vụ án KDTM từ thực trạng tại Tịa án hai câp tỉnh Đơng Tháp.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo đề nghiên cứu,
học tập và ứng dụng về hoạt động thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM mà các
Tịa án trong q trình áp dụng pháp luật tố tụng dân sự đề giải quyết các tranh
chấp về kinh doanh, thương mại.
7. Kết cấu của luận văn
Ngồi lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM.
___
F
>
Chương 2. Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật tô tụng dân sự vê thụ
và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM.
Chương 3. Một số vấn đề pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý
và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM.
5
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỤ LÝ VÀ CHUẨN BỊ XÉT xử
vụ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
Ll. Khái niệm thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án kinh doanh thưong mại
Vụ án KDTM là một trong những loại vụ việc dân sự thuộc thấm quyền giải
quyết của TAND được quy định trong hệ thống pháp luật tố tụng dằn sự của nước
ta. TAND bắt đầu được giao thẩm quyền giải quyết những vụ án kinh tế tại Điều 12
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được úy ban thường vụ Quốc hội
khóa ĨX thơng qua ngày 16 tháng 3 năm 1994. Thủ tục giải quyết sơ thẩm vụ án
kinh tế (sau phát triển thành thuật ngữ vụ án KDTM) này gồm các giai đoạn xem
xét xử lý đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, phiên tòa xét xử sơ thẩm, v.v.
được quy định từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994,
BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều BLTTDS năm 2011 và hiện
nay được quy định tại BLTTDS năm 2015 (BLTTDS hiện hành).
Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì những
vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND gồm:
1- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân,
giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;
2- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
giải thể công ty;
3- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;
4- Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định cùa pháp luật [22, Điều 12].
Qua đó, yếu tố cơ bản để phân biệt vụ án KDTM với các vụ án dân sự khác
là điều kiện về chủ thể tranh chấp và đối tượng tranh chấp. Các chủ thể tham gia
vào quan hệ tranh chấp trong vụ án kinh tế gồm: pháp nhân, cá nhân có đăng ký
kinh doanh, cơng ty, các thành viên công ty. về đối tượng tranh chấp của vụ án kinh
tế là những quan hệ kinh tế như: họp đồng kinh tế, việc thành lập, hoạt động, giải
thể công ty, việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu, v.v.
6
Kê thừa các quy định của Pháp lệnh, BLTTDS năm 2004 cũng lây yêu tô chủ
thể và đối tượng tranh chấp để xác định vụ án dân sự và vụ án KDTM. Tuy nhiên,
theo quy định của BLTTDS năm 2004, một yếu tố nữa được xem là điều kiện đủ để
xác định tranh chấp giữa các cá nhân, pháp nhân có đăng ký kinh doanh, có đối
tượng tranh chấp là các hoạt động kinh doanh, thương mại là mục đích sinh lợi.
Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thâm quyền giải quyết
của Toà án:
1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tố chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận bao gồm:
a) Mua bán hàng hố;
b) Cung ứng dịch vụ;
c) Phân phối;
d) Đại diện, đại lý;
đ) Ký gửi;
e) Thuê, cho thuê, thuê mua;
g) Xây dựng;
h) Tư vấn, kỹ thuật;
i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường
thuỷ nội địa;
k) Vận chuyển hàng hố, hành khách bằng đường hàng khơng, đường biển;
l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác;
m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng;
n) Bảo hiểm;
o) Thăm dị, khai thác.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tố chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt
7
động, giải thê, sáp nhập, hợp nhât, chia, tách, chuyên đơi hình thức tơ
chức của cơng ty.
4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy
định [10, Điều 29].
Quy định này được HĐTPTANDTC hai lần hướng dẫn áp dụng, cụ thể tiết
3.1, 3.2, 3.3 bản 3 Mục 1 Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31 tháng 3 năm 2005
và sau đó được thay thế bằng quy định tại Điều 6 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày
03 tháng 12 năm 2012. Theo đó, nội dung các hướng dẫn này hướng dẫn xác định
các chủ thể tham gia trong tranh chấp kinh doanh, thương mại được BLTTDS năm
2004 quy định.
BLTTDS hiện hành đã kế thừa quy định của BLTTDS năm 2004 về việc xác
định các yếu tố để định danh cho tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên
tại Điều 30 BLTTDS hiện hành không đi theo hướng liệt kê cụ thể các tranh chấp
phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại như quy định của khoản 1 Điều 29
BLTTDS năm 2004. Sự thay đổi này thể hiện sự khái quát hóa quy định về các yếu tố
để phân biệt vụ án KDTM và vụ án dân sự thông thường, về bản chất các yếu tố này
vẫn không khác nhau giữa BLTTDS năm 2004 và BLTTDS hiện hành, bao gồm chủ
thể tham gia, đối tượng tranh chấp là các hoạt động kinh doanh, thương mại và mục
đích của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh, thương mại.
Điếm qua các quy định pháp luật về vụ án KDTM đã phần nào làm rõ được
nội hàm như thế nào là vụ án KDTM theo quy định pháp luật.
1.1.1. Khái niệm về thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Theo Từ điển tiếng Việt: Thụ lý là động từ chỉ việc cơ quan có thẩm quyền
tiếp nhận và giải quyết vụ kiện hay vụ án hình sự [24]. “Thụ lý là việc Tòa án nhận
đơn khởi kiện, v.v.” [9, tr. 442].
về mặt khoa học pháp lý, thụ lý vụ án được hiếu là một hoạt động cùa Tịa
án tiến hành sau khi xem xét tính hợp lệ của một yêu cầu khởi kiện trên cơ sờ quy
định pháp luật với kết quả nhận định rằng yêu cầu khởi kiện, thể hiện qua đơn khởi
kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn đã đảm bảo điều kiện thụ lý theo quy định
8
nên Tòa án tiên hành hoạt động thụ lý vụ án. Tương ứng với yêu câu khởi kiện đôi
với những tranh chấp về kinh doanh, thương mại, thụ lý vụ án KDTM là hoạt động
của Tòa án xác định đơn khởi kiện đủ điều kiện để tiếp nhận giải quyết theo thủ tục
tố tụng dân sự, hoạt động thụ lý vụ án KDTM đánh dấu thời điểm bắt đầu quy trình
tố tụng cũng là thời điểm bắt đầu của giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM.
Các quy định pháp luật từ Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994;
BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và BLTTDS hiện hành đều
khơng có điều khoản nào để giải thích thuật ngữ “Thụ lý vụ án” hay định nghĩa
hoạt động này. Theo đó, khi nói đến thụ lý vụ án, quy định pháp luật chỉ nêu lên
trình tự, thủ tục và các hoạt động tố tụng được quyền và phải thực hiện khi tiến
hành hoạt động này.
Khi nói đến khái niệm thụ lý vụ án KDTM, khó có thể đưa ra một khái niệm
trịn trĩnh, vì tùy vào từng góc độ khác nhau mà khái niệm thể hiện khác nhau.
Trong phạm vi đề tài, học viên xin nêu lên khái niệm mang tính chất xác định về
bản chất của hoạt động thụ lý vụ án KDTM trong thực trạng áp dụng pháp luật.
Theo đó, thụ lý vụ án KDTM là một hoạt động tố tụng của chủ thể có thẩm quyền,
cụ thể là Tịa án có thẩm quyền giải quyết vụ án, sau khi đã xem xét và nhận thấy
đơn khởi kiện đã đảm bảo điều kiện để được Tòa án tiếp nhận, đồng thời chủ thể
khởi kiện đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ được pháp luật quy định khi chủ thể này
thực hiện quyền khởi kiện. Đây là hoạt động đánh dấu bước khởi đầu của quá trình
tố tụng để giải quyết vụ án KDTM tại TAND.
1.1.2, Khái niệm
về chuẩn bị• xét xử vụ• án kinh doanh thương
•
ơ mại
•
Theo từ điển Tiếng Việt “Chuấn bị xét xử là tiến hành những công việc cần
thiết cho việc mở phiên to à xét xử theo quy định, v.v.” [25].
Theo thuật ngữ pháp lý “Chuẩn bị xét xử là những việc mà Tòa án phải tiến
hành đê xét xử vụ kiện sau khi thụ lỷ, như việc nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra về vụ
án trừ những việc mà pháp luật quy định không phải hịa giải” [9, tr.442].
Trong lịch sử hình thành và phát triển cùa ngành luật tố tụng dân sự, chưa có
văn bản quy phạm pháp luật nào nêu định nghĩa hay giải thích từ ngữ đối với thuật
9
ngữ “chuân bị xét xử”. Các tài liệu chuyên khảo, cơng trình khoa học từ trước đên
nay cũng đã đưa ra một số khái niệm về chuẩn bị xét xử dưới các góc độ khác nhau,
mỗi góc độ khác nhau khái niệm này sẽ được nhìn nhận với nội hàm khác nhau.
Theo học viên, dưới góc độ lý luận chuẩn bị xét xử có thể hiếu là một giai đoạn
trong tiến trình tố tụng; là một hệ thống các quy phạm được hệ thống như một chế
định của ngành luật tố tụng dân sự hay là một chuỗi công việc được quy định cho
từng chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, v.v.
Chuẩn bị xét xử được xem là một giai đoạn mà Thẩm phán phải tiến hành
các công việc cần thiết đảm bảo cho việc xét xử và thực hiện trước khi tiến hành xét
xử vụ án dân sự. Trong giai đoạn này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án
phải tiến hành nhiều công việc với nhiều thủ tục khác nhau được BLTTDS quy
định, v.v. [15, tr.88]
Theo quy định pháp luật, thuật ngừ chuẩn bị xét xử được quy định Điều 203
BLTTDS năm 2015, Điều luật này quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử tại khoản 1,
theo đó đối với vụ án KDTM thời hạn chuẩn bị xét xử có thể từ 02 đến 03 tháng tùy
vào mức độ phức tạp của từng vụ việc; trong khoản 2 quy định nhiệm vụ, quyền hạn
của Thẩm phán (chủ thể tiến hành tố tụng trung tâm trong quy trình giải quyết các
vụ án dân sự nói chung và vụ án KDTM nói riêng) trong giai đoạn này; tại khoản 3
quy định một trong các quyết định mà Thẩm phán phải thực hiện trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử.
Với góc nhìn khái qt về mặt từ ngữ, pháp lý, lý luận khoa học và quy định
pháp luật, khái niệm về chuẩn bị xét xử vụ án KDTM được hiểu như sau:
Chuẩn bị xét xử vụ án KDTM là một giai đoạn trong tiến trình tố tụng để giải
quyết vụ án KDTM được quy định bởi một hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng
dân sự. Trong giai đoạn này các chủ thể tham gia vào mối quan hệ tố tụng dân sự có
quyền và nghĩa vụ thực hiện các cơng việc theo quy định nhằm đảm bảo cho việc
xét xử hay giải quyết vụ án KDTM một cách hợp pháp trong một thời hạn luật định.
1.2. Đặc điếm của thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thưong mại
•
•
•
•
ơ
•
Giới hạn trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ nghiên cứu về hoạt động thụ
lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM ở góc độ hoạt động tố tụng của Tịa án, khơng
10
đi sâu vê quyên và nghĩa vụ của người tham gia tơ tụng. Vì thê, dưới góc độ này
dù hoạt động thụ lý vụ án hay giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án KDTM đều là thành
tố của tiến trình tố tụng được điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng dân sự nên chúng
đều mang những đặc điểm của hoạt động tố tụng hay cụ thể hơn là đặc điểm của
hành vi tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng
thực hiện, cụ thể:
- Đảm bảo nguyên tắc cơ bản đặc thù của tố tụng dân sự được quy định tại
Chương II, Phần thứ nhất của BLTTDS hiện hành về những nguyên tắc cơ bản của
tố tụng dân sự.
- Được thực hiện bởi cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố
tụng và thực hiện trên cơ sở phạm vi quyên và nghĩa vụ luật định.
1.2.1. Đặc điêm của thụ lý vụ án kinh doanh thương mại
Dưới góc nhìn thực tiễn áp dụng pháp luật, hoạt động thụ lý vụ án mang
những đặc điểm sau:
Thứ nhất, thụ lý vụ án KDTM chỉ xảy ra khi đáp ứng đủ các điều kiện luật định.
_
.
_
>
Tòa án thụ lý vụ án KDTM sau khi đã nhận được yêu câu khởi kiện của
người khởi kiện; xem xét đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và xác định đã đáp
ứng đủ các điều kiện về: Chủ thể khởi kiện, hình thức và nội dung đơn khởi kiện,
thẩm quyền của Tịa án, tình trạng thực hiện nghĩa vụ của người khởi kiện trong
việc nộp tạm ứng án phí.
Thứ hai, thụ lý vụ án KDTM là một hoạt động chịu sự ràng buộc bởi các
trình tự, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Hoạt động thụ lý vụ án KDTM luôn phải đảm bảo tuân thủ các quy định bắt
buộc pháp luật tố tụng dân sự. Cụ thể khi thực hiện hoạt động này, chú thể tiến hành
hoạt động thụ lý phải tuân thủ các quy định về mặt trình tự, thời hạn.
Thứ ba, thụ lý vụ án KDTM bao gồm một chuỗi hành vi tố tụng của những
chủ thể tiến hành tố tụng.
Việc thụ lý vụ án khơng đơn thuần là việc Tịa án ghi thông tin vụ án vào số
thụ lý mà là một chuỗi hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng như: Tòa án
tiêp nhận và xử lý đơn khởi kiện, thông báo cho người khởi kiện thực hiện nghĩa vụ
nộp tạm ứng án phí; ra thơng báo về việc thụ lý vụ án, bước đầu xác định quan hệ
tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, v.v.
1.2.2. Đặc
điếm của chuẩn bị• xét xử vụ• án kinh doanh thương
•
O mại
♦
Thứ nhất, chuẩn bị xét xử vụ án KDTM bao gồm những hoạt động tố tụng
mang tính chất bắt buộc và cũng chứa những hoạt động mang tính chất tùy nghi.
Chuẩn bị xét xử là một giai đoạn, bao gồm nhiều hoạt động tố tụng, có hoạt
động mang tính chất bắt buộc phải thực hiện trong giai đoạn này như: Lập hồ sơ vụ
án, xác định tư cách đương sự, xác định quan hệ tranh chấp, v.v. Tuy nhiên, tùy tình
huống tố tụng cụ thể mà có thể thực hiện các hoạt động: Xác minh, thu thập chứng
cứ; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, v.v. Hoặc ra một trong số các quyết định:
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hay đưa vụ án ra xét xử.
Thứ hai, có thời điểm bắt đầu và kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử bắt đầu từ khi thụ lý vụ án và kết thúc khi Tòa án
ra một trong số các quyết định sau: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hay đưa vụ
án ra xét xử.
Thứ ba, mang tính thời hạn.
BLTTDS quy định nhiều loại thời hạn tố tụng khác nhau, trong đó thời hạn
chuẩn bị xét xử thuộc một trong số loại thời hạn nêu trên. Thời hạn này được tính
•
•
•
•
•
•
e/
•
kể từ ngày thụ lý vụ án và cách tính thời hạn tố tụng này cũng tuân theo quy định về
cách tính thời hạn của BLDS.
Đây là đặc điểm thể hiện tính đặc trưng của giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án
KDTM, vì theo quy định của BLTTDS hiện hành thì thời hạn chuẩn bị xét xử của
vụ án KDTM ngắn hơn so với các vụ án dân sự khác.
1.3. Ý nghĩa của thụ lý và chuấn bị xét xử vụ án kinh doanh thương mại
1.3.1. về mặt chính trị - xã hội
•
•
•
Thụ lý vụ án KDTM là một hoạt động tố tụng quan trọng đánh dấu việc Tòa
án bắt đầu nhận trách nhiệm giải quyết vụ án, ghi nhận việc Tòa án thực hiện quyền
12
tư pháp của mình. Việc Tịa án thụ lý vụ án đơng nghĩa với việc cơ quan có thâm
quyền đã nhận trách nhiệm xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của chú thề có
quyền, cho thấy một phương thức bảo vệ quyền dân sự của công dân đã được thực
hiện và ghi nhận. Tranh chấp giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự nói chung và
quan hệ kinh doanh, thương mại nói riêng được các chủ thể yêu cầu Tòa án xem xét
giải quyết bằng pháp luật đã thể hiện được tính pháp chế trong hoạt động kinh
doanh, thương mại nói riêng và trong các mối quan hệ dân sự phát sinh thường nhật
trong đời sống xã hội.
Khi Tòa án đã thụ lý và nhận trách nhiệm giải quyết một tranh chấp về kinh
doanh, thương mại giữa các chủ thể, nhàm có một phán quyết chuẩn mực Tịa án
cần có một thời gian đế nghiên cứu, xem xét toàn diện vụ án. Giai đoạn chuẩn bị xét
xử được pháp luật ghi nhận để đáp ứng nhu cầu này. Trong giai đoạn chuấn bị xét
xử bàng nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, những người tiến hành tố
tụng cũng như người tham gia tố tụng thực hiện các hành vi tố tụng để làm rõ nội
dung tranh chấp và tạo tiền đề để giải quyết vụ án một cách thấu đáo.
1.3.2. về mặt pháp lý và thực trạng áp dụng pháp luật
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại Tòa
án, hoạt động thụ lý và chuẩn bị xét xử mang những ý nghĩa về mặt pháp lý và thực
tiễn áp dụng pháp luật như sau:
Ý nghĩa của hoạt động thụ lý vụ án:
Thứ nhất, đánh dấu thời điểm bắt đầu cùa quá trình tố tụng cùa các chủ thể
tham gia vào hoạt động tố tụng. Từ thời điểm này, cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được thực hiện các quyền và nghĩa vụ do
pháp luật tố tụng quy định. Đây là thời điếm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên
khi tham gia vào mối quan hệ tố tụng dân sự.
Thứ hai, hoạt động thụ lý vụ án KDTM là bước khởi đầu quan trọng trong
việc xác định quan hệ tranh chấp có phải là tranh chấp về kinh doanh, thương mại
hay không; tư cách đương sự; phạm vi giải quyết vụ án, v.v. Từ đó giúp cho chủ thể
tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng đúng đắn.
13
Thứ ba, hoạt động thụ lý vụ án KDTM xác định thời điêm băt đâu đê tính
thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án KDTM mà Tòa án đang nhận trách nhiệm
giải quyết.
Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử vụ án KDTM:
Thứ nhất, thông qua hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, hồ sơ
vụ án được xây dựng và hoàn thiện dần, quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự được
xác định chuẩn xác hơn, các tình tiết của vụ án được làm rõ, v.v.
Thứ hai, trong giai đoạn này các đương sự tham gia vào vụ án sẽ được thực
hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, cũng như được tiếp cận các tài liệu,
chứng cứ do các bên tham gia cung cấp và do Tịa án thu thập được, qua đó họ có
thế thực
hiện
quyền
tự định
đoạt
và tự• do thỏa thuận
của mình.
•
•
JL
•
•
•
Thứ ba, giai đoạn chuẩn bị xét xử mang ý nghĩa tiền đề cho các hoạt động tố
tụng tiếp theo, từ kết quả thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử mà quyết định các hoạt động tố tụng tiếp theo cũng như phương thức tố tụng
để giải quyết vụ án. Các vấn đề như thành phần Hội đồng xét xử tiến hành phiên
tịa, có hay khơng có sự tham gia cùa đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, v.v. phụ
thuộc vào giai đoạn chuấn bị xét xử.
1.4. Mối quan hệ giữa thụ lý và chuẩn bị xét xủ’ vụ án kinh doanh thuong mại
1.4.1, Thụ lý vụ án là tiền đề của giai đoạn chuẩn bị xét xử, là điếm khởi
đầu, quyết đinh các hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
Khởi kiện vụ án KDTM là quyền cùa các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt
động kinh doanh, thương mại được pháp luật đảm bảo thực hiện. Khi có phát sinh
tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại, các chủ thể tham gia có thể lựa
chọn phương thức giải quyết tranh chấp là thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án. về
nguyên tắc, Tịa án có thẩm quyền có trách nhiệm phải tiếp nhận đơn khởi kiện của
cá nhân, tổ chức và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác. Theo đó, thụ lý vụ án KDTM là thủ tục tố tụng ghi nhận việc Tòa án
chấp nhận giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của đơn khởi kiện. Kẻ từ thời điềm
thụ lý vụ án, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được phát sinh.
14
Khi thụ lý vụ án, Tòa án thực hiện một sơ hoạt động tơ tụng vê hình thức
như: Ghi vào sổ thụ lý, thông báo về việc thụ lý vụ án theo quy định, phân công
Thẩm phán giải quyết vụ án, v.v. Tất cả các hoạt động hình thức này đều xuất phát
trên cơ sở thực hiện các hoạt động về nội dung quan trọng, có tính liên quan và ảnh
hưởng đến các hoạt động tố tụng tiếp theo trong giai đoạn chuấn bị xét xử:
Xác định quan hệ tranh chấp, đây là một hoạt động mang tính chất quan
trọng nó định hướng các hoạt động như xây dựng hồ sơ; thu thập chứng cứ; các
bước và trình tự thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử;
phạm vi giải quyết vụ án, v.v. Việc xác định đúng quan hệ tranh chấp khi thụ lý vụ
án, các hoạt động tiếp theo ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sẽ chuẩn xác hơn.
Xác định tư cách đương sự, việc xác định đúng và đầy đủ tư cách đương sự
ngay giai đoạn thụ lý vụ án sẽ tránh được việc phải thay đổi, bố sung tư cách đương
sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tránh ảnh hưởng đến tiến độ và thời hạn chuẩn
bị xét xử.
Thông báo về nội dung yêu cầu khởi kiện của phía ngun đơn, thơng qua đó
xác định phạm vi khởi kiện và phạm vi giải quyết vụ án đế làm cơ sở xác định các
yêu cầu của đương sự đưa ra trong giai đoạn chuấn bị xét xử có vượt quá phạm vi
giải quyết vụ án hay không.
Thông báo cho các đương sự về các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao
nộp cho Tòa án tạo kiều kiện cho các bên thực hiện tốt quyền giao nộp, tiếp cận các
tài liệu chứng cứ của nhau trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Thông qua hoạt động thụ lý vụ án, chủ thể tiến hành tố tụng có thể phát thảo
cơ bản các bước tố tụng tiếp theo cũng như nội dung cần xác minh, thu thập chứng
cứ đế làm rõ nội dụng vụ án trong giai đoạn chuấn bị xét xử.
1.4.2. Chuấn bị xét xử là giai đoạn tiến hành các hoạt động tố tụng giải
quyết và hoàn thiện các vấn đề đặt ra ở giai đoạn thụ lý
Chuẩn bị xét xử là giai đoạn tố tụng được bắt đầu từ thời điểm Tịa án thụ lý
vụ án, có thể thấy hoạt động thụ lý là điểm nút bắt đầu của giai đoạn chuẩn bị xét
xử, các hoạt động tố tụng thuộc nhóm hoạt động thụ lý vụ án đều thuộc giai đoạn
15
chuân bị xét xử, nói theo phương diện thời hạn thì các hoạt động này đêu năm trong
•
thời hạn chn bị xét xử.
Hoạt động thụ lý vụ án KDTM là nút khởi đâu của giai đoạn chuân bị xét xử.
Thụ lý vụ án là cơ sở đế thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo của giai đoạn
chuẩn bị xét xử, còn các hoạt động của giai đoạn chuẩn bị xét xử là để giải quyết,
làm rõ, hoàn hiện và có khi mang tính chất đánh giá và phủ định lại hoạt động thụ lý
nếu có căn cứ cho rằng hoạt động thụ lý chưa chuẩn xác.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, chủ thể tiến hành tố tụng sẽ thực hiện các
hoạt động tố tụng trên cơ sở các nội dụng đà được thụ lý từ ban đầu. Từ đó, các chủ
thể tiến hành tố tụng sẽ triển khai các hoạt động:
- Lập hồ sơ vụ án trên cơ sở đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ của nguyên
đơn đã giao nộp; tài liệu, chứng cứ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên
quan, người tham gia tố tụng khác giao nộp.
- Tiêp tục chuân hóa quan hệ tranh châp dựa trên quan hệ đã xác định tại thời
điếm thụ lý vụ án. Ớ giai đoạn này, các yếu tố đặc trưng của vụ án KDTM (chủ thể,
đối tượng tranh chấp và mục đích của hoạt động kinh doanh, thương mại) so với các
vụ án dân sự thông thường được chú ý làm rõ.
- Qua tài liệu chứng cứ do các bên giao nộp, Tòa án thu thập, tư cách đương
sự, người tham gia tố tụng được kiềm định và hồn thiện hóa trên cơ sở đã xác định
ở thời điểm thụ lý.
- Phạm vi giải quyết khi thụ lý vụ án sẽ là giới hạn để thực hiện các hoạt
động tố tụng ở giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên ở giai đoạn chuẩn bị xét xử
phạm vi này có thể được thay đổi phụ thuộc vào việc các đương sự thực hiện các
quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu hay thực hiện quyền phản tố, v.v.
Từ một số phân tích trên, cho thấy giai đoạn chuẩn bị xét xử có vai trò quan
trọng, bao gồm các hành vi triền khai các nội dung khi thụ lý, làm cơ sở cho hoạt
động chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng có vai trị kiểm
định lại hoạt động thụ lý vụ án.
16
1.5. Các quy định của pháp luật tố tụng về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ
án kinh doanh thưoìig mại
Pháp luật tố tụng về thụ lý và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM được ghi nhận
đầu tiên tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, sau đó được ghi nhận
trong BLTTDS nàm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và BLTTDS năm 2015.
về cơ bản các quy định về thủ tục thụ lý, giải quyết loại án này đều được xây dựng
trên nguyên tắc kế thừa và phát triển quy định trước đó, các quy định tố tụng này
đều mang tính đặc trưng cho loại hình tranh chấp trong quan hệ kinh doanh, thương
mại như chủ thể tham gia tố tụng với tư cách là đương sự trong vụ án, đặc trưng về
đối tượng tranh chấp, sự khác biệt về giá trị án phí, thời hạn chuẩn bị xét xử đều
ngắn hơn so với các vụ án dân sự thông thường.
Chế định thụ lý vụ án kinh tế theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế năm 1994, chỉ đơn giản được quy định tại một điều luật: “Nếu Tồ án xét
thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình, thi thông báo ngay cho nguyên đơn biết.
Trong thời hạn bẩy ngày, kể từ ngày được thông báo, nguyên đơn phải nộp tiền tạm
ứng án phí theo quy định của pháp luật và Toà án vào sổ thụ lý vụ án vào ngày
nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí” [22, Điều 33].
Trong đó, điều luật quy định thụ lý bao gồm xem xét thẩm quyền giải quyết, thông
báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí, Tịa án vào sổ thụ lý khi nguyên
đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tạm ứng án phí.
Đến BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011, thủ tục giải quyết
vụ án KDTM được quy định xếp vào một trong các loại án dân sự tuân thủ quy định
về trình tự thủ tục tố tụng chung. Thụ lý vụ án được quy định tại các điều 171, 172,
174, theo đó quy định thêm một số thủ tục tố tụng mà Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án kinh tế chưa đề cập đến như phân công Thẩm phán giải quyết vụ án,
thông báo về việc thụ lý vụ án, v.v.
Các quy định về trình tự thủ tục trong hoạt động thụ lý vụ án được hồn thiện
hóa trong BLTTDS năm 2015 trên cơ sở kế thừa các quy định của BLTTDS trước
đó. Sự kế thừa này đã khẳng định mơ hình chuỗi các hoạt động tố tụng trong thủ tục
17
thụ lý vụ án được quy định từ BLTTDS năm 2004, được sửa đôi, bô sung năm 2011
đã đáp ứng được hoạt động tố tụng thực tiễn. Theo các điều 195, 196, 197 BLTTDS
năm 2015, trình tự các hoạt động tố tụng thụ lý vụ án có sự thay đồi so với
BLTTDS năm 2004 về cách sắp xếp thứ tự các điều luật quy định các hoạt động tố
tụng. Cụ thể các điều 195, 196, 197 BLTTDS nãm 2015 theo thứ tự quy định về thụ
lý vụ án, thông báo về việc thụ lý án, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án. Trong
khi đó các điều 171, 172, 174 BLTTDS năm 2004 quy định thứ tự thụ lý vụ án,
phân công thẩm phán giải quyết vụ án, thông báo về việc thụ lý vụ án. Sự thay đổi
thứ tự này của BLTTDS năm 2015 mang tính hợp lý hơn cho quá trình tố tụng vì
ngay sau khi thụ lý hoạt động đầu tiên cần thực hiện là nên thông báo cho các chủ
thế có liên quan được biết. Tuy cả hai Bộ luật đều quy định các hoạt động thông báo
về việc thụ lý vụ án và phân công Thấm phán giải quyết vụ án được thực hiện trong
thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, nhưng xét về mặt tổng thể và
thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng thì hoạt động thơng báo về việc thụ lý vụ án
nên được xếp trước hoạt động phân công Thẩm phán giải quyết trên cơ sở BLTTDS
năm 2015 có sự phân biệt giữa Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án và Thẩm
phán được phân cơng giải quyết vụ án có thể khác nhau.
Ngồi ra, BLTTDS năm 2015 có một số quy định mang tính chất tiến bộ hơn
như quy định thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí là 07 ngày, thay thế cho quy định là
15 ngày kể từ ngày người có nghĩa vụ nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí
được quy định trong BLTTDS trước đó; bổ sung thêm nguyên đơn vào chủ thể
được thông báo về việc thụ lý vụ án; khoản 3 Điều 196 quy định Tòa án phải gửi
kèm bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cùng thông báo về việc thụ
lý vụ án nếu ngun đơn có u cầu Tịa án hồ trợ.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án kinh tế được quy định tại Chương 7 của
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế gồm 07 điều luật quy định về thời
hạn chuẩn bị xét xử, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải, quyết định đưa vụ án
ra xét xử, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ giải quyết vụ án, việc gửi quyết
định đưa vụ án ra xét xử. Theo đó, các điều luật quy định các thủ tục tố tụng được
18
thực hiện trong giai đoạn chuân bị xét xử nhìn chung giai đoạn này là giai đoạn
mà Tòa án phải thực hiện các thủ tục để chuẩn bị cho việc giải quyết thấu đáo vụ
án kinh tế. Tuy đây là những quy định tố tụng chuyên biệt đặc thù để giải quyết vụ
án kinh tế, nhưng các quy định về chuẩn bị xét xừ trong Pháp lệnh còn khá đơn
giản, chưa nêu đầy đủ các hình thức kết thúc giai đoạn chuấn bị xét xử và một số
vấn đề khác về thù tục.
Qua tổng kết kinh nghiệm tố tụng thực tiễn, BLTTDS năm 2004 ra đời và
được sửa đổi, bổ sung năm 2011 bước đầu tổng hợp các quy định đối với vụ án dân
sự các loại, theo đó thủ tục giải quyết vụ án dân sự đều được quy định chung trong
BLTTDS và có sự phân hóa các thủ tục đặc thù cho từng loại án dân sự cụ thể thơng
qua các quy định mang tính chất phân biệt nằm rải rác trong Bộ luật, sự tiến bộ này đã
khắc phục được tính cục bộ khi quy định về thủ tục giải quyết từng loại án dân sự ở các
văn bản khác nhau dù về cơ bản thủ tục giải quyết các loại án này là giống nhau.
Qua đó, BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bồ sung năm 2011 quy định giai
đoạn chuẩn bị xét xừ ở Chương XIII quy định rõ hơn về thủ tục hòa giải và chuẩn bi
xét xử với bố cục gồm 17 điều luật, theo đó quy đinh về chuẩn bị xét xử vụ án
KDTM (trước đây gọi là vụ án kinh tế) đã khác phục được một số hạn chế. So với
Pháp lệnh, các quy định về thù tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử được
quy định cụ thể hơn; quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được bổ
sung vào một trong các loại quyết định mà Tòa án phải thực hiện trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử; phương thức kết thúc tình trạng tạm đình chỉ cũng được nêu lên;
v.v. Một sự khác biệt cơ bản giữa Pháp lệnh thù tục giải quyết các vụ án kinh tế
năm 1994 và BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 là quy định về
thời hạn chuấn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa xét xử vụ án KDTM. Thời hạn
chuẩn bị xét xử vụ án kinh tế theo Pháp lệnh là 40 đến 60 ngày kể từ ngày thụ lý
nhưng theo BLTTDS là 02 đến 03 tháng kể từ ngày thụ lý; Thời hạn mở phiên tòa
theo Pháp lệnh là 10 đến 20 ngày nhưng BLTTDS quy định từ 01 đến 02 tháng. Có
sự chuẩn hóa về thời hạn theo hướng kéo dài hơn trong quy định của BLTTDS
nhằm khẳng định vai trò quan trọng trong khâu chuẩn bị để xét xử (giải quyết vụ
19
án) hay mở phiên tòa. Tuy nhiên quy định cùa BLTTDS vê thời hạn chuân bị xét xử
vụ án KDTM vẫn đảm bảo ngắn hơn so với các vụ án dân sự khác, đã đáp ứng tính
kịp thời trong giải quyết vụ án giải quyết các tranh chấp mang tính chất vì mục đích
sinh lợi này.
Kế thừa các quy định của BLTTDS nàm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm
2011, BLTTDS năm 2015 hầu như giữ lại các quy định cơ bản về thủ tục chuẩn bị
xét xử như về thời hạn, ngun tắc hịa giải, ra quyết định cơng nhận sự thoa thuận
của các đương sự, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ giải quyết vụ án, đưa vụ
án ra xét xử, v.v. Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 quy định rõ ràng hơn, chi tiết hơn
về trình tự thủ tục, bổ sung thêm thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thủ tục hòa giải được quy định chặt chè
hơn, quy định rõ căn cứ đề chấm dứt hiệu lực của quyết định tạm đình chỉ là quyết
định tiếp tục giải quyết vụ án, v.v. Ngoài ra, giai đoạn chuẩn bị xét xử trong quy
định của BLTTDS hiện hành còn được bổ sung thêm quy định về quyền kiến nghị
sửa đồi, bố sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện có dấu hiệu
trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh của ủy ban Thường
vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cấp trên. Đây là một quy
đinh tiến bô của BLTTDS hiên hành.
20
Kêt luận chương 1
Thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử là hoạt động tố tụng quan trọng trong q
trình Tịa án giải quyết các tranh chấp vụ án dân sự nói chung, các vụ án KDTM nói
riêng. Bằng hoạt động áp dụng các quy định pháp luật tố tụng, Tịa án góp phần bảo
vệ và cúng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, tạo
mơi trường pháp lý an tồn, trong đó quyền cơng dân được bảo vệ và củng cố lòng
tin của nhân dân đối với chế độ. Nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể
và sự bảo đảm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền của mình, góp phần nâng
cao ý thức pháp luật của người dân, ý thức tuân thủ pháp luật cùa các chủ thể tham
gia quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại đồng thời ngăn chặn các hành vi xâm
phạm quyền lợi của các chủ thể, đảm bảo sự ổn định của các quan hệ xã hội.
về mặt lý luận, cũng như lịch sừ hình thành các quy định pháp luật về hai
chế định tố tụng là thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM nói riêng, vụ án
dân sự nói chung vẫn cịn nhiều quan điểm tư duy lập luận khác nhau, cần có những
nghiên cứu sâu hơn để chế định này được nhìn nhận với góc độ sâu sát hơn phục vụ
tốt cho cơng tác xây dựng pháp luật tố tụng đáp ứng hơn nừa nhu cầu áp dụng pháp
luật tố tụng của các chủ thể trong quan hệ tố tụng để hướng đến sự hồn thiện, tính
đơn giản trong các quy định về thủ tục tư pháp đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách
tư pháp của Đảng và Nhà nước.
21
Chương 2
THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
TÓ TỤNG DÂN SỤ VÈ THỤ LÝ VÀ CHUẲN BỊ XÉT xử
vụ• ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI
•
Trong thời gian qua, những quy định của BLTTDS năm 2015 đã góp phần
tích cực trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Những quy định mới về trình tự, thủ tục tố
tụng của BLTTDS thề hiện sự dân chủ, công khai, thuận tiện cho người tham gia tố
tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đồng thời đề cao vai trò, trách
nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tổ tụng dân sự; bảo đảm cho
việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, vụ án KDTM nói riêng được nhanh
chóng, chính xác, công bằng và đúng pháp luật. Đặc biệt những quy định về thụ lý
và chuẩn bị xét xử vụ án KDTM đã đóng vai trị quan trọng nhằm tạo hành lang
pháp lý để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể u cầu Tịa án có thẩm quyền bảo vệ
khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, đồng thời tạo cơ sở
pháp lý vững chắc cho các cơ quan bảo vệ pháp luật khi tiến hành thụ lý, giải quyết
các vụ án dân sự. Tuy nhiên sau một thời gian thi hành BLTTDS hiện hành cho thấy
vẫn còn nhiều quy định chưa cụ thể, rõ ràng, vẫn còn vướng mắc, nhận thức và cách
giải quyết khác nhau giữa các Tòa án và các Thẩm phán.
2.1. Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án kinh doanh
thương mại
Thụ lý vụ án là hoạt động tố tụng đầu tiên của thủ tục giải quyết vụ án tại
Tòa án cấp sơ thấm. Thụ lý vụ án được tiến hành sau khi có đơn khởi kiện của
những chủ thể được pháp luật quy định. Trong hoạt động thụ lý vụ án, Tòa án sẽ
thực hiện những thủ tục đế xác định yêu cầu khởi kiện có làm phát sinh vụ án
KDTM hay khơng. Trường hợp đù điều kiện phát sinh vụ án, Tòa án sẽ tiến hành
thủ tục thụ lý, vào sổ thụ lý vụ án và chính thức xác định trách nhiệm giải quyết yêu
cầu khởi kiện theo quy định. Thực hiện đúng các quy định về thụ lý vụ án sẽ loại trừ
22