ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MƠN HỌC
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LỚP: NHÓM:
HK212
GVHD: THS NGUYỄN TRUNG HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN
STT
MSSV
HỌ
TÊN
%
ĐIỂM
BTL
1
2
3
4
5
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
1
ĐIỂM
BTL
GHI
CHÚ
BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
STT
Mã số SV
Họ và tên
Nhiệm vụ được
phân cơng
%
Điểm
BTL
Điểm
BTL
Ký tên
1
2
3
4
5
Họ và tên nhóm trưởng:
Số ĐT:
Email:
Nhận xét của GV:
............................................................................................................................................................
............................................................................................................................................................
............................................................................................................................................................
............................................................................................................................................................
GIẢNG VIÊN
(Ký và ghi rõ họ, tên)
NHÓM TRƯỞNG
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nguyễn Trung Hiếu
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Tính cấp thiết của đề tài..........................................................................................6
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................................7
3. Mục tiêu nghiên cứu ...............................................................................................7
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................7
5. Kết cấu của đề tài....................................................................................................7
CHƯƠNG 1: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...........................................................................................8
1.1. Các khái niệm...................................................................................................8
1.1.1. Thị trường:.......................................................................................................... 8
1.1.2. Kinh tế thị trường...............................................................................................8
1.1.3. KTTT định hướng XHCN...................................................................................8
1.2. Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam..................................................................................................................9
1.2.1 Phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật phát
triển khách quan..........................................................................................................9
1.2.2 KTTT có rất nhiều ưu việt, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, xã hội của đất nước.......................................................................................10
1.2.3 Mơ hình KTTT định hướng XHCN phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
mong muốn một XHdân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.............11
1.3. Các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của
Việt Nam................................................................................................................14
1.3.1 Khái quát các đặc trưng cơ bản........................................................................16
3
1.3.2. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam có một số đặc trưng
cơ bản sau................................................................................................................... 16
CHƯƠNG 2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY............................................................................................24
2.1. Các khái niệm.................................................................................................24
2.1.1. Thành phần kinh tế..........................................................................................24
2.1.2. Sở hữu Nhà nước.............................................................................................24
2.1.3. Kinh tế nhà nước..............................................................................................24
2.2. Thực trạng phát triển của thành phần kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện
nay.............................................................................................................................. 25
2.2.1. Thành tựu đạt được và nguyên nhân của nó...................................................25
2.2.2. Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó.........................................................28
2.3. Định hướng và giải phát nhằm thúc đẩy phát triển thành phần kinh tế nhà
nước ở nước ta giai đoạn tới.................................................................................30
2.3.1. Định hướng nhằm thúc đẩy phát triển thành phần kinh tế nhà nước ở nước
ta giai đoạn tới............................................................................................................30
2.3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển thành phần kinh tế nhà
nước ở nước ta giai đoạn tới......................................................................................30
KẾT LUẬN................................................................................................................37
Tài liệu tham khảo.......................................................................................................39
4
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
Doanh nghiệp nhà nước
DNNN
Kinh tế nhà nước
KTNN
Kinh tế thị trường
KTTT
Lực lượng sản xuất
LLSX
Tư bản chủ nghĩa
TBCN
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau năm 1991 cùng với sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở
Đông Âu, nền kinh tế – chính trị thế giới đã chuyển từ trạng thái hai cực đối đầu sang
nền kinh tế chính trị đa cực, đa phương hố, đa dạng hố theo xu hướng hồ bình, đối
thoại, hợp tác phát triển cùng có lợi.
Trong bối cảnh đó, từ việc nhận thức đúng đắn trong thực tiễn và lý luận với
mục tiêu đưa nước ta phát triển hội nhập với khu vực và thế giới. Ngay từ đại hội
Đảng VI, Đảng ta đã xác định “Chuyển đổi mơ hình kinh tế chỉ huy mang nặng tính
bảo thủ trì trệ sang nền kinh tế hàng hố nhiều thành phần và vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ”. Hiện nay nền kinh tế
nước ta bao gồm 6 thành phần kinh tế trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo, cùng với các thành phần kinh tế tập thể tạo nên một nền tảng vững chắc cho
nền kinh
tế quốc dân.
Thành phần kinh tế nhà nước giữa vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều
thành phần ở Việt nam, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước
định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Tuy nhiên trong nhiều năm, KTNN đã được bao cấp, ở hầu hết các lĩnh vực của
nền kinh tế, lực lượng KTNN giữ vị trí độc quyền, khơng có một lực lượng kinh tế
khác cạnh tranh, do đó khi chuyển sang cơ chế mới thì nhiều cơ sở KTNN khơng thích
nghi được với điều kiện mới. Nhà nước ít vốn, Cán bộ quản lý chủ chốt thiếu tiêu
chuẩn lãnh đạo, thiếu trách nhiệm trước tập thể cũng như trước cơ quan Nhà nước
Trình độ trang bị cơ sở vật chất- kỹ thuật và cơng nghệ sản xuất của khu vực KTNN
nói chung là lạc hậu, chắp vá, cơng suất sử dụng máy móc thiết bị không cao, năng
suất và chất lượng sản phẩm thấp, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đó
là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho KTNN của nước ta trì trệ và kém
hiệu quả.
6
Đứng trước những vấn đề đó, để nghiên cứu rõ hơn về thực trạng của thành
phần
kinh tế nhà nước hiện nay và tìm ra các giải pháp cơ bản để khắc phục những hạn chế
tiêu cực và nâng cao vai trò của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một công việc cấp thiết. Với ý nghĩa đó, nhóm chúng em đã quyết định chọn đề
tài“Kinh tế thị trường định hướng XHCN và sự phát triển của thành phần kinh tế
nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
Do lần đầu tiên tiếp xúc với một vấn đề kinh tế có tính chất khá rộng và quy mô
nên trong đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Chúng em rất
mong có sự nhận xét, đóng góp ý của thầy bộ môn
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận về mô hình KTTT định hướng theo
XHCN của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Thành phần KTNN giai đoạn 2010 - 2021
3. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất nắm, hiểu rõ và phân tích được khái niệm, tính tất yếu và đặc trưng
của
lý luận về mơ hình nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.
Thứ hai, khái quát về thành phần KTNN ở Việt Nam.
Thứ ba, đánh giá thực trạng của thành phần KTNN ở nước ta.
Thứ tư, đưa ra được giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thành phần
KTNN và đóng góp chung vào sự phát triển của nền KTTT Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phép biện chứng duy vật.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
- Phương pháp thống kê, mơ tả, so sánh, tổng hợp, phân tích.
5. Kết cấu của đề tài
7
Đề tài nghiên cứu hai chương đó là:
- Chương 1: Kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay
- Chương 2: Sự phát triển của thành phần kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Ngồi ra đề tài cịn có phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo
8
CHƯƠNG 1
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY.
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Thị trường:
Thị trường là tổng hòa những quan hệ kinh tế trong đó nhu cầu của các chủ thể
được đáp ứng thơng qua việc trao đổi, mua bán với sự xác định giá cả và số lượng
hàng hóa, dịch vụ tương ứng với trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội.
1.1.2. Kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó
là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật thị trường.
Sự hình thành kinh tế thị trường là khách quan trong lịch sử: từ kinh tế tự nhiên,
tự túc, kinh tế hàng hóa rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường cũng trải qua quá trình phát triển ở các trình độ khác nhau từ kinh tế
thị trường sơ khai đến kinh tế thị trường hiện đại ngày nay. Kinh tế thị trường là sản
phẩm của văn minh nhân loại.
1.1.3. KTTT định hướng XHCN
Đó là nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của
nhà nước theo định hướng XHCN.
KTTT định hướng XHCN là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới, thay thế nền kinh
tế kế hoạch bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường.
KTTT định hướng XHCN là việc sử dụng công nghệ để thực hiện mục tiêu của
CNXH. Là quá trình giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ: vừa phát triển KTTT, vừa phải
thực hiện các mục tiêu của CNXH.
Phát triển nền KTTT định hướng XHCN nhằm mục đích phát triển LLSX, phát
triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân
dân.
9
1.2. Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam
1.2.1 Phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật phát
triển khách quan.
KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở Việt Nam những
điều kiện cho sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa khơng mất đi mà cịn
phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, sự phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu
hình thành KTTT.
Sự ra đời của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam gắn liền với công
cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. KTTT định hướng XHCN là vấn đề lý
luận và thực tiễn hết sức mới mẻ và phức tạp. Nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa
việc nhận thức sâu sắc tính quy luật khách quan với phát huy vai trò chủ động, sáng
tạo của chủ thể là Đảng, Nhà nước XHCN và nhân dân lao động trong thực tiễn cách
mạng Việt Nam. Đây là sự lựa chọn con đường và mơ hình phát triển của Việt Nam
trong điều kiện tồn cầu hóa kinh tế đáp ứng u cầu "đi tắt, đón đầu" đang đặt ra như
một yếu tố sống cịn. Sự hình thành tư duy của Đảng ta về nền KTTT định hướng
XHCN là cả một quá trình tìm tịi thể nghiệm, phát triển từ thấp lên cao, từ chưa đầy
đủ, hoàn thiện tới ngày càng đầy đủ, sâu sắc và hoàn thiện.
Phân phối theo lao động là đặc trưng ,bản chất của KTTT định hướng XHCN
là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ cơng hữu tư liệu sản xuất. Do vậy đây
là hình thức phân phối chủ yếu ở nước ta hiện nay. KTTT định hướng XHCN thực
hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối
theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua
phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng bước phát triển. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và
giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao
dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất
nước. Như vậy, sự lựa chọn mơ hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là phù hợp
với xu thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc.
10
1.2.2 KTTT có rất nhiều ưu việt, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước.
Lý luận và thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa cho thấy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên những giá trị
mới, rất ưu việt mà khơng một chế độ nào trước đó ở Việt Nam có được. Những thành
quả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng tạo nên những giá trị tiến bộ mới, có sức
sống bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đặc biệt những thành công của
sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế. Sau 30 năm đổi mới, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm mơ hình kinh tế tổng qt trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì Việt Nam đã rất nhanh chóng thốt khỏi khủng hoảng
kinh tế và tình trạng kém phát triển, kinh tế tăng trưởng khá, trở thành nước đang phát
triển có thu nhập trung bình.
Chính sự lựa chọn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã và đang được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc hơn; cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư từng ngày được thay da, đổi thịt, từ thiếu
thốn trăm bề, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, đến nay mọi người dân đang được
thụ hưởng đầy đủ các dịch vụ phục vụ cho sự phát triển một cách tồn diện. Chính
sách an sinh xã hội, đặc biệt là xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, hệ thống bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ ưu đãi người có cơng, trợ giúp xã hội… tạo điều
kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về mọi mặt. Nhờ đó mà vị thế và uy tín
của Việt Nam trên trường quốc tế khơng ngừng được nâng cao. Trong khi xã hội tư
bản vẫn đang tồn tại nhiều khuyết tật và mâu thuẫn không thể giải quyết như: thất
nghiệp, đói nghèo, bất bình đẳng… Đặc biệt, tình trạng khủng bố, bạo lực, tội phạm,
an ninh, phân biệt chủng tộc diễn ra triền miên, điển hình là phương Tây, Mỹ, khu vực
Trung Đơng.
Vì vậy, những luận điệu phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam là một thủ đoạn nham hiểm được các thế lực thù địch sử dụng
với mục tiêu xóa bỏ vai trị lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở
11
Việt Nam. Song, đó chỉ là sự ảo tưởng của những kẻ ngông cuồng; bởi những thành
quả to lớn từ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang hiện
hữu ở Việt Nam. Đó là điều khơng thể phủ nhận.
1.2.3 Mơ hình KTTT định hướng XHCN phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
mong muốn một XH dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tính định hướng XHCN trong phát triển kinh tế – xã hội quy định phát triển
KTTT ở nước ta nhằm “xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”.
Không thể làm cho “dân giàu, nước mạnh” nếu khơng có tăng trưởng kinh tế
trên cơ sở đẩy mạnh CNH, HĐH. Không thể có tăng trưởng kinh tế nếu khơng phát
triển và quản lý có hiệu quả nền KTTT. Chỉ có sức mạnh của nền KTTT hỗn hợp nhiều
hình thức sở hữu, nhiều thành phần mới là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định
hướng XHCN chứ không phải chỉ duy nhất kinh tế quốc doanh như có thời lầm tưởng.
Ở Việt Nam, sau hơn 30 năm đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN đã hình
thành, phát triển, đến nay đã có những yếu tố của một nền KTTT hiện đại, hội nhập
quốc tế và bảo đảm định hướng XHCN. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần; có sự phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, thị trường trong
nước gắn kết với thị trường quốc tế. Thị trường đã phát huy vai trò trong việc xác định
giá cả, phân bổ nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thơng hàng hóa; nền kinh tế đã vận
hành theo các quy luật của KTTT.
Đồng thời, nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN; Nhà
nước vừa xây dựng và hoàn thiện thể chế, tạo khung khổ pháp luật, môi trường ổn
định, thuận lợi cho kinh tế phát triển, vừa sử dụng các nguồn lực kinh tế của Nhà nước
để điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, phát triển bền
vững cả kinh tế, xã hội, môi trường; gắn phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Những yếu tố này hoàn toàn tương đồng với các định hướng xã hội của các nền KTTT
hiện đại trên thế giới.
12
Như vậy, từ thực tiễn và lý luận, có thể khẳng định, KTTT định hướng XHCN
là mơ hình KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế không chỉ phù hợp với thực tiễn Việt Nam
và xu thế của thời đại, mà cịn là mơ hình kinh tế phù hợp với các nước kinh tế chưa
phát triển quá độ lên CNXH.
Về kinh tế: Việt Nam là một câu chuyện phát triển thành công. Những cải
cách kinh tế từ năm 1986 kết hợp với những xu hướng tồn cầu thuận lợi đã nhanh
chóng giúp Việt Nam phát triển từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới
trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp chỉ trong vịng một thế hệ. Từ năm 2002
đến 2020, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt gần 2.800 USD. Cũng trong giai đoạn này,
tỉ lệ nghèo (theo chuẩn 1,9 USD/ngày) giảm mạnh từ hơn 32% năm 2011 xuống còn
dưới 2%.1
Hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện và sâu rộng, đưa nước ta hội
nhập ngày càng đầy đủ với kinh tế khu vực và thế giới. Tổng mức lưu chuyển hàng
hóa ngoại thương thực hiện trong giai đoạn 2011-2019 đạt 3.100,3 tỷ USD, gấp 20,2
lần giai đoạn 1991-2000 và gấp 3,6 lần giai đoạn 2001-2010. Tỷ lệ tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu so với GDP từ 112,5% năm 2000 tăng lên 142,2% năm 2005; 152,2%
năm 2010 và 210,4% vào năm 2019. Điều này cho thấy nền kinh tế nước ta có độ mở
ngày càng cao và tăng lên tương đối nhanh, nước ta đã khai thác được thế mạnh của
kinh tế trong nước và tranh thủ được thị trường thế giới. Kể từ khi thực hiện Luật Đầu
tư nước ngoài từ năm 1988, thu hút đầu tư nước ngoài vào nước ta đã đạt được nhiều
kết quả đáng khích lệ. Năm 2019, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 4.028 dự án
với tổng số vốn đăng ký đạt 38.951,7 triệu USD, tương ứng gấp 19,1 lần và 24,3 lần so
với giai đoạn 1988-1990. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành kênh huy động vốn
quan trọng cho sự phát triển kinh tế- xã hội, có tác dụng to lớn trong việc thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo thêm nhiều
việc làm, nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ cho nền kinh tế. Đặc biệt,
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thúc đẩy việc mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. 2
1
Tổng Quan về Việt Nam (18/ 11/ 2021). The word bank. Truy cập từ
/>2
TS. Nguyễn Thị Hương (03/09/2020). Những dấu ấn quan trọng về kinh tế – xã hội trong hành trình 75 năm
thành lập và phát triển đất nước qua số liệu thống kê. Truy cập từ />
13
Năm 2019, kinh tế Việt Nam tiếp tục có khả năng chống chịu cao, nhờ nhu
cầu trong nước và sản xuất định hướng xuất khẩu được duy trì ở mức cao. GDP thực
tăng ước khoảng 7%, tương tự tỷ lệ tăng trưởng trong năm 2018, điều này cho thấy
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực.
Năm 2020, với độ mở về kinh tế và sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới, kinh tế Việt Nam bị tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Tăng trưởng GDP
đạt 1,8% trong nửa đầu năm, dự kiến cả năm đạt 2,8%. Việt Nam là một trong số ít
quốc gia trên thế giới khơng dự báo suy thối kinh tế, nhưng tốc độ tăng trưởng dự
kiến năm nay thấp hơn nhiều so với dự báo trước khủng hoảng (6-7%). Tuy nhiên, tác
động của dịch Covid-19 rất khó đốn định, tùy thuộc vào quy mô và thời gian kéo dài
của dịch bệnh. Sức ép lên tài chính cơng sẽ gia tăng do thu ngân sách giảm, trong khi
chi ngân sách tăng lên để kích hoạt các gói hỗ trợ các hộ gia đình và doanh nghiệp
giảm thiểu tác động của đại dịch Covid-19.
Về xã hội: Việt Nam đang chứng kiến sự thay đổi nhanh về cơ cấu dân số và
xã hội. Dân số Việt Nam đã đạt 96,5 triệu dân vào năm 2019 và dự kiến sẽ tăng lên
120 triệu dân tới năm 2050. Hiện nay, 70% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ
kien/2020/09/23410/
14
trung bình gần 76 tuổi3, cao hơn những nước có thu nhập tương đương trong khu vực.
Tầng lớp trung lưu đang hình thành, hiện chiếm khoảng 13% dân số và dự kiến sẽ tăng
lên đến 26% vào năm 2026.4
Tuổi thọ trung bình của người Việt đã đạt 75,6 tuổi, xếp vị trí 56
Trong giai đoạn 2010-2020, Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tăng từ 0,66
lên 0,69. Một em bé Việt Nam được sinh ra ở thời điểm hiện nay khi lớn lên sẽ đạt
mức năng suất bằng 69% so với cũng đứa trẻ đó được học tập và chăm sóc sức khỏe
đầy đủ. Như vậy, Việt Nam là quốc gia có Chỉ số Vốn con người cao nhất trong số các
quốc gia có thu nhập trung bình, tuy nhiên vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa các địa
phương, nhất là ở nhóm dân tộc thiểu số.
Y tế của nước ta cũng đạt nhiều tiến bộ khi mức sống ngày càng cải thiện.
Trong giai đoạn 1993-2017, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 xuống còn 16,7
(trên 1.000 trẻ sinh). Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 lên 76,3 tuổi trong giai đoạn
1990-2016. Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe tồn dân là 73, cao hơn mức trung bình
của khu vực và thế giới, với 87% dân số có bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, tỷ lệ chênh lệch
giới tính khi sinh cịn ở mức cao và ngày một tăng, điều này cho thấy tình trạng phân
biệt giới tính vẫn cịn tồn tại. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có
3
Minh Anh (29/9/2016). Người Việt thọ 75,6 tuổi, đứng thứ 2 khu vực. Truy cập từ
/>4
Quy mô dân số Việt Nam những phát hiện chính (03/08/2020). Con số sự kiện .Truy cập từ
/>
15
tốc độ già hóa dân số nhanh nhất, dự báo đến năm 2050 nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp
2,5 lần.5
Trong 30 năm qua, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản đã có sự thay đổi tích
cực. Khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện. Tính đến năm 2016,
99% dân số sử dụng điện chiếu sáng, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ 14% năm 1993. Tỷ
lệ tiếp cận nước sạch nông thôn cũng được cải thiện, từ 17% năm 1993 lên 70% năm
2016, trong khi tỷ lệ ở thành thị là trên 95%.
Việt Nam đã đặt ra những tầm nhìn phát triển tham vọng hơn, hướng tới mục
tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Để làm được điều này, nền kinh
tế cần tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm khoảng 5% trên đầu người trong 25
năm tới. Việt Nam cũng hướng tới mục tiêu phát triển theo hướng xanh hơn, bao trùm
hơn.
Tương lai của Việt Nam đang được định hình bởi một vài xu thế lớn. Dân số
đang già đi nhanh chóng, thương mại tồn cầu đang suy giảm, trong khi đó suy thối
mơi trường, các vấn đề biến đổi khí hậu và tự động hóa ngày gia tăng. Tiến trình của
các xu hướng này càng bị đẩy nhanh bởi đại dịch COVID-19.
Lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN khơng phải đơn giản là sự trở về
với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, cũng
không phải là sự gán ghép chủ quan giữa KTTT và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt
và vận dụng xu thế vận động khách quan của KTTT trong thời đại ngày nay. Điều
quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minh
nhằm mục tiêu từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn phù hợp với các
quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi
sau, cho phép các nước này giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn con đường đi
của mình tới chủ nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế được
những khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạch và thị trường. KTTT định hướng XHCN
là kiểu tổ chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của hệ
thống KTTT, vừa bảo đảm tính định hướng XHCN. Chính tính chất, đặc trưng cơ bản
5
Nguyễn Thị Hương, Lê Thị Phương (23/01/2021) .Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam .Truy cập từ : />
16
này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động lực của nền kinh tế và con
đường đạt tới mục tiêu, là sử dụng KTTT, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của
Nhà nước XHCN, phát triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở
cửa và hội nhập nhằm thúc đẩy q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển
rút ngắn để trong khoảng thời gian khơng dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa
Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Sự tồn tại của KTTT ở nước ta tạo ra một động lực quan trọng cho sự phát
triển của lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Với đặc điểm lịch sử của dân tộc, Việt Nam khơng thể lựa chọn mơ hình KTTT tư bản
chủ nghĩa, chỉ có lựa chọn mơ hình KTTT định hướng XHCN mới phù hợp với ý chí
và nguyện vọng của đơng đảo nhân dân về một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh.
1.3. Các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt
Nam
1.3.1 Khái quát các đặc trưng cơ bản
Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam ; vừa vận động theo những quy luật của KTTT, vừa
được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội.
1.3.2. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam có một số đặc trưng
cơ bản sau
1.3.2.1. Vị trí đặc thù của kinh tế thị trường trong công cuộc xây dựng CNXH
Nền KTTT là cơ sở kinh tế của xã hội quá độ tiến lên CNXH ở Việt Nam. Đặc
trưng này hàm ý khơng có một nền kinh tế nào khác ngồi KTTT có thể đảm nhiệm
vai trò là cơ sở kinh tế để xây dựng CNXH ở nước ta. Đây là sự khẳng định trên thực
tế Việt Nam nguyên lý kinh điển của C.Mác về vai trị của KTTT trong tiến trình phát
triển của loài người.
1.3.2.2. Mục tiêu phát triển của nền kinh tế
17
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phương thức để phát triển lực
lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời
sống nhân dân, thực hiện “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh”.
Đây là sự khác biệt về mục tiêu giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Mục tiêu đó bắt nguồn từ cơ sở kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và là sự phản ánh mục tiêu chính trị xã hội mà nhân dân ta phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Mặt
khác, đi đôi với việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, quá trình phát triển kinh tế
thị trường ở Việt Nam còn gắn với xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp nhằm
ngày càng hoàn thiện cơ sở kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam đang ở chặng đầu của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, khi lực
lượng sản xuất còn yếu kém, lạc hậu nên việc sử dụng cơ chế thị trường cùng các hình
thức và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường là để kích thích sản xuất, khuyến
khích sự năng động, ảnh sáng tạo của người lao động, ảnh giải phóng sức sản xuất,
thúc đẩy cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, ra bảo đảm từng bước xây dựng thành cơng
chủ nghĩa xã hội.
1.3.2.3. LLSX của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trong điều kiện hiện đại, nền kinh tế XHCN phải có LLSX đạt trình độ cao hơn
về chất so với tiêu chuẩn đặt ra trong quan niệm truyền thống về CNXH. Trình độ đó
khơng chỉ đo bằng chuẩn “đại Cơng nghiệp cơ khí” mà cịn được đo bằng chuẩn công
nghệ cao. Trong nền kinh tế này, yếu tố ngày càng có vai trị quyết định là khoa học kỹ thuật và trí tuệ con người.
Do có sự thay đổi như vậy, quan niệm truyền thống về công nghiệp hoá XHCN,
vốn gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung và bị nguyên lý tự cấp - tự túc chi phối, đã
khơng cịn thích hợp. Cần phải có một cách thức, một mơ hình CNH mới phù hợp có
khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển mới này. Trong thời đại ngày nay, CNH không chỉ
gắn với các mục tiêu, giải pháp truyền thống mà phải đạt tới mục tiêu hiện đại, được
thực hiện dựa trên các công cụ và giải pháp hiện đại. Theo nghĩa đó, CNH cũng chính
là và phải là q trình HĐH. Khái niệm CNH, HĐH, được hiểu là quá trình CNH với
các mục tiêu và giải pháp phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển hiện đại. Đây
18
là một trong những nội dung - đặc điểm quan trọng bậc nhất của nền KTTT định
hướng XHCN ở Việt Nam.
1.3.2.4. Đa dạng hình thức sở hữu
Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm
nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống
nhất, trong đó, chế độ công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Khơng thể
có nền kinh tế định hướng XHCN nếu trong nó, chế độ cơng hữu khơng đóng vai trò
nền tảng. Đây là một cấu trúc đặc thù của nền KTTT theo nghĩa:
- Không loại trừ các quan hệ sở hữu tư nhân và sở hữu TBCN, thừa nhận tính
chất "hỗn hợp" sở hữu như bất cứ nền KTTT nào.
- Khu vực KTNN chứ không phải bất cứ lực lượng kinh tế nào khác đóng vai trị
chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Theo quan niệm của C. Mác, sở hữu công cộng (chế độ cơng hữu) là sở hữu được
xã hội hố và mang tính xã hội trực tiếp. Cơng hữu phải từng bước trở thành nền tảng
vững chắc là vấn đề có tính ngun tắc khơng chỉ đối với nền kinh tế XHCN mà còn
đối với nền kinh tế định hướng XHCN. Tuy nhiên, vai trị nền tảng của nó trong nền
KTTT định hướng XHCN chưa thể đậm nét như trong nền kinh tế XHCN. Nhưng sự
khác biệt ở đây không phải là về bản chất mà là về quy mô, mức độ và phạm vi tác
động Chế độ sở hữu trong nền KTTT định hướng XHCN dựa trên hai hình thức cơ
bản là sở hữu công cộng (công hữu) và sở hữu tư nhân (tư hữu). Còn sở hữu hỗn hợp
được hình thành trên cơ sở đan xen, hỗn hợp giữa các hình thức sở hữu và là kết quả
của sự hợp tác, liên doanh giữa các chủ sở hữu khác nhau là nhà nước, tập thể (nhóm)
và tư nhân. Cơng hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, các hình thức sở hữu
khác cùng phát triển mạnh mẽ khơng hạn chế và đan xen, hỗn hợp với nhau theo luật
định cần được xem là chế độ kinh tế cơ bản của giai đoạn phát triển theo định hướng
XHCN ở Việt Nam.
Trước đây, theo quan niệm truyền thống, các hình thức sở hữu là đơn nhất: nhà
nước, tập thể hoặc tư nhân. Sau gần 30 năm đổi mới, kinh tế hỗn hợp đang được hình
thành và từng bước phát triển mạnh; chế độ cổ phần đang dần trở thành hình thức tổ
19
chức chủ yếu của kinh tế cơng hữu. Vì thế, công hữu không chỉ bao gồm sở hữu nhà
nước và sở hữu tập thể đơn nhất mà còn bao gồm cả phần sở hữu của nhà nước và tập
thể trong kinh tế hỗn hợp. Cũng như vậy, tư hữu không chỉ bao gồm sở hữu tư nhân
đơn nhất mà còn bao gồm cả phần sở hữu của tư nhân trong kinh tế hỗn hợp.
Một yêu cầu khách quan của thị trường và KTTT là phải xác nhận và xác định
quyền sở hữu dưới dạng tiền tệ những đóng góp tài sản, tiền vốn, trí tuệ, v.v. vào kinh
doanh nhằm lượng hố quyền sở hữu của từng chủ sở hữu. Khơng có quyền sở hữu
chung chung, vơ chủ, cũng khơng có quyền sở hữu như nhau cho tất cả mọi người
trong nền KTTT định hướng XHCN.
1.3.2.5. Duy trì phát triển bền vững
“Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an
ninh kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mơ hình tăng trưởng,
coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng
phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức.
Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hố, thực hiện tiến
bộ và cơng bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường,
chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu6”.
Tính định hướng XHCN địi hỏi phải bảo đảm cơng bằng và tiến bộ xã hội, thực
hiện sự thống nhất và gắn liền hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến
bộ xã hội ở tất cả các giai đoạn của sự phát triển KTTT ở nước ta. Tăng trưởng kinh tế
đồng thời với phát triển xã hội, văn hoá, giáo dục, vì mục tiêu phát triển con người và
mang đậm bản sắc của đất nước và con người Việt Nam là những nội dung cấu thành
của phát triển nhanh, hiệu quả, hiện đại và bền vững trong quá trình chuyển sang
KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Bản chất của CNXH là công bằng. Song, cũng cần nhấn mạnh công bằng xã hội
trong KTTT định hướng XHCN khác về chất với chủ nghĩa bình quân, cào bằng thu
6
Đảng cộng sản Việt Nam. Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020.
20
nhập và chia đều đói nghèo cho mọi người. Khơng thể có CNXH và định hướng
XHCN trong tình trạng đói nghèo và chậm phát triển.
Trước đây, CNXH "hiện thực" đã giải quyết không tốt vấn đề công bằng kinh tế.
Trong thực tiễn, cơ chế thực hiện công bằng (kế hoạch hố tập trung) có khuynh
hướng dẫn tới sự cào bằng, "bình quân". Cách hiểu này là cơ sở lý luận của thực tế
phân phối bình qn sự đói nghèo và thiếu hụt, thủ tiêu động lực phát triển của chính
CNXH.
Ngược lại, trong quá trình chuyển đổi sang KTTT, cách thức phân phối ngày
càng ít bình qn - cào bằng đã giúp giải quyết cả hai vấn đề: tăng trưởng và phát triển
nhanh; đồng thời nâng cao phúc lợi cho tất cả mọi người, đưa nhiều người thốt khỏi
cảnh đói nghèo. Với hai kết quả này, quá trình chuyển sang KTTT thật sự đồng hướng
với CNXH.
Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề là sự phân hoá giàu nghèo, cơ sở sâu xa của
những bất bình đẳng xã hội tiềm tàng khác.
Về nguyên tắc, cần có cách tiếp cận mới đến vấn đề công bằng trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, cụ thể:
-
Thứ nhất, cần xác định rõ và giải quyết tốt mối quan hệ kết hợp giữa mục
tiêu tăng trưởng và phát triển (mục tiêu thoát khỏi tụt hậu phát triển cho dân tộc Việt
Nam) và mục tiêu công bằng xã hội trong từng giai đoạn cụ thể.
-
Thứ hai, cần quan niệm công bằng xã hội trước hết là sự bình đẳng về cơ hội
phát triển và dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội của mọi người dân, mọi chủ thể
kinh tế và mọi vùng miền của đất nước. Đồng thời, phải chấp nhận ở mức độ nào đó
sự chênh lệch về trình độ phát triển, thu nhập chính đáng, về dân trí trong từng thời kỳ,
giữa các vùng miền và tầng lớp dân cư cụ thể. Dĩ nhiên, khơng được phép để độ dỗng
của sự chênh lệch này làm tổn hại đến ổn định chính trị - xã hội. Chấp nhận chênh lệch
để từng bước thu hẹp chênh lệch trong mỗi bước phát triển của đất nước là một thực tế
khách quan trong phát triển ở nước ta hiện nay.
-
Thứ ba, cần trả lời câu hỏi:”Nhà nước phải làm gì và làm như thế nào để thị
trường phục vụ người nghèo hiệu quả; hỗ trợ các vùng chậm phát triển, và chặn đứng,
21
xố bỏ nạn tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân?”. Đây là cách đặt vấn đề tích cực để
giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội.
1.3.2.6. Đa hình thức phân phối thu nhập
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa dạng hố các hình
thức phân phối. "Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả
kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc
lợi xã hội"7. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực kích thích các chủ thể kinh tế nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời hạn chế những bất công trong
xã hội. Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong
từng bước và từng chính sách phát triển.
Quan hệ phân phối chỉ bị chi phối và quyết định bởi quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất. một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế nhiều
thành phần với sự đa dạng hóa các loại hình sở hữu. Thực hiện nhiều hình thức phân
phối ở nước ta sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, góp phần
đảm bảo cải thiện và nâng cao đời sống cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, bảo
đảm công bằng xã hội trong sử dụng các nguồn lực kinh tế và đóng góp của họ trong
q trình lao động và sản xuất kinh doanh.
Thu nhập theo vốn, tài sản và trí tuệ bỏ ra kinh doanh đã được luật pháp thừa
nhận. Chỉ trên cơ sở đó mới khuyến khích nhiều người làm giàu chính đáng. Tăng số
người giàu, giảm số người nghèo, khơng cịn người đói, giảm dần độ chênh lệch giàu
nghèo vừa là mục tiêu, vừa là nội dung trọng yếu của các chính sách phân phối và
phân phối lại thu nhập của Nhà nước trong quá trình phát triển nền KTTT định hướng
XHCN ở VN.
1.3.2.7. Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Hai yếu tố quyết định cơ chế vận hành của nền KTTT là nhà nước và thị
trường.
Do vậy, bàn về tính hiệu quả của nền KTTT, mấu chốt là phải xác định rõ thực
trạng của mối quan hệ này. Đối với nền KTTT định hướng XHCN, vấn đề lại càng là
7
Đảng Cộng sản Việt Nam, (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, Tr. 77-78.
22
như vậy. Nếu không làm rõ được trong cơ chế vận hành của nền kinh tế, nhà nước làm
gì, thị trường làm gì và bằng cách nào thì khơng thể có một nền KTTT hoạt động hiệu
quả.
Khác với nhà nước của nhiều nền KTTT trên thế giới, Nhà nước ở nước ta là
Nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh và khả năng tự đổi mới để giữ vững định hướng
XHCN trong việc phát triển nền KTTT hiện đại. Sự khác biệt đó là điều kiện, tiền đề
cho sự khác biệt về chất của mơ hình KTTT mà nước ta hướng tới so với các mơ hình
KTTT khác.
Để làm trịn sứ mệnh mà lịch sử và dân tộc Việt Nam giao phó, Đảng và Nhà
nước phải tự đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý đất nước và xã hội trong điều
kiện phát triển KTTT, CNH, HĐH, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế dưới tác động
của tồn cầu hố.
“Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua
Pháp Luật, các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch và cơ chế chính sách cùng các cơng cụ
kinh tế trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc của thị trường, phù hợp với yêu cầu xây
dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhà nước chăm lo xây dựng và hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo môi trường để phát triển đồng bộ
các loại thị trường, khuyến khích các thành phần kinh tế phát huy mọi nguồn lực để
mở mang kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, có trật tự, tự kỷ cương. Cùng
với đó thơng qua cơ chế, chế chính sách và các cơng cụ quản lý kinh tế, thế nhà nước
tác động vào thị trường nhằm đảm bảo tính bền vững của các cân đối kinh tế vĩ mô;
khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường, khủng hoảng chu kỳ, thì khủng
hoảng cơ cấu, khủng hoảng tài chính - tiền tệ, thảm họa thiên tai, nhân tai… Nhà nước
hỗ trợ thị trường trong nước khi cần thiết, hỗ trợ các nhóm dân cư có thu nhập thấp
gặp rủi ro trong cuộc sống… nhằm giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo và sự bất
bình đẳng trong xã hội và kinh tế thị trường mang lại.”8
8
Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tr. 115.
23
Trên đây là một số đặc trưng cơ bản của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam. Các đặc trưng này vừa phản ánh tính phổ biến, vừa thể hiện những nét đặc thù
trong mơ hình phát triển mà Việt Nam lựa chọn.
24
CHƯƠNG 2 :
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.1. Các khái niệm
2.1.1. Thành phần kinh tế
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên một hình
thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất.
Thành phần kinh tế khơng tồn tại riêng lẻ mà có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác
động lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm nhiều thành phần kinh tế.
2.1.2. Sở hữu Nhà nước
Sở hữu Nhà nước là hình thức sở hữu mà Nhà nước là người đại diện cho nhân
dân quản lý, nắm giữ tư liệu sản xuất, là chủ sở hữu đối với tài sản được quy định tại
điều 17, Hiến pháp 1992: "Đất đai, rừng núi, sơng hồ, nguồn nước, tài ngun trong
lịng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và cùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà
nước đầu tư vào các xí nghiệp, cơng trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác
mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân"
2.1.3. Kinh tế nhà nước
Qua từng thời kỳ khái niệm của cụm từ “kinh tế nhà nước” được hiểu mỗi kiểu
khác nhau. Bắt đầu từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Việt Nam tiến
hành đổi mới nền kinh tế. Trong Đại hội này, Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng thuật
ngữ “kinh tế quốc doanh”. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), thuật
ngữ kinh tế quốc doanh được thay bằng cụm từ “doanh nghiệp nhà nước”. Hai thuật
ngữ này tuy cách gọi khác nhau nhưng có nội hàm giống nhau. Đến Hội nghị Đại biểu
toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), hai thuật ngữ trên được thay bằng thuật ngữ
“kinh tế nhà nước”. Lần này thay đổi cả nội hàm và cách tư duy của Đảng. Từ đây,
KTNN bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và những bộ phận phi doanh nghiệp.
25