Tải bản đầy đủ (.pdf) (3 trang)

Nghiên cứu ô nhiễm của phthalat este (PAE) trong môi trường nước mặt Hồ Tây, Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (275.36 KB, 3 trang )

Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên năm 2021. ISBN: 978-604-82-5957-0

NGHIÊN CỨU Ô NHIỄM CỦA PHTHALAT ESTE (PAE)
TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT HỒ TÂY, HÀ NỘI
NHÓM ROOM Vũ Thu Huyền1, Vũ Đức Tồn2
1
Trường Đại học Tài ngun và Mơi trường Hà Nội, email:
2
Trường Đại học Thủy lợi

1. GIỚI THIỆU CHUNG

Tại Việt Nam, đánh giá tồn lưu của các hóa
chất độc hại trong mơi trường rất cần được
quan tâm, trong đó có các phthalat este (PAE).
PAE được sử dụng phổ biến làm chất hóa dẻo
và phụ gia trong nhiều loại sản phẩm như
nhựa PVC, một số vật liệu làm sàn và lớp phủ
tường. PAE cũng được sử dụng trong đồ chơi
nhựa, chất kết dính, trong màng nhựa dùng
bao gói thực phẩm… Có một số PAE chỉ thị
được nghiên cứu đại diện cho nhóm chất PAE
gồm: di-n-butyl phthalat (DBP), butyl benzyl
phthalat (BBP), di(2-ethylhexyl) phthalat
(DEHP) và di-n-octyl phthalat (DOP)... [1]
Trên thế giới, ô nhiễm PAE trong sông đã
được nghiên cứu rộng rãi. Điển hình như một
số cơng bố về nồng độ của các PAE trong
sông Seine, Pháp (DMP: 0,011 - 0,112 µg/l;
DEP: 0,152 - 0,384 µg/l; DEHP: 0,0157 0,0437 µg/l), và sơng Moskva, Nga (DBP:
0,010 - 0,018 µg/l; DEHP: 0,106 - 0,665


µg/l) đã cho thấy sự lan truyền của nhóm chất
trên trong mơi trường [2]
Hồ Tây ngồi ý nghĩa vơ cùng quan trọng
về mặt sinh thái, lá phổi của Hà Nội, cịn là
một biểu tượng của Thủ đơ ngàn năm văn
hiến với môi trường và cảnh quan xung
quanh tạo nên một bức tranh thiên nhiên hài
hòa, tinh khiết. Tuy nhiên, hồ Tây đang phải
đối mặt với tình trạng ơ nhiễm mà chưa có
nhiều giải pháp xử lý thực sự hiệu quả. Tình
trạng ơ nhiễm xuất hiện trên hồ ngày càng
nhiều làm ảnh hưởng đến cảnh quan, chất
lượng nước hồ cũng như cuộc sống sinh hoạt

của người dân sống ven hồ. Căn cứ vào hiện
trạng của khu vực hồ Tây, nghiên cứu chủ
yếu làm rõ các vấn đề tồn lưu, rủi ro trên
trong hồ hồ của một số chất PAE điển hình
mơi trường nước.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp điều tra, thu thập số
liệu
Sử dụng phương pháp để điều tra thông tin
các nguồn thải chính của Hồ Tây. Đồng thời,
thu thập các thơng tin của các nghiên cứu đã
có trong nước và trên thế giới về đối tượng
nghiên cứu
Các vị trí lấy mẫu được lựa chọn để đại
diện cho không gian và các nguồn thải của

khu vực nghiên cứu. Trên cơ sở khảo sát thực
địa, chín vị trí lấy mẫu đã được lựa chọn (ký
hiệu từ M1 đến M9), từ các địa điểm gần phía
đầu phố Tơ Ngọc Vân đến hết đường Lạc
Long Quân. Tại mỗi vị trí lấy một mẫu nước
mặt vào tháng 5/2021 (ký hiệu mẫu từ NM1
đến NM9). Khoảng cách giữa các vị trí lấy
mẫu dao động từ 800 m đến 900 m. Các bước
được thực hiện theo: TCVN 6663-1:2011
(ISO 5667-2:2006), Chất lượng nước - Lấy
mẫu - Phần 1: Hướng dẫn kỹ thuật lấy QCVN
08-MT:2015/BTNMT 6 mẫu; TCVN 66633:2003 (ISO 5667-3:1985) Chất lượng nước Lấy mẫu - Phần 3: Hướng dẫn bảo quản và xử
lý mẫu; TCVN 5994:1995 (ISO 5667-4:1987)
- Chất lượng nước - Lấy mẫu. Hướng dẫn lấy
mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo

308


Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên năm 2021. ISBN: 978-604-82-5957-0

2.2. Phương pháp lấy mẫu và phân tích
mẫu
Phương pháp xử lý mẫu bằng chiết lỏng
lỏng theo EPA method 3510C và làm sạch
mẫu theo EPA Method 3630C. Mẫu sau khi
chiết và làm sạch được bơm vào máy sắc ký
khí khối phổ (GC-MS).
2.3. Phương pháp đánh giá rủi ro
Rủi ro môi trường do PAE có trong nước

mặt hồ Tây được đánh giá qua việc sử dụng
thương số rủi ro (Risk quotient, RQ). RQ
được tính theo cơng thức:
RQ = C / MAC (cơng thức 1)
Trong đó: C: nồng độ chất nghiên cứu
MAC (Maximum allowable concentration):
nồng độ tối đa cho phép đối với chất nghiên
cứu trong môi trường. Các mức độ rủi ro được
phân loại gồm: rủi ro rất thấp (RQ  0,01), rủi
ro thấp (0,01 < RQ  0,1), rủi ro trung bình
(0,1 < RQ < 1), rủi ro cao (RQ  1) [3]
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá ô nhiễm PAE trong hồ Tây
Kết quả phân tích cho thấy cả 4 PAE lựa
chọn đều phát hiện thấy trong các mẫu nước
hồ và được thể hiện ở Hình 1.

Kết quả phân tích tháng 5/2021 thu được
nồng độ Σ4PAE trong nước mặt hồ Tây dao
động trong khoảng từ 1,52 đến 19,4 µg/l.
Đánh giá chung từ các Bảng 1 cho thấy, nồng
độ Σ4PAE và các PAE thành phần có xu
hướng giảm dần theo các vị trí từ M1 > M2 >
M4 > M3 > M8 > M9 > M5 > M7 > M6.
Theo kết quả trên Hình 1, dễ dàng nhận thấy
tổng nồng độ PAE tại NM1 có giá trị cao
nhất 30.11 µg/l và nồng độ tại vị trí NM6
thấp nhất 7.21 µg/l. Nồng độ Σ4PAE không
giảm dần theo chiều dài của đoạn hồ nghiên

cứu mà đạt giá trị cao nhất thu được tại vị trí
M1, vị trí ở gần đường Lạc Long Qn. Điều
này có thể do ở vị trí này nguồn thải PAE
phát sinh từ các hoạt động tại các khu chung
cư, và các nhà hàng, khách sạn gần đó là
đáng kể nhất. Từ các nguồn đó, PAE xâm
nhập vào nước thải, tác động vào chất lượng
nước hồ tại điểm M1. Đồng thời, nghiên cứu
trên đã làm rõ được PAE ngồi việc có thể
lan truyền theo đường khơng khí, cịn có thể
theo lan truyền trên bề mặt, xâm nhập vào
nước mặt trên hồ Tây.
3.2. Đánh giá thành phần PAE trong
nước hồ Tây
Thành phần PAE trong nước hồ có liên
quan đến biến đổi và tính chất hóa lý của
từng PAE. Phần trăm trung bình của các PAE
trong các mẫu nước hồ được trình bày trong
Hình 2.

Hình 2. Phần trăm trung bình của 4 PAE
trong các mẫu nước tháng 5/2021

Hình 1. Nồng độ PAE (µg/l) trong
nước hồ Tây tháng 5/2021
309


Tuyển tập Hội nghị Khoa học thường niên năm 2021. ISBN: 978-604-82-5957-0


Kết quả cho thầy phần trăm trung bình của
4 PAE (Hình 2) khơng có sự thay đổi nhiều
theo thời gian lấy mẫu. Tại các vị trí từ M5
đến M7, DOP có phần trăm trung bình lớn
nhất so với các mẫu cịn lại và có giá trị gần
như là tương đương. Ở mẫu M4 và M8
DEHP có giá trị phần trăm lớn nhất trong các
mẫu còn lại. Trong 6 PAE, DEHP được sản
xuất với khối lượng lớn hơn và ứng dụng
nhiều hơn so với các PAE khác. Do đó,
nguồn thải có khả năng chứa nhiều DEHP
hơn, góp phần gây ra nồng độ và phần trăm
DEHP trong mẫu lớn hơn. DEP và DBP
thuộc nhóm PAE có khối lượng phân tử nhỏ ,
độ hịa tan trong nước cao hơn nhóm PAE có
khối lượng phân tử lớn nên dễ hòa tan trong
nước. H-PAE lại có xu hướng tích tụ nhiều
trong trầm tích do khả năng tích tụ sinh học
cao. Kết quả phân tích phần trăm các PAE
trong mẫu nước hồ cho thấy có sự phù hợp về
tính chất hóa lý của PAE và khả năng biến
đổi của PAE trong môi trường.
PAE đã xâm nhập vào trong mặt nước hồ
Tây và từ đó có khả năng lan truyền trong
phạm vi rộng. Đánh giá rủi ro do PAE trong
nước là cần thiết để xem xét khả năng ảnh
hưởng đến chất lượng môi trường nước hồ
Tây. Từ đó giá trị RQ tại các điểm lấy mẫu
được tính và trình bày trong Bảng 1.


nồng độ cụ thể 2,680 µg/l (RQ  1). Riêng
DEHP tại đa số các vị trí đều nằm trong mức rủi
ro trung bình với nồng độ cao nhất 0,202 µg/l
và thấp nhát 0,003 µg/l (0,1 < RQ < 1).
4. KẾT LUẬN

Ô nhiễm PAE trong nước mặt tại hồ Tây,
Hà Nội đã diễn ra ở phạm vi rộng. Nồng độ
của Σ4PAE nằm trong khoảng từ 7,21 µg/l
đến 30,11 µg/l. DBP chiếm phần trăm chủ
yếu trong các mẫu nước (trung bình 80%).
Mức độ rủi ro mơi trường do các PAE nằm
trong khoảng từ thấp đến rất cao. Do PAE có
khả năng gây các rối loạn nội tiết đến con
người nên rất cần được tiếp tục quan trắc
trong thời gian tiếp theo.
5. LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường
Đại học Thủy lợi. Các tác giả xin gửi lời cám
ơn đến nhóm nghiên cứu mạnh ROOM,
trường Đại học Thủy lợi đã hỗ trợ trong quá
trình nghiên cứu.
Đồng thời, nhóm xin được gửi cảm ơn sâu
sắc đến Phịng thử nghiệm Mơi trường và
Hóa chất, trường Đại học Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội đã luôn đồng hành, tạo điều
kiện tốt nhất để nhóm có thể thực hiện tốt
trong công tác nghiên cứu khoa học.


Bảng 1. Giá trị RQ của các nhóm chất PAE
PAE

MPC
(mg/l)

DBP
DEHP

6. TÀI LIỆU THAM KHẢO

RQ tháng 5/2021
Giá trị
nhỏ nhất

Giá trị
lớn nhất

10

0,515

2,680

0,19

0,003

0,202


Kết quả tính RQ nhận định thấy DBP tại
tất cả các điểm lấy mẫu trong môi trường
nước hồ đều nằm trong mức rủi ro rất cao với

[1] C. A. de Wit, “An overview of brominated
flame retardants in the environment”, tr 42,
2002.
[2] Eremina, N., Paschke, A., Mazlova, E.A.,
Schüürmann, G., Environmental Pollution,
2016
[3] Trân L.T.H, Đánh giá rủi ro môi trường.
Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2018.

310



×